Tải bản đầy đủ

skkn đổi mới hình thức tổ chức hoạt động học môn giáo dục công dân ở trường THCS

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do – Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Hội đồng thẩm định sáng kiến huyện Nho Quan.
Tôi:
Ngày
Họ tên

tháng năm

Trình
Nơi công

Chức

độ

tác

danh


chuyên

sinh

môn
THCS

Nguyễn Thị Bích Thảo

13.02.1984

Gia
Tường

Giáo

Đại học

viên

sư phạm

Tỉ lệ %
đóng góp
vào việc
tạo ra
sáng kiến
100

Là tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến:
“Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động học môn giáo dục công dân ở
trường THCS”.
I. CHỦ ĐẦU TƯ SÁNG KIẾN: Nguyễn Thị Bích Thảo
II. THỜI GIAN ÁP DỤNG: Từ năm học 2016 – 2017; 2017 - 2018
III. LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN: Phương pháp dạy học
IV. MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN
1. Nội dung sáng kiến
Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động học nói chung, đổi mới hình thức tổ
chức hoạt động học môn Giáo dục công dân nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng
và cần thiết. Bởi, môn Giáo dục công dân là một môn học đặc biệt, là một bộ


phận của quá trình giáo dục các giá trị nhân cách (đạo đức, pháp luật, lối
sống…) vì mục tiêu của môn học chính là thực hiện mục tiêu của quá trình giáo
dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho học sinh. Đó là vị trí đặc biệt của
môn Giáo dục công dân so với các môn học khác ở trường THCS. Đặc biệt hiện
nay, học sinh chưa thực sự quan tâm và coi trọng môn học này, vẫn coi đây là
môn học phụ. Mặt khác, cùng với mặt trái của cơ chế thị trường, vấn đề đạo đức,
lối sống trong học sinh, tình trạng bạo lực hoc đường và tỷ lệ tội phạm ở lứa tuổi
1


vị thành niên có xu hướng gia tăng. Do đó, việc đổi mới hình thức tổ chức hoạt
động học môn Giáo dục công dân là một trong những nội dung nhằm góp phần
đổi mới phương pháp dạy học và nâng cao chất lượng học bộ môn cho học sinh.
Đồng thời, giúp giáo viên có nhận thức và hướng đi tích cực khi tổ chức hoạt
động học nhằm đa dạng hóa các hình thức dạy học. Qua đó, rèn luyện tính tích
cực, chủ động và phát huy khả năng sáng tạo trong học tập của các em.
Đó là lí do tôi thực hiện đề tài sáng kiến kinh nghiệm: “Đổi mới hình thức
tổ chức hoạt động học môn Giáo dục công dân ở trường THCS”. Với mục
đích từng bước đáp ứng yêu cầu của chương trình đổi mới giáo dục lấy hoạt
động học làm trung tâm, nhằm tiếp cận dần với mô hình trường học mới và thực
hiện có hiệu quả chủ trương của Bộ GD&ĐT về đổi mới phương pháp và hình
thức dạy học trong các nhà trường.
1.1. Giải pháp cũ thường làm
1.1.1. Nội dung giải pháp
Trong những năm gần đây, mặc dù đã tích cực tiến hành đổi mới phương
pháp dạy học tuy nhiên để học sinh hứng thú, yêu thích và say mê học môn Giáo
dục công dân thì còn là một vấn đề mà nhiều giáo viên các trường THCS vẫn
còn đang lúng túng trong việc tìm ra các giải pháp sao cho phù hợp.
Hình thức dạy học Giáo dục công dân hiện nay chủ yếu vẫn kế thừa theo
hình thức dạy học truyền thống. Xét về bản chất, đây là phương pháp dạy học ở
trên lớp, là những cách thức dạy học quen thuộc được truyền từ lâu đời và được
bảo tồn, duy trì qua nhiều thế hệ. Thực hiện lối dạy này, giáo viên từ chỗ là
người thuyết trình, diễn giảng “thầy giảng – trò nghe”, thì thầy đặt câu hỏi để
thu hút nhiều học sinh trả lời sau đó thầy phân tích, giải thích lại để học sinh
nghe, nhớ, ghi chép và suy nghĩ theo với mục tiêu chuyển từ dạy học lấy giáo
viên làm trung tâm sang lấy học sinh làm trung tâm. Tuy nhiên học sinh phải ghi
chép nhiều, các em chưa được quan sát thực tế, chưa có cơ hội thảo luận để phát
huy tính tích cực trong học tập.
1.1.2. Ưu điểm của giải pháp cũ
Về không gian và thời gian:
Không gian giới hạn trong một phòng học chỉ với không quá 45 học sinh
theo sự chỉ đạo của Bộ GD&ĐT cho nên giáo viên dễ quan sát, dễ điều hành.
Giúp giáo viên có thể truyền đạt một khối lượng kiến thức lớn trong một khoảng
2


thời gian ngắn; Giáo viên hoàn toàn chủ động trong giờ giảng của mình, không
gặp khó khăn trở ngại đối với những vấn đề có thể nảy sinh trên lớp; học sinh
tiếp thu được nhiều kiến thức khi họ nhận được càng nhiều thông tin từ giáo
viên.
Giáo viên là người hoàn toàn chủ động về thời gian và nội dung giảng
dạy; Giảm bớt những khó khăn, thời gian cho giáo viên trong việc chuẩn bị, chỉ
cần chuẩn bị bài giảng thuyết trình một lần người giáo viên có thể sử dụng để
giảng dạy trong nhiều lần. Còn các nhà trường cũng chủ động trong việc xây
dựng kế hoạch dạy học.
Phương tiện, thiết bị và đồ dùng dạy học: Giáo viên đã tăng cường sử
dụng tranh ảnh, lược đồ, phương tiện nghe nhìn như máy chiếu, Tivi, đài … và
kênh hình vào trong giảng dạy. Hiện nay công nghệ thông tin phát triển giáo
viên và học sinh có thể tiếp cận với tranh ảnh, tư liệu, tài liệu từ mạng Internet…
để làm phong phú hơn cho bài giảng của mình.
Đối tượng: Số lượng học sinh không quá 45 em trong một lớp, chính vì
vậy giáo viên có thể quản lí một cách dễ dàng không vất vả, đồng thời hoàn toàn
chủ động trong giờ giảng của mình, không gặp khó khăn trở ngại đối với những
vấn đề có thể nảy sinh trên lớp; học sinh tiếp thu được nhiều kiến thức khi các
em nhận được càng nhiều thông tin từ giáo viên.
Mặc dù hiện nay việc sử dụng phương tiện, thiết bị và ứng dụng công
nghệ thông tin trong các nhà trường được đẩy mạnh song con đường của nó đến
với học sinh chủ yếu là phương pháp truyền thống, do vậy kết quả đạt được chưa
cao.
1.1.3. Hạn chế của giải pháp cũ
Không gian và thời gian có giới hạn thời gian chỉ có 45 phút cho một tiết
học và không gian bó hẹp, khép kín trong một phòng học cho nên học sinh
không có cơ hội và thời gian để quan sát, tìm hiểu, thu thập những tư liệu, tài
liệu từ thực tế để làm phong phú thêm cho bài học.
Đối tượng học là học sinh của một lớp với số lượng không quá 45 em theo
sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục - Đào tạo. Với số học sinh tham gia có giới hạn do
đó các em ít được trao đổi, thảo luận, tương tác, khả năng hòa nhập cộng đồng
chưa có. Về phía giáo viên khi muốn truyền tải một nội dung kiến thức hay một
chủ đề nào đó cho học sinh trong cùng một khối lớp hoặc ở các khối lớp khác
3


nhau lại phải thực hiện nhiều lần, khiến cho giáo viên vất vả, hoạt động thì lặp đi
lặp lại nhưng hiệu quả thu được không cao.
Tư liệu và thiết bị dạy học ngoài sách giáo khoa, sách giáo viên tranh ảnh,
lược đồ, máy chiếu, loa đài, băng đĩa … giáo viên và học sinh còn có thể thu
thập tư liệu, tài liệu, tranh ảnh... trên mạng Internet nhưng việc sử dụng các
nguồn tư liệu, thiết bị và phương tiện dạy học còn mang tính hình thức chỉ nhằm
mục đích minh họa làm phong phú, sinh động hơn cho nội dung bài giảng của
thầy, học sinh phải học thuộc lòng các kiến thức trong sách giáo khoa, các em
chưa được quan sát thực tế, chưa có cơ hội thảo luận, hợp tác, phát huy tính tích
cực, không được hòa nhập vào cộng đồng, trải nghiệm thực tế, không chủ động
trong việc lĩnh hội kiến thức từ thực tế…
Do không khơi dậy được tình yêu, niềm say mê với môn học cho học sinh
vẫn coi đây là môn học phụ, chưa có hứng thú học tập. Việc lồng ghép, tích hợp
kiến thức của nhiều môn học với nội dung phù hợp cũng gặp nhiều khó khăn
dẫn đến các tiết học trở nên tẻ nhạt, học sinh thu động tiếp nhận kiến thức một
chiều từ phía giáo viên.
1.2. Giải pháp mới cải tiến
Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong nghị
quyết Trung ương 4 khóa VII (1993), Nghị quyết trung ương 2 khóa VIII (1996)
và được thể chế hóa trong luật giáo dục sửa đổi ban hành năm 2005 đã ghi
“Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy
sáng tạo của người học; Bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng
thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên”
Phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh có nghĩa là phải thay
đổi cách dạy và cách học. Chuyển từ hình thức dạy học lấy giáo viên làm trung
tâm và hình thức lấy học sinh là chủ thể hoạt động sang hình thức lấy hoạt động
học làm trung tâm, giáo viên là người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn tạo nên sự
tương tác tích cực giữa người dạy và người học. Do đó, tôi đã tiến hành một số
hình thức tổ chức hoạt động học theo định hướng phát triển năng lực học sinh là:
1.2.1. Sử dụng chuyện kể để dạy học:
.

Trong quá trình giảng dạy giáo viên có thể sử dụng các câu chuyện

vào nhiều dạng khác nhau nhằm những mục đích khác nhau. Nhưng nhìn chung
có ba dạng cơ bản thường được các giáo viên sử dụng một cách có hiệu quả.
4


* Sử dụng câu chuyện để dẫn dắt vào nội dung bài học.
Hoạt động khởi động, giáo viên thường đưa ra những tình huống hay
những câu chuyện kể để dẫn dắt học sinh vào bài học hoặc vào một phần nào đó
của cấu trúc bài học. Sử dụng các câu chuyện giáo viên có thể dẫn dắt học sinh
vào bài học một cách trực tiếp tạo sự chú ý và gây hứng thú cho học sinh. Có hai
hình thức để dẫn học sinh vào bài học:
- Sử dụng chuyện kể để vào bài mới.
Đây là hình thức giáo viên dùng một câu chuyện có nội dung phù hợp với
chủ đề bài học để đưa học sinh vào bài thay cho phần thuyết trình vào bài. Từ
nội dung của câu chuyện giáo viên làm rõ chủ đề của bài học và bằng những câu
hỏi có tính liên kết để dẫn học sinh vào bài mới, học sinh sẽ thấy cảm giác hứng
thú đê bước vào bài. Chẳng hạn để dẫn học sinh vào bài 2 “ Siêng năng kiên trì”
lớp 6. Giáo viên có thể bắt đầu giảng bằng câu chuyện về thầy giáo Nguyễn
ngọc Ký, qua đó rút ra những kết luận về sự siêng năng, kiên trì vượt khó của
thầy, là tấm gương sáng cho chúng ta noi theo. Vậy để hiểu rõ hơn về đức tính
siêng năng, kiên trì chúng ta cùng tìm hiểu bài học hôm nay.
- Sử dụng chuyện kể để dẫn học sinh vào từng phần kiến thức của bài
học.
Cũng giống như sử dụng câu chuyện để vào bài mới, chỉ có điều khác
ở đây giáo viên sử dụng câu chuyện để vào một phần nào đó, một đơn vị
kiến thức nào đó của bài học.
Ví dụ: Để dẫn học sinh vào phần kiến thức thứ hai của bài “ Năng động,
sáng tạo” lớp 9. Giáo viên có thể bắt đầu bằng câu chuyện Sự thành công của
giáo sư Ngô Bảo Châu. Để giúp cho học sinh thấy rõ năng động, sáng tạo giúp
chúng ta thành công trong cuộc sống và làm nên những kỳ tích vẻ vang.
* Sử dụng chuyện kể để làm rõ tri thức.
Là hình thức giáo viên dùng câu chuyện để làm sáng tỏ tri thức của
bài học, qua nội dung câu chuyện học sinh sẽ nắm được tri thức bài học hay
nói cách khác là thay cho việc dùng lý luận để phân tích, lý giải tri thức bài
học cho học sinh. Đây là hình thức củng cố một lượng kiến thức của một phần
nội dung bài học.
Ví dụ: Trong phần đơn vị kiến thức quyền và nghĩa vụ của con cháu đối
với ông bà, cha mẹ trong bài “ Quyền và nghĩa vụ của công dân trong gia đình”
5


lớp 8, giáo viên có thể sử dụng câu chuyện “ Chuyện của ba chị em mồ côi”
(trích trong Quà tặng cuộc sống - NXB Tuổi trẻ). Qua câu chuyện giúp cho học
sinh cảm nhận được rằng cuộc sống sẽ thật đẹp đẽ và có ý nghĩa khi chúng ta
biết sẻ chia, yêu thương, giúp đỡ nhau của anh chị em trong gia đình; đồng thời
còn thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau nếu không còn cha me.
* Sử dụng chuyện kể để củng cố bài học.
Đây là hình thức sử dụng các câu chuyện sau khi kết thúc bài học.
Giáo viên kể cho học sinh nghe một câu chuyện có nội dung phù hợp với bài
học, trong đó nhấn mạnh đến những chi tiết thể hiện tri thức của bài học để
củng cố tri thức đã truyền thụ cho học sinh.
Ví dụ: Sau khi kết thúc bài 21 “ Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam”, giáo viên có thể sử dụng truyện kể về nhân vật bà luật sư Đức
khi nói về các quy định của pháp luật. Qua đó, học sinh phải tự nhận thức được
bản thân phải biết nghiêm chỉnh chấp hành những quy định của Hiến pháp và
pháp luật đồng thời còn phải biết tuyên truyền cho mọi người thực hiện tốt.
1.2.2. Tổ chức trò chơi trong dạy học:
Trò chơi là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hiện những hành
động, những thái độ, những việc làm phù hợp với các chuẩn mực, hành vi đạo
đức đã học thông qua một trò chơi nào đó. Và đây cũng là một phương pháp rất
quen thuộc trong các tiết ngoài giờ lên lớp. Với phương pháp này, học sinh ở
các lứa tuổi rất thích. Nó tạo cho lớp học một không khí sôi động "học mà chơi,
chơi mà học". Những trò chơi mà giáo viên THCS thường dùng như : ai nhanh
hơn, tiếp sức, cánh cửa tri thức, ô chữ bí mật, ai thế nhỉ, rung chuông vàng, mặt
cười- mặt khóc, tập làm phóng viên ...
Nội dung trò chơi sẽ minh hoạ một cách sinh động các chuẩn mực đạo
đức pháp luật, nhờ vậy các mẫu hành vi này sẽ tạo được những biểu tượng rõ rệt
ở học sinh, tăng cường sự chú ý giúp các em ghi nhớ dễ dàng và bền lâu. Qua
trò chơi học sinh được rèn luyện những kỹ năng, những thao tác hành vi đạo đức
giúp các em thể hiện được hành vi một cách đúng đắn, tự nhiên, làm tăng khả
năng giao tiếp cho bản thân. Bên cạnh đó, học sinh sẽ vận dụng kiến thức đã học
vào việc lựa chọn cho mình cách giải quyết, ứng xử tình huống đúng đắn, phù
hợp. Giúp học sinh rèn luyện được kỹ năng sống cho bản thân & hình thành
năng lực quan sát, được rèn luỵện kỹ năng nhận xét, đánh giá hành vi của người
6


khác là phù hợp hay không phù hợp với chuẩn mực đạo đức, pháp luật. Bằng trò
chơi, việc luyện tập hành vi đạo đức được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh
động, không khô khan, nhàm chán. Học sinh được lôi cuốn vào quá trình học tập
một cách tự nhiên làm nâng cao hứng thú học tập, giúp các em giải trừ được
những mệt mỏi, căng thẳng trong học tập. Như vậy, rõ ràng khi sử dụng phương
pháp trò chơi cũng như các phương pháp dạy học tích cực khác đã phát huy một
cách tốt nhất tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh. Bồi dưỡng
năng lực tự học, tự khám phá, tự tìm hiểu, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức
vào thực tiễn ở học sinh. Không chỉ thế, nó còn tác động trực tiếp đến tình cảm,
thái độ đem lại niềm vui, sự hứng thú học tập cho các em, làm cho các em cảm
thấy thích thú học tập, yêu môn học, yêu trường lớp hơn. Với tác dụng và hiệu
quả mà phương pháp trò chơi mang lại đối với việc dạy và học môn Giáo dục
công dân, vấn đề này cũng được một số giáo viên quan tâm nghiên cứu. Giáo
viên có thể tổ chức một số trò chơi tạo không khí sôi nổi, gây hứng thú cho học
sinh như sau.
* Tổ chức trò chơi tiếp sức nhằm củng cố, mở rộng kiến thức:
Áp dụng trò chơi này nhằm huy động tính tích cực của tất cả học sinh trong
lớp, em nào cũng phải động não và hoạt động kể cả học sinh yếu kém. Trò chơi
này áp dụng khi giáo viên yêu cầu học sinh tìm những biểu hiện của những
chuẩn mực đạo đức hay pháp luật trong cuộc sống hằng ngày rất nhiều, vì thế
các em có thể thảo luận và nêu ra những biểu hiện đó.
Cách tiến hành trò chơi:
+ Chuẩn bị bảng phụ và phiếu học tập cá nhân.
+ Trên lớp giáo viên treo bảng phụ, chia nhóm và công bố luật chơi.
+ Tổng kết cuộc chơi, rút kinh nghiệm và khen thưởng.
Ví dụ: Khi dạy GDCD 9 bài tiết “Tự chủ”. Mỗi nhóm được phát một tập phiếu
trắng, các em hãy suy nghĩ và ghi lại những biểu hiện của tính tự chủ và những
biểu hiện thiếu tự chủ trong cuộc sống vào phiếu (mỗi phiếu ghi một biểu hiện).
Sau đó mỗi nhóm lần lượt từng em lên dán phiếu vào bảng phụ cho phù hợp
cột của nhóm mình. Trò chơi 3 phút, nhóm nào tìm được nhiều biểu hiện hơn thì
thắng cuộc.

7


Giáo viên tuyên bố kết thúc cuộc chơi, hướng dẫn học sinh nhận xét, góp ý.
Giáo viên bổ sung thêm những biểu hiện mà học sinh chưa đề cập đến...
* Tổ chức trò chơi sắm vai để khởi động hoặc hình thành kiến thức mới:
Sắm vai là một hình thức hợp tác của nghệ thuật sử dụng biểu diễn trực
tiếp, thường bao gồm việc các diễn viên trình bày những trải nghiệm của một sự
kiện có thật hay tưởng tượng trước những đối tượng khán giả tại chỗ ở một nơi
cụ thể.
Trò chơi sắm vai trong môn Giáo dục công dân bằng các loại hình nghệ
thuật ( chủ yếu là diễn suất, kịch…), nhằm mục đích truyền đạt đến đối tượng
người xem và nghe những nội dung cơ bản của bài học một cách hiệu quả nhất,
hấp dẫn nhất.
Trò chơi sắm vai được tổ chức trong hoạt động khởi động hoặc hình thành
kiến thức mới, được tích hợp từ nhiều môn như Lịch sử, Ngữ văn, Địa lý, Giáo
dục công dân, Âm Nhạc, Mĩ thuật… thể hiện thông qua các vở kịch, các tiết
mục biểu diễn, hoạt cảnh, cuộc thi … tái hiện khái quát lại một nội dung bài học,
một chủ đề dạy học, đây là một hình thức tổ chức dạy học rất bổ ích và cần thiết
trong quá trình dạy học nói chung, dạy học môn Giáo dục công dân nói riêng.
Bởi lẽ đây là dịp để học sinh khắc sâu kiến thức, rèn kĩ năng sống, cách ứng xử,
kĩ năng diễn xuất, để đi đến mục tiêu đạt được là giúp học sinh khắc sâu kiến
thức, tạo yếu tố say mê, hứng thú, tích cực chủ động, sáng tạo trong học tập và
yêu thích bộ môn Giáo dục công dân hơn.
Ví dụ: Khi dạy bài “Quyền và nghĩa vụ của công dân trong gia đình” khai
thác nội dung hai mẩu chuyện trong phần “Đặt vấn đề” để làm rõ nội dung
quyền và nghĩa vụ của con cháu đối với ông bà, cha mẹ, tôi không cho học sinh
đọc chuyện mà cho dựng hoạt cảnh.
Mục đích và cách thức tổ chức: Trò chơi sắm vai trong môn Giáo dục
công dân nhằm tạo cho hoạt động học thêm phần sinh động, hướng đến các mục
đích tạo được hứng khởi cho các em học sinh học tập khi các em được trực tiếp
“hóa thân” vào các nhân vật.
Để tổ chức trò chơi sắm vai giáo viên phải là người định hướng nội dung,
hình thức tổ chức. Đối với học sinh: Lựa chọn nội dung, sự kiện, hoạt cảnh, kịch
bản liên quan đến nội dung bài học để tập luyện; Chuẩn bị đạo cụ, phục trang
….cho phần thể hiện trên sân khấu.
8


Chú ý: Sau khi kết thúc hoạt động giáo viên có nhận xét, đánh giá, rút
kinh nghiệm nhằm động viên khích lệ học sinh thực hiện tốt các hoạt động sau.
1.2.3. Nghiên cứu trường hợp điển hình:
Nghiên cứu trường hợp điển hình là phương pháp sử dụng một câu
chuyện có thật hoặc chuyện được viết dựa trên những trường hợp thường xảy ra
trong cuộc sống thực tiễn để minh chứng cho một vấn đề hay một số vấn đề. Đôi
khi nghiên cứu trường hợp điển hình có thể được thực hiện trên video hay một
băng catset mà không phải trên văn bản viết.
Các bước nghiên cứu trường hợp điển hình có thể là:
* HS đọc (hoặc xem, hoặc nghe) về trường hợp điển hình.
Trước khi tìm hiểu nội dung hay vấn đề nào đó trong bài học, giáo viên
thường giới thiệu một tình huống thực tế hay một tấm gương điển hình trong xã
hội có thể bằng các câu chuyện kể hoặc xem video. Phương pháp này kích thích
trí tưởng tưởng, khơi gợi hứng thú học tập cho các em.
* Suy nghĩ về nó (có thể viết một vài suy nghĩ trước khi thảo luận điều đó
với người khác).
Ví dụ: Khi học bài “ Bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên” lớp 7.
Giáo viên có thể cho học sinh viết một đoạn văn ngắn nói lên cảm xúc của em
về môi trường và thiên nhiên sau chuyến tham quan, du lịch.
* Thảo luận về trường hợp điển hình theo các câu hỏi hướng dẫn của GV.
Đây là phương pháp chủ đạo trong tổ chức hoạt động học môn Giáo dục
công dân. Qua tình huống hay câu chuyện, học sinh thảo luận theo nội dung câu
hỏi mà giáo viên hướng dẫn để rút ra nội dung bài học.
Ví dụ: Khi tìm hiểu phần truyện đọc “ Truyện kể từ trang trại” trong bài
10 “ Giữ gìn và phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ” lớp 7. Giáo
viên tổ chức cho học sinh thảo luận theo nội dung câu hỏi:
Nhóm 1: Sự lao động cần cù và quyết tâm vượt khó của mọi người trong
gia đình ở truyện đọc thể hiện như thế nào?
Nhóm 2: Những việc làm nào chứng tỏ nhân vật “tôi” đã giữ gìn và phát
huy truyền thống tốt đẹp của gia đình?
Nhóm 3: Truyền thống gia đình, dòng họ có ảnh hưởng với mỗi con người
như thế nào? Em tự hào điều gì về gia đình, dòng họ của mình?

9


Nhóm 4: Chúng ta phải sống như thế nào để xứng đáng với truyền thống
tốt đẹp của gia đình, dòng họ?
HS: Thảo luận để tìm ra những việc làm, biểu hiện để giữ gìn và phát huy
truyền thống tốt đẹp của gia đình. Từ đó, rút ra được ý nghĩa và cách rèn luyện
của bản thân để gìn giữ truyền thống gia đình, góp phần làm làm phong phú
truyền thống, bản sắc dân tộc Việt Nam.
Một số lưu ý:
* Vì trường hợp điển hình được nêu lên nhằm phản ánh tính đa dạng của
cuộc sống thực, nên nó phải tương đối phức tạp, với các tuyến nhân vật và
những tình huống khác nhau chứ không phải là một câu chuyện đơn giản.
* Trường hợp điển hình có thể dài hay ngắn, tuỳ từng nội dung vấn đề
song phải phù hợp với chủ đề bài học, phù hợp với trình độ học sinh và thời
lượng cho phép.
* Tùy từng trường hợp, có thể tổ chức cho cả lớp cùng nghiên cứu một
trường hợp điển hình hoặc phân công mỗi nhóm nghiên cứu một trường hợp
khác nhau.
1.2.4. Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
Trải nghiệm và sáng tạo là tính chất hoạt động giáo dục nhằm hình thành
chủ yếu năng lực tâm lý – xã hội và phẩm chất nhân cách ở học sinh. Hoạt động
trải nghiệm sáng tạo: không thực hiện các nhiệm vụ trải nghiệm của từng môn
học. Tuy nhiên, nhiệm vụ của hoạt động trải nghiệm sáng tạo giúp học sinh tổng
hợp kiến thức học được vào thực tiễn. Đánh giá kết quả hoạt động trải nghiệm
sáng tạo chủ yếu tập trung vào năng lực tâm lý xã hội, các giá trị, niềm tin, tình
cảm…
Trải nghiệm sáng tạo là hoạt động giúp học sinh vận dụng những tri thức,
kiến thức, kĩ năng đã học từ nhà trường và những kinh nghiệm của bản thân vào
thực tiễn cuộc sống. Hoạt động trải nghiệm chia làm hai giai đoạn:
+ Giai đoạn giáo dục cơ bản:
- Hình thành các phẩm chất nhân cách, những thói quen, kỹ năng sống…
- Học sinh được bước vào cuộc sống xã hội, được tham gia các đề án, dự
án, được tham gia các hoạt động thiện nguyện, hoạt động lao động… cũng như
tham gia các loại hình câu lạc bộ khác nhau như: câu lạc bộ văn học, toán học…

10


+ Bằng hoạt động trải nghiệm của bản thân, mỗi học sinh vừa là người
tham gia, vừa là người kiến thiết và tổ chức các hoạt động cho chính mình nên
học sinh không những biết cách tích cực hóa bản thân, khám phá bản thân, điều
chỉnh bản thân mà còn biết cách tổ chức hoạt động, tổ chức cuộc sống và biết
làm việc có kế hoạch, có trách nhiệm. Đặc biệt, ở giai đoạn này, mỗi học sinh
cũng bắt đầu xác định được năng lực, sở trường, và chuẩn bị một số năng lực cơ
bản cho người lao động tương lai và người công dân có trách nhiệm.
Nội dung hoạt động trải nghiệm sáng tạo rất đa dạng và mang tính tích
hợp, tổng hợp kiến thức, kĩ năng của nhiều môn học, nhiều lĩnh vực học tập và
giáo dục như: giáo dục đạo đức, giáo dục trí tuệ, giáo dục kĩ năng sống, giá trị
sống, giáo dục nghệ thuật, thẩm mĩ, giáo dục thể chất, an toàn giao thông, giáo
dục môi trường, giáo dục phòng chống HIV/AIDS…
Nội dung giáo dục của hoạt động trải nghiệm sáng tạo thiết thực và gần
gũi với cuộc sống thực tế, đáp ứng được nhu cầu hoạt động của học sinh, giúp
các em vận dụng những hiểu biết của mình vào trong thực tiễn cuộc sống một
cách dễ dàng, thuận lợi.
- Về quy mô: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể tổ chức theo những
quy mô khác nhau: theo nhóm, theo lớp, theo khối, theo trường hoặc liên trường.
Tuy nhiên, tổ chức theo quy mô nhóm, lớp có ưu thế hơn về nhiều mặt như tổ
chức đơn giản, không tốn kém, mất ít thời gian, học sinh tham gia nhiều hơn, có
nhiều khả năng phát triển kĩ năng hơn.
- Về địa điểm: Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có thể tổ chức tại nhiều địa
điểm khác nhau ở trong và ngoài nhà trường: lớp học, thư viện, phòng đa năng,
phòng truyền thống, sân trường, vườn trường, viện bảo tàng, di tích lịch sử, danh
lam thắng cảnh, nhà các nghệ nhân, làng nghề, cơ sở sản xuất... Liên quan đến
chủ đề hoạt động.
Sự phối hợp của lực lượng tham gia các Hoạt động trải nghiệm sáng tạo.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo có khả năng thu hút sự tham gia, phối hợp, liên
kết nhiều lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường như: Giáo viên chủ
nhiệm lớp, Giáo viên bộ môn, cán bộ Đoàn, Tổng phụ trách đội, Ban Giám hiệu
nhà trường, cha mẹ học sinh, chính quyền địa phương các Hội, tổ chức, doanh
nghiệp, các nghệ nhân, …

11


Tùy nội dung và tính chất từng hoạt động mà sự tham gia của các lực
lượng có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp; có thể là chủ trì hoặc phối hợp, có thể là
những mặt khác nhau: kinh phí, phương tiện, địa điểm tổ chức, đóng góp về
chuyên môn, trí tuệ, chất xám hay ủng hộ tinh thần.
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo tạo điều kiện cho học sinh được học tập
và giao tiếp với nhiều lực lượng giáo dục; được lĩnh hội các nội dung giáo dục
qua nhiều kênh khác nhau. Điều đó làm tăng tính đa dạng, hấp dẫn và chất
lượng, hiệu quả của hoạt động.
Yêu cầu cần đạt về phẩm chất
- Sống yêu thương: thể hiện ở sự sẵn sàng tham gia các hoạt động giữ gìn,
bảo vệ đất nước, phát huy truyền thống gia đình Việt Nam, các giá trị di sản văn
hoá của quê hương, đất nước; tôn trọng các nền văn hoá trên thế giới, yêu
thương con người, biết khoan dung và thể hiện yêu thiên nhiên, cuộc sống…
- Sống tự chủ: là sống với lòng tự trọng, trung thực, luôn tự lực, vượt khó
khăn và biết hoàn thiện bản thân.
- Sống trách nhiệm: quan tâm đến sự phát triển hoàn thiện bản thân, tham
gia hoạt động cộng đồng, đóng góp cho việc giữ gìn và phát triển của cộng
đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên. Luôn biết tuân thủ, chấp hành
kỷ cương, quy định, hiến pháp và pháp luật và sống theo giá trị chuẩn mực đạo
đức xã hội.
Yêu cầu cần đạt về năng lực chung
- Năng lực tự học: là khả năng xác định được nhiệm vụ học tập một cách
tự giác, chủ động; tự đặt được mục tiêu học tập; Lập và thực hiện kế hoạch học
tập nghiêm túc, nền nếp; thực hiện các phương pháp học tập hiệu quả; điều
chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ khi gặp
khó khăn trong học tập.
- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: là khả năng nhận diện vấn đề,
thiết lập không gian vấn đề, xác định được các phương pháp khác nhau từ đó lựa
chọn và đánh giá được cách giải quyết vấn đề làm cơ sở cho việc hiệu chỉnh cần
thiết.
- Năng lực thẩm mỹ: là năng lực nhận diện và cảm thụ cái đẹp, biết thể
hiện được cái đẹp trong hành vi, trong lời nói, trong sản phẩm… và biết sáng tạo
ra cái đẹp.

12


- Năng lực thể chất: là khả năng sống thích ứng và hài hòa với môi
trường; biết rèn luyện sức khoẻ thể lực và nâng cao sức khoẻ tinh thần.
- Năng lực giao tiếp: là khả năng lựa chọn nội dung, cách thức, thái độ
giao tiếp để đạt được mục đích giao tiếp và mang lại sự thỏa mãn cho các bên
tham gia giao tiếp.
- Năng lực hợp tác: là khả năng cùng làm việc giữa hai hay nhiều người
để giải quyết những vấn đề nhằm mang lại lợi ích cho tất cả các bên.
- Năng lực tính toán: là khả năng sử dụng các phép tính và đo lường, công
cụ toán học để giải quyết những vấn đề trong học tập và cuộc sống.
- Năng lực công nghệ thông tin và truyền thông (ICT): là khả năng sử
dụng thiết bị kỹ thuật số, máy tính, phần mềm… để tìm kiếm thông tin phục vụ
tích cực và hiệu quả cho học tập và cuộc sống; là khả năng sàng lọc và tham gia
truyền thông trên môi trường mạng.
2. Khả năng áp dụng sáng kiến
Sáng kiến được thực hiện dựa trên tinh thần chỉ đạo qua các công văn,
hướng dẫn của Bộ GD&ĐT; sự hướng dẫn và chỉ đạo sát sao của Sở GD&ĐT
Ninh Bình; phòng GD&ĐT Nho Quan. Điều này đã tạo nên sự đồng thuận cao
và nhận được sự hưởng ứng của nhà trường, của các ban ngành đoàn thể, của
các cá nhân và toàn xã hội.
Sáng kiến “Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động học môn Giáo dục công
dân ở trường THCS” đã được áp dụng hiệu quả trường THCS Gia Tường huyện
Nho Quan.
Qua thực tế dạy học ở trường tôi khẳng định rằng sáng kiến “Đổi mới
hình thức tổ chức hoạt động học môn Giáo dục công dân ở trường THCS” có đủ
điều kiện để có thể áp dụng hình thức tổ chức hoạt động học rộng rãi không chỉ
với môn Giáo dục công dân mà đối với tất cả các môn học ở các nhà trường
THCS trên địa bàn huyện Nho Quan nói riêng và toàn tỉnh Ninh Bình nói chung.
Khả năng áp dụng của từng phương pháp phụ thuộc vào từng nội dung
các chuẩn mực đạo đức và pháp luật nên khi tiến hành áp dụng sáng kiến này thì
giáo viên phải chọn những hoạt động dạy học phù hợp với nội dung của bài học.
Phải có kế hoạch dạy học cụ thể chi tiết cho từng nội dung, hình thức tổ chức
dạy học. Bởi vì, mỗi hình thức hoạt động dạy học đều có ưu điểm và hạn chế,

13


chính vì vậy cần phải tuân thủ đúng nguyên tắc khi tiến hành bất cứ một hoạt
động dạy học nào.
V. CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
Để thực hiện được việc đổi mới hình thức tổ chức hoạt động học môn
Giáo dục công dân ở trường THCS đạt kết quả cao cần có sự quan tâm, chỉ đạo
sát sao của các cấp lãnh đạo, của chính quyền địa phương và các ban ngành,
đoàn thể, hội cha mẹ học sinh…
Ngoài các kiến thức trong tài liệu giáo viên cần lên kế hoạch cụ thể, sưu
tầm, tìm hiểu thêm tư liệu và có sự kết hợp tốt với các tổ chức đoàn thể trong
nhà trường.
Sự quan tâm đồng tình ủng hộ của Hội cha mẹ học sinh.
Học sinh tích cực sưu tầm tư liệu, viết báo cáo theo sự phân công hướng
dẫn của giáo viên.
Nhà trường tạo điều kiện tổ chức tham quan du lịch (nếu có) hoặc tổ chức
các hoạt động trải nghiệm thực tế trong và ngoài nhà trường, để giúp các em
hình thành những phẩm chất và kỹ năng cần thiết đáp ứng xu thế chung của thời
đại.
Mặt khác, cần làm tốt công tác tuyên truyền, vận động để cán bộ, giáo viên,
học sinh, phụ huynh học sinh, ngành Văn hóa và toàn xã hội ủng hộ, đồng thuận tạo
động lực cho việc triển khai tổ chức các hoạt động ngoại khóa trong dạy học và các
hoạt động giáo dục trong nhà trường phổ thông đạt hiệu quả và có sức lan toả, bền
vững.
Giáo viên cần tìm ra những bài học trong chương trình có liên quan đến
những gương “ người tốt, việc tốt” ở thực tiễn cuộc sống. Những nội dung liên
quan đến tình hình kinh tế, chính trị ở địa phương. Hoặc tổ chức cho học sinh
được đến trực tiếp xem các phiên tòa xét xử lưu động ở địa phương. Qua đó,
giáo dục ý thức tự giác chấp hành những chuẩn mực về đạo đức và pháp luật đã
đề ra.
VI. HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC:
1. Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động học môn Giáo dục công dân ở
trường THCS là một trong những nhu cầu thực tế, phù hợp với xu thế phát triển
của xã hội, phần nào đáp ứng việc hướng tới mục tiêu giáo dục Ba phẩm chất,
tám năng lực cho học sinh.
14


Thông qua hoạt động trải nghiệm học sinh được chủ động tiếp cận trực
tiếp với nguồn tri thức thực tiễn, sinh động qua trò chơi, những gương “người
tốt, việc tốt” những trải nghiệm tại thực tế là kết quả của quá trình tìm hiểu, học
tập, trải nghiệm của bản thân, tổ, nhóm. Điều này giúp các em dễ dàng nắm bắt,
tiếp thu lĩnh hội kiến thức theo năng lực cá nhân của mình. Con đường lĩnh hội
kiến thức của học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm được hình thành từ các
hoạt động của học sinh. Kiến thức môn học mà học sinh được hình thành cũng
được kết hợp từ kiến thức nhiều môn học. Do đó, việc lĩnh hội, hình thành kiến
thức ở học sinh hoàn toàn khách quan, khoa học. Nội dung, kiến thức bài học
được hình thành ở học sinh sẽ rất ấn tượng và rất sâu sắc, phát huy được tính
tích cực, chủ động của học sinh.
Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động học môn Giáo dục công dân hình
thành cho học sinh nhiều năng lực, kĩ năng sống một cách khách quan, khoa
học.
Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động học giúp hình thành ở học sinh
những kĩ năng từ đơn giản đến phức tạp như: thu thập thông tin trong đó sưu
tầm tư liệu, tài liệu, hiện tượng ...; Kĩ năng làm việc nhóm; kĩ năng chia sẻ; kĩ
năng thu thập, phân tích tổng hợp, xử lí và báo cáo thông tin đó là liên hệ giữa
kiến thức lí thuyết với thực tiễn, thống kê, sâu chuỗi thông tin liên quan (tổng
hợp kiến thức các lĩnh vực Văn học, Mĩ thuật, điện ảnh, Sinh học, Địa lý….),
hoàn thành viết, thuyết trình báo cáo sản phẩm. Bên cạnh đó học sinh được hình
thành kĩ năng lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch và tổ chức các hoạt động. Trong
các hoạt động học tập học sinh cần có và biết thêm kĩ năng sử dụng các phương
tiện, thiết bị công nghệ thông tin (máy tính, máy ảnh, điện thoại, máy ghi âm,
trình chiếu…). Những kĩ năng trên giúp các em dễ dàng chiếm lĩnh tri thức đồng
thời mạnh dạn, tự tin hơn trong học tập, các hoạt động tập thể và trong cuộc
sống.
Qua đó giúp học sinh được phát triển đầy đủ năng lực, phẩm chất, tự hoàn
thiện nhân cách một cách khách quan: Thêm lòng yêu quê hương đất nước, biết
chia sẻ, hợp tác trong cộng đồng và xã hội. Giúp học sinh biết sống yêu thương;
sống tự chủ và sống trách nhiệm, đồng thời hình thành và phát triển cho học sinh
các năng lực chung chủ yếu là: Năng lực tự học; năng lực giải quyết vấn đề và
15


sáng tạo; năng lực thẩm mỹ; năng lực thể chất; năng lực giao tiếp; năng lực hợp
tác; năng lực tính toán và năng lực công nghệ thông tin và truyền thông.
Các kiến thức về pháp luật có phần trìu tượng, khó hiểu đối với học sinh.
Cho các em trực tiếp tham gia vào các phiên tòa xét xử lưu động để các em hiểu
rõ hơn về các quy định của pháp luật, giúp bồi dưỡng lòng tin vào pháp luật và
công lý. Từ đó, các em có ý thức học tập và rèn luyện để trở thành những người
công dân tốt có ích cho xã hội.
2. Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động học môn Giáo dục công dân ở
trường THCS không chỉ mang lại hiệu quả trong việc học của học sinh mà việc
đổi mới phương pháp, cách thức dạy học giúp giáo viên nâng cao năng lực quản
lí, sáng tạo trong việc dạy – học theo hướng hiện đại, hội nhập.
Về kết quả đạt được trong công tác: Giáo viên có điều kiện để đổi mới
phương pháp dạy học. Thay vì lối truyền thụ kiến thức lí thuyết một chiều tẻ
nhạt sang vai trò là người hướng dẫn, tổ chức cho học sinh chủ động lĩnh hội
kiến thức. Quá trình hướng dẫn, tổ chức các hoạt động ngoại khóa giúp cho giáo
viên củng cố thêm những kiến thức vốn có, ngoài ra còn tích luỹ thêm được vốn
hiểu biết mới, đúc rút được nhiều kinh nghiệm phục vụ đắc lực cho giảng dạy,
công tác. Giáo viên gặt hái được nhiều thành công hơn, được nhà trường, xã hội
ghi nhận.
Thực tiễn áp dụng Trường THCS Gia Tường tôi thấy: các em có hứng thú
học tập hơn, hiểu bài hơn, thực hiện tốt các chuẩn mực đạo đức, pháp luật theo
quy định. Tỉ lệ học sinh đạt hạnh kiểm loại khá, tốt tăng lên đáng kể, không có
hiện tượng học sinh vi phạm pháp luật nghiệm trọng. Theo số liệu thống kê học
sinh Trường THCS Gia Tường cho thấy:
Năm học

2015-2016
(chưa áp

Mức độ

2016-2017
%

dụng)

(khi áp

2017-2018
%

dụng)

(Đang áp

%

dụng học
kỳ I)

Học sinh hứng thú
học tập.
Học sinh chưa hứng
thú với môn học.

150/258

47

250/263

95

269/269

108/258

53

13/263

5

0

16

100


Học sinh hiểu bài
150/258

47

250/263

95

269/269

100

108/258

53

13/263

5

3/269

5

215/258

83

238/263

90

Học sinh chưa chủ
động tìm hiểu bài
học theo yêu cầu.
Tỉ lệ học sinh đạt
hạnh kiểm khá, tốt

3. Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động học môn Giáo dục công dân ở
trường THCS mang lại hiệu quả trong công tác quản lí đối với nhà trường.
Giúp nhà trường tiết kiệm được quỹ thời gian lớn, chi phí ít, dễ thực hiện
trường nào cũng có thể tổ chức. Thay vì phải thực hiện cho nhiều môn học và
cho các khối lớp bằng hình thức dạy học trên lớp thì chỉ cần một buổi học tập
ngoại khóa có thể giải quyết được tất cả các vấn đề trên (Tích hợp kiến thức cho
nhiều môn học: Văn, Sử, Địa, Giáo dục công dân, Toán, Lí, Hóa, Sinh, Âm
nhạc, Mỹ thuật…và tích hợp kiến thức trong từng môn học ở tất cả các khối
lớp).
Tóm lại: Kết quả trên đã cho thấy việc học tập gắn với thực tế đã mang
lại hiệu quả giáo dục cao tạo nên hứng thú đặc biệt của học sinh. Không chỉ có
vậy, hầu hết các em đã biết quý trọng môi trường sống quanh mình, có ý thức
hơn trong việc giữ gìn và phát huy các di sản văn hóa, hăng say nhiệt tình hơn
trong các buổi hoạt động ngoại khóa. Học tập qua các hoạt động trải nghiệm
giúp cho giáo viên và học sinh gần gũi hơn, phát huy được tính sáng tạo của các
em.
Ngoài những hình thức tổ chức hoạt động học trên còn có thể lồng ghép
trong các buổi sinh hoạt chính trị dưới cờ đầu như: kể chuyện theo tấm gương
đạo đức Hồ Chí Minh. Phối hợp với Đội TNTPHCM tổ chức các cuộc thi “
Rung chuông vàng”, “ Hội vui học tập”, thành lập các câu lạc bộ…Tổ chức cho
học sinh tham quan thực tế, học tập tại thực địa, viết báo cáo thu hoạch.
Trên đây là các hình thức tổ chức hoạt động học mà tôi đã áp dụng vào
thực tế trong quá trình dạy học môn Giáo dục công dân ở trường THCS Gia
Tường. Bước đầu đã đạt được những kết quả đáng mừng trong dạy và học môn
Giáo dục công dân.
17


Tôi xin cam đoan mọi thông tin trong đơn là trung thực, đúng sự thật và
hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Gia Tường, ngày 10 tháng 05 năm 2018
NGƯỜI NỘP ĐƠN
TÁC GIẢ

Nguyễn Thị Bích Thảo

XÁC NHẬN CỦA LÃNH ĐẠO NHÀ TRƯỜNG

18


PHỤ LỤC 1
SẢN PHẨM HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM CỦA HỌC SINH TRONG
TIẾT DẠY

Sản phẩm của học sinh Lớp 6 trong tiết Trải nghiệm sáng tạo “Tôi yêu nước sạch”

Sản phẩm hoạt động nhóm của học sinh chủ đề bảo vệ hòa bình.

19


Học sinh thuyết trình về sản phẩm.

Học sinh đang hoàn thành sản phẩm.

20


PHỤ LỤC 2
HOẠT ĐỘNG TRẢI NGHIỆM SÁNG TẠO VỚI CHỦ ĐỀ “ GIỮ GÌN VÀ
PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC”
I. Kế hoạch tổ chức hoạt động trải nghiệm với chủ đề “ Giữ gìn và phát huy
bản sắc văn hóa dân tộc”
Buổi sáng ngày 01/02/2018
- Hoạt động gói bánh chưng xanh: Buổi sáng 7h15 đến 8h15.
- Thuyết trình cách gói bánh: 8h15 đến 8h30
- 8h30 nấu 4 nồi bánh
- 9h30h đến 10h30 thi trang trí mâm mũ quả và thuyết trình về mâm
mũ quả, về sự tích bánh chưng.
Buổi trưa ngày 01/02/2018: Nấu bánh chưng và giao lưu văn hóa ẩm thực.
Buổi chiều ngày 01/02/2018:
- 1h30 đến 3h45 tổ chức chuyên đề: Tìm hiểu di sản văn hóa địa
phương.
- 3h45 đến 4h Tặng quà cho học sinh có hoàn cảnh khỏ khăn.
- 4h đến 4h15 Tổng kết trao phần thưởng
II.

Một số hình ảnh hoạt động trải nghiệm với chủ đề “ Giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc”

21


22


MỤC LỤC
Danh mục
TÊN SÁNG KIẾN
I. CHỦ ĐẦU TƯ SÁNG KIẾN
II. THỜI GIAN ÁP DỤNG
III. LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
IV. MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN
1. Nội dung sáng kiến
1.1. Giải pháp cũ thường làm
1.1.1. Nội dung giải pháp
1.1.2. Ưu điểm của giải pháp cũ
1.1.3. Hạn chế của giải pháp cũ
1.2. Giải pháp mới cải tiến
1.2.1. Sử dụng chuyện kể để dạy học
1.2.2. Tổ chức trò chơi trong dạy học
1.2.3. Nghiên cứu trường hợp điển hình
1.2.4. Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo
2. Khả năng áp dụng sáng kiến.
V. CÁC ĐIỀU KIỆN ĐỂ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
VI. HIỆU QUẢ KINH TẾ VÀ XÃ HỘI DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC
1. Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động học môn Giáo dục công

Trang
01
01
01
01
01
01
02
02
02
03
04
04
06
09
10
13
14
14
14

dân ở trường THCS là một trong những nhu cầu thực tế, phù hợp
với xu thế phát triển của xã hội, phần nào đáp ứng việc hướng tới
mục tiêu giáo dục Ba phẩm chất, tám năng lực cho học sinh.
2. Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động học môn Giáo dục công

16

dân ở trường THCS không chỉ mang lại hiệu quả trong việc học
của học sinh mà việc đổi mới phương pháp, cách thức dạy học
giúp giáo viên nâng cao năng lực quản lí, sáng tạo trong việc dạy
– học theo hướng hiện đại, hội nhập.
3. Đổi mới hình thức tổ chức hoạt động học môn Giáo dục công

17

dân ở trường THCS mang lại hiệu quả trong công tác quản lí đối
với nhà trường.
PHỤ LỤC
Phụ lục 1
Phụ lục 2
MỤC LỤC

19
19
21
23
23


24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×