Tải bản đầy đủ

skkn đổi mớp phương pháp dạy học và một số giải pháp bảo vệ môi trường trong dạy học bài 10 CM KHCN và xu thế toàn cầu hóa nửa sau thế kỉ XX

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi : Hội đồng sáng kiến ngành Giáo dục và đào tạo Ninh Bình.
Tôi là: Nguyễn Thị Hương.
Sinh ngày: 03/02/1983.
Nơi công tác: Trường THPT Kim Sơn A – Huyện Kim sơn – Tỉnh Ninh Bình.
Chức vụ: Giáo viên.
Trình độ chuyên môn: Cử nhân Lịch sử.
Tỷ lệ (%) đóng góp vào việc tạo ra sáng kiến: 100%.
I. Tên sáng kiến, lĩnh vực áp dụng
* Tên sáng kiến: “Đổi mớp phương pháp dạy học và một số giải pháp bảo vệ
môi trường ở huyện Kim Sơn trong dạy học bài 10. Cách mạng khoa học công nghệ
và xu thế toàn cầu hóa nửa sau thế kỉ XX” (Lịch sử lớp 12)
* Lĩnh vực áp dụng:
Sáng kiến có thể áp dụng trong giáo dục và trong đời sống hàng ngày.
II. Nội dung
1. Giải pháp cũ thường làm:
Việc dạy học Lịch sử hiện nay ở ở hầu hết các trường THPT trong chương trình
chính khóa chủ yếu đang diễn ra như sau:
* Về phía Giáo viên (GV):

- Hầu hết các giáo viên vẫn mang nặng phương pháp truyền thụ, thuyết trình,
thông báo.
- Nội dung giáo án là nội dung tóm tắt sách giáo khoa, khống có nội dung thực
tiễn.
- Giáo viên chưa coi trọng việc soạn và thiết kế bài giảng theo hướng phát triển
năng lực của học sinh. Mỗi hoạt động dạy học diễn ra theo tiến trình: giáo viên phát
vấn, phân tích; học sinh đọc sách giáo khoa, trả lời; giáo viên kết luận; học sinh ghi kiến
thức vào vở.
Việc thiết kế giáo án không làm hoặc làm không rõ ràng các hoạt động của giáo
viên và học sinh trong mỗi giờ học, vai trò tổ chức, định hướng của giáo viên chưa được
thể hiện rõ.
- Hoạt động của giáo viên cơ bản là mô tả, giải thích, giảng giải rồi đi đến kết
luận về kiến thức mới. Chưa chú trọng đến việc phát huy các năng lực cho HS đặc biệt
là năng lực tư duy thực tiễn, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo.
- Dạy học Lịch sử xa rời thực tiễn ,chưa có nhiều liên hệ thực tế, chưa gắn kết
kiến thức Lịch sử với thực tiễn, hoặc mức độ liên hệ còn ”nông”, không vận dụng để
giải quyết vấn đề đang tồn tại trong thực tiễn, đặc biệt là lịch sử địa phương. Không
hiểu mối liên hệ giữa lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc với lịch sử địa phương.
- Chưa tổ chức đươc các hoạt động ngoại khóa, hoạt động trải nghiệm sáng tạo về
lịch sử, nhất là trải nghiệm tại địa phương. Việc trải nghiệm đôi khi diễn ra ở các thành
phố lớn như TP Hồ Chí Minh với việc đến nhà Bảo tàng hoặc bằng những chuyến đi xa
tốn kém và mất nhiều thời gian.
- Về hình thức kiểm tra đánh giá đang nặng về kiểm tra trí nhớ chưa đề cao việc
kiểm tra, đánh giá năng lực vận dụng kiến thức giải quyết vấn đề, việc kiểm tra hầu hết
đơn phương do giáo viên tự ra đề, chấm và đánh giá.
* Về phía học sinh:
1


- Các em không thấy được tính thực tiễn của môn lịch sử, nên không hiểu ý nghĩa
của môn học.
- Các em cho rằng môn lịch sử chỉ cần học thuộc nội dung tóm tắt trong sách giáo
khoa. Lịch sử lại có rất nhiều sự kiện nên thấy rất khô khan, áp lực khiến các em thấy
ngại học môn lịch sử. Vì không hiểu sâu sắc, bản chất của lịch sử nên học thuộc xong là
quên luôn.
Cách học trên dẫn đến các bài thi hay kiểm lịch sử có độ phân hóa cao (như đề thi
THPTQG) có số điểm cực thấp. Vì câu hỏi liên quan đến kiến thức chi tiết thì không
nhớ được (do kiến thức lịch sử nhiều, không hiểu sẽ không nhớ được), câu hỏi tư duy,
vận dụng thì không làm được (do không hiểu bản chất vấn đề). Vì điểm thấp các em lại
càng chán học.


- Các em không được tự tìm tòi kiến thưc, không được trao đổi, trình bày, bảo vệ
quan điểm của mình nên các em không tự tin, mạnh dạn, không phát triển được năng
lực của bản thân.
* Ưu điểm:
- Đảm bảo thời lượng chương trình.
- Học sinh nắm được kiến thức cơ bản theo tiến trình lịch sử.
- Làm được những bài tập cơ bản hoặc đơn giản.
* Nhược điểm:
- Học sinh phải công nhận kiến thức chứ không được tự tìm hiểu, khám phá. Các
em thấy kiến thức lịch sử, đặc biệt là cuộc cách mạng khoa học công nghệ rất cao siêu,
xa lạ, không biết vận dụng vào thức tiễn.
- Do vậy, bài học rất khô khan, khó hiểu. Giờ học trên lớp nặng nề, không gây
được hứng thú học tập cho học sinh cho nên có nhiều học sinh thụ động trong việc tiếp
thu kiến thức: Lười suy nghĩ, lười hoạt động, chỉ ngồi nghe thầy giảng rồi ghi chép lại,
ít hứng thú; rất ít học sinh mạnh dạn đặt câu hỏi cho giáo viên về vấn đề đã được học,
hay vấn đề các em chưa hiểu.
- Khả năng làm việc tự lực, sinh hoạt nhóm, diễn đạt về một vấn đề của học sinh
còn rất kém, thường lúng túng khi diễn đạt ý tưởng của mình hoặc điều muốn hỏi, do
các em ít được trao đổi, tranh luận với bạn bè và thầy cô.
- Học sinh không có cơ hội hình thành và phát triển kĩ năng và năng lực của bản
thân như: năng lực sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tự học, tự nghiên cứu,
kĩ năng nói trước đám đông, kĩ năng hợp tác...
- Dạy học Lịch sử xa rời thực tiễn. Không có kĩ năng vận dụng kiến thức lịch sử
đã học vào giải quyết các vấn đề trong đời sống. Hoạt động chủ yếu của học sinh là học
thuộc kiến thức tóm tắt trong sách giáo khoa. Các em không biết vẫn đề đó, kiến thức
đó có còn trong đời sống không, nếu còn trong đời sống hiện tại thì nó ở đâu, có cần
giải quyết vấn đề đó hay không, mình có thể làm gì để giải quyết và giải quyết bằng
cách nào? Do đó, cơ hội để các em hiểu sâu kiến thức, rèn luyện kĩ năng cũng như phát
triển năng lực sáng tạo là không nhiều.
- Các em không thấy được lịch sử địa phương có mối liên hệ gì với lịch sử dân
tộc và lịch sử thế giới.
- Hầu hết giáo viên dạy lịch sử hiểu được tầm quan trọng của hoạt động trải nghiệm
sáng tạo (HĐTNST). Nhưng không tổ chức hoặc tổ chức nhưng mất nhiều thời gian và tiền
bạc, nhất là không nắm được phương pháp tổ chức thế nào cho hiệu quả.
- Việc đánh giá học sinh chủ yếu do giáo viên đánh giá. Học sinh không được to
đánh giá bản thân và đánh giá lẫn nhau nên việc đánh giá cũng chưa khách quan và
chưa phát huy năng lực của học sinh.
2


Vì vậy tôi nhận thấy phương pháp dạy học (PPDH) hiện nay chưa phát triển được
tính sáng tạo và các năng lực cần thiết của học sinh mà toàn ngành giáo dục cả nước đang
hướng tới.
2. Giải pháp mới cải tiến.
Mục đích của việc đổi mới PPDH ở trường THPT là thay đổi lối dạy học truyền
thụ một chiều sang dạy học theo PPDH tích cực nhằm: “Giúp học sinh phát triển toàn
diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá
nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN,
xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân...” (Khoản 2, Điều 28, Luật Giáo dục 2005).
Môn Lịch sử nghiên cứu tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trong quá khứ.
Để hiểu sâu sắc Lịch sử phải có đầy đủ tư liệu. Ngoài tài liệu là Sách giáo khoa, người
học phải tìm tòi, khám phá, mở rộng kiến thức, trải nghiệm thực tế.
Để đạt mục tiêu trên phù hợp với đặc thù bộ môn, phải thay đổi phương pháp dạy
học, cùng với thay đổi nội dung, thời lượng chương trình.
Về bản chất: Sáng kiến của tôi là chuyển từ việc dạy học bài 10: “Cách mạng
khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hóa nửa sau thế kỉ XX”(Lịch sử lớp 12)
sang thực hiện một chủ đề dạy học tích hợp, trải nghiệm nhan đề: “Đổi mớp phương
pháp dạy học và một số giải pháp bảo vệ môi trường ở huyện Kim Sơn trong dạy học
bài 10. Cách mạng khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hóa nửa sau thế kỉ XX”
(Lịch sử lớp 12). Trong chủ đề mới xây dựng, tôi đã sử dụng nhiều phương pháp dạy
học mới nhằm giải quyết vấn dề thực tiễn ở địa phương là ô nhiễm môi trường.
Tính mới của sáng kiến ở chỗ tôi đã thay đổi về thời lượng, phương pháp, nội
dung, hình thức dạy học, hình thức kiểm tra đánh giá của chủ đề mới (dự án) nhằm giải
quyết vấn đề thự tiễn, cụ thể:
Về thời lượng, tăng từ 1 tiết ở bài 10: “Cách mạng khoa học công nghệ và xu thế
toàn cầu hóa nửa sau thế kỉ XX”(Lịch sử lớp 12) lên thành 2 tiết trong chủ đề mới.
Về phương pháp, chuyển từ dạy học truyền thống như đàm thoại, gợi mở sang kết
hợp phương pháp truyền thống với nhiều phương pháp mới như dạy học nêu vấn đề,
dạy học dự án, dạy học theo nhóm, dạy học trải nghiệm với mục tiêu giả quyết vấn đề
thực tiễn.
Về hình thức, chuyển từ dạy học trên lớp sang kết hợp cả dạy học trên lớp và ở
nhà, trong thực tiễn.
Về nội dung, chuyển từ học toàn nội dung trong sách vở sang đưa nội dung sách
vở vào thực tiễn. Nội dung thực tiễn chiếm tỉ lệ cao.
Tính sáng tạo của sáng kiễn là sử dụng cùng lúc nhiều phương pháp dạy học tích
cực bao gồm dạy học nêu vấn đề, dạy học dự án, dạy học theo nhóm, dạy học trải
nghiệm, nhưng vẫn có một phương pháp dạy học chủ đạo là dạy học trải nghiệm sáng
tạo. Sáng kiến nhằm góp phần giải quyết vấn đề thực tiễn đang gây nhức nhối trong xã
hội mà vẫn chưa giải quyết được là ô nhiễm môi trường do rác thải công nghiệp và do
sử dụng thuốc trừ sâu hóa học; đặc biệt vẫn đề đó có ngay tại địa phương nên tính thực
tiễn và giá trị giải quyết càng cao.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo (HĐTNST) là một trong những hình thức tổ chức
dạy học tích cực mang lại sự sáng tạo, hứng thú học tập, tích cực học tập, phát triển
năng lực của học sinh. Đây là một hình thức dạy học tâp hình thành, phát triển các năng
lực đặc thù cho học sinh: Năng lưc tô ̉chức hoat động, năng lực thực hành, năng lực giải
quyết vấn đề, năng lực tổ chức và quản lí cuộc sống, năng lực tự nhận thức và tích cực
hoá bản thân, năng lực định hướng và lựa chọn nghề nghiêp...
3


Trong quá trình giảng dạy và tìm hiểu chương trình Lịch sử 12, tôi thấy mục tiêu
về kiến thức, kĩ năng, thái độ và năng lực cần hình thành bài 10: “Cách mạng khoa học
công nghệ và xu thế toàn cầu hóa nửa sau thế kỉ XX” có nhiều kiến thức thực tiễn. Hệ
quả của cách mạng khoa học - công nghệ đặc biệt hệ quả tiêu cực vẫn đang diễn ra ngay
tại địa phương xung quanh chúng ta gây ảnh hưởng xấu đến đời sống. Các em có thể
hiểu được vấn đề và góp phần giải quyết một số vấn đề ô nhiễm môi trường ở huyện
Kim Sơn. Qua đó có thể hình thành và phát triển được rất nhiều năng lực thông ở học
sinh.
(Xem phụ lục 1 đính kèm)
Để vận dụng kiến thức bài 10: “Cách mạng khoa học công nghệ và xu thế toàn
cầu hóa nửa sau thế kỉ XX” nhằm giải quyết một số vấn đề ô nhiễm môi trường ở huyện
Kim Sơn ở nhà, tôi đã tổ chức cho các em TNST. Các em tự tìm hiểu thực tiễn ở huyện
Kim Sơn viết báo cáo trình bày ở hai nội dung là ô nhiễm môi trường do rác thải công
nghiệp và ô nhiễm môi trường do sử dụng thuốc trừ sâu hóa học.
Để làm ra sản phẩm, học sinh phải thực hiện qua các giai đoạn:
Giai đoạn nhận nhiệm vụ của giáo viên, thành lập nhóm, phân chia công việc
cho các thành viên; Lập kế hoạch hoạt động nhóm.
Giai đoạn Tìm kiếm thông tin: chủ yếu bằng đi thực tế, kết hợp với tìm số liệu
qua tài liệu địa phương, sách báo...Hiệu quả của hoạt động này phụ thuộc vào khả năng
tổ chức, sắp xếp của các em. Việc này không khó khăn, không mất nhiều thời gian và
khống gây tốn kém cho các em vì thực tế ô nhiễm môi trường do rác thải công nghiệp
và thuốc trừ sâu rất phổ biến ở huyện Kim Sơn. Các em không chỉ tìm nội dung mà phải
có minh chứng bằng hình ảnh, video....Vì vậy đòi hỏi khả năng phối hợp tổ chức, sắp
xếp công việc trong nhóm, chọn lọc thông tin, hình ảnh như chụp ảnh nào để nói lên
nội dung gì... Qua đây, các em được rèn luyện kĩ năng, thao tác thực hành, kĩ năng tổ
chức và lập kế hoạch làm việc nhóm, biết ứng dụng kiến thức vào trong đời sống, điều
này làm cho việc hiểu kiến thức của học sinh trở nên sâu sắc và bền vững.
+ Giai đoạn xử lí thông tin.
HS họp nhóm thống nhất thông tin tìm kiếm để đi đến thống nhất chung về nội
dung kiến thức. Nôi dung phải đủ nhưng chọn lọc, ngắn gọn dễ hiểu, dễ trình bày. Tổng
hợp kết qủa dưới hình thức sơ văn bản, lựa chọ hình thức trình bày.
+ Giai đoạn hoàn thiện báo cáo sản phẩm.
Học sinh lựa chọn, xử lí thông tin, hình ảnh lần cuối, sắp xếp cho phù hợp với
cấu trúc bài báo cáo. Đây là giai đoạn khó. Người làm giai đoạn xử lí và hoàn thiện
thông tin phải có khả năng tổng hợp cao. Nên giao cho một số bạn có năng lực tốt làm
việc này, những bạn khác góp ý để chỉnh sửa, hoàn thiện.
+ Giai đoạn báo cáo sản phẩm.
Các nhóm căn cứ vào năng lực các thành viên phân công người trình bày, cách
thức trình bày sao cho hấp dẫn nhất. (Xem sản phẩm học sinh).
Trong quá trình diễn ra HĐTNST, các nhóm trưởng thường xuyên báo cáo tiến
độ thực hiện với giáo viên qua email, zalo, điện thoại...nhờ giáo viên tháo gỡ khó khăn
nếu có. Học sinh có thể trao đổi thêm với giáo viên ngoài giờ lên lớp. Giáo viên thường
xuyên theo dõi tiến trình hoạt động của học sinh, giúp các em giải quyết vướng mắc,
góp ý, chỉnh sửa sản phẩm cho học sinh.
Thông qua việc tham gia vào các HĐTNST, học sinh phát huy vai trò chủ thể,
tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo của bản thân. Các em được chủ động tham
gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động: từ việc tìm kiếm thông tin, xử lí thông
tin, thiết kế sản phẩm báo cáo, trình bày sản phẩm, theo dõi đánh giá kết quả hoạt động.
4


Các em được trải nghiệm, được bày tỏ quan điểm, ý tưởng, được đánh giá và lựa chọn
hình thức thể hiện, được thể hiện, tự khẳng định bản thân, được tự đánh giá và đánh giá
kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm mình và của bạn bè,…Từ đó, hình thành và
phát triển cho các em những giá trị sống và các năng lực cần thiết.
Vè kiểm tra đánh giá, sáng kiến chú trọng đánh giá kĩ năng, năng lực thực tiễn,
năng lực tư duy sáng tạo của cá nhân trong hoạt động tập thế (nhóm). Cụ thể:
* Tiêu chí đánh giá về sản phẩm:
- Báo cáo sản phẩm rõ ràng, mạch lạc, khoa học, có tính sáng tạo cao.
* Tiêu chí đánh giá hoạt động (kĩ năng, năng lực):
- Có sự phân công nhiệm vụ hoạt động rõ ràng, cụ thể cho các thành viên trong
nhóm.
- Các thành viên được trải nghiệm thực tiễn: tìm kiếm thông tin, thảo luận, đề
xuất giải pháp giải quyết ô nhiễm môi trường, biết hệ thống hoá thông tin tìm kiếm, xử
lí thông tin tốt và biết dùng kiến thức để bảo vệ ý kiến của mình trước các phản biện…
Các nhóm hoạt động tích cực, không có thành viên ỉ lại, hoàn thành đúng tiến độ.
* Hình thức đánh giá
Trong sáng kiến này tôi xây dựng cách đánh giá bằng 2 hình thức: học sinh đánh
giá và giáo viên đánh giá.
+ Học sinh đánh giá: Tôi tổ chức, hướng dẫn học sinh đánh giá dựa vào các bảng
tiêu chí cụ thể của từng nội dung, giải thích cụ thể các tiêu chí cho các em nếu các em
còn thấy băn khoăn. Sau đó tiến hành việc đánh giá, bao gồm cá nhân tự đánh giá,
nhóm đánh giá từng cá nhân, các nhóm đánh giá nhóm khác.
(Xem phụ lục 2 đính kèm)
+ Giáo viên đánh giá: Căn cứ vào mục tiêu của hoạt động về kiến thức, kĩ năng,
thái độ, năng lực cần đạt được thông qua hoạt động trải nghiệm sáng tạo; căn cứ vào bài
báo cáo và sản phẩm báo báo cáo của các nhóm để đánh giá các nhóm, căn cứ vào bài
kiểm tra cá nhân sau HĐTNST để đánh giá từng học sinh theo mẫu (phụ lục 2 đính
kèm).
- Việc kiếm tra đánh giá trên có tác dụng:
+ Tạo ra tính khách quan cho kết quả học tập thông qua việc học sinh tự đánh giá
nhau và giáo viên đánh giá học sinh. Điều này khác với trước đây là điểm học sinh chỉ
do giáo viên dạy đánh giá và cho điểm.
+ Không đánh đồng kết quả hoạt động nhóm với kết quả của từng cá nhân.
+ Đánh giá được mức độ thành công của sáng kiến: giúp học sinh vừa khắc sâu
kiến thức học trên lớp, vừa liên hệ giải quyết vấn đề thực tiễn ở địa phương; hình thành
được nhiều kĩ năng; có thái độ tích cực học tập và lao động.
+ Các em vừa nắm vững nhiệm vụ của nhóm mình, vừa nắm kiến thức chung của
tất cả các nhóm, của toàn chủ đề.
Để thực hiện dự án thành công và mang lại hiệu quả cao đối với việc thành năng
lực, phát triển tư duy và khả năng sáng tạo của HS tôi đã tổ chức như sau:
Tuần 1 (Tiết 1):
Hoạt động 1. Dạy học bài 10: “Cách mạng khoa học công nghệ và xu thế
toàn cầu hóa nửa sau thế kỉ XX” và giao nhiệm vụ cho học sinh thực hiện HĐTNST
nhằm giải quyết một số vấn đề ô nhiễm môi trường ở huyện Kim Sơn.
Buổi này tiến hành trong 1 tiết trên lớp. Sau khi dạy học nội dung bài 10: “Cách
mạng khoa học công nghệ và xu thế toàn cầu hóa nửa sau thế kỉ XX” (Xem phụ lục 3
đính kèm), giáo viên giao nhiệm vụ cho học sinh, phân chia nhóm về nhà tiến hành
HĐTNST tìm hểu vấn đề ô nhiễm môi trường ở huyện Kim Sơn do rác thải công nghiệp
5


và sử dụng thuốc trừ sâu hóa học. Các nhóm học sinh bầu nhóm trưởng, thư kí, lập kế
hoạch sơ bộ cho kì hoạt động. Tôi đã trình bày mục tiêu, cách thức tổ chức hoạt động,
dự kiến sản phẩm đạt được (Xem phụ lục 4 đính kèm).
Từ tuân 1 đến tuần 2:
(Học sinh và nhóm học sinh làm việc ở nhà)
Hoạt động 2. Học sinh thực hiện hoạt động trải nghiệm sáng tạo nhằm giải
quyết một số vấn đề ô nhiễm môi trường ở huyện Kim Sơn.
Trong thời gian 1 tuần, học sinh hoạt động theo nhóm đi trải nghiệm thực tế, tìm
kiếm thông tin, viết báo với nội dung: giải quyết ô nhiễm môi trường ở huyện Kim Sơn
do rác thải công nghiệp và thuốc trừ sâu hóa học. Các em phải đưa trước kế hoạch trải
nghiệm cho giái viên duyệt. Với nhóm học sinh kém hơn, giáo viên cần hướng dẫn chi
tiết hơn hay tham gia trải nghiệm cùng các em. Học sinh báo cáo tiến trình, kết quả trải
nghiệm cho giáo viên, ý kiến với giáo viên về những khó khăn nếu co.
(Xem phụ lục 5 đính kèm)
Tuần 2. (Tiết 2)
Hoạt động 3. Báo cáo kết quả nghiên cứu, đánh giá
Giáo viên lập kế hoạch chi tiết cho buổi báo cáo, chuyển trước kế hoạch cho các
nhóm, giáo viên phát cho học sinh phiếu đánh giá bài báo cáo của các nhóm, dẫn dắt
vấn đề cho học sinh báo cáo kết quả và thảo luận.
Các nhóm lần lượt báo cáo theo vấn đề đã chuẩn bị. Nhóm khác theo dõi nhóm
trình bày, chấm điểm tương ứng với tiêu chí trong phiếu chấm điểm. Sau mỗi nhóm
trình bày, cả lớp nhận xét, đánh giá, phản biện. Cuối cùng, giáo viên cho lớp làm bài
kiểm tra lấy điểm tra lấy điểm cá nhân.
Sau khi buổi báo cáo tôi yêu cầu các nhóm nộp bản nhận xét đánh giá sản phẩm
của các nhóm, các nhóm hoàn thiện các phiếu đánh giá cá nhân, bản tự cá nhân đánh giá
để tổng hợp kết quả cho mỗi thành viên.
Toàn bộ mục tiêu, tiến trình hoạt động và sản phẩm tôi đã trình bày chi tiết (Xem
phụ lục 6 đính kèm)
Đây là chủ đề dạy học tích hợp, trải nghiệm nhằm nhằm giải quyết một số vẫn đề
ô nhiễm môi trường ở huyện Kim Sơn mà tôi đã tổ chức cho HS lớp 12 tôi được phân
công giảng dạy từ năm học 2016 – 2017 và đạt được hiệu quả tốt theo những mục tiêu
đặt ra. Học sinh sau khi tham gia hoạt động phấn khởi, yêu bộ môn hơn, hiểu bài hơn và
đặt biệt là trong mỗi các em đều được khơi dậy ý thức trách nhiệm bảo vệ môi trường
xanh, sạch, đẹp.
Thực hiện sáng kiến: “Đổi mớp phương pháp dạy học và một số giải pháp bảo
vệ môi trường ở huyện Kim Sơn trong dạy học bài 10. Cách mạng khoa học công
nghệ và xu thế toàn cầu hóa nửa sau thế kỉ XX”, tôi và cá em học sinh lớp 12 trường
THPT Kim Sơn A mong muốn góp phần đổi mới phương pháp dạy học môn lịch sử ở
trường THPT nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học môn Lịch sử để đáp ứng
công cuộc đổi mới giáo dục của toàn ngành. Chúng tôi còn muốn góp một phần bảo vệ
môi trường và sức khỏe con người.
III. Hiệu quả kinh tế, xã hội dự kiến đạt được.
1. Hiệu quả kinh tế:
Tôi có thể ước tính những lợi ích mà sáng kiến mang lại như:
- Trong dạy học, chi phí thực hiện sáng kiến là không đáng kể, không tốn kém,
mang hiệu quả cao. Học sinh có thể tiếp cận tư liệu lịch sử dễ dàng qua việc đi thực tế,
qua mạng, sách, báo ở thư viện của nhà trường, hay tại nhà các em.
6


Việc thực hiện sáng kiến có ý nghĩa thiết thực trong thực tiễn dạy học, có thể tiến
hành trong nhiều tiết học Lịch sử trên lớp.
Học sinh được kiểm tra đánh giá với nhiều hình thức khác nhau. Giáo viên chấm
điểm thực hiện chủ đề của học sinh để lấy điểm kiểm tra để đỡ tốn thời gian kiểm tra
trên lớp.
Với việc chia nhóm, phân công nhiệm vụ cụ thể cho nhóm và cho từng thành viên
phù hợp với năng lực, một lượng kiến thức, công việc lớn được chia sẻ. Từng học sinh
đỡ tốn thời gian, công sức, tiền bạc nhưng vẫn được tiếp cận kiến thức chuyên sâu,
phong phú.
Qua việc thực hiện sáng kiến, học sinh tích cực học tập, tìm tòi, suy nghĩ, lao
động và sáng tạo để tìm ra những hướng đi, cách làm mới để phát triển kinh tế mà
không gây ô nhiễm môi trường
- Về giá trị kinh tế: Trong nông nghiệp, nông sản của Việt Nam; xoài, nhãn,
thanh long, vải thiều rất ngon được nhiều nước trên thế giới ưa chuộng. Đặc biệt Việt
Nam là một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới nhưng giá gạo lại rẻ nhất
so với những nước như Thái Lan. Theo như tôi nghe thời sự trên VTV1, nông sản của
Việt Nam xuất sang Phương Tây, Mĩ. Trong các cuộc họi đàm giữa nhà lãnh đạo các
nước nhập nông sản và Việt Nam, vấn đề họ quan tâm là nông sản Việt Nam phải đảm
bảo quy trình sản xuất sạch, không sử dụng thuốc trừ sâu hóa học, thuốc kích thích sinh
trường. Nếu chúng ta làm được điều này, nông nghiệp Việt Nam sẽ vươn ra thế giới,
nông dân bán hàng với giá cao. Ví dụ 1kg quả Thanh Long nông dân bán bán tại vườn
cho thương lái hiện nay chỉ có giá 5 000đ, nếu trừ chi phí sản xuất chắc không lãi bao
nhiêu. Nhưng nếu xuất khẩu sẽ co giá bán cao hơn nhiều.
Tại Việt Nam, nông sản bán tràn lan không co sự quản lí chặt chẽ. Một mớ rau
muống, rau đay, rau cải chỉ có giá vài nghìn đồng, cũng không ai đảm bảo chất lượng
cho nó. Vậy là người nông dân nghèo bền vững, còn người tiêu dùng thì phải ăn rau quả
không đảm bảo.
Theo tôi nên áp dụng những những mô hình sản xuất thực phẩm sạch như trồng
rau sạch, lúa sạch. Trong đó vẫn sử dụng khoa học – công nghệ ở khâu cày bừa, gặt
hái…nhưng không sử dụng thuốc trừ sâu hóa học, thuốc kính thích sinh trưởng mà sử
dụng phân và thuốc trừ sâu sinh học. Hàng bán cho người Việt nam dùng, với giá cao
hơn bây giờ. Với rau sạch, giá có thể đắt gấp nhiều lần bây giờ vẫn có nhiều người mua.
Người nông dân có lãi cao hơn. Lúa gao, rau củ, quả sạch mang lại sức khỏe, ngăn chặn
căn bệnh ung thư quái ác đang là nỗi ám ảnh và làm cho nhiều gia đình Việt Nam
khuynh gia bại sản.
Chúng ta cũng phải thay những vật liệu công nghiệp gây ô nhiễm môi trường như
túi ni lông, đồ nhựa bằng những sản phẩm thân thiện với môi trường mà ít tốn kém như
lá chuối, buộc rau bằng dây chuối, dùng làn, túi để đựng đồ khi đi chợ. Muốn tiện ích
hơn thì dùng túi tự phân hủy như trên thế giới đã dùng, và dùng tiết kiệm. Trước mắt thì
tốn hơn nhưng bảo vệ được sức khỏe, không mất tiền chữa bệnh.
Việc tổ chức HĐTNST tại địa phương tiết kiệm nguồn kinh phí lớn. Theo tôi ước
tính nếu 1 lớp học ở nông thôn như trường tôi tổ chức đi tham quan các di tích lịch sử,
nhà bảo tàng thì tiền xe, đi lại, ăn uống… mỗi lớp cũng tiêu tốn khoảng 3 đến 5 triệu
đồng, vậy 11 lớp tham gia thì tiêu tốn khoảng 33 đến 55 triệu đồng, vậy cả tỉnh sẽ tốn
khoảng hơn 1 tỉ đồng, đó là số tiền không nhỏ giảm tải chi tiêu cho phụ huynh học sinh.
Trong dự thảo chương trình THPT mới thì HĐTNST là một môn học bắt buộc,
nhiều thầy cô chưa biết phải tổ chức như thế nào, hoặc còn quá mơ hồ, cứ nghĩ
HĐTNST là phải đưa học sinh đi tham quan tại các di tích lịch sử nổi tiếng, các nhà bảo
7


tàng lớn…Vì muốn giáo viên hiểu được ý nghĩa, cách thức tổ chức HĐTNST có thể Bộ
GD & ĐT hoặc Sở GD sẽ phải tổ chức các lớp bồi dưỡng thường xuyên hàng năm tốn
kém cả hàng trăm triệu đồng thì sáng kiến này có thể là một mô hình nhân rộng ra tất cả
các trường trong và ngoài Tỉnh để giáo viên thực sự hiểu đầy đủ về HĐTNST mà không
cần tham gia các lớp tập huấn hay bồi dưỡng nữa, như vậy có thể mang lại lợi nhuận
lớn cho ngân sách nhà nước.
HĐTNST có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách
của học sinh. Ngoài việc củng cố, bổ sung vào hệ thống tri thức, kỹ năng, thái độ được
HS lĩnh hội thông qua học ở trên lớp thì HĐTNST còn tạo điều kiện cho HS vận dụng
những điều đã học vào giải quyết vẫn đề thực tiễn trong cuộc sống, rèn luyện các phẩm
chất, nhân cách và học hỏi thêm nhiều tri thức ngoài sách vở, luyện tập được nhiều kỹ
năng, thói quen cần thiết cho cuộc sống. HĐTNST làm tăng hứng thú đối với môn học
Lịch sử vốn khô khan, xa xôi trở nên hấp dẫn hơn, gần giũi, ý nghĩa và thiết thực hơn.
2. Hiệu quả xã hội:
Việc án dụng các phương pháp dạy học mới, đặc biệt là HĐTNST nhằm giải
quyết vấn đề thực tiễn trong môn Lịch sử có vai trò rất quan trọng trong công tác giáo
dục ở nhà trường phổ thông, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trên tất cả các mặt.
- Về giáo dục nhận thức:
Giúp học sinh củng cố, đào sâu, mở rộng những tri thức đã học trong giờ học
chính khoá; giúp cho học sinh vận dụng được những kiến thức đó vào giải quyết những
vấn đề thực tiễn trong cuộc sống, gắn lí thuyết với thực tiễn, thấy được những ứng dụng
của kiến thức đã được học trong đời sống.
- Về rèn luyện kỹ năng:
Dạy học theo nhóm giúp cho học sinh rèn luyện kỹ năng tự quản, phát triển kỹ
năng lập kế hoạch, kỹ năng giải quyết vấn đề; rèn luyện kỹ năng làm việc theo nhóm,
kỹ năng tự tổ chức, kỹ năng tự quản lí, kỹ năng điều khiển hoạt động nhóm. Việc trình
bày sản phẩm, nhận xét, phản biện giúp các em phát triển kỹ năng giao tiếp, giải quyết
vấn đề, rèn luyện ngôn ngữ và kỹ năng phát biểu trước đám đông, kĩ năng sử dụng công
nghệ thông tin. Đó là những kỹ năng rất cần khi các em trở thành người lao động trong
thời đại mới.
- Về mặt giáo dục tinh thần, thái độ làm việc:
Kích thích sự hứng thú học tập, khơi dậy lòng ham hiểu biết, lôi cuốn học sinh
tự giác tham gia một cách nhiệt tình vào các hoạt động, phát huy tính tích cực, tự lực
của học sinh. Giúp học sinh chủ động, sáng tạo, tự tin, có trách nhiệm với tập thể, sống
hòa đồng với người xung quanh và khi vận dụng vào thực tế cuộc sống sẽ giúp các em
thành công hơn.
- Về rèn luyện năng lực tư duy:
Trong quá trình thực hiện sáng kiến, học sinh phát triển năng lực tư duy. Nhiều
em trước đó rụt rè này tôi đã trực tiếp thực hiện ở trường tôi, đã có đối chứng với lớp
không được tham gia và nó thực sự mang lại hiệu quả vô cùng to lớn. Nhiều em trước
đó rụt rè nhút nhát, ngại trao đổi giao tiếp, sau khi tham gia dự án đã mạnh dạn hơn, cởi
mở hơn, các em trình bày và phản biện như một chuyên gia.
- Giáo dục đạo đức: Các em yêu quê hương đất nước, trân trọng tự nhiên, co trách
nhiệm bảo vệ môi trường. Từ đó sống có trách nhiệm.
Môn Lịch sử góp phần quan trọng trong việc giáo dục đạo đức học sinh. Học sinh
đã tiến bộ rõ rệt trong việc rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, nhân cách. Qua việc hợp tác,
chia sẻ với nhiều người, các em dần có lối sống giản dị, tác phong nhanh nhẹn, lời nói
văn minh, lịch sự hơn. Đặc biệt, các em có tác phong học tập chuyên nghiệp, hoàn
8


thành tốt các công việc được giao, tự tin trước tập thể. Đó chính là thành công bước đầu
của việc dạy học lấy học sinh làm trung tâm trong trường THPT Kim Sơn A.
Tóm lại, đổi mới phương pháp dạy học, chú trọng HĐTNST gắn với giải quyết
vấn đề thực tiễn giúp học sinh hiểu, khắc sâu kiến thức sách vở, hỗ trợ cho dạy học
chính khoá. Ngoài ra còn giúp giải quyết vấn đề thực tiễn, phát triển và hoàn thiện nhân
cách người học, góp phần quan trọng đào tạo nguồn nhân lực có tính tích cực, tự chủ
cao và có khả năng sáng tạo tốt trong công việc, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục
hiện nay của nước ta.
Sáng kiến được tổ chức thành công ở các lớp 12 từ năm học 2016 - 2017 tại
trường tôi.
* Lớp dạy thực nghiệm:
Lớp
Sĩ số
Điểm dưới 5
Điểm từ 5 -> 7
Điểm từ 8 -> 10
12B2
38
0
8 = 21%
30 = 79%
Các em tích cực, chủ động, hứng thú học tập
* Lớp không dạy thực nghiệm:
Lớp
Sĩ số
Điểm dưới 5
Điểm từ 5 -> 7
Điểm từ 8 -> 10
12B5
36
2 = 5,5% 15 = 41,5%
IV. 53%
Sáng kiến đã truyền cảm hứng và kinh nghiệm cho tôi tích cực tìm tòi, đổi mới
phương pháp giảng dạy trong giai đoạn ngành Giáo Dục đang tích cực đổi mới.
IV. Điều kiện và khả năng áp dụng
Thực tế dạy học môn lịch sử nói chung và ở trương THPT Kim sơn A nói riêng
rất thuận lợi cho việc thực hiện chủ đề.
Ban giám hiệu nhà trường rất ủng hộ, tạo điều kiện thuận lợi để giáo viên đổi mới
phương pháp dạy học, phương pháp kiểm tra đánh giá.
Các phương tiện trực quan phục vụ cho việc sử dụng tư liệu lịch sử (tranh ảnh
lịch sử, phim tài liệu, công nghệ thông tin...) rất phổ biến.
Nhà trường đã có thư viện, có máy tính nối mạng, phòng học chung với trang bị
đầy đủ máy tính, máy chiếu, bảng nhóm,…thuận lợi cho học sinh tìm kiếm tư liệu.
Học sinh trường THPT Kim Sơn A có tư chất khá, ngoan ngoãn, nên có khả năng
tích cực, chủ động học tập, có tinh thần học hỏi, hợp tác để hoàn thành công việc được
giao. Học sinh được học công nghệ thông tin, nhiều em ở nhà có máy tính, nên thuận lợi
cho việc tìm kiếm tư liệu và ứng dụng công nghệ thông tin. Các em có khả năng hoàn
thành các bài kiểm tra dưới nhiều hình thức khác nhau.
Hơn hết, thực tiến ô nhiễm môi trường do rác thải ở các côn sông và trên đường
phố ở huyện Kim Sơn gây nhức nhối cho nhiều người. Đặc biệt là các con sông ở Kim
Sơn trước kia rất trong xanh nhưng hiện nay vô cùng bẩn. Thuốc trừ sâu hóa học sử
dụng tràn lan ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. Thức tế đó giúp các em dễ tìm hiểu và phải
nghĩ cách giải quyết.
Phạm vi áp dụng: Sáng kiến: “Đổi mớp phương pháp dạy học và một số giải
pháp bảo vệ môi trường ở huyện Kim Sơn trong dạy học bài 10. Cách mạng khoa học
công nghệ và xu thế toàn cầu hóa nửa sau thế kỉ XX” đã được áp dụng ở trường
THPT Kim Sơn A cho học sinh lớp 12 trong kế hoạch giáo dục của bộ môn từ năm học
2016 - 2017. Hiệu quả đạt dược rất lớn. Học sinh có khả năng làm tốt (thể hiện ở sản
phẩm của học sinh và điểm số ở mục kiểm tra đánh giá lớp thực nghiệm (12b2).
Sáng kiến này giống như một giáo án mẫu để các thầy cô giáo đã và đang muốn
tìm hiểu cách thức dạy học dự án, dạy học nêu vẫn đề, dạy học theo nhóm, dạy học trải
nghiệm tham khảo và làm theo, vì không lâu nữa việc áp dụng các phương pháp dạy
9


học trên là bắt buộc trong chương trình cải cách giáo dục nhưng rất nhiều người còn
đang mơ hồ về nó.
Đồng thời để nâng cao hiệu quả dạy học phải sử dụng kết hợp nhiều hoặc một số
phương pháp dạy học mới chứ không chỉ sử dụng một phương pháp, nhưng phải tùy
từng bài dạy mà chú trọng phương pháp dạy học nào. Trong sáng kiến tôi sử dụng nhiều
phương pháp dạy học mới: nêu vấn đề, dự án, theo nhóm, trải nghiệm, trong đó chú
trọng phương pháp dạy học trải nghiệm sáng tạo nhằm giải quyết vấn đề thực tiễn là ô
nhiễm môi trường ở địa phương Kim Sơn.
Sáng kiến còn có thể mở rộng tổ chức trên quy mô toàn trường hoặc thành
chuyên đề hoạt động cho học sinh, nó giúp học sinh vẫn đảm bảo được lượng kiến thức
theo yêu cầu để đáp ứng với nội dung của đề thi và kiểm tra mặt khác nó còn giúp các
em phát triển đầy đủ năng lực cần thiết cho cuộc sống, giáo dục lòng say mê khoa học
và có thể nó sẽ là tiền đề cho các em lựa chọn nghiên cứu khoa học cho tương lai.
Sáng kiến có thể áp dụng cho học sinh THPT trong cả nước. Với thực trạng ô
nhiễm môi trường do rác thải và thuốc trừ sâu hóa học ở nhiều nơi như hiện nay, việc
bảo vệ môi trường là vô cùng quan trọng. Vì theo thống kê mới được công bố trên
VTV1 mới đây, Việt Nam đứng trong tốp đầu thế giới về rác thải túi ni lông và rác thải
ra biển. Việt Nam là quốc gia đáng báo động về tình trạng sử dụng thuốc trừ sâu hóa
học tràn lan lan, làm người dân phải ăn thực phẩm không an toàn. Các em tìm hiểu vấn
đề bảo vệ môi trường tại địa phương mình ở những môn học co liên quan.
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và
hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Mức độ áp dụng: tùy theo đối tượng học sinh. Hiện nay hầu hết các trường
THPT đều phân lớp theo năng lực của học sinh, ở các lớp khá, có thể áp dụng luôn sáng
kiến, còn với các lớp học sinh trung bình giáo viên có thể linh động giảm bớt mức độ
khó của một số yêu cầu trong các hoạt động, các em vẫn có thể tiếp cận và đạt được các
mục tiêu như mong muốn.
XÁC NHẬN CỦA LÃNH ĐẠO ĐƠN VỊ

Kim Sơn, tháng 5 năm 2019
Người nộp đơn

Nguyễn Thị Hương

10


KẾT QUẢ HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH CẤP TRƯỜNG
* Nhận xét
- Ưu điểm: ………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………..
- Tồn tại: …………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
* Điểm đánh giá: …………………….; Xếp loại: ………………………………
KẾT QUẢ HỘI ĐỒNG THẨM ĐỊNH CẤP NGÀNH
* Nhận xét
- Ưu điểm: ………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………
- Tồn tại: …………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………….
Điểm đánh giá: …………………….; Xếp loại: ………………………………

11


12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×