Tải bản đầy đủ

SKKN giáo dục học sinh cá biệt

MỤC LỤC
Mục lục.........................................................................................................1
Danh mục viết tắt........................................................................................2
1. Đặt vấn đề.................................................................................................3
1.1. Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm............................................3
1.2. Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm........................................4
2. Tổng quan.................................................................................................4
2.1 Tổng quan thông tin về những vấn đề cần nghiên cứu.............4
2.2. Phạm vi và đối tượng của sáng kiến kinh nghiệm....................4
3. Phương pháp nghiên cứu........................................................................5
4. Phần nội dung.......................................................................................... 5
4.1. Cơ sở lý luận của vấn đề: ........................................................... 5
4.2. Cơ sở thực tiễn ...........................................................................5
4.2.1. Thực trạng tình hình về vấn đề:................................................5
4.2.2. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:....................7
Giải pháp 1. Tìm hiểu học sinh........................................................7
Giải pháp 2. Xây dựng quan hệ tin cậy, tôn trọng, thân thiện
với học sinh.......................................................................................9
Giải pháp 3. Xây dựng mối quan hệ phối hợp giáo dục................10
Giải pháp 4. Đưa ra biện pháp giáo dục phù hợp..........................12
Giải pháp 5. Đánh giá kết quả giáo dục..........................................13

4.2.3. Hiệu quả của SKKN:.................................................................13
4.3. Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ quá trình áp dụng
sáng kiến, kinh nghiệm, giải pháp của bản thân. ...........................14
5. Kết luận ...................................................................................................15
6. Kiến nghị..................................................................................................15
Tài liệu tham khảo.......................................................................................17
Phụ lục..........................................................................................................18
DANH MỤC VIẾT TẮT
1


1.Học sinh: HS; Học sinh cá biệt: HSCB
2.Giáo viên: GV
3.Giáo viên chủ nhiệm: GVCN
4.Giáo viên bộ môn: GVBM
5. Trung học cơ sở: THCS

1. ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Lý do chọn sáng kiến kinh nghiệm
2


HSCB là những HS có thái độ hành vi, ứng xử không phù hợp với các chuẩn
mực về đạo đức, chưa tích cực trong học tập và rèn luyện, kết quả học tập yếu kém,

Giáo dục HSCB là một vấn đề khó đối với giáo viên mà đặc biệt là đối với
GVCN. Và càng khó khăn hơn khi những HSCB này đang trong độ tuổi học lớp 8,
9. Ở độ tuổi này các em đang ở bước chuyển giao giữa trẻ con và người lớn, các
nhận thức của các em còn chưa hoàn thiện, do đó nếu giáo dục không phù hợp rất
dễ dẫn đến những hậu quả làm ảnh hưởng đến tương lai của chính các em, đến gia
đình của các em, để lại gánh nặng cho xã hội.
Trong thời buổi phát triển nhanh về công nghệ thông tin như hiện nay thì
những HSCB này còn dễ sa ngã hơn vào con đường hư hỏng như lạm dụng game,
sống ảo, thậm chí là hút chích, nghiện ngập,… và biết bao những hệ quả để lại từ
những cách giáo dục sai lệch.
Chính vì những lí do trên, mà người làm công tác giáo dục, đặc biệt là
GVCN lớp phải quan tâm nhiều hơn đến HSCB, dìu dắt các em đi đúng hướng đến
các chuẩn mực phù hợp với xã hội. Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy và giáo dục ở
trường hiện nay, có không ít thầy cô gặp khó khăn trong vấn đề này. Thậm chí đâu
đó ta vẫn nghe có những trường hợp GV thiếu kiềm chế trước những hành động


thiếu chuẩn mực của HS rồi dẫn đến những cách ứng xử, giáo dục thiếu tính sư
phạm, gây ồn ào trong dư luận và ảnh hưởng đến uy tính của ngành. Là một GV, tôi
cũng gặp những khó khăn tương tự, vậy nên tôi đã chọn vấn đề “ Giải pháp giáo
dục HSCB lớp 8,9 ở trường THCS An Sơn” để nghiên cứu áp dụng trong công tác
của mình.
1.2. Mục đích của sáng kiến kinh nghiệm
Mục đích của đề tài là nhằm tìm ra những giải pháp phù hợp nhất để giáo
dục những HSCB đang trong độ tuổi “khó bảo” lớp 8, 9. Những giải pháp này vừa
3


dùng làm tài liệu cho bản thân trong quá trình công tác, đồng thời làm tài liệu đẻ
trao đổi chuyên môn với các đồng nghiệp. Suy cho cùng cũng là góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục HS, giảm thiểu tối đa HS bỏ học do giáo dục thiếu phù hợp.
2. TỔNG QUAN
2.1 Tổng quan thông tin về những vấn đề cần nghiên cứu
Đề tài được bản thân nghiên cứu và thực hiện tại trường THCS An Sơn kể từ
năm học 2014-2015 đến nay. Thực tế cho thấy không có nhiều tài liệu nghiên cứu
về vấn đề này, riêng trên địa bàn huyện Kiên Hải cũng chưa có báo cáo đề tài nào
liên quan đến giáo dục HSCB lớp 8, 9.
2.2. Phạm vi và đối tượng của sáng kiến kinh nghiệm
Đề tài được thực hiện trong phạm vi trường THCS An Sơn, đối tượng nghiên
cứu là HS “cá biệt” lớp 8, lớp 9. Những HS “cá biệt” này thường có các đặc điểm
sau:
-Thường xuyên vi phạm nội quy
-Kết quả học tập yếu kém
-Thường xuyên trốn học, bỏ tiết,...
-Có thái độ hoặc hành vi ứng xử chưa phù hợp chuẩn mực.
-......
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập.
- Phương pháp điều tra;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm GD;
4. PHẦN NỘI DUNG
4


4.1. Cơ sở lý luận của vấn đề:
Cá biệt theo từ điển tiếng việt có nghĩa là riêng lẻ.
HSCB là những HS thường có những đặc điểm khác biệt so với những HS
khác như về kiến thức, sức khỏe hay tính cách,...
Xét theo môt phương diện khác, ở trường học, những HS thường xuyên có
những biểu hiện về thái độ, ứng xử, hành vi thiếu hoặc không phù hợp với chuẩn
mực chung của xã hội, hay có các biểu hiện thường là vi phạm nội quy, không chấp
hành các yêu cầu về học tập, về rèn luyện đạo đức,... được gọi là HSCB.
Nguyên nhân của HSCB thường do:
+Ảnh hưởng của nhóm bạn HS cá biệt tham gia.
+ Ảnh hưởng của gia đình: Gia đình đầy đủ hay khuyết thiếu, hoàn cảnh
kinh tế, văn hóa của gia đình, lối sống và bầu không khí tâm lí - đạo đức trong gia
đình, tính chất các mối quan hệ và sự gắn bỏ giữa các thành viên trong gia đình; sự
quan tâm của gia đình đối với việc giáo dục và học hành của con...
+ Ảnh hưởng của môi trường sống, các quan hệ xã hội khác.
4.2. Cơ sở thực tiễn (Thực trạng vấn đề nghiên cứu)
4.2.1. Thực trạng tình hình về vấn đề:
Từ thực tiễn công tác giáo dục ở trường hiện nay, còn tồn tại một số vấn đề sau:
Một là, về phía nhiều GV thường thiếu kiên nhẫn trước một HS lúc nào cũng
làm ảnh hưởng đến lớp, đến giờ dạy. Thành tích thi đua của lớp lúc nào cũng gần
như cuối bảng, sổ đầu bài tuần nào cũng rất nhiều giờ B, C, áp lực trước những
cuộc họp khi bị nhắc nhở về công tác chủ nhiệm của mình,… và rất nhiều nguyên
nhân nữa làm tiêu hao và mất đi lòng kiên nhẫn từ phía thầy cô.

5


Hai là, về phía gia đình: cũng còn nhiều gia đình có cách giáo dục không
phù hợp. Người thì quá nuông chiều, con muốn gì được nấy; người thì quá nóng
giận, hễ có thầy cô nhắc nhở là đánh đập rất nhiều; người thì bận quá nhiều việc
làm ăn mà không có thời gian quan tâm, giáo dục con cái.
Ba là, sự phối hợp giáo dục giữa các GV, giữa GV và gia đình, giữa gia đình,
nhà trường và xã hội còn chưa tốt.
Một số giải pháp với HSCB mà không ít giáo viên đã thường làm:
Nhắc nhở

Kiểm điểm, phê bình

Mời PHHS đến trường nhắc nhở

Học sinh bị đuổi, hoặc bỏ học

Đưa ra hội đồng kỉ luật

*Ưu điểm của giải pháp trên: có hiệu quả đối với một vài trường hợp ít cá
biệt, và nếu HS không tiến bộ thì kỉ luật bằng hình thức đuổi học 1 năm, HS khác
trong lớp học hành tiến bộ hơn do không bị ảnh hưởng bởi HSCB.
*Nhược điểm của giải pháp: không đem lại hiệu quả giáo dục đối với đa số
HSCB; HS bỏ học dẫn đến nhân cách phát triển không hoàn thiện, thậm chí hư
hỏng,… để lại một gánh thật nặng cho bản thân HS trong tương lai, cho gia đình và
xã hội.

4.2.2. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề:
6


a.Mục đích của giải pháp:
Hướng HS vào các chuẩn mực xã hội, giúp HS tiến bộ về rèn luyện đạo đức
và học tập. HS phải có thái độ đúng đắn trước các hành vi tiêu cực, không phù hợp,
không tham gia vào các tệ nạn xã hội.
b.Nội dung giải pháp:

5.Đánh giá kết quả giáo dục

1.Tìm hiểu
học sinh

SƠ ĐỒ
GIÁO DỤC
2.Xây dựng quan hệ tin cậy, tôn trọng, thân thiện
HỌC SINH
CÁ BIỆT

4.Đưa ra các biện pháp giáo dục phù hợp 3.Xây dựng quan hệ phối hợp giáo dục

Giải pháp 1. Tìm hiểu học sinh
Mỗi HSCB là một HS đặc biệt cần được quan tâm. GV cần tìm hiểu HS
thông qua nhiều kênh như hồ sơ, gia đình, bạn bè, phiếu điều tra HS,… để nắm bắt
chính xác nhất vì sao HS lại đặc biệt khác với các bạn. GV cần hết sức chú ý đến
7


điểm mạnh, điểm yếu, sở thích, điều không thích của HS để đưa ra cách ứng xử,
nhắc nhở phù hợp.
Để tìm hiểu HSCB cần chú ý một số nội dung về thu thập và xử lí thông tin
liên quan đến HS. Các nội dung cần thu thập là các yếu tố ảnh hưởng đến HS như:
ảnh hưởng của nhóm bạn, ảnh hưởng của gia đình, ảnh hưởng của môi trường sống;
các khó khăn của HS;các nhu cầu, sở thích, mong muốn, điểm mạnh của từng HS;
niềm tin, quan niệm của HS về giá trị cuộc sống; khả năng nhận thức, nhu cầu,
động cơ học tập; đặc điểm cơ bản về tính cách; các thói quen, hành vi lệch lạc và
nguyên nhân dẫn đến các hành vi đó,…
Một số phương pháp thu thập thông tin thường dùng là: thu thập thông qua
phiếu câu hỏi, thu thập thông qua hoạt động nhóm của HS, thu thập qua trò chuyện
với HS, thu thập thông qua giao tiếp với gia đình, với bạn bè, người thân của HS.
Thu thập thông tin qua phiếu câu hỏi dùng để nắm bắt các thông tin cơ bản
về HS, thường GV thiết kế một bản câu hỏi và cho HS điền vào, các nội dung
thường là:
-Họ, tên.
- Đặc điểm tính cách nổi bật.
- Những điểm mạnh.
- Những điểm yếu.
- Những sở thích.
- Những điều không thích.
- Những mong muốn.
- Những mục tiêu dài hạn, trung hạn và ngắn hạn.
- Những thuận lợi để thực hiện mực tiêu, mong muốn.
8


- Những khó khăn, rào cản trong việc thực hiện mực tiêu, mong muốn.
- Những ảnh hưởng tích cực từ gia đình, bạn bè, môi trường sống, học tập.
- Những nguy cơ, thách thức, ảnh hưởng tiêu cực từ gia đình, bạn bè, môi
trường sống, học tập.
- Bản thân cần sự giúp đỡ nào từ GV, bạn bè?
- Bản thân sẽ định làm gì để đạt được những mong muốn, mực tiêu của
mình?
Thu thập thông tin qua hoạt động nhóm của HS góp phần nắm chắt hơn về
thông tin của HS, đồng thời cũng để kiểm tra lại độ chính xác về các thông tin của
HS đã ghi trong phiếu câu hỏi.
Thu thập thông tin qua trò chuyện với HS là cách lấy thông tin trực tiếp và
hiệu quả. Qua đây, GV có thể đánh giá sơ bộ mức độ tin tưởng của HS đối với bản
thân GV, biết được rõ hơn về đặc điểm tính cách của từng HS. Thông qua đó một
lần nữa kiểm chứng lại các thông tin.
Đối với một số HS ít nói, ngại giao tiếp, GV có thể sử dụng biện pháp thu
thập thông tin gián tiếp qua người thân, bạn bè và gia đình HS.
Điều hết sức quan trọng trong thu thập thông tin là GV phải nắm bắt cho
bằng được nguyên nhân vì sao HS cá biệt. Có biết chính xác nguyên nhân thì mới
đưa ra được biện pháp tác động phù hợp.
Bước tiếp theo của việc thu thập thông tin là phải xử lí, lưu trữ và khai thác
các thông tin.Thông tin thu thập cần được so sánh đối chiếu để lọc lại các thông tin
chính xác nhất. GV nên lưu trữ thông tin HS cá biệt thông qua phiếu hoặc sổ theo
dõi hoặc lưu trữ trên máy tính. Từ đó khai thác thông tin: dự đoán, nhận xét, đưa ra
các biện pháp tác động, phòng ngừa các hành vi tiêu cực.
9


Giải pháp 2. Xây dựng quan hệ tin cậy, tôn trọng, thân thiện với HS.
Điều kiện đầu tiên để thành công là sự kiên nhẫn của GV. Đối mặt với những
hành vi, thái độ không đúng đắn của HS, GV cần đặt ra cho mình những lời tự nhắc
nhở rồi lặp lại chúng như thần chú để điều chỉnh bản thân, chẳng hạn như: “Hãy tha
thứ”, “Đừng nóng giận”, “Kiên nhẫn và bình tĩnh”,… và trước khi đưa ra một lời
nhận xét hay nhắc nhở HS nên đếm “1, 2, 3, 4, 5,…” hoặc hơn nữa để dành cho
mình 5- 10 giây suy nghĩ về tác dụng giáo dục.
Tiếp đến hãy hòa nhập cùng HS, cùng tham gia với HS những hoạt động
lành mạnh liên quan đến sở thích của HS như đá bóng, đi câu cá,… Thông qua đó
bản thân GV sẽ gần gũi và hiểu HS hơn.
Thông qua các hoạt động tập thể và các buổi sinh hoạt; nhất quán trong lời
nói và hành động, thưởng phạt rõ ràng để tạo dựng sự tin tưởng và tôn trọng của
HS đối với GV.
Xây dựng quan hệ tin cậy, tôn trọng, thân thiện với HS là một trong những
điểm mới mà trước đây ít có GV quan tâm đề cặp đến. Muốn xây dựng được mối
quan hệ này phải chú ý một số nguyên tắc: phải biết lắng nghe, biết giữ bí mật, biết
tôn trọng, biết tư vấn hiệu quả khi cần thiết.
Điều kiện cần có của GV để HS tin cậy và xây dựng quan hệ tốt:
-Giáo viên phải có “Tâm”: yêu nghề, hết lòng vì HS, công tâm trong nhận
xét đánh giá.
-Giáo viên phải có “Tầm”: phải chuẩn về chuyên môn, về đạo đức, tác
phong; có hiểu biết sâu rộng về những khó khăn của HS, biết tư vấn hiệu quả.
-Giáo viên phải biết “Nhẫn”. Biết kiềm chế đúng lúc, biết thông cảm và chia
sẽ.
Giải pháp 3. Xây dựng mối quan hệ phối hợp giáo dục.
10


Phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội. Mấu chốt là giữa GVCN và
GVBM; quan hệ giữa GVCN với gia đình HS để mọi người cùng hiểu hơn và thông
cảm hơn đối với HS, chấp nhận cho HS cơ hội sửa chữa, phối hợp cùng GVCN một
số biện pháp tác động đến các em.
Phải phối hợp tốt với GVBM, bởi vì HSCB rất dễ bỏ cuộc dù chỉ với một
nhận xét thiếu phù hợp. Hãy thử tưởng tượng giáo dục HSCB giống như bạn đang
nâng một quả bóng được thổi thật căng, bạn đang nâng thật nhẹ nhàng nhưng khi
chuyền sang người khác mà thiếu sự hợp tác có thể quả bóng sẽ nổ tung và công
sức của bạn sẽ đổ sông, đổ biển. Hãy trao đổi với các GVBM điều mà bạn đang
làm đối với HS, thảo luận về cách giáo dục HSCB và thống nhất cách thức áp dụng,
cùng cho HS cơ hội sửa đổi từ từ,…
Những việc nên làm:
-Không chất vấn GVBM về kết quả học tập của lớp.
-Không tạo cho GVBM suy nghĩ rằng GVCN đang bênh vực HS của mình.
-Trao đổi các thông tin về đặc điểm tâm lí và hoàn cảnh gia đình với GVBM
để GV hiểu và thông cảm.
-Trao đổi về những cơ hội của HS khi được GVBM tạo điều kiện.
Với phụ huynh HS, hãy chú ý hầu hết phụ huynh đều rất kì vọng ở con cái.
Một lời nói thiếu tế nhị sẽ chạm đến tự ái của phụ huynh và tiếp theo là bạn sẽ thất
bại trong giáo dục HSCB. Khi tiếp xúc với phụ huynh cần khen những mặt mạnh
mà con cái họ đã được được, nhận xét đúng mức những mặt còn chưa tốt và bàn
biện pháp để giáo dục. GVCN nên đến nhà phụ huynh thường xuyên hơn là mời lên
trường làm việc. Cố gắng để phụ huynh tin tưởng và phối hợp thì hiệu quả giáo dục
sẽ tốt hơn.
Những việc phải làm để phối hợp tốt với phụ huynh:
11


-Phải đến được nhà PHHS ít nhất là 1-2 lần trong 1 năm học để tìm hiểu hỏi
thăm việc học tập ở nhà của HS.
-Gởi được cho PHHS lịch học tập cũng như số điện thoại của tất cả GVBM
để kịp thời phối hợp.
-Thông báo ngay những bất thường của HS với PH. Nhưng đặc biệt lưu ý đối
với HSCB phải nói rõ những biện pháp mà GVCN đang tác động giáo dục và đề
nghị PHHS phối hợp, hỗ trợ. Những điều HS muốn giữ bí mật thì GVCN phải cân
nhắc kĩ về tác dụng giáo dục xem có nên trao đổi với PH hay không. Động viên và
tạo sự an tâm cho phụ huynh để họ cố gắng phối hợp. Đừng chỉ trích hay phê bình
con cái của họ vì sẽ có tác dụng ngược lại mong muốn giáo dục.

Giải pháp 4. Đưa ra biện pháp giáo dục phù hợp
Khi HS đã tin tưởng thì lời nói của GV sẽ có giá trị. Điều còn lại là động
viên và giúp đỡ các em vượt qua khó khăn. Với mỗi một HS cần có một giải pháp
tác động khác nhau tùy theo đặc điểm tâm lí và tình hình thực tế.
Tùy vào nguyên nhân dẫn đến những thái độ, hành vi sai lệch ở HS mà GV
tìm các cách thực tác động cho phù hợp, nhưng cần chú trọng:
- Giúp HS biết nhận thức đúng về điểm mạnh vã điểm yếu của bản thân.
-Giúp HS nhận thức được hậu qủa của những hành vi tiêu cực.
-GV cần phải quan tâm hỗ trợ các em vượt qua những khó khăn
và đáp ứng nhu cầu chính đáng của HSCB.
-Động viên, khích lệ, tạo động lực cho HSCB học tập và hoàn thiện nhân
cách cho HS.

12


-Sử dụng môi trường tập thể thân thiện và các mối quan hệ trong tập thể để
phát hiện kịp thời và tác động phù hợp đến từng cá nhân, tạo điều kiện tinh thần và
sự hỗ trợ đối với từng thành viên trong quá trình thực hiện.
Chú trọng kỉ luật giáo dục phải kết hợp với tình thương.
Giải pháp 5. Đánh giá kết quả giáo dục
HSCB cần được đánh giá khác so với HS bình thường, đừng đánh đồng các
em đối với HS khác.
Cần khích lệ, động viên đối với những cố gắng của các em.
Nếu được, hãy để con đường tương lai của các em được rộng hơn.
Đánh giá hành vi không đồng nhất với đánh giá nhân cách. Nếu HS cá biệt
thực hiện hành vi không mong đợi nào đó thì GV chỉ đánh giá hành vi đó, mà
không quy kết hành vi đó thành nét nhân cách của HS.
Đánh giá theo quan điếm tích cựcc đối với HSCB. Đánh giá đúng không
những giúp các em nhìn nhận đúng bản thân với những điểm mạnh cần phát huy và
những tồn tại cần khắc phục, mà còn tạo động lực cho HS nỗ lực rèn luyện tu
dưỡng.
Đánh giá sự tiến bộ của chính HSCB theo quá trình. Đánh giá sự tiến bộ của
HS so với chính bản thân trong mọi quan hệ với khả năng, sự nỗ lực của các em.
Đồng thời, cần xác nhận mức độ cụ thể đạt đươc kết quả giáo dục của từng em và
điều chỉnh quá trình giáo dục để nâng cao hiệu quả.
4.2.3. Hiệu quả của SKKN:
Khi áp dụng tại trường THCS An Sơn vào công tác chủ nhiệm lớp 8, 9. Tôi
thu được một số kết quả như sau

13


Về phía bản thân GV: Tôi nhận thấy mình hoàn thiện hơn về nghiệp vụ, đặc
biệt là trong công tác chủ nhiệm, khả năng giao tiếp với phụ huynh và HS cũng
được hoàn thiện rõ rệt. Hơn nữa, là học được sự kiên nhẫn, được sự tín nhiệm của
HS, phụ huynh và đồng nghiệp.
Về phía HS:
-Năm học 2014-2015: có 2 em HS lớp 9 được giáo dục thành công, cả hai
đều tốt nghiệp lớp 9. Một em hiện đang học 12 tại trường THCS An Sơn.
-Năm học 2015-2016: Giáo dục có hiệu quả được 1 HS.
-Năm học 2016-2017: Giáo dục có hiệu quả được 4 em, tất cả đều tốt nghiệp
lớp 9, có 3 em đang học lớp 10, 1 em đang nghỉ học vì điều kiện gia đình. Trong 4
em này có 3 em lưu ban từ năm học trước, sau khi vận động và tác động các em đã
đi học lại và tốt nghiệp THCS.
-Năm học 2017-2018: Giáo dục hiệu quả được 03 HS có ý định bỏ học do
học yếu. Kết quả cả 03 HS đều tốt nghiệp THCS.
Về phía xã hội: tôi nhận thấy có thêm một số HS được hoàn thiện về trình độ
và nhân cách, giảm đi một số em làm gánh nặng cho gia đình, cho địa phương. Và
hơn tất cả là con đường tương lai của các em đang được tiếp tục xây dựng và hoàn
thiện.
4.3. Những bài học kinh nghiệm được rút ra từ quá trình áp dụng sáng kiến, kinh
nghiệm, giải pháp của bản thân.
Một là, bài học về tính nhẫn nại trong công tác. Trước những thái độ không
đúng mực của HS chưa ngoan, GV cần kiên nhẫn, bình tĩnh xử lí trách tình trạng
“già néo dứt dây”.
Hai là, bài học về sự phối hợp giáo dục. Đây là một bài học theo tôi rất quan
trọng. Cá nhân mỗi GV sẽ không đem lại hiệu quả toàn diện. Cần huy động tinh
14


thần tập thể “Tất cả vì HS” từ phía GV để phối hợp nhắc nhở. Bên cạnh việc phối
hợp với gia đình cũn là yếu tố then chốt giúp thành công.
Ba là, bài học về tính gương mẫu. Mỗi GV cần phải thực hiện tốt nhiệm vụ
của mình, gương mẫu trong công việc, giữ gìn đạo đức trong sáng để HS noi theo.
Có như vậy HS mới có lòng tin nơi GV, các biện pháp giáo dục mới phát huy hiệu
quả.
5. Kết luận
Giáo dục HSCB là một vấn đề rất cần thiết trong công tác giảng dạy và giáo
dục, đặc biệt đối với GV làm công tác chủ nhiệm lớp. Việc áp dụng các giải pháp
phải được vận dụng linh hoạt tùy theo đặc điểm từng HS.
Giáo dục HSCB góp phần hạn chế được tình trạng HS bỏ học, giảm thiểu các
gánh nặng cho bản thân HS, cho gia đình các em và cho xã hội.
Thanh thiếu niên được giáo dục tốt từ nhà trường góp phần giảm các tệ nạn
xã hội, giảm vi phạm pháp luật; nhân dân an tâm, xã hội phát triển.
6. Kiến nghị
Về phía BGH nhà trường cần thường xuyên quan tâm chỉ đạo tốt công tác
chủ nhiệm lớp, có nhận định đúng mực, động viên khen thưởng, kịp thời. Bên cạnh
phải có hình thức nhắc nhở, đánh giá đúng mức đối với những GV thiếu gương
mẫu, làm qua loa, đại khái. Khen thưởng các HS có tiến bộ, có cố gắng để động
viên, khích lệ các em.
Về phía phòng giáo dục, cần thường xuyên tổ chức các buổi hội thảo; nhân
rộng các điển hình tiên tiến trong công tác chủ nhiệm.

15


Tài liệu tham khảo
1.Lý Minh Tiên-Nguyễn Thị Tứ (Chủ biên), Bùi Hồng Hà, Huỳnh Lâm Anh
Chương, Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, Nhà xuất bản ĐHSP Thành
phố Hồ Chí Minh năm 2016.
2.PGS.TS Hoàng Anh-TS. Đỗ Thị Châu, 300 tình huống sư phạm, Nhà xuất
bản GD 2010.
16


3.Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên THCS

Phụ lục (nếu có)
Một số biện pháp tác động đến HSCB cho tình huống cụ thể
1.Tình huống 1. Học sinh mê game, học tập sa sút, ba mẹ nói không nghe.
Một HS A nghiện game, được cha mẹ cưng chiều. Hiện tại em dành thời gian
hơn 10 tiếng mỗi ngày để chơi game, đến ngày chủ nhật thì em chơi cả ngày, môn
nào thích thì học, không thì nghỉ tiết, kết quả học tập sa sút, ba mẹ hiện tại không
17


thể giáo dục hiệu quả. Qua tìm hiểu tôi biết được em A có khá thông minh, ngoài
game còn thích đi câu cá, lặn biển, em A cũng nhiệt tình với bạn bè, thích được thể
hiện với thầy cô,… Tôi đã xử lí trường hợp này như sau:
-Tôi tìm hiểu game em đang chơi, mỗi giờ ra chơi tôi thường dành vài phút
để hỏi và trò chuyện cùng em về game này, tôi lắng nghe và em nói rất thích thú,
tôi chỉ hỏi một vài câu: Khi lên “bậc Kim Cương” em cảm giác thế nào? (em A
đang chơi game Liên minh huyền thoại) Em thấy game này có gì hay, có gì chưa
hay? Em có muốn trở thành một người viết game để người khác chơi hay không?
-Lên lớp tôi giao cho em một vài nhiệm vụ như dẫn chương trình buổi thảo
luận tại lớp chủ đề “Game”; hoặc tham gia một tiểu phẩm nhỏ trong tiết sinh hoạt
dưới cờ. Tôi nhận thấy em thực hiện khá tốt và tôi đã khen “Em thực hiện rất tốt”.
-Chủ nhật, tôi hay rủ A và một vài bạn cùng nhóm của em A đi lặn biển câu
cá. Tôi học từ các em cách câu, cách lặn. Thời gian chơi game của em vào ngày chủ
nhật bị cắt giảm một cách tự nhiên.
-Tôi gặp gỡ phụ huynh nhiều hơn và trao đổi về những điều tôi đang làm với
em A, và khuyên gia đình nên phối hợp thế nào.

-Với sự giúp đỡ, phối hợp của các thầy cô bộ môn, cuối cùng em đã vượt qua
được lớp 9. Cuối năm thời gian chơi game của em đã giảm hẳn. (Nói thêm: Em A là
HS lưu ban của năm học trước, tôi đã khuyên em đi học lại, và trong năm học em
đã định bỏ học 2 lần. Hiện tại em đang học lớp 10).
2.Tình huống 2. Học sinh học yếu, không thích giáo viên bộ môn, chán
nản, muốn bỏ học.

18


Học sinh B không thích một GVBM của mình, kết quả học tập bộ môn đó rất
thấp, hầu hết các tiết học môn này HS đều bị nhắc nhở. Em chán học, muốn bỏ học
vì nghĩ rằng trước sau cũng ở lại lớp vì thầy cô đó đã ghét mình.
Qua tìm hiểu các thông tin, ghi nhận kết quả sơ bộ như sau:
-Học sinh B là một HS có sức học trung bình, thích gây chú ý cho người
khác mà lại đặc biệt không thích người khác phê bình. Ở nhà, em cũng hay giúp đỡ
ba mẹ trong một số công việc, khi ba mẹ la mắng thì cũng giận lâu và không chịu
làm theo ý ba mẹ.
-Về phía GVBM cũng hơi nghiêm khắc quá với các em. Không riêng gì B
mà một số HS khác cũng không thích cách nhắc nhở của thầy.
Cách xử lí tình huống đã làm:
-GVCN lớp tổ chức 1 tiết thảo luận chủ đề “ Làm thế nào để học tốt bộ
môn….”. Phân công các HS chuẩn bị câu hỏi thảo luận và các vấn đề liên quan.
Phân công Lớp phó học tập tổng hợp các ý kiến đề nghị của HS lớp.
-GVCN gặp trực tiếp GVBM trao đổi tình hình lớp và mời GVBM tham gia
buổi thảo luận cùng với lớp, bên cạnh tìm cách tháo gỡ một số khúc mắc giữa thầy
và trò.
-Thông qua một số câu hỏi thảo luận và ý kiến HS như
-Theo bạn việc học tập môn …… có ích lợi gì? vì sao tình hình học môn …..
của lớp mình chưa tốt?
-Theo bạn thì làm thế nào để lớp mình học tốt môn ……?
-Bạn chia sẽ thêm kinh nghiệm của bạn khi học tập môn …..: ví dụ như làm
sao để nhớ lâu, làm sao để giải bài tập tốt ,…?
-Bạn có đề nghị gì đến GVBM ?
19


Trên cơ sở ý kiến của HS, GVCN gợi ý để GVBM và HS cũng nói ra những
vấn đề thực tế của lớp để thầy trò hiểu nhau hơn, trong tiết thảo luận nên tạo cơ hội
cho B được phát biểu ý kiến; có thể xen kẻ trò chơi hoặc bài hát để GVBM và HS
tham gia nhằm giảm bớt sự căng thẳng, cũng là để làm gần hơn khoảng cách giữa
thầy và trò. Kết thúc thảo luận, GVCN cần chốt lại những yêu cầu cần đạt sau buổi
thảo luận.
-Gặp riêng GVBM trao đổi thêm về tình hình và đặc điểm tâm lí của học
sinh B, nói rõ những biện pháp GVCN đang áp dụng để giáo dục và đề nghị
GVBM giúp đỡ, nhờ GVBM gặp riêng B để trò chuyện nhằm xóa đi suy nghĩ trong
B là “bị thầy ghét”.
-Gặp riêng HS B, trao đổi, tư vấn một số vấn đề nghề nghiệp và cuộc sống để
khuyên em không bỏ học giữa chừng; hướng dẫn một số kĩ thuật giao tiếp với
GVBM sau cho phù hợp.
Kết quả sau hơn 1 tháng, B vẫn tiếp tục học bình thường, việc học tập bộ
môn có chuyển biến tốt.

20


21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×