Tải bản đầy đủ

Mệnh lý định chân phú kho tài liệu huyền học

Mệnh lý định chân phú
Tác giả: Hoàng Đại Lục
(Người dịch: Lesoi - Nguồn: tubinhdieudung.net)
Vạn vật hưng suy, đều có quy luật, gọi là quy luật, tức là vận mệnh. Vận mệnh con người, có
phương pháp suy đoán, Tử Bình diệu pháp, ngàn năm truyền lại. Tứ trụ, Tam Nguyên, thế
gian bao la vạn tượng; Ngũ hành Thập thần, loại suy như thông tin cuộc đời.
+ Năm là gốc, xem tổ tông gia thế hưng suy;
+ Tháng là mầm giống, biết được thân ấm danh lợi có hay không;
+ Ngày là hoa, xem vợ chồng thành bại cùng được hay mất;
+ Giờ là quả, xem Tử tức nhiều ít cùng hưng thịnh hay suy tàn.
Quan trọng nhất là chi tháng, chỗ này là cán cân gắn liền với Đề cương luận mệnh, điều
khiển sự việc tức là Dụng thần, trụ năm ngày giờ phối hợp thành cách cục. Cách cục thành
thì không quý cũng phú, cách không nhập thì không yểu cũng bần. Nhất cách, nhị cách, cách
chính, cục thanh thì công danh to lớn; tam cách, tứ cách, Tài Quan không thuần thì quan
nhỏ, hoặc là thường dân.
+ Ngũ hành vượng suy, xem kỳ đắc lệnh hay thất lệnh;
+ Thập thần mạnh yếu, xem nó có căn hay vô căn.
+ Can như hoa quả, hoa phồn thịnh thì có thể che ấm cho Chi;
+ Chi giống như gốc rễ, gốc kiên cố thì có thể làm cho Can tươi tốt.
+ Cái đầu, Tiệt cước, lực mất phân nửa;
+ Thông căn thấu can, thế bất thể xâm phạm.

+ Đắc lệnh đều xem là vượng, thất thời đều xem là suy. Có căn có gốc, ngũ hành như vậy
tượng giống như bàn thạch; có gốc mà vô căn, Thập thần tựa như bèo trôi.
+ Can phân Âm dương, khí chất không giống nhau, dương thuận âm nghịch, phân đường mà
đi.
+ Mộc gặp Trường Sinh, hiện ra sinh cơ bừng bừng; Thủy ở lộc vượng, hội thành biển nước
mênh mông. Hỏa đến Thân Dậu là tử, kim đến Hợi Tý là chìm. Mộc Dục dễ gãy, Quan Đới
lấy thành. Suy, Bệnh không còn chút sức lực nào, Mộ khố là giữ kín, lưu tồn.
+ Tiến khí tử mà không tử, thoái khí sinh mà không sinh.
+ Dương Trường sinh, là chân đắc lực; âm Trường Sinh, chỉ có danh nghĩa.
Ất tới Hợi, vượng hơn ở Ngọ; Bính tọa Tuất, mạnh hơn tọa Thìn. Mậu Kỷ ở tháng Dần, sinh
địa có khắc; Giáp Ất đến tháng Thân, là Tuyệt xứ phùng sinh.
+ Tháng Tuất kim suy, dựa vào thổ sinh mà cương kiện;Tháng Tý mộc bại, gặp thủy nhiều
thì trôi nổi. Hợi Mão Mùi kết thành đồng minh Giáp Ất, Tị Ngọ Mùi tụ hội Bính Đinh.
1


Tháng hai thổ tử, một ít hỏa không thụ sinh; tháng 8 mộc khô, một ít giọt thủy khó đường
tồn tại. Đinh ở tháng Thìn, mộc tuy ít mà vẫn chế Mậu; Giáp sinh tháng Tuất, hỏa không có
đồng đảng thì không làm tổn thương Tân.
+ Thủy nhờ kim sinh, kim nhiều thì thủy trọc; mộc có thể sinh hỏa, hỏa nhiều thì mộc bị đốt.
Kim chìm ở thủy, khó có thể lấy đốn củi; hỏa cách xa thủy, không thể luyện kim.
+ Tuất hại Dậu thì Tân khuyết, Hợi phá Dần thì Bính tổn hại. Mùi Tuất trong hàm chứa
Đinh, thủy tràn đầy đến kết thành đá mài; Sửu Thìn trong tàng chứa Quý, trong hỏa viêm có
thể lập thân. Mậu thổ không nhiều, đa số Quý thủy tọa Sửu; Canh kim khó phạm, chỉ có
duyên với Giáp mộc ôm Dần.
+ Mão Dậu tương xung, Thìn Tuất Tị Hợi có thể giải; Bính Tân tương hợp, Nhâm Bính Ất
Tân có thể tách ra. Tý bị Sửu khắc, Thân Dậu giải cứu; Giáp và Kỷ hợp, Ất Mậu đố tranh.
Quý Tị theo hợp mà không nhàn, Dần Sửu ám hợp vẫn là khẩn. Một Tý không xung hai
Ngọ, hai Ất không hợp một Canh. Sinh mà không sinh, là do có chữ ngăn cách; khắc mà
không khắc, do có vật kết hợp có tình; chế mà không chế, là do cùng địch mà kết bè đảng;
hóa mà không hóa, do tất cả miễn cưỡng bó buộc ở trọng căn.
+ Không xung mà xung, chia ra trước sau; không hợp mà hợp, lực phân ra nặng hay nhẹ.
Vượng gặp xung thì phấn khởi, suy gặp xung thì thương tổn. Tý Sửu hợp, kim khố đóng mà
dấu đao thương; Thìn Tuất xung, hỏa khố mở thì ánh sáng tỏa khắp. Xung đến xung khử, là
họa hay phúc cần phải xem hỉ kị; hợp khử đến hợp, chủ khách cần phân biệt rõ ràng. Tranh
hợp đố hợp, có tình mà không chuyên, lực nhỏ; Tham sinh tham hợp, vô tình xung hình thì
chiến đấu đình lại.
Dụng thần có 6 thần, là Sát Quan Tài Ấn Thực Thương, đơn giản gọi là Lục Cách, cần phải
tinh tế phân rõ kĩ càng.
+ Tài Quan Ấn Thực, bốn cát thần nếu thuận mà phù, nhiều mà có dư thì cần thanh trừ;


+ Sát Thương Kiêu Nhận, bốn hung thần nên nghịch mà chế, chế phục thái quá thì trái lại hỉ
sinh phù.
+Tướng thần, Hỉ thần, chính là vật phụ tá Dụng thần thành cách;
+ Kị thần, Cừu thần, là thần gây tổn hại Dụng, Tướng là phá cách.
+ Tài là gốc dưỡng mệnh, Kiếp thì không có Lộc;
+ Quan chính là gốc lập thế lực, Thương thì hủy danh;
+ Ấn là phù thân như dựa vào núi, phá hư thì nhà tan;
+ Thực là phúc tinh chế Sát, đoạt thì mệnh hết.
+ Thất Sát như mãnh hổ, chuyên về công thân, không có chế liền lo tai họa;
+ Thương quan tự Sài Lang, đứng đầu hại mệnh, nếu có chế phục thì sẽ cát tường.
+ Kiêu không đoạt Thực gọi là Thiên Ấn, Nhận chuyên đoạt Tài gọi là Bọn trộm cướp.
+ Nguyệt Kiếp giống Nhật nguyên, buộc phải thân kiện thành vô dụng;
2


+ Tài Quan chính là danh lợi, rất được phổ biến ưa chuộng ở nhân gian.
+ Quan nhiều là Sát, Thực nhiều là Thương, Ấn nhiều không văn tự, Tài nhiều ít lương
thiện.
+ Dụng thần có thừa thì có thể bỏ, cách cục có bệnh trái lại là tốt. Hung thần thành cách,
thiên hạ đại loạn lộ hào kiệt; cát thần đắc dụng, dưới bóng cây Ngô đồng xuất hiện Phượng
Hoàng. Hung thần không hung, định là chế hóa có mức độ; cát thần không cát, ắt gặp xung
khắc hình thương.
+ Dụng thần biến hóa, cần phải suy xét tỉ mĩ, định cách không chính xác, luận mệnh không
linh nghiệm.
+Ti lệnh xuất ra can, Hán cao tổ chủ tể thiên hạ;
+ Bản khí thành cách, Tào Tháo nắm giữ quyền hành triều chính.
+Tàng can ẩn dấu, quần Long không đầu;
+ Tác dụng dư khí, đầy tớ thành danh.
+ Nguyệt chi không xuất, mà xem trọng Chi thần;
+ Đề cương thấu ra nhiều, lấy vượng mà xưng. Đơn độc xuất ra thì dễ lấy, thấu nhiều thì khó
tìm, dụng kỳ có lực, thủ kỳ có tình.
+ Hình xung chi tháng, cần xem dụng thần được hay mất; hội hợp thấu can, phải xem cách
cục phá hư hay thành.
Cách có thể chọn hoặc không thể chọn, dụng có nhận khí hay không nhận khí. Hoặc lấy
hoặc bỏ, không phải do ý người, không có Tướng thần dễ bỏ, có Tướng thần thì khó bỏ.
+ Mệnh cục, Tuế vận, cách cục trước tiên luận Sát Quan;
+ Trụ năm, ngày, giờ, chữ quay quanh đề cương tháng. Đề cương có dụng thì dụng đề
cương, đề cương không có dụng tìm kiếm nơi khác.
+ Sát Quan và nguyệt lệnh thành cách, cách này lấy trước tiên;
+ Sát Quan nếu được thành cách khác, Dụng thần có thể bỏ.
+ Không dụng Quan tinh, trái lại hỉ Thương tẫn;
+ Không dụng Ấn thụ, sao sợ xung đề cương! Tài Quan tàng trong Nguyệt khố, chưa gặp
được xung hình khó có tác dụng;
+ Thương Sát phục ở ngày giờ, cũng cần chế hóa mới luận cát. Mệnh cục không thấy Quan
tinh, trong có ám kẹp xung thì càng quý;
+ Nguyệt chi không tàng dụng thần, trong hiển lộ rõ thì chỉ có thể dựa theo. Quan Ấn Tài
Thực, có thứ tự trước sau;
+ Thiên can Địa chi, lưu ý cao thấp. Ám xung thì lo hợp bán, kẹp Hư cũng sợ Điền thực.
Tổn hại Tướng còn hơn cả tổn hại Dụng, trừ phi nhiều Tướng;

3


+ Tổn hại cách còn hơn tổn hại thân, nào sợ thân hư. Nhất khí chuyên vượng, tất cả đều là Tỉ
Kiếp thành vô dụng;
+ Ngũ hành mất cân bằng (thiên khô), giả như tòng hóa thì thành cục tốt.
+ Viêm thượng cần có Dần Hợi, thổ mờ thì ám;
+ Nhuận Hạ cần có Thân Thìn, mộc tiết thì hư.
+ Tòng Sát không có Tài, liền khuyết quý cách;
+ Tòng Tài không có Thực, càng sợ tú khí.
+ Giáp Kỷ hóa thổ, không có hỏa làm sao có thể lấy quý;
+ Bính Tân hóa thủy, thiếu kim sao hi vọng đỗ đạt? Đông kim Tây mộc không thành hóa,
thất thời mà suy sụp; Nam thủy Bắc hỏa có thể tòng theo, vì người mà tồn tại.
+ Hỏa thổ lẫn tạp, kẹp vào mà chồng chất không thấy người;
+ Kim thủy tương hàm, bao hàm xuất ra tài văn chương vô cùng.
+ Tòng Phu, Tòng Thê, chớ hợp dương mà nhận âm làm trái; hóa sinh hóa tử, thường thấy
trước được sau mất.
+ Chân tòng, chân hóa, vượng thần chớ nghịch; Giả tòng, giả hóa, cách thanh thì dị thường.
Chính hóa hoặc phú hoặc quý, trái lại là hóa xa rời tổ tông hoặc xa rời vợ.
+ Cát hung họa phúc, phải coi ở nhật nguyên mạnh hay yếu;
+ Phú quý bần tiện, cần phải xem hết ở cách cục cao thấp. Cách không thành cách, đứng nói
Tài Quan song mỹ; cục không thành cục, chớ khen mệnh mang theo Tam Kỳ.
+ Thân cường Sát vượng, không có chế hóa đó là hung đồ; Tài trọng Thân kiện, không nhập
cách khó thành đại khí. Thân vượng không chỗ nương tựa, là tăng là đạo; Thân nhược không
có cách chọn, là người hầu, là kỹ nữ.
Cách cục thành bại, cần xem Tướng, Kị, Tướng Kị không rõ, không có cách cục. Cát thần
không có Tướng, nửa cách vẫn còn có thể sinh sống; hung thần không có Tướng, phá cách
khó có thể sinh tồn.
+ Dụng, Tướng thanh thuần có lực, sự nghiệp thành tựu mạnh mẽ;
+ Kị, Cừu lẫn tạp được thế, cuộc đời luôn gặp gian truân.
+ Hỉ thần không thấy, Tuế vận sợ trãi qua mưa gió;
+ Tướng thần quá nhiều, người không mệnh cục.
+ Dụng thần cường vượng, nếu có tiết chế;
+ Tướng thần suy nhược, cần phải trợ giúp.
+ Ấn hộ Sát, Sát giúp Ấn, Sát Ấn tương sinh hiển lộ công danh.
+ Tài kị Kiếp, Quan kị Thương, Tài Quan đều bại thì chịu khổ vất vả.
+ Dụng Ấn gặp Tài gặp người chết, dụng Thực gặp Kiêu thì gia đình nghiêng đổ.
4


+ Thương quan phối Ấn, không sợ Sát Quan phá cục;
+ Thực thần tương hỗ Tài, nhưng kị Tỉ Kiếp hoành hành.
+ Tài trọng Ấn rõ, định giàu có;
+ Nhận cường Sát thịnh, Lữ Bố dũng cảm thêm ba quân.
+ Kiếp nhiều dụng Thực, Hàn Kỳ dựng nên cơ nghiệp Tam Triều;
+ Ấn nhiều hỉ Tỉ, Hàn Dũ một đại văn danh.
+ Nguyệt lệnh sinh vượng, tránh gặp xung kích;
+ Dụng, Tướng đều quá nhiều, sự việc cần phải ức chế lấy thanh.
+ Quan nhiều không quý, đến Thương thì địa vị áp chế cả đồng đảng;
+ Ấn nhiều là vô phúc, Tài đến thì phúc vượt qua khỏi mọi người.
+ Thành cách lại bại, tất là mang theo Kị;
+ Cách bại lại thành, đủ có cứu ứng.
+ Thương quan sinh Tài, Tài gặp hợp mà phá cách;
+ Thực thần chế Sát, Thực bè đảng Sát thì tổn hại cục.
+ Quan gặp Thương, Ấn đến thì vô sự;
+ Ấn gặp Tài, tới Kiếp là yên tâm;
+ Tài thấy Sát, hợp Sát thì được cứu;
+ Sát gặp Quan, khử Quan thì yên ổn.
+ Thực thần hợp Quan phân ra hư hay thật, hư thì hợp quý thành ra tiện;
+ Thương quan khử Quan luận minh hay ám, minh thì cách cao, ám thì bình thường. Trước
Thương sau Quan, Quan không phá, trước Tài sau Ấn, Ấn lại thành.
+ Tỉ Kiếp tranh Tài, may mắn được Thực Thương thấu tỏ;
+ Thương quan khắc Quan, hỉ gặp Tài Ấn hòa giải.
+ Thực không sinh Tài, e rằng là nhật trụ cách nhau;
+ Ấn không chế Thương, thường là tự thân tiết Ấn.
+ Quan Sát hộ Tài, trái lại hỉ Huynh Đệ cướp Tài;
+ Tỉ Kiếp bảo vệ Thực, sao sợ thứ thiếp vô tình.
+ Dương Nhận dụng Sát, gặp Ấn thì bại;
+ Nguyệt Kiếp dụng Thực, không có Quan thì thanh.
+ Thương quan sinh Tài, Tài bị Kiếp, chuyển thành hỉ Kiếp;
+ Sát yêu Thực thần lại gặp Ấn, sợ gì phương dụng Ấn.
5


+ Bính sinh Giáp Dần, trước Quý sau Mậu, Mậu Quý không khắc, chỉ vì Ấn gây trở ngại;
+ Nhâm sinh Giáp Thìn, trước Canh sau Bính, tuổi trẻ gặp nhiều thất bại, về sau mới tốt.
+ Một Thực chiếm cứ can đầu, nhiều Sát chớ công kích;
+ Tam Nhận phục ở địa chi, đơn độc Quan khó giữ.
+ Một chữ không thích hợp, có thể mệnh lệnh toàn cục đều loạn; nửa chữ đúng vị trí, có thể
khiến phá cách lại thành.
Mệnh thức là thiên biến vạn hóa, quý ở có tình có lực; quán xuyến Tử Bình nhất lý, tinh
thông ở nơi cẩn thận và cân nhắc.
Ngũ hành không thiên lệch là không quý, cách cục không có bệnh thì không tốt. Thiên lệch
ở ngũ hành, chớ có dụng Thần Sát; Bệnh ở cách cục, đừng đem nhật nguyên phù ức.
+ Bệnh nặng có Dược là cách cao, Bệnh nhẹ không có Dược là cách thấp.
+ Bệnh nhẹ Dược nặng, công lao cây Lý ở Quảng Đông không được phong hầu;
+ Bệnh nặng Dược nhẹ, là hữu dũng mà vô mưu.
+ Bệnh nặng không có Dược, Nhan Tử bần yểu;
+ Bệnh nhẹ được Dược, thọ như Bành Tổ.
Thiên Chính không nên hỗn tạp, chủ khách đừng nên rời bỏ nhau. Tướng, Hỉ rõ ràng, nên
cần thanh mà không nên trọc; Kị, Cừu tung hoành, nên nghĩ đến tòng mà không nên chống
cự. Sát Nhận là Kị, xung khắc không bằng hợp chế; Ấn Thực làm tướng, kiêm dụng chớ mời
cùng thành lập.
Gặp Sát xem Ấn, có Ấn có thể hóa Sát sinh thân, quả quyết 10 thì có 9 là quý. Không có Ấn
xem Thực, có Thực thì Sát mời Thực chế, xác định là 100 mà không có một bần. Ấn Thực
đều không có, thấu Nhận hợp Sát thì chấp chưởng binh quyền bất ngờ; Tài Sát đầy cục, bỏ
thân tòng Sát làm công khanh.
Hợp Sát không tốt bằng chế Sát, chế Sát không bằng hóa Sát sinh thân. Sát nặng không có
chế, không tòng theo thì hung cùng bị áp bức bởi hai phía; Quan nhẹ mà không có hóa, có
Tài và danh lợi đều hư. Tài Ấn tương phụ, làm Quan ở kinh đô; Kiếp Sát đến công kích,
người gặp phải khốn đốn.
+ Quan không có Tài sinh thì lộc không đủ, Tài sinh Sát vượng danh có thừa. Thực nhiều
Sát ít, là người khốn đốn; Ấn nặng Quan nhẹ, thân giống như Dã Hạc sống nhàn hạ ẩn dật.
Chi tháng Quan tinh không có phá, cả nhà đều tôn quý; Thời thượng Thất Sát làm dụng, con
cháu tài năng. Sát Quan không thể hỗn tạp, chế hóa càng sợ cả hai cùng tồn tại.
+ Độc Quan độc Sát, thành cách thanh cao, hơi thấy hỗn tạp, ít danh lợi. Dụng Sát hỗn
Quan, là cụ già thả câu bên bở sông Vị thủy; dụng Quan hỗn Sát, Văn Vương hãm thân nơi
đất Dũ Lý. Chế hóa kiêm dụng, có thể phân cao thấp trái phải; Ấn Thực trở ngại lẫn nhau,
không phân biệt Nam Bắc Đông Tây.

6


+ Sát Quan hỗn tạp, bỏ đi và giữ lại chỉ nhìn Can đầu; Quan Ấn tương sinh, trước sau ứng
với thứ tự. Năm tháng Sát Quan lấy Sát luận, giờ thấu ra Sát chính thức luận hỗn, khử nhược
lưu cường mặc dù tốt, chỉ sợ người mạnh không lưu tình. Khử Sát lưu Quan, thân là nhất
phương quyền quý; khử Quan lưu Sát, danh hưởng ngàn dặm uy thanh. Hóa khí không sợ
hỗn tạp, tòng Tài không kị Thiên hay Chính.
+ Xung Quan không có hợp, đất khách tha hương trục lợi; hợp Quan không có xung, người
đường làm quan lạc phách. Độc Quan không có Ấn mà bị thương, khử Quan thì Thực thành
biến cách; Thất Sát phá cách mà gặp hợp, hợp Sát lưu tồn dụng cách lại thành.
Gặp Ấn xem Quan, Quan Ấn tương sinh được phúc Lộc; không có Quan xem Thực, Thực
Thương tú khí phát lợi danh. Có Ấn không có Quan, được hưởng phúc ấm sớm; có Quan
không có Ấn, gian khổ đọc sách mà vẫn không thành. Ấn ít Thực nhiều, đường nghệ thuật
theo gió thổi phương Tây mà làm con Ngựa gầy; Quan ít Ấn nhiều, đường làm quan đạm
thủy phù vân. Tỉ nhiều Ấn ít, đồ tể gặp gỗ mục khó điêu khắc; Ấn vượng Thực thanh, Tô
Thức thích lời dễ thành. Dụng Ấn gặp xung, nhà tan người tán; hỉ Ấn gặp hợp, phúc ít họa
nhiều. Ấn nhiều gặp Tài ít Dương Nhận, phú xuất nhân gian; đơn độc Ấn gặp Tài không có
cách, hồn lạc âm ty. Thủy mộc lưỡng hình khuyết hỏa thổ, ung dung thanh quý; Kiêu Ấn
một cục không có Tài Thực, mệnh cô bần.
Gặp Tài xem Sát, kị Sát thì cùng khốn; không có Sát xem Ấn, phối Ấn thì vinh hanh. Không
có Quan thiếu Ấn, hỉ được Thực sinh, Tài được Thực sinh, chấn hưng gia thanh. Dụng Tài
nếu bị Kiếp đoạt, một phòng nhện giăng; gặp Kiếp nhưng được Sát chế, đất đầy hoàng kim.
Tài ít Sát nhiều, Thực Thương khử Sát người đắc chí; Tài nhiều Tỉ nặng, Tỉ Kiếp phân Tài
lợi xứng tâm. Quan tinh phá cách, thường bởi vì Quan mà dồn họa; Sát tinh tổn dụng, đa số
chết mà tổn danh. Trọng nặng Tài tinh sinh Quan Sát, không tòng theo thì chết; trùng điệp
Kiêu Ấn sợ Thực Thương, có thành cách cũng bình thường.
Gặp Thực xem Tài, Thực thần nếu sinh Tài, Tài phú tự nhiên đến; không có Tài xem Tỉ, một
Thực được nhiều Tỉ, cả đời có tước lộc. Chính Thực có dư, kẻ bất tài mua vui không có chỗ
về; Thực thiếu không đủ, Vương Chương mắc tật ngũ chuồng Trâu. Kiêu dưới Thực trên, Tử
Tư thổi tiêu Ngô quốc; Thực ở trước Sát, Đại Vũ hiến kế nói khôi hài. Tài tiết Thực mà
chuyển sinh Sát, phải lo tánh mạng; Tỉ sinh Thực mà không Kiếp tài, có thể hưng gia. Kiêu
nhiều đoạt Thực không thấy Tài, khí Thực hội Ấn phát văn quý; trước Thực sau Quan không
khắc Quan, gặp Tỉ thấy Kiếp hiển tài nghệ.
Thương quan nhất cách, là biến hóa nhiều nhất, dụng tâm mà suy tìm, mới không có sai lầm.
Gặp thương xem Ấn, phối Ấn thì quyền thế hiển hách; không có Ấn xem Tài, sinh Tài thì
sản nghiệp nguy nga. Thương sinh Tài mà phối Ấn, phú quý đều hưng; Thương hỉ Tỉ mà gặp
Nhận, danh lợi siêu quần. Tài Ấn không thấy, lại tìm Sát Quan, Sát Quan thành cách, hội
gặp phi phàm. Thương quan giá Sát, bỏ bệnh tật đau khổ mà làm thơ kiếm khách ngàn năm;
Thương quan khử Quan, Chu Nguyên Chương vương bá trăm năm. Thương quan giá Sát,
Sát quá nhẹ, khởi đầu tai họa vô số; Thương quan khử Quan, Quan không hết, là trăm đầu
mối gây hại. Tỉ Tỉ Thương quan không có Tài Ấn, phòng ốc trống vắng không người; lo sầu
Kiêu Ấn chế Thương quan, sức sống yếu ớt.

7


Nguyệt Kiếp vô dụng, tránh tìm Tài Quan, Tài Quan có khí, danh lợi quấn quanh. Không có
Quan xem Thực, Thực Tài tương sinh xuất hào phú; không có Thực xem Ấn, Ấn Tỉ lưỡng
vượng là người tài đức. Ấn Thực trở ngại nhau là người không xuất sắc, Tài Tỉ càng thấu thì
phúc không được đầy đủ. Đề cương có Thực Ấn chớ nặng, Nguyệt kiến không có tổn thương
Tài thì không có kiên cố. Trước Tỉ sau Tài, từ bần tới phú; trước Tài sau Tỉ, từ quý chuyển
thành tiện. Trước Thực sau Ấn, là cái bầu đựng loại xấu xí; trước Ấn sau Thực, nghệ danh
đầy trời. Hỏa sinh mùa Hè kim trùng điệp, cầu Tài dễ thành; mộc sinh trưởng tháng mùa
Xuân nước trong suốt, mưu lợi rất gian nan. Thực Thương hội cục lại không có Tài, y thực
không dồi dào; Dương Nhận đầy cục chớ có mang theo hình, tứ chi thương tàn.
Mệnh như hạt giống, chất có tốt xấu; vận do tiết mùa, luân phiên hoán đổi giao tiếp.
+ Thái Tuế là chủ Hung thần đứng đầu, nắm quyền một năm trời tạnh hay mưa;
+ Nguyệt lệnh là mấu chốt bát tự, là lực lượng quyết định cả đời hưng hay diệt. Mệnh xấu
vận tốt, dù cỏ dại cũng đắc ý được hưởng đầy sức sống; mệnh tốt vận xấu, dẫu cây Tùng cây
Bách cũng nhận phải khí hàn lạnh.
+ Đại vận trọng Chi, ngũ hành vượng suy dễ hiểu;
+ Lưu niên xem Can, Thập thần ứng sự việc rõ ràng.
+ Kim đến Tây Vực bén nhọn, hỏa tới Nam phương ánh hồng rực rỡ.
+ Nhâm Quý ly hương khí tán, Giáp Ất Đoài vị thế bị diệt.
+ Gỗ mục gặp Xuân không vinh, nước biển tuy gặp hạn vẫn không kiệt.
+ Kim đến Tị là Trường Sinh, không đúng Ngọ hỏa thì khó nung chảy. Thủy đến Tuất là
Quan Đới, thấu Mậu thổ là phương khắc. Giáp tử ở Ngọ, gặp Dần chớ xác lập; thổ dưỡng ở
Sửu, đắc Lộc phải tạ ơn.
+ Nguyệt đề hội hợp xung hình, cẩn thận phá cách;
+ Tuế vận thấu can bám căn, coi chừng cục rạn nứt.
+ Sinh sợ tử, tử sợ sinh, suy sợ dưỡng, lộc sợ tuyệt.
+ Quá vượng thì nhập Mộ là có họa; quá nhiều thì gặp khố là Kiếp.
+ Tuế vận sợ gặp hung thần Mộ, cách cục càng không ưa Giá Sắc.
+ Ấn Tỉ tiến khố, mệnh chủ rên rỉ; Thương Sát nhập Mộ, thân hữu cổ họng nghẹn ngào.
+ Quan khố xung mà tái xung, mất quan mất chức; Tài tinh Kiếp mà lại Kiếp, thêm Tài thì
thiết lập sự nghiệp.
+ Mã đảo Lộc nghiêng, 10 phần thì có 7 phần chết; Ấn tử Thực tuyệt, 5 thì có 3 mất.
+ Kiếp sợ Tài, Tài sợ Kiếp, khắc phụ tổn thê tài, vật rơi rụng.
+ Sát sợ Quan, Quan sợ Sát, hại tử thương phu, thân danh bại.
+ Thiên quan gốc có chế hóa, vận thấu thì phúc long; Thất Sát gốc không có chế hóa, Tuế
đến thì tai họa mãnh liệt.
8


+ Thực gặp Kiêu đoạt, Nhận gặp xung, là đường hung vong; Tài phá Ấn thụ, Thương phá
Quan, dây thừng chết thảm.
+ Thương nhiều lại kinh qua Thương địa, cuộc đời như cá mất nước; Kiếp nặng lại quy về
đất Kiếp, gia tài tựa như gặp nước cuốn trôi.
+ Thương quan gặp Quan, gặp Tài Ấn thì không lo; Phi thiên kẹp Lộc, gặp Chính Quan thì
khó hài hòa.
+ Tài nặng một lúc gặp Ấn, danh lợi nối gót mà tiến; Ấn nhiều một lúc gặp Tài, tiền lương lộ
ra như thủy triều đến.
+ Lộc nhập tụ sinh địa, tổ tiên có chưa tước; Mã đến đất Lộc vượng, vinh hoa có thể đợi.
Lộc đến Lộc địa, Lộc cướp hết, Quan tới đất Quan, Quan gặp hại. Kiếp ngăn cản đường là
hung, Kiêu ở Tuế Vận khóc bi ai.
+ Sát Quan tụ hội càng không tốt, hình tang, bệnh, hao đồng loạt đến.
+ Mệnh là Chủ, vận là Khách, sợ chủ thương khách;
+ Vận là bên trong, Tuế là bên ngoài, là Kị bên trong khắc bên ngoài. Bên trong gặp địch
bên ngoài là tiểu họa, bên ngoài gặp địch bên trong là có tai họa nặng.
+ Đại vận tốt mà 5 năm hưng thịnh, lưu niên hung mà một năm bại.
+ Tuế quân sinh khắc bát tự, vận khó can thiệp; đại vận hợp xung tứ trụ, tuần tự mà an bài.
+ Tháng ngày dẫn phát cát hung, không định ở một điểm; vận mệnh suy đoán họa phúc, thiết
không thể đoán loạn.
Chỗ cách cục kị, vận khử thì phát phúc; chỗ cách cục hỉ, Tuế Phá thì nguy tai. Kị Quan khử
Quan mà được Quan, hỉ Tài gặp Tài mà vào Tài. Tòng hóa mà trở về gốc, chợt khởi chợt rơi;
vận tới chỗ góc rẻ, rất tốt cũng rất xấu.
+ Cẩn thận, mệnh cục hồi khắc Tuế vận, thấy hỉ mà không hỉ, gặp cừu thì trái lại thích.
+ Đứng đầu ghét, hóa hỉ làm kị, gặp nhiều bội phản mà sau đó xa rời thân thích;
+ Đứng đầu vui mừng, là hóa kị làm hỉ, cực xấu đột nhiên cực tốt.
Hưu tù hữu dụng, phát càng chậm; vượng tướng vô tình, là hung càng nhanh.
Câu Giảo, Kiếp Sát và Nguyên Thần, cách quý thì trợ uy;
Quý nhân, Long Đức và Tướng Tinh, bất đắc dĩ là mệnh tiện.
Quan Phù, Tử Phù ứng Quan là họa, trước được cách cục có tổn hại;
Hồng Loan, Đào Hoa luận hôn sự, ứng là hỉ hay kị mà ức chế.
Nghịch cách mà đi, còn phải xem Tứ Mã chạy khúc nào; thuận cục mà chạy, mãi lo lắng nói
cánh buồm vượt qua sông biển đại dương.
Cách cục như gân cốt, kinh mạch, nhất định cần phải nắm vững; ý nghĩa về hình tượng
giống như da thịt, lông tóc, cũng cần phải nghiên cứu tỉ mĩ. Thập thần, ngũ hành, đòi hỏi
9


phải phân tích, bàn luận một cách tinh tường; Thần Sát nạp âm, nếu tốt thì vận dụng không
có sao.
+ Tài tinh là cha, là vợ, nhưng cung vị thì có khác;
+ Sát Quan là con, là chồng, nam nữ cần phân rõ.
+ Năm tháng không có Tài, Tử tức vượt lên làm ra vẻ tôn nghiêm;
+ Ngày giờ không có Sát, thê thiếp biến thành ông quan nhỏ.
+ Tứ trụ không có phu tinh thì xem Tài tinh, bát tự khuyết thê tinh luận Thực Thương; Tài
Thực cả hai không có thì nhìn cung vị, ngõ hầu cần có Tuế Vận đến giúp đỡ.
Cách cục luận mệnh chủ về thành bại, cung vị xem nghĩa tượng Lục thân, Thập thần loại sự
vật biến động, ngũ hành dùng để so sánh thể chất cương nhu.
+ Thất Sát lanh lợi nhiều mưu trí, phù nhược mà khinh cường;
+ Chính quan tính tình dễ dãi, vui vẽ, chậm rãi, kính trên nhường dưới.
+ Ấn thụ nhân từ, chậm rãi, văn chương như vàng như ngọc;
+ Thương quan thì thông minh nhưng tính hay phản nghịch, lời nói sắt đá như đao, như
kiếm.
+ Chánh Tài thì chất phác, thành thật tin, hình mạo trung hậu;
+ Thiên Tài tinh thì tính hay xúc phạm ra mặt, lời nói và hành động hào phóng. Thực thần
thì ôn hòa, thích ẩm thực, bản thân hay làm phúc;
+ Tỉ Kiếp thì thích độc lập, tham lam, tranh giành, xử thế kiên cường.
+ Thiên nguyên tọa Sát, tính nóng nảy, hay thay đổi; trụ ngày, giờ mang theo Nhận, việc
nhân đức không nhường ai.
+ Tài nặng thì người nhu nhược, Thương nặng thì tính tùy tiện thất thường, Sát nặng thì hay
đa nghi, Ấn nặng thì ít sôi nổi.
+ Hợp thì dễ ở chung với nhiều người, xung thì gặp nhiều chuyện khó thương lượng.
+ Thương quan sinh Tài thì hay tranh giành trục lợi, Thực thần hợp Quan thì hay bảo vệ
cương thường (Cương thường: đạo thường của người, gồm: Tam cương quân thần, phụ tử,
phu phụ; ngũ thường là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín).
+ Thương quan Thiên Ấn, tính thích đàm luận chuyện quái lạ;
+ Thái Cực Hoa Cái, tâm tính gần với chỗ đạo phật, thần thánh.
+ Kiêu là người ít quang minh chính đại, Thực thấu thì trường thọ;
+ Kiếp nặng thì người cao tam xích (xích: là thước đo Trung Quốc (đơn vị đo chiều dài,
bằng 1/3mét), Sát vượng thì người cao một trượng (đơn vị đo chiều dài, 1 trượng bằng 10
thước).
+ Ấn Thực nhiều thì người đẩy đà, béo mập, Tài Sát ít thì béo phì.
10


+ Thổ kim dày thì tinh tình nhiều quái dị, mộc hỏa thì rất thanh tú, đẹp đẽ.
+ Hỉ Tỉ thì lông mày thô, dụng Ấn thì trán rộng.
+ Kiếp Sát thì nét mặt hung ác, Quan Ấn thì khuôn mặt đoan trang.
+ Thương quan thì ngạo mạn, Ấn bị ức chế thì khiêm tốn, thấp hèn;
+ Ấn thụ nhiều thì lười biếng, mệt mỏi, Tài đến thì bôn ba, vất vã.
+ Sát nhiều Ấn ít, tính từ từ chậm chạp;
+ Kiếp nặng Quan nhẹ, lỗ mãng giống như Trương Phi.
+ Đặng Ngải hẹn kỳ khó nói, là do Thực xuất ra quản chế; Chư Cát hùng biện dào dạt, là do
Ấn nặng hỉ Thương.
+ Đổng Trác tàn bạo, định là Sát Nhận thành cách; Lưu Bị nhân đức, quả quyết là Quan Ấn
làm tướng.
+ Tuế Mã là có ích, thì cơ nghiệp phong phú;
+ Tuế Nhận là có hại, thì tổ phụ gặp hung vong.
+ Kị Ấn mà không có Ấn, thì cỏ Huyên luôn xanh tốt;
+ Hỉ Tài mà không có Tài, cây Thầu dầu cũng bị vàng héo.
+ Thiên Tài đắc Lộc thì cha cao quý, Ấn thụ trường sinh thì mẹ hiền lương.
+ Mẫu quy về Sát địa thì thân nhiều bệnh, Phụ quy về Sát địa thì gặp tang ma nơi đất khách.
+ Nhật gặp Tài, giờ gặp Kiếp, bản thân hưng thịnh mà con cái lại suy bại;
+ Trụ năm Chính quan, trụ tháng Thương quan, cha ruột suy nhược còn cha chồng mạnh.
+ Nhận kiện Sát cường, tổ nghiệp là suy yếu; Quan cường Tài vượng, đời sau vinh xương.
+ Nhật thời bối trục không có cứu trợ, vợ con ly khắc; năm tháng nhiều Sát lại mang theo
hình hại, cha mẹ chồng bị hình thương.
+ Hung thần lên ngôi ở đề cương, cha chạy mẹ đuổi; cát thần phá nguyệt lệnh, xa rời tổ tông
mà làm con nuôi.
+ Nhận nặng không có Sát, là không có cha, Tài nhiều không có Quan thì vắng mẹ.
+ Ác Sát bài môn thì anh trai yểu thọ, vượng Quan nắm quyền thì cửa nhà em trai đảm
đương.
+ Đảo Thực phạm nặng, thuở nhỏ liền chịu cảnh cô khổ; Dương Nhận nhiều hưng thịnh, đến
già cũng không an tường.
+ Đề Thương tụ tập ở đề cương, sầu lo Phụ mẫu mất còn tổn thương Huynh đệ; Nguyệt dựa
vào một mình chống đỡ, mừng có anh chị đảm nhận cha mẹ.
+ Mẫu minh Phụ ám, sinh lén con thứ; Tài Chính, Ấn thiên, lại bái cha mẹ.

11


+ Ngày giờ Kiêu Kiếp đến phá cách, lúc tuổi già đau khổ; năm tháng Tài Quan không phá
cục, xuất thân cao cường.
+ Quan Ấn thành cách không phá, xuất ra làm quan; Tài Thực đắc cục không tổn hao gì,
hành nghề thương nhân.
+ Thực Thương hiệu dụng, tài nghệ xuất sắc thế gian; Sát Nhận hợp cách, vũ công uy chấn
sa trường.
+ Cách cục không được đầy đủ lại không rõ, dẫu có Tài Quan cũng bình thường, phố
phường trống vắng mà khoe tài bán Mì hoành thánh, liền ở chốn hương quê làm bạn cùng
Ngưu Dương ( Dê, Trâu).
+ Sát gặp Ấn hóa, là quan quyền đoán; Quan gặp Tài sinh, kinh tế hưng thịnh.
+ Chuyên Lộc mang theo Thực Thương, xuất nhập nội các; Dương Nhận hợp Quan Sát, trấn
thủ bên cương.
+ Dụng Ấn không có Quan, chỗ Quan không hiện; Quan nhược gặp hợp, quý không lâu dài.
+ Quan tọa Nhận ở trên cuối cùng bị hình, Tài ở dưới Kiếp cuối cùng có trở ngại.
+ Củng Lộc lấy cách, tuổi trẻ ở bên cạnh bếp lò; Đảo xung thành cục, tuổi trẻ ở nơi quan
trường.
+ Quý nhân cùng Quan tinh, là trụ thạch của triều đình; Học Đường gặp Dịch Mã, văn
chương tựa như sao Bắc đẩu.
+ Nhật thời tương hình gặp quý cách, chấp pháp tàn bạo; niên nguyệt mang theo Lộc lại
thành cục, tổ nghiệp khó hưởng.
+ Nam lấy Tài sinh Quan, đút lót hối lộ mà lấy địa vị; Nữ lấy Thương hợp Sát, ủy thác thân
mà theo kẻ mạnh.
+ Kiến Nhận nếu gặp Tài Quan, tay trắng làm nên sự nghiệp; Tài tinh ẩn ở địa chi, ẩn tàng
thương nhân giỏi.
+ Thực giáng nặng xuống Sát, mưu lược thay đổi hàng công khanh; Sát xung vượng Nhận,
thân vào rừng làm cướp.
+ Đông thủy được thổ làm đê điều, là đến cửa Rồng; Xuân mộc gặp kim đẽo gọt, là ở nơi
công đường.
+ Kim bạch thủy thanh, văn chương học sĩ, hỏa minh mộc tú là quan Trạng nguyên.
+ Tài đa Sát vượng, chính là nhà giàu mà vinh quang; Kiếp trọng Tài khinh, nên làm người
môi giới.
+ Chủ tuyệt Thương vượng, là lao thân khổ lực; Nhật đơn độc mà Kiêu nhiều, là ăn nhờ tiền
công.
+ Thương Tài lâm Hoa Cái, bán nghệ thuật ở bốn phương; Tài Lộc tọa Dịch Mã, trục lợi ở
thương trường.
+ Lộ Quan hộ Tài, là có thể đại phú; Tàng Sát hại cách, là phường tiểu tặc nên đề phòng.
12


+ Khai mở Quan khố thành quý cách, từ nay về sau nhện tước Lộc; tương hình Dương Nhận
cùng Sát, cuối cùng tất cả đều ở trên pháp trường.
+ Sát tinh chế Nhận, cướp bảo vật mà thành danh; Mộ khố thấu Tài, Ngọc có dư vài hòm va
li.
+ Tài cùng Mã tinh, phát như mãnh hổ; thê tọa trường sinh, rất nhiều điền trang.
+ Dịch Mã gặp xung, làm khách Nam Bắc Đông Tây; Đào Hoa mang theo Sát, cả đời làm
người hầu ca kĩ.
+ Đứng đầu xứ tăng đạo, dụng Sát trái lại là nhu mềm; nhận chức hiến pháp, do Thiên quan
nhất định cứng rắn.
+ Không tòng không hóa, cuộc đời tối tăm; đắc tòng đắc hóa, đường quan huy hoàng.
+ Mùa Hạ hỏa viêm mà kim suy, bần mà không thể cầu xin Tài lộ; xuân mộc vinh mà thủy
cạn, nghèo khốn lương thực đủ qua đêm.
+ Bạch Hổ gặp thủy Nhuận Hạ, vinh hoa có chuẩn; Thanh Long hàon toàn là tòng cách kim,
khốn khổ không chịu nổi.
+ Thương Sát tổn hại cục phối với Quan Phù, có chuyện kiên tụng lao tù; Tài Thực phá cách
nối tiếp Thái Cực, dù hiếu học vẩn thất bại.
+ Nhật thời ở trong mộ khố, lo nhiều mà vui ít; Ấn thụ ở trong vòng hình xung, tâm thì hổn
loạn mà thân thì vội vàng.
+ Thương quan thường bị họa phúc bất ngờ, Chính Ấn bên trong có phân ra tốt xấu.
+ Bát tự hỉ Tỉ thì gặp mọi người hay tranh cải, tứ trụ sợ Kiếp chỗ chê bai. Nếu đúng là mệnh
lý hỉ Quan Sát, không có cách cũng có hư danh.
+ Can hợp chi hợp, hợp đến Tài Quan động hôn nhân; thiên xung địa xung, xung khử hàng
phục Kị Cừu Hỉ thần.
+ Tài Quan Thiên Chính chỗ tạp, tình ý không chuyên; Thực Thương xa gần cấu kết liên
thông, chuyện nam nữ hoang đường.
+ Nữ đóng Tài môn tình đoạn tuyệt, Nam khuyết Thương thần sẽ không cường.
+ Mệnh lý thích Tài, qua lại gặp nhiều văn quân; cách gặp ghét Quan, nhìn quanh không
thấy Quan đâu.
+ Tài phù Quan nhược, là nhờ vợ tương trợ; Tỉ gặp cường Sát, Triệu Phi Yến nhờ chồng
vinh quang.
+ Tài bắt nạt Ấn thụ, Lục Du phiền não con dâu; Kiêu áp chế Thực thần, vua Thuấn ai thán
cha mẹ.
+ Thê đa đệ phục, phòng Kiều mặc cho vợ nói; Tài sinh Sát vượng, đạo vua không làm cho
chồng phấn khởi.
+ Muốn Quan, Quan vô căn, nói anh hùng chỉ còn cái bóng; Muốn Tài, Tài bị Kiếp, ngầm ẩn
tự khen một mình.
13


+ Nam mang theo Thiên Tài, ít thích vợ chánh thê mà thích thiếp nhiều hơn; Nữ phạm hỗn
Quan Sát, thường gặp ngoại tình.
+ Tỉ hưng thịnh, Tài hợp, vợ không phải vợ đầu; Quan ẩn Sát hiện, mệnh sẽ làm vợ kế.
+ Kiếp Nhận mọc lên như rừng, Tần Tấn có tốt cũng thành hư thoại; Thực Thương dày đặc,
chồng vô duyên đoán sầu lo trong lòng.
+ Tỉ nhiều hỉ Thực, Phượng Hoàng bầu bạn với con Quạ bay; Tài vượng sinh Quan, phu tùy
thê xướng.
+ Phu cung tọa Thương quan, xem chồng như con; Thê cung được Chính Ấn, có vợ giỏi hơn
mẹ.
+ Chi ngày Thương Kiếp phá dụng, tướng, vợ chồng là kẻ thù; trụ giờ Quan Ấn hộ cách cục,
Tử tức làm vẻ vang.
+ Thê tinh hướng về Thê cung, nhờ vợ mà làm giàu; Tử tinh hướng về Tử vị, nhờ con mà
phong thưởng.
+ Quan mang theo Đào Hoa, vợ hiền hậu mà có thể phong danh; Sát lâm Mộc Dục, tửu sắc
càn rỡ.
+ Dụng Quan khử Quan cuối cùng sống cô độc, tọa thê thấu thê thành khác tượng.
+ Thiên Tài thấu can thiếp tốt đẹp hơn vợ, Chánh Tài đắc vị vợ không nhân nhượng.
+ Thương trọng mà Ấn khinh, trước tiên là nghênh đón thiếp; Quan suy mà Sát vượng, phụ
nữ lấy tình lang làm chồng lần thứ hai.
+ Quan quá vượng, thọ khó dài; Tài quá nặng, sớm để tang mẹ chồng.
+ Nam mệnh Kiếp trọng ít thấy quan hệ bên ngoài, Nữ mệnh Sát trọng giết hại người thân.
+ Nguyệt Ấn gặp xung, gia đình mẹ suy tàn; ngày Thương mang Nhận, tính chồng hung ác.
+ Tháng Kiếp khinh Sát, tính chồng hung ác; ngày Tài phá hư Ấn, vợ đi trụy lạc (phóng
đãng).
+ Chi ngày Thất Sát không có chế, vợ ác thường gây ra tai bay vạ gió; thiên nguyên Chính
quan không có hình, lộc dày đến từ trong nhà.
+ Thất Sát thấy nhiều là sinh con gái, một Quan đơn độc hiển lộ trái lại là sinh con trai.
+ Quan Sát tàng trong khố, có con hỏi nhà kề bên (vợ bé).
+ Tuế Vận không xung khai, tới chết cũng không có con.
+ Khử Quan tựu Thực, dựa vào Tử hình Phu; khử Thực tựu Ấn, Tử tinh nhược Phu tinh
cường.
+ Phu tinh ở năm giờ hoặc gặp xung, lấy chồng ở xa; Thê tinh tọa chi ngày hoặc đến hợp,
lấy vợ ở gần bên cạnh.
+ Ác Sát hỗn Quan như là mùa Xuân rơi rụng, Hoa Cái lâm quan nhuộm đen vàng.
14


+ Thương quan Tài Ấn vợ chồng quý, Thất Sát Thực thần gia đạo rực rỡ.
+ Dụng thủy mà thủy phiếm lạm (tràn lan), bệnh thận, huyết tật; hỉ mộc mà mộc điêu linh,
đầu não căng ra chóang váng; ghét kim mà kim quá nhiều, bệnh suyễn, phế thũng; kị hỏa mà
hỏa thế hung, tim đập nhanh, hồi hộp, dễ có vết thương lở loét.
+ Thủy kiệt, thổ đầy, bệnh tai mắt mù điếc, mộc chiết hỏa ám định mắt mù.
+ Thìn Sửu thổ hư tỳ vị (lá lách và dạ dày) phá hư, Dần Mão mộc đầy, gan mật tổn thương.
+ Tuất là mệnh môn nổi mụt lậu, Tý chính là tử cung, bàng quang.
+ Gân cốt đau đớn, chỉ là do kim mộc khắc chiến; tâm thận không giao nhau, bởi vì thủy hỏa
kích động.
+ Mộc Dục liền bệnh, phiền bệnh tửu sắc; Kiếp Sát trợ giúp tai họa, tai, họng, ruột non.
+ Thủy chủ Giang Hà chìm đắm; kim là binh khí cảnh máu me; hỏa là điện kích hỏa cháy;
mộc thì treo cổ xà nhà, côn bổng; thổ chính là ôn dịch độc khí, cùng rơi hãm, sụp lở.
+ Thương phần đa là mệt mỏi, Tỉ phần đa là tinh cường, Sát trọng thì ưu phiền, Tài trọng thì
vất vã, tổn thương.
+ Nhật thời tổn cách, tứ chi không đủ; niên nguyệt kèm theo kị, đầu mặt phá tướng.
+ Ngũ hành đều bình thì người có thọ, lục cách hư hao mệnh không dài.
Cần hiểu quốc mệnh thắng nhân mệnh, âm đức mỗi người có sâu có nông. Thế đạo thái bình,
công danh muốn bằng thi khảo; quốc gia chiến loạn, mũ Quan chỉ lấy súng mà tranh giành.
Tước Lộc cha truyền con nối, cũng không có thể phong hầu; văn hóa thông dụng, tuy có văn
bằng cũng trắng tay.
Hán Đế ức chế Thương, dân không giàu có lớn;
Tề vương thích kiếm, chiến sĩ nhiều vết thương.
Mục vương tàn nhẫn, cắt thiến mà thân theo về cung hoạn;
Pháp gia (một phái thời Tiên Tần) nghiêm khắc tàn bạo, tội hay vô tội đều tru di tam tộc.
Thời xưa con gái, 14 tuổi đã lấy chồng; Đàn ông ngày nay, hơn 20 tuổi mới kết hôn. Phụ nữ
khó sanh, thời xưa thì 10 có 9 em chết; ngày nay, trẻ em thì 5 có 4 sống. Vận mệnh giống
nhau, cổ kim thì có khác.
Loài người tiến bộ, vạn tượng đổi mới. Chỗ này học giả ghi nhớ, không thể không hiểu biến
thông. Trong đó kể cả cao thủ, cũng không thể đoán trúng cả trăm. Mỗi người đều có sai
biệt, tùy loại hình xem mệnh mà phân biệt, tuy nói Tử Bình là thần kỳ, cả đời cũng khó mà
đoán hết. Phong Thủy có công phụ tá, âm đức có thể có hại hoặc có lợi, thời đại quân tử,
việc người (sống chết, được mất, vui buồn, hợp tan) trước mắt cố gắng hết sức rồi sau đó
nghe theo thiên mệnh.
(Hết)

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×