Tải bản đầy đủ

skkn TRẢI NGHIỆM SÁNG tạo QUA HOẠT ĐỘNG tìm tòi, mở RỘNG để tìm HIỂU BIỆN PHÁP xử lí nước THẢI c

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi:
- Hội đồng thẩm định sáng kiến huyện Kim Sơn.
- Hội đồng sang kiến Phòng GD&ĐT huyện Kim Sơn
Tôi:
TT

Họ và tên

1

Đinh Thị Hảo

Ngày tháng năm Nơi công tác Chức vụ Trình độ chuyên Tỷ lệ (%) đóng góp vào
sinh
môn
việc tạo ra sáng kiến
Trường THCS

100%
21/01/1980
Giáo viên
Đại học
Kim Chính

I. Tên sáng kiến, lĩnh vực áp dụng
1. Tên sáng kiến
"Trải nghiệm sáng tạo qua Hoạt động tìm tòi, mở rộng để tìm hiểu
biện pháp xử lí nước thải của phẩm nhuộm cói trong bài Cacbon”.
2. Lĩnh vực áp dụng
Sáng kiến được áp dụng vào lĩnh vực giáo dục trải nghiệm nói chung và
áp dụng trong dạy học hóa học lớp 9 nói riêng.
II. Nội dung sáng kiến
GV hướng dẫn học sinh biết vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các
tình huống thực tế là việc làm hiện nay cần được tăng cường trong dạy học. Mà
nhất là các tình huống học sinh vẫn gặp.
Nơi tôi ở là một làng nghề có truyền thống dệt chiếu cói nổi tiếng của
Huyện. Tôi rất tự hào về điều đó, nhưng bên cạnh niềm vui đó cũng còn có
những băn khoăn lo lắng vì nước thải của phẩm nhuộm cói được xả trực tiếp ra
sông hoặc xuống ao, hồ mà chưa qua xử lí.
Một số học sinh ở địa phương cũng phải tham gia vào hoạt động này vì
các em phải giúp gia đình. Nhưng nhiều em không ý thức được tác hại của việc
mình và người thân của mình làm hoặc ý thức được thì cũng không biết phải làm
thế nào? Nên tình trạng đó hiện nay vẫn diễn ra.
1. Giải pháp cũ thường làm
1.1. Nội dung
- Trước đây khi kết thúc bài học cung cấp kiến thức mới, ở phần “Hướng
dẫn về nhà” giáo viên (GV) thường hướng dẫn học sinh (HS) về nhà thực hiện
các yêu cầu như:
+ Học thuộc công thức, khái niệm, tính chất, ...
+ Hoàn thành các bài tập trong sách giáo khoa sau bài học.
+ Làm thêm các bài tập trong sách bài tập.
- Hai năm trở về đây phần “Hướng dẫn về nhà” đã được thay bằng “Hoạt
động: Tìm tòi, mở rộng”. Tuy nhiên, theo tìm hiểu thực tế ở nhiều trường trong
1


tỉnh tôi thấy, đa phần GV khi soạn giáo án cũng như thực dạy đều đơn giản hóa
phần hoạt động này bằng cách ngoài việc yêu cầu HS như:


+ Học thuộc công thức, khái niệm, tính chất, ...
+ Hoàn thành các bài tập trong sách giáo khoa sau bài học.
+ Làm thêm các bài tập trong sách bài tập.
Sau đó, cũng yêu cầu HS về nhà vận dụng kiến thức đã học để giải thích
hoặc liên hệ thực tế một cách chung chung. Kết quả của hoạt động không được
kiểm tra, báo cáo.
- Với bài Cacbon, khi sang phần hoạt động: Tìm tòi, mở rộng, GV thường
yêu cầu HS về nhà:
+ Học thuộc các dạng thù hình của Cacbon, tính chất hóa học và viết
được phương trình cho các tính chất hóa học.
+ Hoàn thành các bài tập trong sách giáo khoa trang 84 (SGK hóa học 9)
+ Làm thêm các bài tập trong sách bài tập.
+ Vận dụng kiến thức đã học để tìm hiểu ứng dụng của Cacbon.
Kết quả của hoạt động không được kiểm tra, báo cáo.
Theo quan sát và điều tra tôi thấy hiện nay việc dạy học thường diễn ra
như sau:
- Về phía GV
+ GV ít khi hướng dẫn HS gắn kiến thức đã biết để giải quyết các thực
trạng tồn tại xung quanh, ít giao nhiệm vụ cho học sinh tự làm thí nghiệm ở nhà.
Chưa chú trọng đến việc phát huy các năng lực cho học sinh đặc biệt là năng lực
thực nghiệm, năng lực giải quyết vấn đề liên quan đến đời sống của chính bản
thân HS và cộng đồng.
+ GV chưa coi trọng việc phát triển năng lực của HS, chưa có nhiều liên
hệ thực tế, chưa định hướng cho HS gắn kiến thức đã học để giải quyết các tình
huống trong cuộc sống.
+ Chưa tổ chức được các hoạt động ngoại khoá, hoạt động trải nghiệm
sáng tạo về hoá học, chưa tạo cho học sinh được những thực nghiệm để dùng
kiến thức hóa học đã biết giải quyết các tình huống thực tế nên chưa tạo được
hứng thú học tập và rèn luyện các năng lực cần thiết cho học sinh.
- Về phía HS
+ Đa số các em cho rằng Hoá học là môn học khó, khô khan, học mà
không biết ứng dụng vào cuộc sống. Các em chưa biết cách học hiệu quả, sắp
xếp và bố trí thời gian học tập hợp lí.
+ Việc học mang lại nhiều áp lực do cách dạy không mang lại hứng thú
trong học tập, nhiều học sinh lười do không có hình thức học tập thu hút, không
đam mê.
+ Không được làm việc theo nhóm, không được thực nghiệm và thảo
luận với nhau về các kiến thức nên các em không mạnh dạn và tự tin khi trình
bày hoặc bảo vệ ý kiến của mình.
Qua những phân tích trên tôi nhận thấy, những bài học nào có kiến thức
liên quan đến thực tế thì nên tổ chức “Hoạt động: Tìm tòi, mở rộng” bằng cách
tổ chức cho HS tham gia hoạt động trải nghiệm sáng tạo để các em biết vận
2


dụng kiến thức đã học vào giải quyết các tình huống thực tế, đặc biệt là những
vấn đề được coi là vấn nạn, là nỗi lo của cộng đồng.
1.2. Ưu điểm:
Với cách tổ chức hoạt động như vậy cũng giúp HS:
- Nhớ lại kiến thức, xâu chuỗi mối quan hệ giữa các kiến thức đã học.
- Giải được các dạng bài tập liên quan đến kiến thức đã học và hình
thành được kĩ năng giải bài tập tốt.
- Học sinh học thuộc các công thức hoá học, khái niệm, tính chất, ....
3.3. Nhược điểm:
Với cách tổ chức hoạt động như trên thì:
- HS không có cơ hội hình thành và phát triển năng lực của bản thân
như: năng lực thực hành, năng lực sáng tạo, năng lực dùng kiến thức đã biết để
giải quyết vấn đề, ...
- Kỹ năng vận dụng kiến thức hoá học đã học vào giải quyết các hiện
tượng hoá học trong đời sống còn kém. HS không được quan sát thí nghiệm
cũng như trực tiếp làm thí nghiệm. Do đó, cơ hội để cho các em hiểu sâu kiến
thức, rèn luyện kỹ năng cũng như phát triển năng lực sáng tạo không nhiều.
- Các em ở độ tuổi rất ham thích tìm hiểu những thứ mới lạ, tính cách đa
phần ưa hoạt động nhưng giờ học nội khoá còn nặng nề về kiến thức, không gây
được hứng thú học tập tìm tòi nghiên cứu của các em.
- Khả năng làm việc tự lực, sinh hoạt nhóm, diễn đạt về một vấn đề của
HS còn rất kém. Nhiều em không tự tin với kiến thức vốn có của mình, không
biết các em cũng không mạnh dạn trao đổi với GV và bạn học. Không có khả
năng nói trước đám đông.
2. Giải pháp mới cải tiến
2.1. Nội dung
Thực hiện “Hoạt động: Tìm tòi, mở rộng” bằng hình thức tổ chức cho HS
tham gia hoạt động trải nghiệm sáng tạo (TNST) giúp các em biết áp dụng kiến
thức đã học để giải quyết các tình huống thực tế. Qua đó HS thấy được kiến thức
luôn gắn liền với đời sống, đồng thời góp phần nâng cao năng lực như: Năng lực
thực hành; năng lực sáng tạo; năng lực dùng kiến thức đã biết để giải quyết vấn
đề và các kỹ năng sống khác như: Kỹ năng giao tiếp; kỹ năng xử lí tình huống;
kỹ năng thuyết trình, báo cáo, …
Một trong những hình thức tổ chức dạy học tích cực mang lại sự sáng tạo,
hứng thú học tập, tích cực học tập, phát triển năng lực của học sinh, tôi thấy đó
chính là hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
Qua quá trình nghiên cứu và giảng dạy bài Cacbon tôi thấy, tính hấp phụ
của Cacbon có rất nhiều ứng dụng trong đời sống. Mà ở địa phương nơi tôi và
HS đang sinh sống là làng nghề chiếu cói. Nước thải của Phẩm nhuộm cói được
người dân (trong đó có cả bố, mẹ và người thần của HS) xả trực tiếp ra sông
hoặc xuống ao, hồ mà chưa qua xử lí vì nhiều lí do như: thói quen; không biết
phải xử lí nước thải đó như thế nào cho đơn giản và nhanh nhất, … nên tình
trạng đó nay vẫn diễn ra.
3


Vì vậy, sau khi dạy bài này, tôi đã thực hiện “Hoạt động: Tìm tòi, mở
rộng” bằng cách hướng dẫn, tổ chức cho HS tiến hành trải nghiệm sáng tạo
qua hoạt động tìm hiểu, thực nghiệm và đưa ra biện pháp xử lí nước thải
của phẩm nhuộm cói để HS vận dụng kiến thức đã học về tính hấp phụ của
Cacbon giải quyết bài toán thực tế đó là việc xử lí nước thải của phẩm nhuộm
cói tại địa phương và cũng là trong chính gia đình của nhiều HS.
2.2. Ưu điểm
Với cách tổ chức hoạt động như vậy cũng giúp HS:
- Khi tổ chức hoạt động dạy học hoạt động TNST HS không phải thụ
động lĩnh hội kiến thức, học sinh được đặt vào những tình huống của đời sống
thực tế, được trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề
theo suy nghĩ của mình từ đó phát triển năng lực sáng tạo.
- Biết vận dụng các kiến thức đã học vào giải quyết các tình huống thực tế
đặc biệt là các hiện tượng tồn tại xung quanh các em.
- Khi HS được tham gia hoạt động (TNST) giúp các em thấy được kiến
thức luôn gắn liền với đời sống, đồng thời góp phần nâng cao năng lực như:
Năng lực thực hành; năng lực sáng tạo; năng lực dùng kiến thức đã biết để giải
quyết vấn đề và các kỹ năng sống khác như: Kỹ năng giao tiếp; kỹ năng xử lí
tình huống; kỹ năng thuyết trình, báo cáo, …
- Là cơ hội để phát huy sự sáng tạo của các em, tạo hứng thú học tập, tích
cực học tập, phát triển năng lực của học sinh.
- Khi học xong bài Cacbon, các em được trải nghiệm sáng tạo qua hoạt
động tìm hiểu, thực nghiệm và đưa ra biện pháp xử lí nước thải của phẩm
nhuộm cói. Khi đó các em biết vận dụng kiến thức đã học về tính hấp phụ của
Cacbon giải quyết bài toán thực tế đó là việc xử lí nước thải của phẩm nhuộm
cói tại địa phương và cũng là trong chính gia đình của nhiều HS. Qua đó, nâng
cao sự hiểu biết của HS và người dân về tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay
ở địa phương đặc biệt là ô nhiễm môi trường nước mà nguyên nhân một phần là
do nước thải của Phẩm nhuộm cói. Đồng thời giáo dục ý thức bảo vệ môi trường
cho HS và giúp các em biết vận dụng những kiến thức đã học để giải quyết các
vấn đề xử lí nước thải của phẩm nhuộm cói tại địa phương.
2.3. Nhược điểm
- GV cần phải nỗ lực nhiều trong việc lên kế hoạch, thiết kế và tổ chức
hoạt động phù hợp cho HS vào từng bài hoặc từng đơn vị kiến thức.
- GV phải biết sắp xếp và bố trí thời gian hoạt động hợp lí.
3. Cơ sở lí luận của hoạt động "Trải nghiệm sáng tạo qua Hoạt động tìm
tòi, mở rộng để tìm hiểu biện pháp xử lí nước thải của phẩm nhuộm cói
trong bài Cacbon”.
Theo PGS.TS Đinh Thị Kim Thoa – Chủ nhiệm khoa Khoa học giáo dục
trường Đại học Quốc gia Hà Nội trong tài liệu Hoạt động trải nghiệm sáng tạo –
Góc nhìn từ lí thuyết “học từ trải nghiệm” năm 2014 thì “Làm và thực hành,
trải nghiệm đều là những phương thức học hiệu quả, gắn với vận động, với thao
tác vật chất, với đời sống thực. Việc học thông qua làm, học đi đôi với hành và
học từ trải nghiệm sẽ giúp người học đạt được tri thức và kinh nghiệm nhưng
4


theo hướng tiếp cận không hoàn toàn như nhau, trong đó trải nghiệm có ý nghĩa
giáo dục cao nhất trong đó bao hàm cả làm và thực hành”.
Như vậy, hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm hình thành và phát triển
phẩm chất, nhân cách, các năng lực tâm lí – xã hội, …; giúp HS phát huy được
các kỹ năng sống, phát triển được các năng lực thực hành thí nghiệm; năng lực
giải quyết vấn đề; năng lực tư duy, suy luận; năng lực sáng tạo trong việc làm
các thí nghiệm thực nghiệm; năng lực báo cáo, thuyết trình và một số năng lực
khác.
3.1. Cơ sở lí luận của hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Theo tác giả Nguyễn Thị Liên chủ biên tài liệu Tổ chức hoạt động trải
nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông (2016) thì trải nghiệm sáng tạo có
các đặc điểm sau:
* Trải nghiệm
- Trải nghiệm đơn giản nhất là những gì con người đã từng trải qua kinh
nghiệm thực tế, từng biết, từng làm, từng chịu để phục vụ lại cho cuộc sống.
- Con người được trực tiếp tham gia vào các loại hình hoạt động và các
mối quan hệ giao lưu phong phú đa dạng một cách tự giác.
- Con người được thử nghiệm, thể hiện bản thân trong thực tế từ đó hiểu
mình hơn, tự phát hiện khả năng của bản than.
- Con nguời được tương tác, giao tiếp với người khác, với tập thể, với
cộng đồng, với sự vật, hiện tuợng ... trong cuộc sống.
- Kết quả của trải nghiệm là hình thành được kinh nghiệm mới, kiến thức
mới, năng lực mới ....
* Sáng tạo
- Sáng tạo là việc tạo ra những sản phẩm cần thiết cho cuộc sống của con
người và xã hội.
- Quá trình sáng tạo là quá trình diễn ra từ ý nghĩ cho đến lúc tạo ra kết
quả sáng tạo. Đó là sự chuẩn bị, suy nghĩ, nảy sinh ý tưởng, đó là sự huy động
cao độ toàn bộ sức mạnh trí tuệ của chủ thể sáng tạo.
- Sáng tạo là một năng lực đặc biệt của tiến hoá văn hoá, là năng lực đặc
biệt của cá nhân, cũng có nghĩa nó trở thành một trong những năng lực quan
trọng nhất để mỗi con người chuẩn bị cho cuộc sống của mình, giúp chúng ta
chế ngự những hoàn cảnh luôn biến đổi.
* Hoạt động trải nghiệm sáng tạo
- Hoạt động trải nghiệm sáng tạo là những hoạt động giáo dục có mục
đích, có tổ chức nhằm hình thành phẩm chất và năng lực cho người học đồng
thời giáo dục tính nhân văn, giáo dục sáng tạo, giáo dục phẩm chất và kĩ năng
sống cho người học.
- Hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhấn mạnh đến sự trải nghiệm, thúc đẩy
năng lực sáng tạo của người học và được tổ chức một cách linh hoạt, sáng tạo:
từ nội dung, hình thức, quy mô, địa điểm, lực lượng phối hợp ...
Theo tôi trải nghiệm sáng tạo trong dạy học hóa học là việc thực hiện các
hoạt động dạy học nhằm hướng đến nơi mà học sinh có các năng lực trong trải
nghiệm sáng tạo và các năng lực đặc thù trong môn Hóa học. Bởi vì các năng
5


lực trong môn Hóa học có quan hệ mật thiết đối với các năng lực trong trải
nghiệm sáng tạo, cụ thể:
+ Năng lực sáng tạo trong TNST có mối quan hệ với năng lực sáng tạo,
năng lực nghiên cứu và thực hành Hóa học.
+ Năng lực tham gia và tổ chức các hoạt động trong TNST có mối quan hệ
với năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề.
+ Năng lực định hướng nghề nghiệp trong TNST có mối quan hệ với năng
lực sử dụng ngôn ngữ hóa học, năng lực vận dụng kiến thức hóa học vào cuộc
sống.
+ Năng lực tích cực hóa bản thân trong TNST có mối quan hệ với năng lực
tính toán và thực hành thí nghiệm.
Như vậy, các năng lực trong dạy học hóa học và năng lực trải nghiệm sáng
tạo có sự thống nhất, đan xen với nhau. Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học và
năng lực thực hành thí nghiệm là hai năng lực đặc thù của hóa học.
3.2. Các hình thức hoạt động TNST theo định hướng chương trình giáo
dục phổ thông mới
- Hoạt động TNST được tổ chức dưới nhiều hình thức khác nhau như:
+ Câu lạc bộ
+ Tổ chức diễn đàn
+ Sân khấu tương tác
+ Tham quan, dã ngoại
+ Tổ chức trò chơi
+ Hoạt động giao lưu
+ Hoạt động chiến dịch
+ Hoạt động nhân đạo
+ Hoạt động tình nguyện
+ Lao động công ích
+ Hội thi/cuộc thi
- Thực tế trong sáng kiến:
+ HS được lôi cuốn vào các hoạt động tìm hiểu thực tế, làm các thí
nghiệm thực nghiệm một cách chủ động, tích cực, các em được chủ động tìm
hiểu và tiến hành làm các thí nghiệm.
+ Các nhóm được tự thiết kế các báo cáo đảm bảo đúng yêu cầu.
+ Giúp HS tăng cường khả năng vận động các giác quan, phát triển tư
duy, khả năng giao tiếp, khả năng tổ chức nhóm, đồng thời còn giúp tạo mối
quan hệ hỗ trợ, hợp tác giữa các HS với nhau thể hiện trong quan hệ hợp tác
nhóm.
+ Tạo tâm lí thoải mái, vui vẻ cho HS đồng thời làm cho một phần của
bài học nhẹ nhàng và hiệu quả.
+ Hoạt động tập thể, hợp tác nhóm tác động rất mạnh đến đời sống tình
cảm của HS, giúp các em yêu thích môn học hơn.
- Ở sáng kiến này tôi chọn hoạt động TNST dưới hình thức chiến dịch:
Tìm hiểu về thực trạng môi trường của làng nghề chiêu cói và giải pháp khắc
6


phục vì tôi muốn các em thấy được thực trạng môi trường hiện nay nói chung và
của địa phương nơi các em đang ở có làm nghề chiếu cói nói riêng đang rất cần
sự cải thiện. Giáo dục các em có ý thức bào vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe của
mình, những người thân và cộng đồng, đồng thời góp phần duy trì và phát triển
làng nghề chiếu cói truyền thống của địa phương.
3.3. Kế hoạch tổ chức hoạt động TNST thông qua việc tìm hiểu, thực
nghiệm và đưa ra biện pháp xử lí nước thải của phẩm nhuộm cói.
3.3.1. Mục tiêu tổ chức hoạt động thực nghiệm.
HS tìm hiểu và nắm được thực trạng ô nhiễm môi trường nước ở địa
phương. Nguyên nhân của thực trạng đó, nhưng quan tâm đến một trong số các
nguyên nhân là nước thải của phẩm nhuộm cói.
HS vận dụng kiến thức đã học là tính hấp phụ của Cacbon để làm các thí
nghiệm thực nghiệm lọc nước thải của phẩm nhuộm cói.
Đưa ra các giải pháp để khắc phục thực trạng xả nước thải của phẩm
nhuộm cói ra môi trường mà chưa qua xử lí.
Thông qua các hoạt động trên HS sẽ đạt được:
- Về kiến thức: HS nắm chắc được tính hấp phụ của Cacbon và biết
được cấu tạo, tính chất của Cacbon.
- Về kỹ năng: HS biết vận dụng kiến thức được học vào giải quyết các
tình huống trong cuộc sống.
- Về thái độ: Tạo hứng thú học tập cho HS, giáo dục ý thức và trách
nhiệm trong việc bảo vệ môi trường, làm sinh động các hoạt động học.
- Về phát triển năng lực: Được trải nghiệm giúp HS hình thành và phát
triển các năng lực như:
+ Năng lực tìm hiểu vấn đề: Qua việc đi tìm hiểu thực tế và tìm hiêu các
thông tin hỗ trợ trên các phương tiện như sách giáo khoa, sách tham khảo, mạng
internet, …
+ Năng lực tự học: Lập được kế hoạch hoạt động thông qua việc thu
nhận thông tin cần cho hoạt động.
+ Năng lực giải quyết vấn đề: HS biết đặt ra những câu hỏi như: Tại sao
những người dệt chiếu lại không xử lí nước thải của phẩm nhuộm? Tại sao nước
thải của phẩm nhuộm lại gây ô nhiễm môi trường? Tác hại của nước thải phẩm
nhuộm như thế nào? Giải quyết thực trạng xả nước thải của phẩm nhuộm cói ra
môi trường chưa qua xử lí bằng cách nào? ….
+ Năng lực sáng tạo: HS biết sử dụng tính hấp phụ của Cacbon để giải
quyết thực trạng xả nước thải của phẩm nhuộm cói ra môi trường chưa qua xử lí.
Đồng thời biết cách thiết kế bể lọc nước thải của phẩm nhuộm cói đơn giản, ít
tốn kém và hiệu quả.
+ Năng lực giao tiếp, sử dụng ngôn ngữ: Sử dụng được ngôn ngữ hóa
học để mô tả hiện tượng, vẽ, thiết kế được sơ đồ thí nghiệm, mô tả được sơ đồ
thí nghiệm, đưa ra được lập luận logic biện chứng.
+ Năng lực hợp tác: Tiến hành thí nghiệm, thiết kế theo nhóm.
+ Năng lực tính toán: Biết tính toán cho phù hợp với thực tế.
7


+ Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông: Sử dụng các phương
tiện hỗ trợ như máy tính, điện thoại, …
3.2.2. Hình thức hoạt động thực nghiệm.
Làm việc theo nhóm, lớp chia thành 4 nhóm.
3.2.3. Dự kiến thời gian và nội dung thực hiện hoạt động thực nghiệm.
Tổ chức vào 3 buổi chiều thứ 5 của 3 tuần liên tiếp sau khi học xong bài
Cacbon, trong đó:
- Buổi chiều thứ năm (tuần 1): Các nhóm đi thực tế ở địa phương để
nắm bắt tình hình sử dụng phẩm nhuộm cói, cách xử lí nước thải của phẩm
nhuộm cói và tình trạng ô nhiễm nguồn nước do nước thải của phẩm nhuộm cói.
Sau đó tìm hiểu thêm về các tính chất của phẩm nhuộm và tính hấp phụ của
Cacbon trong việc xử lí nước thải của phẩm nhuộm cói.
- Buổi chiều thứ năm (tuần 2): Các nhóm tiến hành chuẩn bị các vật liệu
và làm các thí nghiệm thực nghiệm, theo dõi, ghi chép các kết quả của các thí
nghiệm để hoàn thành báo cáo.
- Buổi chiều thứ năm (tuần 3): Các nhóm báo cáo kết quả của hoạt động
TNST.
3.2.4. Báo cáo sản phẩm và hoạt động thực nghiệm.
Căn cứ vào báo cáo của các nhóm, GV ghi nhận kết quả thực nghiệm
của các nhóm và xác nhận quá trình sáng tạo, cố gắng của HS.
3.3. Triển khai tổ chức cho HS hoạt động TNST qua hoạt động tìm hiểu,
thực nghiệm và đưa ra biện pháp xử lí nước thải của phẩm nhuộm cói.
Sau khi học xong bài Cacbon, qua các thí nghiệm được trược tiếp làm và
quan sát, HS biết được Cacbon có tính hấp phụ. Nghĩa là “Khả năng giữ lại trên
bề mặt của nó các chất rắn, chất khí và chất hơi hòa tan trong nước”.
3.3.1. Chia nhóm để chuẩn bị cho hoạt động TNST.
Tôi chia lớp thành 4 nhóm theo 4 tổ và yêu cầu các nhóm cử ra: Nhóm
trưởng, thư kí và phân công nhiệm vụ cho các thành viên, cụ thể:
- Nhóm trưởng:
+ Điều hành hoạt động của nhóm.
+ Quan sát việc thực hiện nhiệm vụ của các thành viên.
+ Tổng hợp ý tưởng và báo cáo của các thành viên.
- Thư kí:
+ Ghi phiếu kết quả thí nghiệm, phiếu đánh giá cá nhân trong nhóm.
+ Ghi chép các ý kiến thống nhất của nhóm.
- Các thành viên còn lại: Hoàn thành các bản thu hoạch cá nhân sau mỗi
hoạt động, tham gia làm và chuẩn bị đồ dùng, dụng cụ cần thiết cho các hoạt
động khi được nhóm phân công.
3.3.2. Thông báo các hoạt động sẽ diễn ra và yêu cầu của các hoạt động
trong quá trình TNST.
Tổ chức vào 3 buổi chiều thứ 5 của 3 tuần liên tiếp, cụ thể:
* Buổi chiều thứ năm (tuần 1): Các nhóm tập trung tại trường 14 giờ để đi
thực tế ở địa phương.
8


Yêu cầu:
+ Nắm bắt tình hình sử dụng phẩm nhuộm cói.
+ Cách xử lí nước thải của phẩm nhuộm cói.
+ Tình trạng ô nhiễm nguồn nước do nước thải của phẩm nhuộm cói.
+ Về nhà tìm hiểu thêm các tính chất của phẩm nhuộm và tính hấp phụ
của Cacbon trong việc xử lí nước thải của phẩm nhuộm cói.
* Buổi chiều thứ năm (tuần 2): Các nhóm tiến hành làm các thí nghiệm tại
trường bắt đầu từ 14 giờ.
Yêu cầu:
+ Chuẩn bị được các dụng cụ, vật liệu dùng cho thí nghiệm.
+ Lắp được các dụng cụ thí nghiệm.
+ Làm thí nghiệm, theo dõi và ghi chép kết quả các thí nghiệm.
+ Nêu được biện pháp xử lí nước thải của phẩm nhuộm cói và tính khả
thi của biện pháp.
* Buổi chiều thứ năm (tuần 3): Các nhóm báo cáo kết quả thu hoạch của
hoạt động TNST đầu từ 14 giờ tại phòng hóa học.
Yêu cầu:
+ Mỗi nhóm cử một đại diện lên báo cáo thu hoạch trước lớp trong thời
gian tối đa là 10 phút.
+ Sau mỗi báo cáo, các nhóm khác có thể đưa ra các câu hỏi hoặc vấn đề
yêu cầu nhóm báo cáo trả lời để làm rõ những vấn đề còn thắc mắc trong báo
cáo hoặc cũng có thể là các ý kiến bổ xung để hoàn thiện báo cáo.
Thu hoạch, báo cáo: Hình thức tùy chọn như: Powerpoint, sơ đồ tư duy,
tranh ảnh,..
3.3.3. Các hoạt động trải nghiệm sáng tạo của HS.
Buổi chiều thứ năm (tuần 1): Các nhóm tập trung tại trường 14 giờ bắt đầu
đi đến một số gia đình làm nghề dệt chiếu và in chiếu ở địa phương. (Phụ lục 2)
- Yêu cầu. Tìm hiểu được:
+ Việc sử dụng phẩm nhuộm trong nhuộm cói và in chiếu.
+ Cách xử lí nước thải của phẩm nhuộm sau khi dùng xong.
+ Tình trạng ô nhiễm nguồn nước do nước thải của phẩm nhuộm cói.
Sau khi đi thực tế, mỗi cá nhân phải hoàn thiện thu hoạch cá nhân.
- Dự kiến thu hoạch cá nhân HS nêu được:
+ Hiện nay người dân ở địa phương đang sử dụng phẩm nhuộm với
nhiều màu khác nhau như: Xanh, đỏ, lam, vàng, … để sử dụng trong nhuộm cói
và in chiếu.
+ Mỗi hộ gia đình làm nghề dệt hoặc in chiếu đều có đồ chuyên dụng để
dùng đun phẩm khi cần dệt chiếu hoặc in chiếu. Thông thường, cứ 3 đến 5 ngày
mỗi hộ gia đình lại nhuộm cói một lần tùy theo lượng hàng họ nhận được nhiều
hay ít.
+ Khi nhuộm cói xong nước thải của phẩm nhuộm cói được đổ trực tiếp
ra góc vườn, góc ao hoặc cống, rãnh mà không được xử lí.
+ Nước thải của phẩm nhuộm cói đang làm cho nguồn nước ở địa
phương bị ô nhiễm nặng nề.
9


- GV nhận xét, đánh giá kết quả hoạt động buổi 1.
+ Đa phần các em có ý thức tốt, nghiêm túc, tự giác trong việc thực hiện
các nhiệm vụ.
+ Các nhóm trưởng điều hành tốt các hoạt động của nhóm, bao quát tốt
hoạt động của các thành viên trong nhóm.
+ Các nhóm đã thu thập được nhiều thông tin cần theo yêu cầu.
+ Một số thành viên trong nhóm rất tích cực trong việc tìm hiểu kiến
thức và biết cách khai thác thông tin từ những người dân.
- GV hướng dẫn HS phân công chuẩn bị cho buổi 2.
Các nhóm phân công chuẩn bị hoạt động thực hành các thí nghiệm vào
buổi chiều thứ 5 tuần sau bắt đầu từ 14 giờ tại trường, cụ thể:
+ 1 can dầu ăn 10 lít đã dùng hết.
+ 1 kg than hoa.
+ 5 kg đá 1 -2 hoặc đá mạt to.
+ 5 kg cát vàng.
+ 1 búa nhỏ, 1 kéo, 1 mảnh bao xác rắn, 1 đoạn ống nước nhựa nhỏ, keo
gắn nhựa hoặc keo 502.
+ Phân công người làm 3 thí nghiệm và chuẩn bị dụng cụ có sẵn trong
kho cho thí nghiệm 1 và 2. .
Buổi chiều thứ năm (tuần 2): Các nhóm tập trung tại trường, tập kết các
vật liệu và dụng cụ cho các thí nghiệm. (Phụ lục 3)
- Yêu cầu: Chuẩn bị đồ dùng, dụng cụ sẵn có, rẻ tiền và tận dụng các vật
liệu có sẵn.
+ Chuẩn bị được các dụng cụ, vật liệu dùng cho thí nghiệm.
+ Lắp được các dụng cụ thí nghiệm.
+ Làm thí nghiệm, theo dõi và ghi chép kết quả các thí nghiệm.
+ Nêu được biện pháp xử lí nước thải của phẩm nhuộm cói và tính khả
thi của biện pháp.
- Thí nghiệm 1: Lắp dụng cụ như thí nghiệm trong bài học Bài 27: Cacbon để
làm thí nghiệm lọc nước phẩm nhuộm cói với 4 màu khác nhau là màu xanh,
màu đỏ, màu tím và màu vàng.
- Thí nghiệm 2: Cho than hoa nghiền nhỏ vào các cốc và đổ nước phẩm nhuộm
cói với 4 màu khác nhau là màu xanh, màu đỏ, màu tím và màu vàng (thí
nghiệm này cần thời gian nên phải thường xuyên theo dõi trong tuần).
- Thí nghiệm 3: Dùng can 10 lít đựng dầu ăn đã hết để lắp thành một bể lọc nhỏ
dùng để lọc nước phẩm nhuộm cói với 4 màu khác nhau là màu xanh, màu đỏ,
màu tím và màu vàng.
Các nhóm tiến hành làm thí nghiệm theo hướng dẫn, quan sát thí nghiệm
và hoàn thành vào phiếu kết quả thực nghiệm sau:
Cách tiến
Cách lắp dụng
Nhận xét kết
Thí nghiệm
hành thí
Hiện tượng
cụ thí nghiệm
quả thí nghiệm
nghiệm
1
2
10


3
- Kết quả: Sau khi tiến hành các thí nghiệm các em biết được:
+ Có thể áp dụng vào thực tế để giải quyết vấn đề đang được quan tâm đó
là việc xử lí nước thải của phẩm nhuộm cói bằng cách làm bề lọc có sử dụng
than hoa. Các em đã xây dựng được mô hình của bể lọc.
+ Tính khả thi của biện pháp thể hiện: Các em biết có thể xây bằng gạch
tận dụng hoặc dùng bằng khoanh bê tông, kích thước phù hợp với lượng nước
thải. Cấu trúc của bể lọc đơn giản, dễ làm, nguyên liệu sẵn có và rẻ tiền dễ dung,
hiệu quả nên có thể áp dụng rộng rãi cho tất cả các hộ gia đình.
Nguyên liệu sẵn có, chi phí không cao, có thể tự làm. Với những yếu tố
trên rất phù hợp với điều kiện thu nhập của các hộ gia đình ở nông thôn hiện nay
nên khả năng áp dụng vào thực tế rất cao.
- GV nhận xét, đánh giá kết quả hoạt động buổi 2.
+ Các nhóm đã xây dựng được mô hình của bể lọc và nêu được cách làm
bể lọc để xử lí nước thải của phẩm nhuộm cói trong một số trường hợp, thể hiện
rõ nhất ở kết quả của nhóm 1.
+ Dự kiến được chi phí để xây dựng bể lọc và thấy được tính khả thi của
biện pháp.
+ Các em đã biết chọn các đồ dùng, dụng cụ và vật liệu sẵn có, phù hợp
với yêu cầu. Đặc biệt là đã biết tận dụng sản phẩm thải để thay thế cho các đồ
dung thí nghiệm đắt tiền.
- GV hướng dẫn hoạt động của buổi 3.
+ Mỗi nhóm cử một đại diện lên báo cáo thu hoạch trước lớp trong thời
gian tối đa là 10 phút.
+ Sau mỗi báo cáo, các nhóm khác có thể đưa ra các câu hỏi hoặc vấn đề
yêu cầu nhóm báo cáo trả lời để làm rõ những vấn đề còn thắc mắc trong báo
cáo hoặc cũng có thể là các ý kiến bổ xung để hoàn thiện báo cáo.
Thu hoạch, báo cáo: Các em có thể tùy chọn hình thức như: Powerpoint,
sơ đồ tư duy, tranh ảnh,..
Buổi chiều thứ năm (tuần 3): Buổi này tiến hành từ 14 giờ tại phòng hóa ở
trường. Các nhóm báo cáo kết quả của hoạt động và đưa ra ý tưởng trong việc
vận dụng tính hấp phụ của Cacbon trong việc xử lí nước thải của phẩm nhuộm
cói. (Phụ lục 4)
- Yêu cầu:
+ Đại diện các nhóm lên báo cáo thu hoạch trước lớp trong thời gian tối
đa là 10 phút.
+ Sau mỗi báo cáo, các nhóm khác có thể đưa các câu hỏi yêu cầu nhóm
báo cáo trả lời với nội dung xoay quanh mục đích của hoạt động trong thời gian
tối đa 10 phút.
- Kết quả: Đại diện các nhóm lên báo cáo thu hoạch trước lớp.
+ Nhóm 1: Theo hình thức trình chiếu bằng Powerpoint
+ Nhóm 2: Theo hình thức thuyết trình có sơ đồ minh họa.
+ Nhóm 3: Theo hình thức thuyết trình bằng sơ đồ tư duy và bảng phụ.
+ Nhóm 4: Theo hình thức thuyết trình có minh họa trên bảng phụ.
11


3.4. Kết luận.
Trên cơ sở mục tiêu bài “Cacbon” ở chương trình Hóa học lớp 9 và kết
quả điều tra tình hình dạy học ở các trường THCS trong tỉnh tôi thấy cần phải
thay đổi phương pháp dạy học để củng cố, khắc phục sai lầm, mở rộng kiến thức
đồng thời phát triển năng lực của HS giúp các em không chỉ nắm chắc kiến thức
mà còn biết vận dụng kiến thức vào thực tiến và hình thành ý thức bảo vệ môi
trường, ý thức mình vì mọi người cho các em. Giúp các em hoàn thiện nhân
cách và hình thành các kỹ năng sống để phù hợp với sự phát triển của xã hội.
Với mục tiêu đó, tôi tổ chức hoạt động vận dụng, mở rộng của bài học
cho HS bằng hình thức tổ chức thực nghiệm ngoại khóa để giúp HS có cơ hội
tìm hiểu sâu hơn về kiến thức được học đồng thời biết áp dụng kiến thức đó vào
xử lí tình huống thực tiễn. Đồng thời tạo điều kiện cho HS được mở rộng kiến
thức, trao đổi, giao lưu với bạn bè, với thày cô và những người xung quanh.
III. Hiệu quả kinh tế và xã hội dự kiến đạt được
1. Hiệu quả kinh tế
Việc tính toán để đưa ra một con số cụ thể về lợi ích kinh tế về sáng kiến
của ngành giáo dục nói chung và sáng kiến này nói riêng là rất khó khăn. Tuy
nhiên với những lợi ích mà sáng kiến mang lại như:
- GV hướng dẫn HS tận dụng các đồ phế liệu như can đựng dầu ăn đã sử
dụng để làm thí nghiệm cũng giúp cho HS có ý thức biết tận dụng các phế liệu
để thay thế cho các dụng cụ thí nghiệm rất đắt nếu phải mua để phục vụ cho hoạt
động.
- Qua hoạt động thực nghiệm HS biết cách áp dụng kiến thức đã học vào
thực tế để xử lí nước thải của phẩm nhuộm cói hiện đang là vấn đề cần được giải
quyết ở địa phương. Khi đó các em sẽ vận động gia đình, người thân và hàng
xóm áp dụng việc xây dựng bể lọc nước thải của phẩm nhuộm cói để hạn chế ô
nhiễm môi trường. Khi đó, môi trường nước không bị ô nhiễm bởi nước thải của
phẩm nhuộm cói. Xã hội sẽ hạn chế được một phần chi phí để xây các nhà máy
nước và hệ thống lọc nước. Các gia đình sẽ bớt một khoản chi phí cho việc chi
trả tiền mua nước sạch sử dụng cho sinh hoạt và mua các thiết bị lọc nước để
phục vụ cho sinh hoạt.
Sức khỏe mọi người được đảm bảo, hạn chế các bệnh, tật do nguồn nước
ô nhiễm. Khi đó sẽ bớt đi các khoản chi không cần thiết cho việc chữa bệnh và
chăm sóc sức khỏe. Có sức khỏe, tinh thần thoải mái thì hiệu quả công việc và
năng xuất lao động sẽ tăng. Khi đó, thu nhập của người dân sẽ tăng lên. Kinh tế
xã hội sẽ ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống được nâng cao.
2. Hiệu quả xã hội
Theo nghiên cứu kết quả tổ chức hoạt động TNST cho HS để vận dụng,
mở rộng về tính hấp phụ của Cacbon có thể rút ra các tác dụng của hoạt động
như sau:
- Về giáo dục nhận thức
12


Hoạt động thực nghiệm đã củng cố, đào sâu, mở rộng tri thức đã học của
các buổi học nội khóa, giúp HS biết vận dụng những kiến thức đó vào để giải
quyết các tình huống trong thực tiễn, thấy được ứng dụng của kiến thức đã học
vào đời sống.
- Về rèn luyện kĩ năng:
Hoạt động thí nghiệm thực nghiệm giúp HS rèn được kỹ năng tự quản; kỹ
năng thực hành lắp đặt các dụng cụ thí nghiệm và làm thí nghiệm; kỹ năng giải
quyết vấn đề. Rèn luyện kỹ năng làm việc theo nhóm; kỹ năng tổ chức; phát
triển kỹ năng giao tiếp, giải quyết vấn đề, rèn luyện ngôn ngữ và kỹ năng trình
bày trước đám đông, đó là các kỹ năng rất cần thiết giúp các em phát triển trong
thời đại mới.
- Về mặt tinh thần, thái độ làm việc:
Hoạt động TNST kích thích hướng thú học tập, khơi dậy lòng ham hiểu
biết, lôi cuốn HS tự giác tham gia một cách nhiệt tình vào các hoạt động, phát
huy tính tích cực, tự lực của mỗi HS.
- Về rèn luyện kỹ năng tư duy:
Trong dạy học, ta có thể rèn luyện cho HS nhiều loại tư duy, trong đó
thường được đánh giá cao nhất là tư duy sáng tạo.
Như vậy, hoạt động TNST đã hỗ trợ cho việc học nội khóa, giúp phát
triển hoàn thiện nhân cách người học. Đặc biệt góp phần đào tạo nguồn nhân lực
có tính tích cực, tự lực cao và có khả năng sáng tạo tốt trong việc đáp ứng yêu
cầu của nền giáo dục đang trong giai đoạn tích cực đổi mới ở nước ta trong giai
đoạn hiện nay.
Sáng kiến được tổ chức thành công ở lớp 9A năm học 2017 – 2018 tại
trường tôi. Sáng kiến được Ban giám hiệu và giáo viên trong trường tham dự
đánh giá rất cao, đã truyền cảm hứng và kinh nghiệm cho các thày cô tích cực
tìm tòi, đổi mới phương pháp giảng dạy trong giai đoạn ngành Giáo dục đang
tích cực đổi mới.
- Về đạo đức, lối sống:
Giáo dục cho HS biết vận dụng những kiến thức đã học vào trong đời
sống sinh hoạt hằng ngày.
Sau khi tham gia hoạt động thực nghiệm ngoại khóa, nhiều HS đã có
những hiểu biết về tình hình môi trường hiện nay và biết được thực trạng môi
trường ở địa phương. Qua đó giúp các em có sự nhìn nhận một cách rõ ràng thực
trạng việc xử lí nước thải của phẩm nhuộm cói của gia đình, hàng xóm và những
gia đình có dệt chiếu cói nơi mình sinh sống. Khi đó các em sẽ có ý thức hơn
trong việc bảo vệ môi trường và tuyên truyền cho mọi người bảo vệ môi trường,
đồng thời tham gia cùng gia đình hoặc người thân xây dựng các bể lọc nước thải
để xử lí nước thải của phẩm nhuộm cói.

13


Nước thải Phẩm nhuộm được lọc hết các chất độc còn lại trước khi thải ra
các nguồn nước hoặc ngấm vào trong lòng đất góp phần hạn chế gây ô nhiễm
môi trường và hạn chế những ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người.
Qua đó nâng cao sự hiểu biết của người dân về tình hình nguồn nước hiện
nay, giáo dục ý thức mình vì mọi người, ý thức bảo vệ nguồn nước sạch. Khi
môi trường được đảm bảo, sẽ giúp duy trì và phát triển bền vững làng nghề
truyền thống, tạo công ăn việc làm ổn định cho những người lao động ở nông
thôn.
Những kết quả của hoạt động thực nghiệm ngoại khóa không thể thống kê
cụ thể, nhưng nó thực sự to lớn trong việc góp phần phát triển năng lực và kỹ
năng sống cho các em trong tương lai.
IV. Điều kiện và khả năng áp dụng
1. Điều kiện áp dụng
Để áp dụng sáng kiến này theo tôi:
+ GV phải là người nhiệt tình, tâm huyết, có ý tưởng tổ chức hoạt động
TNST phù hợp sau những bài học có kiến thức liên quan đến thực tế. Đặc biệt là
những kiến thức có thể áp dụng được trong đời sống gắn liền với HS và địa
phương nơi HS sống.
+ Học sinh phải có máy ghi hình, máy tính kết nối mạng.
+ Về phía nhà trường phải có máy chiếu, máy tính.
2. Khả năng áp dụng
Thực tế cho thấy dạy học kết hợp với hoạt động TNST là điều rất cần thiết
để nâng cao chất lượng học tập của HS nhằm phát triển năng lực toàn diện cho
HS. Không chỉ có môn hóa học mà tất cả các môn học trong nhà trường đều có
thể áp dụng cách tổ chức hoạt động này. Chỉ cần cả HS và GV có lòng quyết
tâm say mê khoa học và kiến thức thực tiễn là có thể thực hiện được.
Sáng kiến có thể áp dụng trong tất cả các trường THCS và cũng có thể áp
dụng cho mọi đối tượng HS theo quy mô lớp học hoặc khối học.
Sáng kiến có thể mở rộng tổ chức thành chuyên đề hoạt động cho HS giúp
các em có thể phát triển đầy đủ năng lực cho cuộc sống, giáo dục lòng say mê
khoa học và có thể sẽ là tiền đề cho các em lựa chọn nghiên cứu khoa học cho
tương lai.
Tôi dự kiến sẽ mở rộng sáng kiến này trong quy mô toàn trường với
những bài dạy có thí nghiệm thực nghiệm chứng minh; thực nghiệm kiểm chứng
hoặc tìm tòi, mở rộng bằng thực nghiệm.
Khi HS hiểu, tuyên truyền và được gia đình, người thân chấp nhận thì
việc sử dụng kết quả thực nghiệm của HS vào giải quyết tình huống thực tế ở địa
phương đạt hiệu quả rất cao và ít tốn kém. Vì nguyên liệu sẵn có, chi phí không
cao, có thể tự làm. Với những yếu tố trên tôi thiết nghĩ phù hợp với điều kiện thu
nhập của các hộ gia đình ở nông thôn hiện nay nên khả năng áp dụng việc tạo ra
các bể lọc nước thải của phẩm nhuộm cói vào thực tế rất cao.
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật
và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
14


Kim Chính, ngày 05 tháng 04 năm 2019
NGƯỜI NỘP ĐƠN

Đinh Thị Hảo

XÁC NHẬN CỦA LÃNH ĐẠO NHÀ TRƯỜNG

XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GD&ĐT KIM SƠN

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×