Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu điều trị phẫu thuật ung thư đường mật rốn gan (u klatskin) tại bệnh viện hữu nghị việt đức

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Ung thư đường mật rốn gan (Perihilar Cholangiocarcinoma) là bệnh lý
ác tính xuất phát từ biểu mô của đường mật từ chỗ ống gan phải và trái hợp
lại thành ống gan chung đến chỗ ống túi mật đổ vào ống gan chung, chiếm tỷ
lệ 60-80% ung thư đường mật, đứng thứ 2 sau ung thư gan nguyên phát
(chiếm từ 2 đến 3% tổng số ung thư đường tiêu hóa) tiên lượng xấu.Tỷ lệ
mắc UTĐM tại Mỹ là 1/100.000 dân hàng năm có khoảng 3.000 trường hợp u
Klatskin, ở Israel là 7,3/100.000 dân và 5,5/100.000 dân ở Nhật Bản. Theo các
tác giả Đức, Hồng Kông, UTĐM thường gặp ở nam nhiều hơn nữ với tỷ lệ xấp
xỉ 1,5 lần và thường gặp ở người lớn tuổi (tuổi trung bình từ 50 đến 60 tuổi).
Năm 1890 Fardel là người đầu tiên mô tả khối u ác tính nguyên phát
của đường mật ngoài gan [1]. Năm 1957 Altemeier và cộng sự mô tả 3 bệnh
nhân ung thư ngã ba đường mật [2]. Năm 1965 Klatskin lần đầu tiên mô tả 13
bệnh nhân ung thư đường mật rốn gan với những đặc điểm lâm sàng đặc biệt
mà theo ông không nối OMC với hỗng tràng được mà phải nối đường mật
ngoại vi với hỗng tràng còn gọi là U Klatskin [3].Tại Việt Nam, UTĐM đã
được nhiều tác giả đề cập đến qua các thông báo: theo Trần Đình Thơ [4] tỷ lệ
UTĐM chiếm 5,79% trong tổng số bệnh lý ngoại khoa gan mật nói chung và
đứng hàng thứ hai sau các phẫu thuật sỏi mật. Tại bệnh viện Bình Dân,

Dương Văn Hải báo cáo 37 trường hợp (từ 1985-1990) và sau đó là 53 trường
hợp (từ 1994-1996) ung thư đường mật ngoài gan [5],[6]. Tại bệnh viện Chợ
Rẫy, Tôn Thất Quỳnh Ái báo cáo 26 trường hợp ung thư đường mật ngoài gan
(1994-1995) được phẫu thuật không triệt căn, nhưng tử vong sau phẫu thuật
vẫn lên đến 34,6% [7]. Trong 3 năm từ 2004 đến 2006 Nguyễn Thanh Bảo
bệnh viên Chợ Rẫy tổng kết 148 trường hợp ung thư đường mật ngoài gan
trong đó có 62 trường hợp ung thư rốn gan chỉ có một trường hợp ung thư loại
III b được phẫu thuật triệt căn nhưng bệnh nhân tử vong sau 13 ngày vì suy


2

gan [8]. Năm 2015, Đỗ Hữu Liệt đã nghiên cứu 46 trường hợp ung thư đường
mật rốn gan được phẫu thuật triệt căn tỷ lệ thành công 84,8%; tỷ lệ tai biến và
biến chứng 60,9%; tỷ lệ tử vong sau phẫu thuật là 8,4%[9]. Tại bệnh viện Việt
Đức, Nguyễn Tiến Quyết báo cáo 200 trường hợp ung thư đường mật ngoài
gan (2001-2005), trong đó 29 trường hợp (14,5%) phẫu thuật triệt căn nhưng
có đến 12 trường hợp tử vong và nặng xin về (41,37%)[10]. Hiện nay ở nước
ta rất ít bệnh nhân có chỉ định điều trị phẫu thuật cắt u vì đa số nhập viện ở
giai đoạn bệnh muộn khi khối u đã xâm lấn vào mạch máu hoặc xâm lấn
lan xa vào đường mật trong gan và rất ít cơ sở y tế có khả năng phẫu thuật
được loại u này.
Ung thư đường mật rốn gan có đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và tổn
thương giải phẫu bệnh như thế nào?, có thể phát hiện để chẩn đoán sớm
không? phương pháp điều trị phẫu thuật cho các giai đoạn của khối u đạt kết
quả như thế nào? tỷ lệ tử vong, tai biến biến chứng trong và sau mổ là bao
nhiêu? phẫu thuật và phẫu thuật triệt căn trong điều trị ung thư đường mật rốn
gan được thực hiện trong điều kiện thực tiễn tại Việt Nam có khác gì so với
những nghiên cứu của các tác giả trên thế giới không?. Xuất phát từ những
vấn đề khoa học và trong thực tiễn lâm sàng điều trị ung thư đường mật rốn
gan ở Việt Nam, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu điều trị phẫu thuật
ung thư đường mật rốn gan (U Klatskin) tại bệnh viện Hữu Nghị Việt
Đức” với 2 mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, thương tổn giải phẫu bệnh
của ung thư đường mật rốn gan ở các bệnh nhân được điều trị cắt u
tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức.
2. Áp dụng các phương pháp cắt u và đánh giá kết quả phẫu thuật ung
thư đường mật rốn gan tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức.



3

Chương 1
TỔNG QUAN
1.1. GIẢI PHẪU VÙNG RỐN GAN VÀ SINH LÝ GAN

1.1.1. Giải phẫu vùng rốn gan
Sự phát triển của phẫu thuật ung thư đường mật rốn gan dựa trên những
hiểu biết chính xác về giải phẫu vùng rốn gan và những biến đổi bất thường
về cấu trúc giải phẫu này, đặc biệt là những liên quan vùng rốn gan và thùy
đuôi. Ống mật, động mạch, tĩnh mạch cửa được bao phủ bởi mô liên kết xuất
phát từ hợp nhất của bao Glisson ở vị trí trong gan và phúc mạc dây chằng
gan tá tràng ở ngoài gan.
1.1.1.1. Giải phẫu đường mật ngoài gan.
Đường mật ngoài gan nằm trong dây chằng gan – tá tràng, bao gồm
phần ngoài gan của ống gan phải và trái, hai ống này hợp lại thành ống gan
chung khi chạy đến bờ trên tá tràng thì hợp với ống túi mật tạo thành OMC,
đường kính OMC khoảng 6 – 8 mm, dài khoảng 5 – 16 cm phụ thuộc vào vị
trí chỗ hợp lưu của ống gan chung và ống túi mật, OMC và ống tụy cùng đổ
vào nhú Vater ở thành sau giữa của tá tràng D2. Theo phân chia gan của Tôn
Thất Tùng [11] ống mật hạ phân thùy 4 cùng với ống mật hạ phân thùy 3, ống
mật hạ phân thùy 2 đổ về ống gan trái. Ống mật hạ phân thùy 5 và ống mật hạ
phân thùy 8 đổ về ống mật phân thùy trước gan phải, ống mật hạ phân thùy 6
và ống mật hạ phân thùy 7 đổ về ống mật phân thùy sau gan phải; ống mật
phân thùy trước và ống mật phân thùy sau đổ về ống gan phải. Ống gan
chung nằm hơi lệch sang phải chỗ chia đôi của tĩnh mạch cửa, toàn bộ ống
gan chung nằm ngoài gan và có nhiều kiểu kết hợp của 2 ống này.
1.1.1.2. Giải phẫu đường mật rốn gan.
Tại rốn gan, ống gan phải và trái gặp nhau tại chỗ hợp lưu của đường
mật khoảng 2/3 trường hợp. Ngã ba đường mật ở vị trí bên phải rốn gan, phía
trước ngã ba là TMC, phía trên nơi bắt đầu của nhánh TMC phải.


4

Hình 1.1. Các dạng kết hợp khác nhau của đường mật rốn gan.
A: kết hợp trong gan, B: kết hợp ngoài gan (bình thường),
C: kết hợp ở thấp làm không có ống gan chung.

“Nguồn: Skandalakis, 2004” [12]
Chỗ kết hợp 2 ống gan nằm cách mặt gan 0,25 – 2,5 cm, một số trường hợp
chỗ kết hợp 2 ống gan nằm trong gan (chiếm 5%). Ống gan trái (trung bình 1,7
cm) dài hơn ống gan phải (trung bình 0,9 cm). Chiều dài ống gan chung 1,5 – 3,5
cm. Theo nghiên cứu của Johnston và Anson năm 1952 [13] ngã ba ống gan phải
và ống gan trái nằm ở khoảng từ 0,25 đến 2,5cm cách bề mặt nhu mô gan.
Theo Trịnh Hồng Sơn [14] ngã ba đường mật tách biệt với bộ phận phía
sau thùy vuông (phân thùy IV) của gan bởi mảng rốn gan (hilar plate). Mảng
rốn gan là mảng tổ chức liên kết bao xung quanh đường mật và các thành
phần mạch máu cùng bao Glison. Thông thường rất ít hoặc không có mạch
máu nào đi vào mảng rốn gan nên có thể mở tổ chức liên kết cấu thành nền
mảng rốn gan ở bờ dưới thùy vuông (phân thùy IV) nâng lên để lộ ra ngã ba
đường mật và ống gan trái.

Hình 1.2. Ngã ba đường mật
(Gan phẫu tích số 06/2007- Trịnh Hồng Sơn)
1. Ống gan phải; 2. Ống gan trái; 3. Ống gan chung


5

Ứng dụng phẫu thuật: Khi cắt bỏ thùy đuôi cần phải kiểm soát hoàn toàn
đường mật và dẫn lưu mật ruột cũng cần dẫn lưu hết các ống mật trong gan,
dẫn lưu không tốt sẽ rò mật hoặc viêm đường mật. Kỹ thuật nối mật ruột được
Smadja, Blumgart mô tả chi tiết. Hasegawa đã đề nghị lấy bỏ thùy đuôi khi
tiến hành phẫu thuật ung thư đường mật rốn gan rồi tiến hành khâu kín lại ống
mật đổ vào ngã ba đường mật để lấy bỏ hết tổ chức ung thư cũng như tránh rò
mật sau mổ. Tuy nhiên, Voyles và Blumgart [15] năm 1982 lấy bỏ ung thư
đường mật ở ngã ba đường mật mà không cần lấy bỏ thùy đuôi cũng cho kết
quả tốt. Theo Trịnh Hồng Sơn [16] trong phẫu thuật triệt căn ung thư đường
mật rốn gan nên cắt thùy đuôi (thùy Spiegel) và trong cắt thùy Spiegel hay S1
rất dễ bị rò mật, nên khi mổ cần kiểm soát rò mật bằng cách luồn sonde nhỏ
(Escart) qua ống cổ túi mật để bơm kiểm tra diện cắt nếu có rò mật khâu lại
chỗ rò bằng các mũi chỉ PDS hoặc Vicryl 4/0 hoặc 5/0. Các trường hợp cắt S1
mà tác giả thông báo với cách điều trị như vậy không có trường hợp nào biến
chứng rò mật.
1.1.1.3. Các biến đổi giải phẫu đường mật rốn gan.
Giải phẫu bình thường về ngã ba đường mật tạo bởi ống gan phải và ống
gan trái gặp nhau tại chỗ hợp lưu ngã ba đường mật khoảng 2/3 trường hợp,
chiếm 57% theo Couinaud [17] năm 1957, 72% theo Healey và Schroy [18]
năm 1953.
- Theo Couinaud [17]
+ 12% ống mật khu sau phải, ống mật khu trước phải và ống gan trái
gặp nhau tại một điểm.
+ 20% ống mật khu vực gan phải đổ sai vị trí vào ống gan chung:
trong đó 16% ống mật khu trước phải đổ vào ống gan chung và 4% ống mật
khu sau phải đổ vào ống gan chung.
+ 6% ống mật khu vực gan phải đổ vào ống gan trái, trong đó: 5% ống
mật khu sau phải đổ vào ống gan trái và 1% ống mật khu trước phải đổ vào
ống gan trái.
+ 3% không có ngã ba đường mật
+ 2% ống mật khu sau phải đổ vào cổ túi mật hoặc đổ vào ống túi mật.


6

- Theo Healey và Schroy[18]:
+ 22% ống mật khu vực trước phải đổ vào ống gan chung
+ 6% ống mật khu vực sau phải đổ vào ống gan chung
- Nhằm ứng dụng trong phẫu thuật, đặc biệt trong ghép gan chia gan để
ghép Trịnh Hồng Sơn, Tôn Thất Bách, Francis Weillon, Daniel Jaeck [14] đã
xếp loại phân bố những biến đổi giải phẫu đường mật như sau:
+ Loại I: chỉ có một ống mật duy nhất cho gan phải và một ống mật
duy nhất cho gan trái, loại này hay gặp nhất chiếm tỷ lệ 71,7% trong nghiên
cứu của Couinaud có tỷ lệ thấp hơn (57%).
+ Loại II: Có hai ống mật cho gan phải hoặc hai ống mật cho gan trái
là loại biến đổi giải phẫu thường gặp (26,5%), đặc biệt là đường mật của gan
phải hai ống mật cho gan phải chiếm 25,6% trong khi Couinaud gặp với tỷ lệ
16/93 trường hợp; hai ống mật cho gan trái ít gặp hơn, chỉ chiếm 0,9%.
Không có ống gan phải và trái chiếm 3,5%, loại này theo Tôn Thất Tùng 4%,
Couinaud 3%; ngoài ra Tôn Thất Tùng cũng mô tả những biến đổi như ống
phân thùy sau và ống phân thùy trước gan phải đổ vào ngã ba đường mật
chiếm tỷ lệ 2-3%, ống phân thùy sau gan phải trượt sang trái và đổ vào ống
gan trái 3%, ống hạ phân thùy 7 đổ vào ống gan trái 1% và 1% ống hạ phân
thùy 5 đổ vào ngã ba. Theo nghiên cứu của các tác giả Nhật Bản với 1040
trường hợp chụp đường mật tập hợp lại theo phân loại trên thấy 67,7% loại I,
31,7% loại II.
+ Loại III: có 3 ống mật cho gan phải hoặc 3 ống mật cho gan trái, Theo
Trịnh Hồng Sơn rất hiếm gặp chiếm 0,45% cụ thể là loại IIIb ống hạ phân thùy 6
và 7 đổ vào ống gan chung, ống phân thùy trước đổ vào ống gan trái.
+ Loại IV: có 2 ống mật cho gan phải và 2 ống mật cho gan trái hiếm
gặp chiếm tỷ lệ 1,3%, Couinaud gặp 4,3% trường hợp.
- Việc thay đổi về các dạng giải phẫu tại vị trí này rất thường xảy ra [19].
Những biến đổi bất thường của các nhánh đường mật gan trái được
chia thành 2 loại:
+ Có sự hiện diện của ống gan trái chiếm tỷ lệ 98%


7

+ Không có sự hiện diện của ống gan trái: 2% ống mật giữa trái nối
với chỗ hợp lưu của ống gan phải và trái.

Hình 1.3. Những biến đổi giải phẫu đường mật gan trái
“ Nguồn: Gguglielmi A, 2008” [19]
Biến đổi giải phẫu đường mật gan phải cũng được chia thành 4 loại:

Hình 1.4. Những biến đổi giải phẫu đường mật gan phải
“Nguồn: Gguglielmi A, 2008” [19]
1.1.1.4. Giải phẫu đường mật hạ phân thùy 1 và hạ phân thùy 4
- Hạ phân thùy 1 hay còn gọi là thùy đuôi (S1) theo phân loại của
Couinaud [17] thùy đuôi nằm giữa ngã ba đường mật và tĩnh mạch chủ dưới,
thùy đuôi chia làm 3 phần: Thùy Spigel (Spigel lobe-SPL) tương đương với
HPT 1 của Couinaud, phần quanh tĩnh mạch chủ (paracaval portion-PCP) và
củ đuôi (caudate process-CP-HPT IX).


8

Hình 1.5. Giải phẫu HPT I- thùy đuôi
(CP - củ đuôi, PV- tĩnh mạch cửa, SPL - thùy Spigel, PCP - phần quanh tĩnh mạch
chủ, IVC- tĩnh mạch chủ, S7 - HPT 7).

“Nguồn: Guglielmi A, 2008” [19]
Hiện nay, thùy đuôi được chia thành 3 phần theo định nghĩa của
Couinaud [17]:
+ Phân thùy 1 (S1) hay còn gọi là thùy đuôi, liên quan với phần phát
triển về bên trái.
+ Phân thùy 9 (S) liên quan với phần phát triển về bên phải
+ Móc đuôi là một phần nhỏ nhu mô đại diện cho sự mở rộng vào gan
và phía sau của phân thùy 9. Nimura [20] đề xuất gọi tên phân thùy I bên trái
là S1l; phân thùy IX bên phải là S1r; móc đuôi là S1c, thùy đuôi trái và phải
được phân chia bởi kênh Arantius hay dây chằng tĩnh mạch.
- Theo Teiichi Sugiura [21] chia đường mật của hạ phân thùy 1 thành 4
loại: B1r - đường mật chạy từ phần quanh tĩnh mạch chủ (bên phải của thùy
đuôi) dọc theo phía trước của tĩnh mạch chủ, B1ls-đường mật chạy từ phần
trên của thùy Spigel (bên trái thùy đuôi), B1li- đường mật chạy từ phần dưới
của thùy Spigel và B1c-đường mật chạy từ củ đuôi. Nhánh đường mật của
thùy đuôi rất thay đổi, nối với ống gan phải, ống gan trái và chỗ hợp lưu ngã
ba đường mật. Theo Nimura [20] những nhánh này được phân thành 4 nhóm:


9

+ B1ls, những nhánh đến từ phần trên của phân thùy 1 đi vào ống gan trái
+ B1li, nhánh đến từ phần dưới của phân thùy 1 đổ vào ống mật sau phải
+ B1r, những nhánh đến từ phân thùy 9 của Couinaud đổ vào cả hai
ống phân thùy sau phải và ống gan trái
+ B1c, những nhánh mật nhỏ của móc thùy đuôi nối với ống mật sau phải

Hình 1.6. Giải phẫu thùy đuôi với ống mật, tĩnh mạch cửa, tĩnh mạch gan phải
Ống mật phân thùy sau phải; 1c: nhánh mật của móc thùy đuôi; 1r: nhánh mật của thùy đuôi
phải; 1ls: nhánh mật trên của thùy đuôi trái; 1li: nhánh mật dưới của thùy đuôi trái; 2: ống
mật hạ phân thùy 2 (B2); 3: ống mật hạ phân thùy 3 (B3); 4: ống mật hạ phân thùy 4 (B4)

“Nguồn: Guglielmi A, 2008” [19]
- Hạ phân thùy 4 chia ra làm HPT 4 trước (4a) và HPT 4 sau (4b), đường
mật HPT 4 đổ vào ống gan trái.
- Hệ tĩnh mạch thùy đuôi bao gồm những tĩnh mạch gan ngắn kích thước từ
1- 6 mm đổ vào tĩnh mạch chủ dưới. Cuối cùng 2-3 nhánh tĩnh mạch nhỏ bắt
nguồn từ thùy đuôi phải (S1r) kết nối trực tiếp với tĩnh mạch gan giữa [19]
Tại Việt Nam, theo Trịnh Hồng Sơn [22], qua phẫu tích 500 gan, có nhận
xét về phân chia gan với khái niệm: gan lớn và gan bé-hai gan này nằm úp
ngược vào nhau. Gan lớn gồm các hạ phân thùy 2,3 phân thùy IV, hạ phân
thùy 5,6,7,8. Gan bé gồm S1l (thùy Spiegel) và S1c (củ đuôi). Nếu như gan
lớn có hai thùy là thùy phải (gồm hạ phân thùy 5,6,7,8 và phân thùy IV) và
thùy trái (gồm hạ phân thùy 2,3) thì gan bé cũng có hai thùy là thùy phải


10

(S1c) và thùy trái (S1l). Thùy phải của gan lớn to thì thùy phải của gan bé lại
nhỏ và ngược lại thùy trái của gan lớn nhỏ nhưng thùy trái của gan bé lại to.
1.1.1.5. Tĩnh mạch cửa rốn gan
Tĩnh mạch cửa được hình thành do tĩnh mạch mạc treo tràng trên hợp
với tĩnh mạch lách sau khi tĩnh mạch lách đã nhận tĩnh mạch mạc treo tràng
dưới ở sau khuyết tụy. Sau đó tĩnh mạch cửa chạy lên trên, sang phải và hơi
nghiêng ra trước. Đầu tiên đi ở sau tụy phía sau phần trên tá tràng, chui giữa
hai lá ở bờ tự do mạc nối nhỏ cùng động mạch gan riêng và ống mật chủ tạo
nên cuống gan rồi vào cửa gan chia hai nhánh: tĩnh mạch cửa phải và tĩnh
mạch cửa trái.
- Tĩnh mạch cửa phải: ngắn và to nằm ở phần ba phải của rãnh cuống gan,
dài từ 1cm đến 3cm và đường kính khoảng 1cm thường hay thay đổi, phân
nhánh vào gan phải, nhánh cho phân thùy trước gọi là tĩnh mạch cạnh giữa phải
và nhánh cho phân thùy sau gọi là tĩnh mạch bên phải. Tĩnh mạch cửa phải sinh
ra ở mặt sau một hay hai nhánh cho nửa phải của thùy Spigel (hạ phân thùy 1),
các tĩnh mạch này thường sinh ra ở gần chỗ chia đôi tĩnh mạch cửa nên rất dễ
chảy máu khi phẫu tích giải phóng tĩnh mạch cửa vùng rốn gan.
-Tĩnh mạch cửa trái: dài và nhỏ hơn tĩnh mạch cửa phải chạy vào gan
trái, có hai đoạn rõ rệt xếp theo một góc hơi vuông. Đoạn ngang chạy theo
rãnh cuống gan là nhánh trái thực sự hay là đoạn cuống gan, đoạn này xếp với
tĩnh mạch cửa chính một góc 70 độ, hẹp một nửa và dài hơn 2 lần tĩnh mạch cửa
phải (trung bình dài từ 3 đến 5 cm). Đoạn từ sau ra trước còn gọi là ngách Rex,
túi của Gans hay xoang giữa tĩnh mạch cửa và rốn của Tôn Thất Tùng [23].
Ngách Rex có nhiều nhánh bên và 2 nhánh cuối chia ra như hai sừng, một sừng
bên phải đi vào phân thùy giữa một sừng bên trái đi vào hạ phân thùy 3.
- Các dạng tĩnh mạch cửa:
+ Dạng thường gặp(74-84%): nhánh phân thùy trước nối với nhánh
của phân thùy sau hình thành nhánh phải của tĩnh mạch cửa
+ Dạng 3 nhánh (8-12%): nhánh phân thùy trước nối với chỗ hợp lưu
của tĩnh mạch cửa


11

+ Dạng nhánh trái (9-17%): nhánh phân thùy trước nối với nhánh trái
của tĩnh mạch cửa

Hình 1.7. Những biến đổi giải phẫu nhánh phải của tĩnh mạch cửa
“Nguồn: Guglielmi A, 2008” [19]
Tại Việt Nam, Trịnh Hồng Sơn phân thành 4 dạng chính [22]:
+ Dạng 1: chỉ có một TMC duy nhất cho gan phải và một TMC duy
nhất cho gan trái
+ Dạng 2: có hai TMC cho gan phải hoặc hai tĩnh mạch cửa cho gan trái
+ Dạng 3: có 3 TMC cho gan phải hoặc 3 tĩnh mạch cửa cho gan trái
+ Dạng 4: có 2 TMC cho gan phải và 2 tĩnh mạch cửa cho gan trái
- Mối tương quan giữa ống mật gan phải và tĩnh mạch cửa phải được
Ohkubo chia thành 3 dạng [24]
+ Dạng ống mật nằm trên tĩnh mạch cửa phải, dạng này thường gặp
nhất chiếm khoảng 81%: ống mật phân thùy sau gan phải nằm phía trên và
sau của tĩnh mạch cửa phải
+ Dạng ống mật nằm dưới tĩnh mạch cửa phải, dạng này chiếm
khoảng 12%: ống mật phân thùy sau gan phải nằm phía trước và dưới tĩnh
mạch cửa phải
+ Dạng kết hợp, dạng này chiếm khoảng 5%: ống mật phân thùy sau
gan phải dẫn lưu riêng rẽ vào ống mật gan phải, nằm ở trên và dưới tĩnh mạch
cửa phải.


12

Hình 1.8. Liên quan giữa ống mật sau gan (P) và tĩnh mạch cửa (P)
“Nguồn: Guglielmi A, 2008” [19]
1.1.1.6. Động mạch rốn gan

Hình 1.9. Cấp máu đường mật ngoài gan
“Nguồn: Skandalakis, 2004” [24]
Động mạch gan cùng với tĩnh mạch cửa, đường mật là một trong ba
thành phần quan trọng nhất của cuống gan, hiểu biết về giải phẫu động mạch
gan có ý nghĩa quan trọng trong phẫu thuật ung thư đường mật rốn gan.
Thông thường gan được cấp máu bởi một động mạch gan riêng duy nhất xuất
phát từ động mạch gan chung, một nhánh của động mạch thân tạng. Động
mạch gan chung khi tới bờ trái của tĩnh mạch cửa thì chia thành động mạch vị
tá tràng và động mạch gan riêng chạy ngược lên trên trước tĩnh mạch cửa lách
giữa hai lá của mạc nối nhỏ rồi chia ở cửa gan thành hai ngành cùng: trái và
phải tương ứng đi vào gan trái và gan phải. Như vậy gan trái được cấp máu
bởi động mạch gan trái là một nhánh của động mạch gan riêng tới từ động
mạch thân tạng chia nhánh tới phân thùy IV, HPT 2,3 và chia các nhánh động
mạch cho thùy đuôi, động mạch phân thùy giữa, động mạch phân thùy bên.


13

Động mạch gan phải cho các nhánh: động mạch túi mật, thùy đuôi, động
mạch phân thùy trước, động mạch phân thùy sau. Động mạch gan là thành
phần có nhiều biến đổi nhất qua các nghiên cứu bằng phẫu tích, bơm chất
mầu, làm tiêu bản ăn mòn, chụp động mạch gan của các tác giả như Adachi
(1928), Couinaud (1957), Michels (1966), Trịnh Văn Minh (1971), Hiatt
(1994), Frank Nettlet (1995), B. Launois, Suzuki, Trịnh Hồng Sơn(1998)….
đã đưa ra rất nhiều cách phân loại. Động mạch gan không những cần thiết để
cung cấp oxy cho tế bào gan hoạt động mà còn có chức năng quan trọng là
nuôi dưỡng đường mật.
Các mạch lớn của đường mật ngoài gan thường đi phía sau đường mật
nhưng một số trường hợp có thể đi phía trước. Cấp máu cho đoạn OMC trên
tá tràng rốn gan chủ yếu từ 2 mạng mạch máu quanh trục chạy ở vị trí 3 và 9
giờ. Cấp máu chính đến từ phía dưới 60% từ động mạch sau tá tràng và 38%
đến từ phía trên (từ động mạch gan phải). Các ống mật ở rốn gan và ống mật
sau tá tràng được cung cấp máu rất dồi dào. Thiếu máu cục bộ ống mật có thể
tránh được với đường cắt cao hoặc thấp nhưng chảy máu ở các bờ (vị trí 3 và
9 giờ) nên được kiểm tra trước khi nối. Một trong những biến chứng sau mổ
UTĐM rốn gan là bục miệng nối, rò mật và hẹp đường mật sau mổ có thể do
tắc động mạch gan.
1.1.1.7. Hệ bạch huyết gan

Hình 1.10. Phân bố bạch huyết của gan và đường mật
Nguồn Atlas- Hình: 302-303.


14

Tại gan có 2 hệ thống đường bạch huyết nông và sâu:
* Hệ bạch huyết nông
- Hệ bạch huyết ở mặt tạng: thu nhận bạch huyết ở mặt trước, mặt sau,
mặt trên đối với thùy phải và thu nhận bạch huyết ở mặt trước trên đối với
thùy trái.
- Hệ thống bạch huyết mặt trên dưới bao gan: thu nhận bạch huyết ở các
khoảng liên thùy, dẫn bạch huyết về hạch rốn gan. Hệ thống này có thể nhận
bạch huyết ở mặt trên gan, vùng lân cận của hệ thống dây chằng treo gan và
hệ thống hạch sau mũi ức, dưới cơ hoành sau đó bạch mạch được đổ về hạch
giữa động mạch và tĩnh mạch chủ bụng.
* Hệ thống bạch huyết sâu
- Hệ thống bạch huyết đi xuống: Cùng với hệ thống bạch huyết của bao
Glisson, các nhánh tĩnh mạch cửa, đường mật và động mạch gan. Hệ thống
này nhận bạch huyết của toàn bộ cây đường mật sau đó đổ về rốn gan.
- Hệ thống bạch huyết đi lên: thu nhận bạch huyết từ các tĩnh mạch sau
gan, tĩnh mạch chủ dưới và đổ về hạch bạch huyết dưới cơ hoành.
Trong nghiên cứu của Trịnh Hồng Sơn [25] đã bơm chất màu Pleu Patent
xung quanh các khối u thì tác giả nhận thấy rất khó để xác định một cách rõ
ràng trong mổ 2 hệ bạch huyết nông và hệ bạch huyết sâu của gan. Nhiều tác
giả cho rằng có sự thông thương giữa hệ bạch huyết nông và hệ bạch huyết
sâu của gan, nhất là ở trong trường hợp có sự tắc nghẽn một trong hai hệ
thống như xơ gan, tắc mật mạng bạch huyết bao gan rất phát triển, thông
thương với bạch huyết túi mật.
Đường bạch huyết sâu chạy ở khoảng cửa có thể nhìn thấy gọi là khoảng
Mall. Các mao mạch bạch huyết không được phát hiện giữa các tế bào gan.
Năm 1980, Disse đưa ra giả thuyết có các mao mạch bạch huyết giữa các tế
bào gan (gọi là khoảng Disse). Mạch bạch huyết xung quanh các nhánh động
mạch gan, tĩnh mạch cửa thì rất nhỏ và mảnh cũng có sự thông thương giữa
mạng mạch bạch huyết quanh đường mật. Tiêm dung dịch xanh Chicago trực
tiếp vào đường mật, ngược dòng (cặp đường mật) với áp lực 310 mm H²O sẽ
thấy ngay mạch bạch huyết gan.


15

Bạch huyết của gan, đường mật rốn gan và túi mật được dẫn lưu theo ba
chuỗi hạch cơ bản nằm trong dây chằng gan tá tràng và mạc nối nhỏ.
- Chuỗi hạch chạy theo hệ động mạch gan đổ về các hạch thân tạng.
- Chuỗi hạch chạy theo ống mật chủ dẫn lưu bạch huyết vùng trên môn
vị, một phần sau tá tụy rồi đổ vào các hạch thân tạng.
- Chuỗi hạch dạ dày nằm dọc theo bờ cong nhỏ rồi đổ vào các hạch theo
động mạch thân tạng.
Hạch bạch huyết trong tam giác Calot có liên quan chặt chẽ với các hạch
rốn gan, ống cổ túi mật và động mạch túi mật.
Bạch huyết ở phần thấp ống mật chủ và vùng bóng Vater đi vào sau đầu
tụy rồi đổ về hạch mạc treo tràng trên.
1.1.1.8. Phân chia phân thùy gan
Năm 2014 Trịnh Hồng Sơn [22] đã nghiên cứu những biến đổi giải phẫu
gan, ứng dụng phẫu thuật. Sự phân chia phân thùy gan dựa trên cơ sở phân bố
các thành phần trong bao Glisson và tĩnh mạch gan. Hiện nay có ba trường
phái phân chia gan, mỗi trường phái có quan niệm riêng và cách gọi riêng nên
đôi khi làm các thầy thuốc nhầm lẫn
Trường phái Anh- Mỹ đại diện là Healey và Schroy chia gan thành 5
phân thùy:
-

Phân thùy sau
Phân thùy trước
Phân thùy giữa
Phân thùy bên
Phân thùy lưng

Trường phái Pháp đại diện là Couinaud chia gan thành 9 phân thùy (bắt
đầu từ thùy đuôi tính theo chiều kim đồng hồ) gồm: Phân thùy1, phân thùy 2,
phân thùy 3, phân thùy 4, phân thùy 5, phân thùy 6, phân thùy 7, phân thùy 8
và phân thùy 9. Phân thùy 9 mới được công bố năm 1998 nên trong các sách
kinh điển chỉ có 8 phân thùy.


16

Trường phái Việt Nam đại diện là Tôn Thất Tùng đã chia gan thành 5
phân thùy, 6 hạ phân thùy với khái niệm cụ thể về nửa gan phải, nửa gan trái,
thùy gan phải, thùy gan trái. Gan phải và gan trái cách nhau bằng khe cửa
chính. Gan phải bao gồm củ đuôi, phân thùy sau (hạ phân thùy 6,7), phân
thùy trước (hạ phân thùy 5,8). Gan trái bao gồm phân thùy lưng, phân thùy
bên hay thùy gan trái (hạ phân thùy 2,3), phân thùy giữa (phân thùy 4). Phân
thùy giữa ngăn cách với phân thùy bên bởi khe cửa rốn (dọc chỗ bám dây
chằng tròn), ngăn cách với hạ phân thùy 2,3 bởi khe cửa trái. Thùy Spiegel
còn được gọi là phân thùy lưng, Tôn Thất Tùng cũng chỉ ra cách phân chia
của ông tương đương với phân chia gan của Couinaud nhưng đổi các phân
thùy của Cuoinaud thành các hạ phân thùy.
1.1.2. Sinh lý gan
1.1.2.1. Chức năng tuần hoàn của gan
Máu đổ về gan có 2 hệ thống: tĩnh mạch cửa và động mạch gan. Mỗi
phút có khoảng 1000ml máu từ tĩnh mạch cửa và 400ml máu từ động mạch
gan tới gan, chiếm khoảng 30% cung lượng tim. Gan có chức năng dự trữ
máu, chức năng lọc máu và chức năng đệm: các chất mà chúng ta ăn và uống
qua đường tiêu hóa được chuyển hóa, hấp thụ, di chuyển qua gan để “lọc” sau
đó mới vào hệ tuần hoàn chung qua hệ thống tĩnh mạch gan.
1.1.2.2. Chức năng bài tiết mật
Các tế bào gan bài tiết mật đổ vào các tiểu quả mật, vào các ống mật hạ
phân thùy, phân thùy, bên phải đổ vào ống gan phải, bên trái đổ vào ống gan
trái. Mỗi ngày mật được bài tiết từ 700 đến 1000ml, chức năng bài tiết mật
của gan được thể hiện ở chức năng tạo muối mật, bài tiết bilirubin, bài tiết
cholesterol và dự trữ mật trong túi mật. Trong bệnh lý UTĐM rốn gan do tắc
mật, mật không xuống được ruột vào máu gây vàng da, phân trắng, nước tiểu
vàng là tình trạng bệnh lý xảy ra khi sắc tố mật trong máu cao hơn bình
thường ngấm vào da và niêm mạc. Nếu tình trạng tắc mật diễn biến lâu ngày,
nhu mô gan ngày càng bị hư hại thì khả năng liên hợp của tế bào nhu mô gan
để chuyển bilirubin tự do thành bilirubin kết hợp sẽ kém dần. Do đó ứ mật


17

kéo dài trong tế bào gan gây phá hủy tế bào dẫn đến xơ hóa, lâu dần dẫn dến
xơ gan và suy gan.
1.1.2.3. Chức năng chuyển hóa
- Chuyển hóa carbonhydrat: Khi nồng độ glucose trong máu giảm, gan
có thể tạo glucose từ acid amin và glycerol, khi nồng độ glucose trong máu
tăng, gan lại chuyển glucose và dự trữ dưới dạng glycogen, gan tham gia điều
hòa đường huyết.
- Chuyển hóa lipid: Tại gan mỡ được thủy phân thành glycerol và acid béo
tự do được gan đưa trở lại vào máu dưới dạng lipoprotein để cung cấp cho các
mô khác nhất là mô mỡ. Gan còn tổng hợp cholesterol và phospholipid là những
chất cần thiết để sản xuất muối mật, các hormon steroid.
- Chuyển hóa protein: Gan là nơi duy nhất tổng hợp các acid amin “
không thiết yếu” cũng như các enzyme huyết tương, protein huyết tương và
gan chuyển hóa protein để cung cấp năng lượng qua chu trình Krebs.
1.1.2.4. Chức năng dự trữ vitamin và muối khoáng
Gan dự trữ các vitamin: A; D; B12; E; K, dự trữ sắt dưới dạng ferritin và
sẽ giải phóng sắt vào máu khi lượng sắt trong máu giảm.
1.1.2.5. Chức năng khử độc
Gan biến đổi các chất độc nội sinh hay ngoại sinh, các hormon, các phần
tử lạ thành các chất ít độc hoặc làm giảm hoạt tính sinh học của chúng rồi thải
ra ngoài cơ thể qua dịch mật hay qua nước tiểu.
1.1.2.6. Chức năng đông máu
Gan tổng hợp hầu hết các yếu tố đông máu ( trừ yếu tố VIII) vì gan
bài tiết muối mật có tác dụng hấp thu các vitamin K cần thiết cho sự thành
lập các yếu tố II, VII, IX, X nếu vitamin K không được hấp thu sẽ gây rối
loạn đông máu.
1.2. ĐẶC ĐIỂM UNG THƯ ĐƯỜNG MẬT RỐN GAN

1.2.1.Định nghĩa: Ung thư đường mật rốn gan là bệnh lý ác tính xuất phát từ
biểu mô của đường mật từ chỗ ống gan phải và trái hợp lại thành ống gan
chung đến chỗ ống túi mật đổ vào ống gan chung.


18

1.2.2. Phân loại ung thư đường mật rốn gan
1.2.2.1. Phân loại theo Bismuth-Corlette
Phân loại của Bismuth và Corlette giới thiệu năm 1975 được bổ sung
năm 1992 đánh giá mức độ lan rộng của khối u theo chiều dọc dựa vào X
quang và những dấu hiệu trong lúc phẫu thuật. Phân loại đơn giản hơn, chỉ
dựa vào vị trí lan tràn của u trong đường mật, thuận tiện cho nhận định và
đánh giá tiên lượng ngay trong cuộc phẫu thuật [26]. Các khối ung thư đường
mật rốn gan này được Bismuth và Corlette [27] chia ra 4 loại tùy theo mức độ
xâm lấn hợp lưu đường mật, OGP, OGT. Sự phân chia này như sau:
Bảng 1.1. Phân loại theo Bismuth-Corlette
Loại
Loại I
Loại II
Loại IIIa
Loại IIIb
Loại IV

Đặc điểm
U dưới vị trí hợp lưu
U tiếp giáp với hợp lưu
U phát triển vào ống gan phải
U phát triển vào ống gan trái
U phát triển vào cả hai ống gan phải và trái

Loại I: U xuất phát từ ống gan chung đến bên dưới chỗ chia đôi của ống
gan (P) và gan (T)

Hình 1.11. Ung thư đường mật rốn gan loại I
a:hình vẽ minh họa khối u dưới chỗ hợp lưu ống gan (P) và (T);b: hình ảnh u trên
ERCP; c: hình ảnh u được dựng trên MRCP; d: hình ảnh u ở tính hiệu T2 trên
MRCP cắt dọc (mũi tên)

“Nguồn: Chung YE, 2008” [28]


19

Loại II: U lan đến chỗ chia đôi nhưng chưa lan đến đường mật trong gan

Hình 1.12. Ung thư đường mật rốn gan loại II
a: hình vẽ minh họa khối u lan đến chỗ hợp lưu ống gan (P) và (T); b: hình ảnh u
được dựng trên MRCP; c: hình ảnh u ở tính hiệu T2 trên MRCP cắt dọc (mũi tên)

“Nguồn: Chung YE, 2008” [28]
Loại IIIa:U lan qua khỏi ống gan chung và xâm lấn vào ống gan phải

Hình 1.13. Ung thư đường mật rốn gan loại IIIa
a: hình vẽ minh họa khối u lan đến chỗ chia đôi thứ 2 của ống gan (P); b: hình ảnh u
được dựng trên MRCP; c: hình ảnh u ở tính hiệu T2 trên MRCP cắt dọc (mũi tên)

“Nguồn: Chung YE, 2008” [28]


20

Loại IIIb: Khối u lan qua khỏi ống gan chung và xâm lấn vào ống gan trái

Hình 1.14. Ung thư đường mật rốn gan loại IIIb
a: hình vẽ minh họa khối u lan đến chỗ chia đôi thứ 2 của ống gan (T); b: hình ảnh u
được dựng trên MRCP; c: hình ảnh u ở tính hiệu T2 trên MRCP cắt dọc (mũi tên)

“Nguồn: Chung YE, 2008” [28]
Loại IV: Khối u lan qua khỏi ống gan chung xâm lấn vào ống gan (P) và
ống gan (T); nhiều khối u đường mật trong và ngoài gan cũng được xếp vào
loại này

Hình 1.15. Ung thư đường mật rốn gan loại IV
a: hình vẽ minh họa khối u lan đến chỗ chia đôi thứ 2 của ống gan (P) và (T); b:
hình ảnh u được dựng trên MRCP; c: hình ảnh u ở tính hiệu T2 trên MRCP
cắt ngang (mũi tên)

“Nguồn: Chung YE, 2008” [28]


21

Hình 1.16. Ung thư đường mật rốn gan nhiều chỗ, xếp vào loại IV
a: hình minh họa nhiều khối u trên đường mật; b: hình ảnh u trên MRCP (mũi tên)

“Nguồn: Chung YE, 2008” [28]
Hệ thống phân loại của Bismuth- Corlette đánh giá toàn diện mức độ và
sự xâm lấn của khối u dọc theo đường mật rốn gan trước mổ và trong mổ
ngoài ra còn phát hiện được những biến đổi cấu trúc đường mật, phân loại này
rất có giá trị cho chẩn đoán và áp dụng phương pháp phẫu thuật nên thường
được sử dụng trên toàn thế giới mặc dù không đánh giá hết được sự xâm lấn
vào mạch máu, di căn hạch, di căn xa và teo một phần gan.
1.2.2.2. Phân loại theo TNM
Cách phân loại do hiệp hội chống ung thư quốc tế đề xuất lần đầu tiên
vào năm 1968. Trước đây việc phân loại giai đoạn trước mổ dựa vào kích
thước, vị trí và sự xâm lấn của khối u. Hiện nay phân loại giai đoạn bệnh
trước mổ và sau mổ là tương đương nhau nhờ các phương tiện chẩn đoán hiện
đại như chụp CLVT, chụp MRCP có thể xác định chính xác vị trí, kích thước,
mức độ xâm lấn thành, di căn hạch, di căn xa do vậy việc áp dụng phương
pháp điều trị và đánh giá khả năng cắt u chính xác hơn.
Phân loại TNM xuất bản lần thứ VII bởi hiệp hội ung thư quốc tế UICC
năm 2010 và hiệp hội ung thư Hoa Kỳ [29] đánh giá mức độ u xâm lấn tại
chỗ, di căn hạch vùng và di căn xa.


22

- Phân loại theo T: Đánh giá mức độ xâm lấn của u dựa trên mối liên
quan giữa thành ống mật, tĩnh mạch cửa, động mạch gan, sự xâm lấn cơ quan
lân cận và được chia làm 5 loại:
T1: U xâm lấn đến thành ống mật
T2a: U xâm lấn qua thành của ống mật đến mô mỡ lân cận
T2b: U xâm lấn qua thành ống mật đến nhu mô gan
T3: U xâm lấn tĩnh mạch cửa (phải hoặc trái), động mạch gan (phải hoặc
trái) cùng bên
T4: U xâm lấn tĩnh mạch cửa chính hoặc các nhánh của nó hai bên hoặc
động mạch gan chung, chỗ chia đôi thứ 2 đường mật hai bên hoặc xâm lấn
đến chỗ chia đôi thứ 2 cùng bên và xâm lấn động mạch gan hoặc tĩnh mạch
cửa đối bên.
- Phân loại theo N:
Theo tiêu chuẩn của UICC những hạch vùng là: ống túi mật, quanh ống
mật, quanh rốn gan, quanh đầu tụy, quanh tá tràng, quanh tĩnh mạch cửa, động
mạch thân tạng, hạch mạc treo tràng trên và chia thành 3 nhóm:
N0: không di căn hạch.
N1: di căn hạch ống túi mật, quanh ống mật chủ, hạch rốn gan, động
mạch gan, tĩnh mạch cửa.
N2: di căn hạch quanh động mạch chủ, tĩnh mạch chủ, vùng đầu tụy, cạnh
tá tràng, động mạch thân tạng, động mạch mạc treo tràng trên, hạch sau tá-tụy.
- Phân loại theo M:
M0: không có di căn xa.
M1: có di căn xa.
Bảng 1.2. Phân loại giai đoạn ung thư đường mật rốn gan theo UICC/
AJCC tái bản lần thứ 7 năm 2010 [29]
Giai đoạn I
Giai đoạn II
Giai đoạn IIIA
Giai đoạn IIIB
Giai đoạn IVA
Giai đoạn IVB

T1
T2a-b
T3
T1 hoặc T2 hoặc T3
T4
Bất kỳ T
Bất kỳ T

N0
N0
N0
N1
N0 hoặc N1
N2
Bất kỳ N

M0
M0
M0
M0
M0
M0
M1


23

Hệ thống phân loại theo TNM theo AJCC và UICC cho tất cả các bệnh
ung thư nói chung và ung thư đường mật rốn gan nói riêng tuy có vẻ đơn giản
nhưng chủ yếu được sử dụng để chẩn đoán khối u sau khi phẫu thuật. Phân
loại TNM còn mô tả bổ sung cho khối u còn lại sau phẫu thuật: Rx không thể
đánh giá được tế bào ung thư ở diện cắt khối u và hai bờ phẫu thuật; Ro diện
cắt của khối u và hai bờ phẫu thuật không còn tế bào ung thư; R1 mang tính
triệt căn về đại thể, nhưng vi thể diện cắt vẫn còn tế bào ung thư; R2 còn để
lại tổ chức u về đại thể.
1.2.2.3. Phân loại giai đoạn theo MSKCC (Memorial Sloan-Kettering
Cancer Center)
Dựa vào giai đoạn phát triển và sự xâm lấn của khối u [30]
Bảng 1.3. Phân loại theo MSKCC
T1

Khối u vùng ngã ba đường mật chưa lan đến chỗ phân chia thứ cấp
của đường mật và chưa xâm lấn tĩnh mạch cửa và chưa có biểu hiện
teo gan.

T2

Khối u vùng ngã ba đường mật chưa lan đến chỗ phân chia thứ cấp
của đường mật, xâm lấn tĩnh mạch cửa và gây teo gan cùng bên

T3

Khối u vùng ngã ba đường mật xâm lấn đến chỗ phân chia đường
mật thứ cấp, xâm lấn tĩnh mạch cửa động mạch gan và gây teo gan.

Theo Jarnagin WR [30] qua tổng kết 225 bệnh nhân phẫu thuật thấy độ
chính xác chẩn đoán trước mổ theo phân loại này tới 86%. Do đó phân loại
này đánh giá được vị trí xâm lấn đường mật, sự mở rộng xâm lấn của khối u,
sự thâm nhiễm tĩnh mạch cửa và teo thùy gan. Tuy nhiên hệ thống phân loại
này có một số hạn chế: thứ nhất hệ thống này phức tạp áp dụng khó khăn
trong lâm sàng, thứ hai phân loại này không đánh giá sự hiện diện của di căn
xa hay gần hoặc sự xâm lấn động mạch nên phân loại này không được áp
dụng ở nhiều trung tâm khác.
1.2.2.4. Phân loại theo CCH (B,PV,HA,V)
Hiệp hội phẫu thuật đường mật quốc tế “ New Proposal by the
International Cholangiocarcinoma Group for the Staging of PHC”[31] đề xuất
mới về phân loại ung thư đường mật rốn gan dựa trên cơ sở phân loại của


24

Bismuth- Corlette và các phân loại trước đó với mục đích tiêu chuẩn hóa về
tiên lượng bệnh, chỉ định điều trị phẫu thuật và chỉ dẫn cho việc chỉ định ghép
gan trong bệnh lý này. Sự thống nhất này đưa ra được các dữ liệu chuẩn hóa
giữa các trung tâm trên toàn thế giới và đưa ra các tiêu chí, quy trình hướng
dẫn điều trị trên bệnh nhân UTĐM rốn gan.
- Khối u ống mật (B)

Hình 1.17. Vị trí xâm lấn của khối u
B1: Khối u ở ống gan chung tương đương với type I
B2: U tiếp giáp với ngã ba đường mật tương đương với type II
B3-R: U phát triển vào ống gan phải tương đương với type IIIA
B3-L: U phát triển vào ống gan trái tương đương với type IIIB
B4: U phát triển vào cả hai ống gan phải và trái tương đương với type IV

“Nguồn: Michelle L, 2011” [31]
-Kích thước của khối u (T)
Theo DeOliveira ML [32], Ito F [33] kích thước khối u nhỏ thì có tiên
lượng tốt hơn. Theo cách phân loại này T1 khối u có kích thước < 1cm, T2
khối u có kích thước từ 1cm đến 3 cm, T3 khối u có kích thước > 3 cm.
- Xâm lấn tĩnh mạch cửa(PV)

Hình 1.18. Xâm lấn tĩnh mạch cửa của u
“Nguồn: Michelle L, 2011” [31]


25

- Xâm lấn động mạch gan (HA)

Hình 1.19. Xâm lấn động mạch gan
“Nguồn: Michelle L, 2011” [31]
- Đo thể tích gan (V)
Đo thể tích gan dựa trên các mốc giải phẫu gan và nguyên lý đo thể tích
bằng chụp cắt lớp vi tính. Đây là xét nghiệm không thể thiếu trước khi quyết
định cắt gan. Chỉ định cắt gan khi tỷ lệ thể tích gan còn lại > 1% so với trọng
lượng cơ thể hoặc >40% so với thể tích gan chuẩn.
- Di căn hạch (N)
N0 Không có hạch.
N1 Di căn hạch ống túi mật, quanh ống mật chủ hoặc hạch rốn gan.
N2 Di căn hạch quanh tụy (đầu tụy), cạnh tá tràng, quanh cửa gan
- Di căn xa (Distant metastasis “M”)
M0 Không có di căn xa.
M1 Có di căn xa.
1.2.3. Chẩn đoán ung thư đường mật rốn gan
Ung thư đường mật đã được biết đến từ lâu, năm 1508; Courvoisier đã
đề cập đến bệnh lý này và năm 1890 Fardel đã mô tả ung thư đường mật
ngoài gan. Ung thư đường mật rốn gan được biết đến kể từ năm 1965 khi
Klatskin lần đầu tiên mô tả đặc điểm lâm sàng 13 trường hợp u ngã ba đường
mật. Đầu thế kỷ XX Baudoin, Mayo, Pickrel và Blalock đã mô tả về giải phẫu
bệnh của ung thư đường mật. Năm 1979 Koprowski phát hiện ra chất chỉ
điểm khối u CA 19-9 là một kháng nguyên liên kết ung thư khi tiêm kháng thể
đơn dòng SW 1116 được sản sinh bởi tế bào ung thư đại tràng trên chuột nhắt
trắng, kháng nguyên này dương tính trong ung thư đường mật. Năm 1988


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×