Tải bản đầy đủ

Giá trị nghệ thuật màu sắc trong tranh Ấn tượng mặt trời mọc (Claude Monet)

1

Mục lục
A. Mở đầu. .....................................................................................................2
B. Giá trị nghệ thuật màu sắc trong tranh Ấn tượng mặt trời mọc (Claude
Monet)...................................................................................................... 4
1.Tranh Ấn tượng mặt trời mọc (Claude Monet).......................................4
2.Nghệ thuật màu sắc trong tranh Ấn tượng mặt trời mọc.........................6
2.1. Chất liệu màu..................................................................................6
2.2. Quan điểm màu sắc.........................................................................8
2.3. Kỹ thuật dùng màu........................................................................10
2.4. Hiệu quả màu sắc..........................................................................12
C. Ý nghĩa dối với bản thân trong học tập, sáng tác thời trang. ..................14
D. Kết luận ..................................................................................................22
E. Tài liệu tham khảo...................................................................................24


2
A. MỞ ĐẦU
Delacroix đã từng nói: “Hãy cho tôi một màu bùn, tôi sẽ biến nó thành
màu của làn da thiếu nữ”

Đúng như vậy, sự hiện diện của màu sắc trong cuộc sống thường được coi
là điều hiển nhiên. Tuy nhiên với hội hoạ, màu sắc là sức mạnh, sự hiện diện của
màu sắc không chỉ là công cụ để cho các hoạ sĩ diễn đạt ý tưởng, mô phỏng thiên
nhiên, mà hơn thế, màu sắc còn là nơi một hoạ gia tài năng được quyền biểu đạt
những thứ kỳ diệu trong cuộc sống. Màu sắc là một trong những yếu tố đặc
trưng của ngôn ngữ hội họa từ khi chất liệu màu được chế tạo và sử dụng vào
sáng tác tranh.

Và nhắc đến màu sắc không thể không nhắc đến trường phái Ấn tượng.
Bởi lẽ nơi đây được coi là “ những cuộc dạo chơi của màu sắc”. Những họa sĩ
Ấn tượng rời bỏ xưởng vẽ tù túng mà thả mình vào thiên nhiên. Họ nhìn và
cảm nhận sự thay đổi của cảnh vật, ánh sáng, từ đó nắm bắt lấy những cảm
xúc chân thật nhất để truyền vào bức tranh. Bởi vậy, tranh Ấn tượng không
coi trọng đề tài, mà cái người ta coi trọng là cảm xúc của người họa sĩ, cái họ


3
vẽ ra không chỉ là hình ảnh, mà nó còn là ánh sáng, là không khí, là màu sắc,
và là cảm xúc,…
Có một người mà khi nói về trường phái ấn tượng sẽ không thể không
nhắc đến, đó chính là Claude Monet. Claude monet ( 1840 -1926): Được
mệnh danh là “người cha của hội họa ấn tượng”, là họa sĩ tiêu biểu và nổi
tiếng số một của trường phái này với số lượng tác phẩm đồ sộ và quan điểm
nghệ thuật nhất quán suốt cuộc đời. Ông còn được coi là ” Họa sĩ của những
khoảnh khắc phù du”, “nhà biểu tượng của màu sắc”. Tranh của ông chú ý tới
thiên nhiên, coi trọng diễn tả ánh sáng và màu sắc, ghi lại sự tươi mới của ấn
tượng ban đầu một cách trung thực tuyệt đối.

Claude Monet và chân dung tự họa
Đúng như vậy, và một trong những tác phẩm làm nên tên tuổi của ông
chính là bức tranh Ấn tượng mặt trời mọc. Bức tranh khắc họa cảnh bình
minh trong làn sương sớm của bến cảng Le Havre – quê hương của họa sĩ.
Bức tranh chính là cảm xúc được họa sĩ khắc họa và truyền tải đến cho người
xem cái đẹp của cảnh vật qua ánh sáng và màu sắc trong tranh. Qua đó, bức
tranh cũng đem lại nguồn cảm hứng cho biết bao các nhà thiết kế thời trang


4
để đem đến những sáng tác mới mẻ và thể hiện được cái riêng của nhà thiết
kế.




5
B. GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT MÀU SẮC TRONG TRANH ẤN TƯỢNG
MẶT TRỜI MỌC (CLAUDE MONET).
1. Tranh Ấn tượng mặt trời mọc (Claude Monet)
Ánh hào quang thời kỳ Phục Hưng với trường phái cổ điển rực rỡ như
một chân lý vững chắc trong nghệ thuật hội họa, điêu khắc Châu Âu qua
nhiều thế kỷ khiến cho giới nghệ thuật quên đi bẵng đi cái đẹp còn hiện diện
trong nhiều khuynh hướng nghệ thuật khác.
Cho đến khi trường phái Ấn tượng ra đời, nó như một cuộc cách mạng
trong nghệ thuật hội họa bấy giờ. Bằng việc mang giá vẽ ra ngoài thiên nhiên
nghiên cứu ánh sáng, không khí cảnh vật, các họa sĩ Ấn tượng giải phóng
mình ra khỏi khung cảnh lù mù giả tạo trong xưởng vẽ để nắm bắt các khoảnh
khắc và thể hiện trong tranh.
Khi nhắc đến trường phái Ấn tượng không thể thiếu bức tranh Ấn tượng
mặt trời mọc của họa sĩ Claude Monet.

Bức tranh Ấn tượng mặt trời mọc" (Impression, soleil levant) được
Claude Monet vẽ bằng chất liệu sơn dầu. Bức tranh có diện tích 48x63 cm và


6
được vẽ trên vải Canvans. Giáo sư Donald W. Olson chia sẻ: “Ấn tượng, Mặt
trời mọc chắc chắn đại diện cho một buổi bình minh và được vẽ vào tháng
11/1872 hoặc 1/1873. Bảo tàng cũng tin tưởng bức tranh này được ra đời năm
1872 vì ngay trên bức tranh của Monet có số 72 ngay bên cạnh chữ ký của tác
giả”. Ông vẽ bức tranh này vào khoảng năm 1872, nhìn từ cửa sổ khách sạn
Admiralty, mô tả cảnh bình minh trên cảng Le Havre, thành phố tuổi thơ của
ông. Người ta nhận thấy Monet đã vẽ rất nhanh, gần như vội vàng để ghi lại
khoảnh khắc thay đổi của ánh sáng. Trên mặt nước màu xanh nhạt nổi lên vài
chiếc thuyền nhỏ trong sương sớm, màu đỏ cam của mặt trời và phản chiếu
của nó trong nước cho ta cảm giác ấm áp, lung linh. Phía mờ xa là hình bóng
của những hàng cây và những chiếc cần cẩu, bầu trời chạng vạng hừng đông.
Bức tranh được ra mắt công chúng tại triển lãm ngày 15 tháng 4 năm
1874. Tuy nhiên, nó lại không nhận được sự ủng hộ của công luận mà nhận lại
những lời chỉ trích thóa mạ. Một nhà phê bình mỹ thuật khi coi tranh đã thốt
lên :“ Ấn tượng quá !”, và từ đó hội họa theo lối vẽ này đã được đặt tên là
trường phái “Ấn Tượng” (“L’impressionism”). Chỉ trích của các nhà phê bình
bấy giờ trước hết nhằm vào lối vẽ mà theo họ là bôi bác, bởi hầu hết tác phẩm
bị gạt ra từ triển lãm quốc gia 1874, tập hợp lại trong triển lãm Phòng tranh bị
từ chối (Salon des refuse) ở Paris năm đó không chủ trương vẽ theo lối Hàn
lâm. Họ chống lại các tiêu chuẩn kinh viện, gạt bỏ hình họa sang một bên, chỉ
chú trọng đến màu sắc, theo đuổi cảm xúc, nhằm thể hiện ánh sáng tự nhiên
theo ngẫu hứng riêng, không ai giống ai. Điều đó đã khiến cho các bức tranh
tạo ra đối cực với lịch sử thẩm mỹ vẫn được thiết lập đến giai đoạn đó và hầu
như không còn rõ ràng về hình thể.
Sau khi ra mắt vào năm 1874, Ấn tượng Mặt trời mọc của Monet đã gần
như bị lãng quên trong nhiều thập kỷ. Nó đã được bán với giá 210 Franc vào
năm 1878. Bức Ấn tượng Mặt trời mọc sau đó được trưng bày ở Bảo tàng
Marmottan Monet tại thành phố Paris, nước Pháp. Bức tranh này từng bị hai


7
người đàn ông tên là Philippe Jamin và Youssef Khimoun đánh cắp khỏi bảo
tàng vào năm 1985. Mãi 5 năm sau, người ta mới tìm thấy bức họa, trả nó lại
cho Bảo tàng Marmottan Monet và trưng bày tại đây cho đến ngày nay.


8
2. Nghệ thuật màu sắc trong tranh Ấn tượng mặt trời mọc
1.1. Chất liệu màu
Để vẽ bức tranh Ấn tượng mặt trời mọc, Claude Monet đã sử dụng chất
liệu sơn dầu vẽ trên vải canvans. Trước hết, cần tìm hiểu về sơn dầu là gì. Sơn
dầu là một loại họa phẩm được làm từ sắc tố (pigment), thường dưới dạng bột
khô được nghiền kỹ với dầu lanh (cây gai), dầu cù túc hay dầu óc chó. Tuy
nhiên, việc chế màu đòi hỏi phải có kiến thức chuyên môn để tránh pha trộn,
gây những phản ứng hóa học giữa các chất màu bởi sắc tố có thể là nguyên
liệu khoáng, nguyên liệu hữu cơ hoặc nguyên liệu hóa học. Sơn dầu không
thấm nước, có độ dẻo và độ che phủ mạnh (dễ dàng phủ kín lớp sơn khác ở
dưới, trừ các màu có tính đặc biệt) và rất lâu khô.
Từ xa xưa, khi bắt đầu biết vẽ, con người đã chủ ý tìm kiếm những chất
liệu tốt để vẽ và mong tranh có màu sắc đẹp bền vững. Ngay từ thời cổ đại,
con người đã biết dùng màu trộn với dầu để vẽ, nhưng chất liệu lúc này vẫn
rất thô sơ, còn nhiều nhược điểm và hạn chế. Trải qua thời gian, nhiều thế
hệ họa sĩ đã dày công tìm tòi nguyên liệu, mày mò tự chế ra sơn vẽ. Nhưng
phải đến thời anh em họa sĩ Jan van Ecyk (khoảng 1390, 1441) họ mới có
thành công lớn trong việc hoàn thiện và phát triển kỹ thuật vẽ chất liệu sơn
dầu. Màu sắc sơn dầu đến thời kỳ này đã trong trẻo tươi sáng hơn, có độ bóng
đẹp, không thấm nước, bền vững và chịu được thử thách của thời gian. Từ đó,
sơn dầu được sử dụng rộng rãi, được dùng phổ biến ở hầu hết các nước trên
thế giới. Có thể nói, việc hoàn thiện chất liệu sơn dầu là một cuộc cách mạng
kỹ thuật lớn, làm chuyển biến và nâng cao nghệ thuật vẽ tranh.


9

Bức tranh sơn dầu được cho là đầu tiên: chân dung Margaret van Eyck (vợ
hoạ sĩ Jan Van Eyck), 1439, sơn dầu trên gỗ, 41.2 x 34.6 cm,
Groeningemuseum, Bruges (Bỉ).
Vào thời kì của Monet, giai đoạn này kỹ thuật hóa học phát triển tạo ra
các ống màu pha sẵn, giúp họa sĩ ấn tượng bớt thao tác trộn màu mà vẽ nhanh
hơn. Các họa sĩ trước đó phải tự làm sơn riêng cho mình bằng cách nghiền bột
màu khô với dầu lanh (linseed oil) rồi bảo quản trong túi ruột động vật. Người
vẽ không chỉ dành thời gian cho chuyện sáng tác nghệ thuật mà còn phải tìm
cách pha trộn ra sắc màu đẹp, độc đáo cho các tác phẩm của riêng mình. Việc
thương mại hóa sơn dầu ở thế kỷ 19, làm xuất hiện nhiều chất màu tổng hợp
sinh động như xanh coban, xanh ultramarine, xanh cerulean, Viridaian, Vàng
Cadmium được pha sẵn dưới dạng các ống kem đã góp phần tạo nên màu sắc
tươi sáng, trong trẻo trong tranh ấn tượng so với các trường phái trước đây.
Và đặc biệt, khi sử dụng chất liệu sơn dầu trên vải canvans, họa sĩ khắc
họa rõ nét tinh thần của bức tranh, nó giúp người xem cảm giác được độ ganh,
sần, mộc mạc khi nhìn vào bức tranh.


10
1.2. Quan điểm màu sắc
Nếu như những khám phá vĩ đại thời Phục Hưng là sơn dầu, phối cảnh,
giải phẫu học, thiết kế, bố cục điểm vàng.. thì ở trường phái Ấn tượng là ánh
sáng thiên nhiên và sự phối màu theo nguyên lý màu sắc. Hội họa cổ điển là
biểu hiện nghệ thuật của người xưa, chứ không phải là nghệ thuật của người
đang cầm cọ. Người họa sĩ bị giam hãm trong những giáo điều cứng nhắc bởi
vậy, tác phẩm của họ luôn trong trạng thái trầm tư thiếu sinh khí. Mục đích
của phái Ấn Tượng là biểu hiện nghệ thuật tự do của người đang cầm bút, thả
nghệ thuật trở về với vũ điệu thiên nhiên phóng khoáng của thế giới hiện tại,
cho nên, nghệ thuật thời này mang trong mình cái sinh động, hiện đại vốn có
của nó.
Trường phái Ấn Tượng là một bước tiến quan trọng của hội họa trong
việc đi sâu nghiên cứu không khí, ánh sáng và màu sắc thiên nhiên. Hầu hết
các họa sĩ nghệ thuật Hàn Lâm vẽ tranh trong xưởng vẽ, thể hiện trong tranh
ánh sáng của xưởng họa cho dù chủ đề trên tranh là sự việc xảy ra ngoài trời.
Tuy nhiên màu sắc cảnh vật thiên nhiên không cố định mà chúng luôn thay
đổi từng giờ, từng ngày và từng mùa trong năm, và như thế việc vẽ phong
cảnh trong nhà qua tưởng tượng, hồi ức là không chính xác. Bằng cách mang
giá vẽ ra ngoài trời vẽ theo mẫu sống, và tìm cách nắm bắt những biểu hiện
thoáng qua của không khí, người họa sĩ ấn tượng thu nhận những cảm giác thị
giác từ phong cảnh, vẽ ánh sáng và những tác động của nó, đem lại màu sắc
thực vào trong tranh.
Vào những ngày đầu xuất hiện, tranh ấn tượng gây không ít bối rối cho
người xem, đặc biệt là người Pháp, vốn đã bị nghệ thuật cổ điển in sâu trong
tiềm thức. Hàng loạt câu hỏi như “Tranh này vẽ về cái gì? chủ đề của tranh là
gì?”. Câu trả lời của Monet là
“Chúng tôi vẽ nước, ánh sáng và màu sắc”.


11
Thường thì các họa sĩ vẫn tin rằng, chính chủ đề làm nên tính độc đáo
cho bức tranh. Đối với Monet, không khí và ánh sáng bao quanh quan trọng
hơn chính bản thân đối tượng, thành công bức tranh tùy thuộc vào kinh
nghiệm xử lý của họa sĩ trước hiệu quả nhất thời của ánh sáng. Ông thích mô
tả sự vật trong những điều kiện thời tiết đặc biệt như bức tranh London chìm
ngập trong sương mù màu đỏ.
Nét đặc trưng của trường phái tranh Ấn tượng là cách sử dụng màu sắc
va đập, ánh sáng tự nhiên, lối vẽ bất nghi thức, đường nét thô ngắn để tập
trung thể hiện cảm nhận ban đầu, tức thời về đối tượng.Các họa sĩ theo Chủ
nghĩa Ấn Tượng không chú trọng đến đề tài mà chủ yếu để thể hiện cảm xúc
của mình trước thiên nhiên. Bức tranh được vẽ nhanh, chủ trương ghi lại
những khoảnh khắc tức thời. Nếu nói rằng các họa sĩ Ấn tượng không chú
trọng tới bố cục thì quả thật không thỏa đáng , bởi cái mà họ muốn làm là phá
vỡ “khuôn vàng thước ngọc” của chủ nghĩa cổ điển tạo nên một cách nhìn
mới trong tạo hình.
Và như thế, hình ảnh trong tranh ấn tượng thường là những gì xảy ra
trong cuộc sống hiện đại chứ không phải là đối tượng lịch sử, lãng mạn,
huyền ảo hay giả tạo như trong nghệ thuật hàm lâm.
Mặt trời mọc tưởng chừng đơn giản như tên gọi, nhưng bức tranh này có
lẽ đã vượt ra khỏi ngữ nghĩa giới hạn đó. Hình tượng mặt trời với Monet cũng
như nhóm họa sỹ độc lập cùng chí hướng với ông, còn là tuyên ngôn của một
thời đại mới - thời đại của ánh sáng theo đúng nghĩa đen khi các họa sỹ rời bỏ
họa thất tối tăm để ra ngoài trời vẽ cảnh trời nước mênh mông, biến ảo. Họ
lấy ánh sáng làm nhân vật chủ thể cho hầu hết đề tài, mô tả sự chuyển biến
đến từng giây phút. Họ bỏ màu đen và thêm trắng tối đa trên bảng pha màu
hòng biểu hiện gần nhất với ánh sáng tự nhiên.


12
1.3. Kỹ thuật dùng màu
Như chúng ta đã biết, điểm độc đáo của họa sĩ Ấn Tượng là đi sâu
nghiên cứu cái nhấp nhoáng của ánh sáng, không khí thiên nhiên theo quy
luật tương phản màu sắc của nhà khoa học người Pháp là Michel Eugène
Chevreul (1786-1889).
Các họa sĩ ấn tượng hạn chế sử dụng màu đen hoặc nâu để tô phần bóng
của đối tượng, thay vào đó họ sử dụng màu tương phản của chính nó làm
tranh có bảng màu phong phú và sinh động hơn. Đôi khi họa sĩ ấn tượng
mạnh dạn sử dụng màu xanh da trời lên phần bóng đổ của đối tượng để thể
hiện màu của bầu trời phản ánh lên bề mặt tối, tạo cảm giác tươi mát mà hội
họa trước đây chưa từng có. (Đặc biệt là mảng bóng đổ của cây lá trên mặt
tuyết)
Bên cạnh đó, họ không pha trộn màu sắc trên palette mà đặt chúng đặt
cạnh nhau để chúng tự pha trong nhãn cầu người xem khi nhìn ngắm tranh ở
một khoảng cách, điều này tạo nên độ rung màu làm tranh sống động hơn.
Đây cũng là nguyên lý điểm màu được áp dụng trên các màn hình điện tử đời
sau.
Đặc biệt, những họa sĩ ấn tượng sẽ từ chối áp dụng phương pháp vẽ cổ
điển vốn coi trọng hiệu ứng tông sáng – tối, mà tranh ấn tượng thường có màu
tươi sáng với ánh sáng tràn ngập khắp trong tranh.
Khi quan sát các bức tranh của Monet, ta có cảm giác chúng có khuynh
hướng như là sự trải nghiệm cá nhân– bạn sẽ không chỉ thấy mặt trời, cây cối
hay những chiếc thuyền, mà còn cảm nhận được khí hậu, không khí cũng như
không gian qua cái nhìn và chủ đề của ông. Ông đưa màu vào bức tranh bằng
những đốm sáng chảy dài. Ánh sáng là những khoảnh khắc thoáng qua mà đôi
khi phải mất nhiều tuần mới có thể chụp được .


13
Từ kết quả phân tích của phòng thí nghiệm bảo tồn nghệ thuật, Phòng
Trưng bày nghệ thuật quốc gia tại Washington, các nhà nghiên cứu cho thấy
rõ cả sợi lông từ cây cọ vẽ Monet sử dụng khi vẽ còn vương lại trên tác phẩm
“The Artist's Garden at Vetheuil” (1881). Ann Hoenigswald- quản lý cấp cao
về hội họa của Phòng trưng bày nghệ thuật quốc gia đã nói: “Điều khiến tôi
cảm thấy thú vị chính là sức mạnh của việc bóc tách tác phẩm. Bạn sẽ thấy
được những lớp màu cũng như tốc độ đi màu của họa sĩ tại những vị trí trên
bức họa, những sợi lông của cây cọ vẽ, thậm chí cả một chút màu lạc ở những
vị trí này trên bức tranh”. Điều đó thể hiện được quan điểm nghệ thuật của
Monet nói riêng và họa sĩ ấn tượng nói chung là thể hiện cái tôi trong tác
phẩm, cái ấn tượng đem lại cảm xúc mãnh liệt chỉ xuất hiện trong khoảnh
khắc ấy.

Mặt trời mọc tưởng chừng đơn giản như tên gọi, nhưng bức tranh này có
lẽ đã vượt ra khỏi ngữ nghĩa giới hạn đó. Hình tượng mặt trời với Monet cũng
như nhóm họa sỹ độc lập cùng chí hướng với ông, còn là tuyên ngôn của một
thời đại mới - thời đại của ánh sáng theo đúng nghĩa đen khi các họa sỹ rời bỏ
họa thất tối tăm để ra ngoài trời vẽ cảnh trời nước mênh mông, biến ảo. Lấy
ánh sáng làm nhân vật chủ thể cho đề tài, mô tả sự chuyển biến đến từng giây


14
phút. Bên cạnh đó, việc bỏ màu đen và thêm trắng tối đa trên bảng pha màu
hòng biểu hiện gần nhất với ánh sáng tự nhiên.
1.4. Hiệu quả màu sắc
Tác phẩm Ấn tượng mặt trời mọc của Monet là một điển hình trong việc
thể hiện sự ấn tượng của màu sắc. Toàn bộ phong cảnh cảng La Havre như bị
nhấn chìm trong sương mù. Tất cả xám xám, xanh xanh lại còn cố tình bị xóa
nhòa bởi những lớp màu không cụ thể. Người ta phải nhìn thật kỹ, thật sâu
xuyên qua những lớp sương sớm đó, mới có thể hình dung ra dáng hình của
những con tàu cuốn buồm, một vài ống khói của tàu chạy bằng hơi nước. Rồi
các cột khói đó lại như tỏa lan quyện vào sương mù đằng xa. Ngay một chiếc
thuyền con, rõ nét nhất ở phần tiền cảnh của bức tranh cũng như thách đố
người xem bởi màu sắc của thuyền, của người cầm lái và bóng nó in trên mặt
nước hoàn toàn giống nhau. Có lẽ thứ duy nhất rõ ràng ở bức tranh này là
chấm màu vàng cam - hình ảnh của mặt trời. Nó như xua đi ít nhiều cảm giác
ảm đạm và lan tỏa thành những vệt lóng lánh in trên mặt nước, làm rạng
khoảng không gian 1/3 tranh ở phía trên.
Đúng như vậy, trong kiệt tác Ấn tượng Mặt trời mọc của Claude Monet,
mặt trời dường như hút hết sinh lực của thiên nhiên để toả sáng rực rỡ. Nhưng
thực ra, độ sáng của nó không hề lớn hơn những điểm xám trên nền trời xung
quanh. Thì ra, Claude Monet đã khai thác một đặc điểm thị giác của mắt
người để tạo nên ảo giác đó. Nhà thần kinh học Margaret Livingstone, Đại
học Y khoa Harvard (Mỹ), đã công bố công trình nghiên cứu này tại cuộc họp
thường niên của Hiệp hội khoa học tiến bộ Mỹ, diễn ra tại Denver.
Livingstone đã sử dụng những kiệt tác hội hoạ để minh chứng cho sự khác
biệt giữa nhận thức về màu sắc và độ sáng của não người. Gần đây, bà có dịp
kiểm tra bức tranh Ấn tượng Mặt trời mọc vẽ bến cảng Le Harve của Monet.
Tâm điểm của bức tranh là hình ảnh mặt trời, xuất hiện như một quả cầu lửa
nhô lên trên nền trời mây mù xanh xám, phản chiếu ánh sáng xuống mặt


15
nước, nơi những con tàu đánh cá đang buông neo. Tuy nhiên, trái với cảm
nhận thông thường của chúng ta, Livingstone cho biết mặt trời trên bức tranh
không hề sáng hơn so với nền trời xanh xám ở quanh đó. Bà nói: "Lý do là hệ
thống thị giác của chúng ta bị phân đôi rõ rệt: Một bên cảm nhận về màu sắc
và bên kia là về độ sáng (cường độ phản xạ ánh sáng). Giữa chúng không hề
có mối ràng buộc với nhau. Khi đánh giá màu sắc bức tranh, não ta đã vô tình
coi mặt trời như là một loại cấp sáng và vì thế ta tưởng rằng mặt trời chói loá
hơn hẳn cảnh vật xung quanh". Việc đánh giá sẽ công bằng hơn, nếu tất cả
đều ở dạng đen trắng, khi đó mọi vật thể có độ sáng như nhau đều xám cùng
một cấp. Livingstone đã chứng minh điều này bằng cách chụp lại ảnh đen
trắng của bức Ấn tượng Mặt trời mọc. Với bức ảnh đó, bằng mắt thường mặt
trời biến mất, nói đúng hơn là hoà vào màu xám của nền trời, do nó có độ
sáng bằng với độ sáng của nền trời xung quanh. "Các hoạ sĩ thiên tài như
Monet hiểu rõ hệ thống thị giác của con người phân đôi như thế nào và đã
khai thác nó một cách tinh tế để tạo ra ảo giác về màu sắc và không gian".
Livingstone giải thích. Hai phần thị giác đó đôi khi còn được gọi là hệ thống
"Where" (ở đâu) và "What" (cái gì). Hệ thống "Where" tồn tại ở động vật có
vú, cho phép chúng ta có thể thấy được sự vật trong không gian 3 chiều, và
nhận ra những vật thể di động, nhưng không thấy màu sắc. Ngược lại, hệ
thống "What" chỉ tồn tại ở loài động vật bậc cao, trong đó có con người, cho
phép ta nhìn thấy màu sắc, phân biệt được các khuôn mặt cũng như đánh giá
mặt biểu hiện hoặc thái độ.
Phải mất một thời gian lâu, người ta mới khám phá ra rằng để xem và
hiểu được tranh Ấn Tượng, phải lùi lại vài bước để thấy tổng thể bức tranh,
lúc đó mắt người xem tuỳ từng điểm nhìn mà sẽ thấy những mảng mù màu
được sắp xếp một cách yên vị nhưng rất sống động… Đó chính là sự chuyển
giao khám phá thị giác của các họa sĩ Ấn Tượng vào tranh và truyền lại cho
người xem tranh…


16
1.5.


17
C. Ý NGHĨA ĐỐI VỚI BẢN THÂN TRONG HỌC TẬP, SÁNG TÁC
THỜI TRANG
Tranh ảnh luôn luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho các nhà thiết kế thời
trang nghiên cứu, tìm hiểu, từ đó đưa ra những sáng tác nghệ thuật mang theo
dấu ấn cá nhân của bản thân nhà thiết kế đó. Đúng như vậy, từ khi bộ sưu tập
thời trang đầu tiên trên thế giới xuất hiện với cái tên “New look” cho đến
ngày nay, thời trang vẫn đã, đang và sẽ đi trên con đường lịch sử của mình.
Đã từng có rất nhiều bộ sưu tập thời trang lấy cảm hứng từ những bức vẽ của
những họa sĩ vĩ đại trong quá khứ như Picasso, Van Gogh, Monet,…
Đúng như vậy, trong Bộ sưu tập Xuân- hè 2015 của hãng thời trang
danh tiếng đến từ Hà Lan - Viktor & Rolf đã gây ấn tượng mạnh với giới thời
trang bằng những chiếc váy A-line cùng họa tiết hoa lớn được lấy cảm hứng
từ những bức tranh của danh họa trường phái ấn tượng Hà Lan - Vincent van
Gogh. "Những nét đẹp tinh túy, nên thơ của vùng nông thôn trong những bức
họa của Van Gogh được chuyển tải một cách đầy ấn tượng qua những họa tiết
trừu tượng", nhà thiết kế cho biết.

Một số thiết kế trong BST


18
Không chỉ các nhà thiết kế nước ngoài mà những nhà thiết kế thời trang
trong nước cũng có những những thiết kế lấy cảm hứng từ tranh của các danh
họa nổi tiếng thế giới. Trong đó nổi bật là bộ sưu tập "Dream and Reality"
(Giấc mơ và Thực tế) của nhà thiết kế Devon Nguyễn trở nên nổi bật tại Tuần
lễ thời trrang Thu Đông 2016. Theo đó, các họa tiết được lấy cảm hứng nghệ
thuật từ danh họa Picasso đã mang đến nhiều cung bậc cảm xúc mới lạ cho
người xem. Những mảng miếng màu sắc và những nét cọ vẽ bay bổng được
tái hiện lại một cách đầy sáng tạo và mới mẻ trong bộ sưu tập. Đó là kỹ thuật
kết cườm thủ công và thêu tay tỉ mỉ đặc trưng của Việt Nam, kết hợp với
những kỹ thuật sáng tạo với len tạo nên bề mặt chất liệu độc đáo, nổi bật và
cầu kỳ.

Một số thiết kế trong BST
Như vậy, tranh của các họa sĩ vĩ đại, đặc biệt là các họa sĩ ấn tượng chính
là một nguồn cảm hứng cho các nhà thiết kế thể hiện tài năng, sự sáng tạo của
mình trong thiết kế thời trang.


19
Không chỉ dừng lại ở đó, bức tranh Ấn tượng mặt trời mọc của Monet
cũng là một nguồn cảm hứng tuyệt vời cho việc sáng tác thời trang của bản
thân. Qua tìm hiểu về màu sắc của bức tranh, em tìm được cho mình những ý
tưởng mới để phục vụ cho công việc học tập, sáng tác của mình.

Qua những nghiên cứu của mình về bức tranh, em lấy ý tưởng cho mình
về những mảng màu liên kết với nhau tuy không theo trật tự nhưng đem lại
cho người xem cảm xúc mãnh liệt, dường như nó chỉ tồn tại trong khoảnh
khắc ấy, nếu không nắm bắt kịp nó sẽ trôi đi mất. Giống như bình minh lên
vậy, nó chỉ là một khoảnh khắc thoáng qua không thể lưu lại mãi. Bức tranh
đem lại cho em cảm xúc như vậy, nó tồn tại mà như không tồn tại.
Bên cạnh đó, nét ấn tượng em không chỉ cảm xúc từ những mảng màu
mà còn từ những gợn sóng. Họa sĩ khắc họa những gợn sóng bằng những nét
màu mạnh mẽ đem lại cảm xúc chân thật nhất cho người xem. Bức tranh
khiến người xem muốn lưu giữ lấy chính những mảng sáng ấy, những gợn
sóng ấy vào trong tâm khảm. Bởi lẽ, đó chính là cảm nhận của người họa sĩ
đặt vào trong bức tranh. Phải chăng khi chứng kiến cảnh bình minh nơi bến
cảng thơ mộng, họa sĩ cũng có cảm xúc giống chúng ta, chính ông đã muốn
lưu giữ nó và đã lưu nó trong bức tranh. Để cho đến ngày nay, sau biết bao


20
nhiêu thế kỉ trôi qua, người ta vẫn cảm nhận được cảm xúc mà bức tranh
mang lại.
Qua những cảm nhận của bản thân, em đưa ra được những thiết kế từ
chính cảm xúc về bức tranh Ấn tượng mặt trời mọc. Bức tranh khiến em nghĩ
về bến cảng thơ mộng nơi có bờ cát trắng và những chiếc thuyền buông mình
ra khơi, nó khiến em nghĩ về phong cách lãng mạn cho bộ sưu tập của mình.
Trước hết, cần tìm hiểu đôi chút về phong cách thời trang lãng mạn.
Phong cách thời trang lãng mạn thường xuất hiện nhiều ở trang phục nữ, nó
thể hiện vẻ đẹp tiềm ẩn bên trong. Đặc tính của phong cách này thể hiện sự
nhẹ nhàng, quyến rũ, quý phái, kiêu sa. Những thiết kế sử dụng các chất liệu
voan và ren cao cấp, đi cùng form dáng tinh tế sẽ đem lại sự thoải mái nhẹ
nhàng mà không kém phần sang trọng, thanh lịch của người phụ nữ. Những
chất liệu ấy sẽ làm tôn lên vẻ đẹp dịu dàng, lãng mạn của người phụ nữ. Bên
cạnh đó, cách kết hợp cùng những phụ kiện như túi xách, vòng cổ, bông tai sẽ
giúp set đồ của bạn thêm phần tinh tế. Đặc biệt, phong cách này nên được kết
hợp cùng những chiếc giày cao gót sẽ là sự lựu chọn hoàn hảo cho bạn.

Thời trang mang phong cách lãng mạn


21
Bên cạnh đó, những mảng màu kết hợp trong bức tranh đem đến cho em
ý tưởng về những thiết kế với những tông màu mới mẻ được sử dụng phương
thức nhuộm Tie-dye.
Sắc nhuộm tie-dye được tạo thành bằng kỹ thuật Shibori của Nhật Bản.
Kỹ thuật này ngăn không cho thuốc nhuộm tiếp cận một phần vải. Từ đó tạo
ra các hình ảnh ảo giác xen kẽ lạ mắt. Tie-dye đã tồn tại hơn 2.000 năm.
Nhưng xu hướng này thực sự nổi lên là nhờ sự “lăng xê” của văn hóa Hippie.
NTK Halston bắt đầu sử dụng chúng trong các bộ sưu tập của mình. Từ đây
sắc nhuộm tie-dye đã lan toả, trở thành mốt thời trang thịnh hành. Dòng chảy
thời trang xoay vòng khiến cho sắc nhuộm Tie-Dye dần tụt hậu. Người ta tạm
quên đi trào lưu mang tính biểu tượng một thời để chạy theo những mốt mới
hơn. Để rồi sau khoảng thời gian lặng lẽ, màu nhuộm tie-dye bất ngờ trở lại
sàn diễn thời trang Xuân – Hè 2019. Với diện mạo vô cùng ấn tượng. Trở lại
sau hơn một thập kỷ, sắc nhuộm Tie-Dye đã được nâng cấp hiện đại hơn.
Không chỉ là bản in trên vải như xưa, sắc nhuộm đã được phát triển trên chất
liệu cao cấp. Các NTK đầu tư nhiều hơn cho công nghệ in. Đồng thời, phức
tạp hoá thiết kế đã giúp cho sự trở lại của màu nhuộm tie-dye thêm mạnh mẽ.


22
Cùng với đó là form dáng, trong bộ sưu tập của mình, em sẽ sử dụng
dáng suông đứng và dáng chữ A đang là xu hướng thời trang bây giờ. Trong
khi những bộ đầm ôm sát sẽ trở nên gò bó, khó chịu hay những mẫu đầm nữ
tính thắt nơ eo cổ điển lại quá rườm rà thì đầm suông, chữ A sẽ là lựa chọn
thoải mái nhất cho bạn, không chỉ vậy còn giúp bạn che đi vòng 2 hiệu quả.

Một số thiết kế 2019 trên thế giới
Qua việc nghiên cứu xu hướng thời trang, em sẽ sử dụng bên cạnh
nhuộm màu Tie-dye theo những mảng màu của bức tranh là màu cam san hô.
Nếu sắc xanh ánh vàng (Greenery) và tím đậm (Ultra Violet) lần lượt là
những gam màu “thống trị” năm 2017 và 2018, thì năm 2019 sẽ chứng kiến
nhiều sự thay đổi lớn. Sau một năm đầy biến động với sự bùng nổ bất ngờ của
công nghệ và mạng xã hội, năm 2019 được dự đoán sẽ là thời điểm “lên ngôi”
của bảng màu thiên nhiên cũng như tư duy hướng về môi trường. Đại diện
cho sự vui vẻ, nguồn năng lượng và khao khát hướng về thiên nhiên của con
người, màu cam san hô chính là lựa chọn hoàn hảo cho “Màu sắc của năm
2019” (Color of the Year 2019). Bên cạnh đó, kết cấu “nhân bản” của gam
màu này còn mang thông điệp về sự kết nối và tương tác xã hội giữa người
với người.


23


24
Bên cạnh việc nghiên cứu về ý tưởng và xu hướng, nghiên cứu về đối
tượng cũng vô cùng quan trọng. em lựa chọn đối tượng cho bộ sưu tập của
mình từ 26-36 tuổi. Đây là độ tuổi người phụ nữ phát triển toàn diện nhất
không chỉ về cơ thể mà còn về sự ổn định tài chính, gia đình, các mối quan hệ
xã hội,… Ở độ tuổi này, người phụ nữ cũng đã định hình được phong cách
riêng cho bản thân mình. Họ biết được điểm mạnh, điểm yếu của mình để lựa
chọn trang phục phù hợp. Vì thế, em lựa chọn đối tượng là nữ trong độ tuổi
26-36 tuổi.

Như vậy, qua nghiên cứu xu hướng thời trang và tìm hiểu về bức tranh
Ấn tượng mặt trời mọc của họa sĩ Claude Monet, em đưa ra bộ sưu tập với
những thiết kế mang dáng chữ A, dáng suông đứng.
Về màu sắc, em sẽ sử dụng kỹ thuật in Tie-dye, đưa lên thiết kế những
mảng sáng trong bức tranh một cách khéo léo. Em sẽ đặt chúng ở những vị trí
như chân váy, tay áo,… để tạo sự mới mẻ. Bên cạnh đó, những mảng màu tiedye sẽ được kết hợp với màu san hô ở lưng, ngực,…


25

Bên cạnh đó, em sẽ sử dụng chất liệu lụa, voan để tạo sự mền mại, bay
bổng của thiết kế. Đưa những mảng màu đặt ở chân váy để tạo sự nhẹ nhàng,
thanh thoát cho người phụ nữ.
Không chỉ vậy, em sẽ tạo những nếp gấp vải, sóng vải dựa trên những
vệt sóng trong bức tranh và đưa chúng vào những chi tiết nhở ở cổ, ngực, có
thể là ở eo làm những điểm nhấn nhỏ cho trang phục thêm phần tinh tế.
Như vậy, những thiết kế của em sẽ mang dáng vẻ nhẹ nhàng, dịu dàng
mà ấm áp của buổi sáng sớm, nhưng không kém phần tươi vui và thanh lịch
trong thiết kế.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×