Tải bản đầy đủ

XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƯỜNG HỢP SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Chủ đề số:
3

BÀI TẬP NHÓM MÔN
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
CHỦ ĐỀ
XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG TRƯỜNG HỢP
SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

NHÓM
LỚP

: 03
: N06 – TL3

Hà Nội, 2019
MỤC LỤC

1


Contents

2


MỞ ĐẦU
Con cái là sợi dây vô hình gắn kết hạnh phúc hôn nhân. Khi có con, nhiều
bậc cha mẹ học được cách yêu thương, quan tâm lẫn nhau và yêu chính mình
hơn. Tuy nhiên, không phải cặp vợ chồng nào cũng may mắn có thể sinh con tự
nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau. Hiện nay, cùng với sự tiến bộ vượt bậc
của khoa học kỹ thuật, các phương pháp hỗ trợ sinh sản được nghiên cứu và áp
dụng vào thực tiễn, đem lại ý nghĩa to lớn cho cả xã hội, giúp các cặp vợ chồng
có cơ hội hưởng niềm hạnh phúc với con cái. Cùng với đó, vấn đề xác định cha,
mẹ, con khi áp dụng các phương pháp hỗ trợ sinh sản ngày càng trở nên quan
trọng bởi nó ảnh hưởng sâu sắc đến quyền lợi của những người làm cha, làm
mẹ, của những đứa trẻ được sinh ra và cả những người có quyền, lợi ích liên
quan. Chính vì vậy, nhóm chúng em xin chọn đề tài: “Xác định cha, mẹ, con
trong trường hợp sinh con bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản theo Luật Hôn nhân
gia đình năm 2014”.
NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT CHUNG
1. Khái quát về vấn đề sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
1.1. Khái niệm
Khoản 21 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã giải thích khá rõ
ràng về khái niệm sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Cụ thể: “Sinh con
bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản là việc sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo
hoặc thụ tinh trong ống nghiệm.”
Một cách rõ ràng hơn, về mặt bản chất đây là phương pháp can thiệp vào
quá trình thụ thai tự nhiên của người phụ nữ bằng các phương pháp kỹ thuật y
học tiến bộ nhằm hỗ trợ hoặc khắc phục các trường hợp hiếm muộn, vô sinh của
3


các cặp vợ chồng hoặc mong muốn nuôi con của phụ nữ độc thân không muốn
lập gia đình.
Hiện nay có hai phương pháp chính được áp dụng đó là: thụ tinh nhân tạo
và thụ tinh trong ống nghiệm.


1.2. Điều kiện áp dụng
Tuy đây là phương pháp nhằm hỗ trợ và khắc phục các trường hợp hiếm
muộn, khó thụ thai, vô sinh, song nếu áp dụng một cách tràn lan, thiếu khoa học
sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy khác. Vậy nên, đi kèm với sự thừa nhận tính hợp pháp
của các phương pháp này tại Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Nghị định số
10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm
và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo đã ghi nhận những nguyên tắc
áp dụng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và mang thai hộ vì mục đích nhân
đạo. Tại Khoản 1 Điều 3:“Cặp vợ chồng vô sinh và phụ nữ độc thân có quyền
sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm theo chỉ định của bác sĩ
chuyên khoa; cặp vợ chồng vô sinh có quyền nhờ mang thai hộ vì mục đích
nhân đạo”. Như vậy, đối tượng được Luật cho phép áp dụng biện pháp sinh con
bằng kĩ thuật hỗ trợ sinh sản gồm cặp vợ chồng vô sinh hoặc phụ nữ độc thân.
Với đối tượng là các cặp vợ chồng vô sinh, trước hết, khái niệm “vô sinh”
là tình trạng vợ chồng sau một năm chung sống có quan hệ tình dục trung bình 2
– 3 lần/tuần, không sử dụng biện pháp tránh thai mà người vợ vẫn không có
thai1.
Vô sinh có thể là xuất phát từ một phía là vợ hoặc chồng vô sinh hoặc
xuất phát từ hai phía, nghĩa là cả hai người cùng vô sinh. Nếu như trước đây họ
chưa từng có thai lần nào được gọi là vô sinh nguyên phát. Nhưng nếu như họ đã
có ít nhất một lần mang thai, đã sẩy thai hoặc phá thai mà sau đó muốn có thai
mà vẫn không có thai trở lại được gọi là vô sinh thứ phát.
1 Khoản 2, Điều 2, Nghị định số 10/2015/NĐ-CP.

4


Với đối tượng là phụ nữ độc thân, căn cứ theo Khoản 6, Điều 2 Nghị định
số 10/2015/NĐ-CP về Giải thích từ ngữ, phụ nữ độc thân được quy định cụ thể
là “Phụ nữ độc thân là phụ nữ không có quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy
định của pháp luật”. Như vậy, có nghĩa là trong thời điểm phát sinh nhu cầu sinh
con bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản, người phụ nữ phải không có quan hệ hôn
nhân ràng buộc với bất kì ai.
2. Pháp luật về xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
2.1. Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp người vợ trong cặp vợ
chồng vô sinh và người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh
sản
2.1.1. Đối với cặp vợ chồng vô sinh
Trường hợp con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân
Khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nguyên
tắc suy đoán: “Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai
trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng”. Như vậy, trong trường hợp
sinh con bằng phương pháp khoa học nhưng vẫn trong thời kỳ hôn nhân thì căn
cứ vào quy định nêu trên, đứa trẻ được sinh ra vẫn được xác định là “con chung”
của vợ chồng tương tự như đứa con huyết thống.
Theo nguyên tắc này, con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời
điểm chấm dứt hôn nhân được coi là do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân
theo tinh thần của khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Bên cạnh đó, trường hợp con sinh ra trước ngày vợ, chồng đăng ký kết hôn
và được vợ chồng thừa nhận là con chung sẽ không được áp dụng đối với trường
hợp con sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
Như vậy, dựa trên nguyên tắc tự nguyện, người vợ trong cặp vợ chồng vô
sinh được xác định là mẹ đứa trẻ trong mọi trường hợp kể cả người mẹ là người
nhận tinh trùng, nhận noãn hay nhận phôi của người khác. Người chồng hợp
5


pháp của người mẹ đó cũng chính là cha đứa trẻ, ngay cả trường hợp người
chồng không phải là người cho tinh trùng.
Trường hợp người con sinh ra trong thời kì hôn nhân nhưng không được
cha thừa nhận, tại khoản 2 Điều 88 có quy định: “Trong trường hợp cha, mẹ
không thừa nhận con thì phải có chứng cứ và phải được Tòa án xác định”. Theo
đó, nếu như người cha nghi ngờ đứa trẻ không phải là con mình thì có quyền yêu
cầu giám định về gen để chứng minh đứa trẻ và mình không có cùng huyết
thống.
Nhưng với phương pháp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, quan hệ
cha, mẹ và con là tất yếu và không thể phủ nhận được, trong trường hợp cặp vợ
chồng vô sinh người chồng đương nhiên là cha của đứa trẻ mà họ không được
quyền yêu cầu xác định đứa trẻ đó không phải là con mình. Nguyên nhân bởi khi
làm đơn yêu cầu thực hiện biện pháp hỗ trợ sinh sản, cả hai vợ chồng đều phải
thể hiện ý chí đồng thuận đồng nghĩa với việc người chồng thừa nhận mình là
người chồng trong cặp vợ chồng vô sinh; do đó mối quan hệ cha, con với đứa trẻ
được mặc nhiên thiết lập.
Như vậy, pháp luật không cho phép thực hiện việc xác định lại cha, mẹ, con
đối với trường hợp sinh con theo phương pháp khoa học.
Trường hợp người vợ thụ tinh trong thời kì hôn nhân nhưng sinh con khi
hôn nhân kết thúc, theo khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:
“Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân
được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân”. Nếu người vợ có
thai nhờ kĩ thuật hỗ trợ sinh sản trong thời kì hôn nhân, nghĩa là kể từ khi hôn
nhân chấm dứt trước pháp luật (ly hôn hoặc chồng chết), nếu trong thời hạn 300
ngày (người vợ chưa kết hôn với người khác) mà sinh con thì con đó vẫn được
xác định là “con chung” của hai vợ chồng.
Như vậy, căn cứ vào thời kỳ hôn nhân của cặp vợ chồng vô sinh để xác
định cha, mẹ, con. Bởi vậy mà trường hợp con sinh ra trước ngày vợ, chồng
6


đăng ký kết hôn và được vợ chồng thừa nhận là con chung sẽ không được áp
dụng đối với trường hợp con sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Và với
nguyên tắc tự nguyện, người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh được xác định là mẹ
đứa trẻ trong mọi trường hợp kể cả người mẹ là người nhận tinh trùng, nhận
noãn hay nhận phôi của người khác. Người chồng hợp pháp của người mẹ đó
cũng chính là cha đứa trẻ, ngay cả trường hợp người chồng không phải là người
cho tinh trùng.
2.1.2. Đối với người phụ nữ độc thân
Trong trường hợp này, chỉ tồn tại mối quan hệ giữa mẹ và con. Khoản 2
Điều 93 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Trong trường hợp
người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì người
phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra”. Người phụ nữ độc thân được xác định
là mẹ của đứa trẻ trong mọi trường hợp kể cả người mẹ này nhận tinh trùng từ
phôi từ người khác. Giữa đứa trẻ và người cho tinh trùng, cho phôi không có
mối quan hệ cha mẹ và con về mặt pháp lí. Ở đây, chỉ xác định được quan hệ mẹ
- con mà không có quan hệ cha – con như trường hợp của cặp vợ chồng vô sinh.
Theo quy định tại Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Con
sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân
là con chung của vợ chồng”. Như vậy, trong trường hợp người mẹ độc thân
mang thai đứa con trong thời kì hôn nhân thì đứa con được xác định là “con
chung” của vợ chồng, nghĩa là khi đó mối quan hệ cha – con được mặc nhiên
thừa nhận cho dù đứa con không có cùng huyết thống với người chồng.
Cũng theo khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “Con
sinh ra trước ngày đăng kí kết hôn và được cha mẹ thừa nhận cũng là con
chung vợ chồng”, nghĩa là trong trường hợp người mẹ độc thân mang thai và
sinh con sau đó mới kết hôn thì đứa con cũng được xác định là “con chung” nếu
người chồng thừa nhận (nếu không được người chồng thừa nhận thì đứa trẻ
được xác định là con riêng của vợ). Như vậy, khi người phụ nữ độc thân sinh
7


con bằng phương pháp khoa học thì ngoài mối quan hệ mẹ - con, chúng ta cũng
có thể xác định mối quan hệ cha – con cho đứa trẻ.
Riêng đối với trường hợp người mẹ độc thân mang thai đứa con bằng
phương pháp khoa học, kết hôn nhưng lại sinh con sau khi hôn nhân đã kết thúc
thì người phụ nữ đó vẫn được xác định là người phụ nữ độc thân. Do đó chỉ có
mối quan hệ mẹ - con là duy nhất, không phát sinh mối quan hệ cha – con nào.
Tuy nhiên, nếu người phụ nữ không đợi quá 300 ngày kể từ ngày hôn nhân chấm
dứt (li hôn hoặc chồng chết) mà tiếp tục kết hôn rồi sinh con thì người con lại
được xác định là con của người chồng sau theo nguyên tắc suy đoán.1
2.2. Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích
nhân đạo
Khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định về định
nghĩa mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như sau:
“ Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện,
không vì mục đích thương mại giúp mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ
không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản,
bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh
trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang
thai để người này mang thai và sinh con”.
Pháp luật nước ta chỉ có quy định về mang thai hộ vì mục đích nhân đạo
mà không cho phép mang thai vì mục đích thương mại. Bởi việc mang thai hộ vì
mục đích nhân đạo là biện pháp cuối cùng giúp các cặp vợ chồng vô sinh, hiếm
muộn có được đứa con mà họ hằng mong ước sau khi đã áp dụng các biện pháp
hỗ trợ sinh sản mà người vợ vẫn không thể mang thai và sinh con. Điều này có ý
nghĩa hết sức nhân văn. Còn việc mang thai hộ vì mục đích thương mại trái với

1 Vũ Ngọc Huy, Xác định cha, mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo pháp luật
Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, 2017.

8


văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc ta, không khác gì dùng tiền
để mua con.
Việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích
nhân đạo rất phức tạp bởi nó làm thay đổi những quan niệm truyền thống về
mặt huyết thống giữa cha mẹ và con. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã
quy định cụ thể về vấn đề này như sau:
“Điều 94. Xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích
nhân đạo
Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con
chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra”.
“Mang thai hộ” trong Luật Hôn nhân và gia đình là trường hợp sau khi lấy
noãn của người vợ (vì lý do sức khỏe mà không thể mang thai) và tinh trùng của
người chồng để làm thụ tinh trong ống nghiệm. Khi noãn và tinh trùng gặp nhau
chuyển thành phôi thì sẽ chuyển phôi vào tử cung của người phụ nữ khác. Người
phụ nữ nhận mang thai hộ có quan hệ họ hàng, cùng huyết thống nhưng không
vì mục đích lợi nhuận. Trong trường hợp này, tử cung của người phụ nữ mang
thai hộ giống như một môi trường sống tốt nhất – một ngôi nhà cho một đứa trẻ
- đứa con của người khác.
Mặt khác, dưới phương diện sinh học thì trong trường hợp mang thai hộ,
đứa bé ra đời từ mang thai hộ mang gen di truyền của người phụ nữ có trứng thụ
tinh chứ không phải của người mang thai. Nếu hiểu khái niệm huyết thống đồng
nhất với khái niệm gen di truyền (ADN) thì quan hệ huyết thống là quan hệ giữa
người phụ nữ có trứng và đứa trẻ. Cho phép thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong
ống nghiệm để mang thai hộ là điều trị hữu ích cho phép các cặp vợ chồng có
con di truyền (phù hợp với tính huyết thống, duy trì dòng họ tại Việt Nam).
Mang thai hộ có thể đồng nhất khái niệm “chăm sóc” tạo điều kiện cho thai phát
triển nhưng là sự chăm sóc đặc biệt không bằng tay chân mà bằng chính cơ thể
của mình. Nếu chúng ta chấp nhận việc nuôi trẻ bằng sữa của người phụ nữ khác
9


khi người mẹ của đứa trẻ không có khả năng nuôi con bằng sữa của chính mình
thì chúng ta cũng nên chấp nhận việc mang thai hộ. Hai hiện tượng này gần như
đồng nhất với nhau, chỉ khác ở thời điểm là trước và sau khi sinh.1
Bởi vậy cho nên việc xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì
mục đích nhân đạo theo quy định của pháp luật là hoàn toàn hợp lý.
2.3. Xác định cha, mẹ trong trường hợp vợ chồng vô sinh sinh con bằng
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng
2.3.1. Xác định cha, mẹ trong trường hợp người phụ nữ độc thân sinh
con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng
Trong trường hợp người phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ
sinh sản với tinh trùng từ ngân hàng tinh trùng chỉ làm phát sinh quan hệ mẹ con
mà không làm phát sinh quan hệ cha con và cũng không làm phát sinh quyền và
nghĩa vụ đối với người hiến tinh trùng. Trong trường hợp này người mẹ có
quyền xác định lại quan hệ mẹ con.
2.3.2. Xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ
trợ sinh sản với tinh trùng của người chồng
Việc xác định quan hệ cha, mẹ, con trong trường hợp này không khác gì
so với xác định quan hệ cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con tự nhiên. Bản
chất của việc xác định quan hệ cha, mẹ, con căn cứ vào huyết thống, con phải có
chung huyết thống với cha, mẹ. Việc xác định một người là con hay không phải
là con mình dựa trên việc chứng minh họ có cùng chung huyết thống với mình
hay không. Pháp luật cho phép cha, mẹ có quyền xác định người nào đó là con
mình cũng như có quyền xác định một người nào đó không phải là con mình
theo Điều 89 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
“Điều 89. Xác định con
1. Người không được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa
án xác định người đó là con mình.
1 Thông tin phổ biến giáo dục pháp luật về Y tế số 03 tháng 09/2014: Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

10


2. Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác
định người đó không phải là con mình”.
Tuy nhiên, để bảo vệ quyền lợi của đứa trẻ được sinh ra có cả bố và mẹ,
được chăm sóc và nuôi dưỡng đầy đủ, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã
quy định như sau:
“Điều 88. Xác định cha, mẹ
Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ
hôn nhân là con chung của vợ chồng.
Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn
nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con
chung của vợ chồng”.
Quy định này đã suy đoán con do người vợ sinh ra hoặc mang thai trong
thời kỳ hôn nhân sẽ có chung huyết thống với vợ chồng do đó sẽ là con chung
của vợ chồng. Trong trường hợp cha mẹ không thừa nhận thì phải có chứng cứ
và phải được Tòa án xác định.
2.3.3. Xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ
trợ sinh sản với tinh trùng của người hiến
Đối với trường hợp cặp vợ chồng vô sinh sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ
sinh sản từ tinh trùng của người hiến. Con sinh ra có chung huyết thống với
người vợ nhưng không có chung huyết thống với người chồng. Mẹ của đứa trẻ là
người vợ, người có chung huyết thống với đứa trẻ cũng là người sinh ra đứa trẻ.
Trong khi đó cha đứa trẻ xác định căn cứ vào thời kỳ hôn nhân. Cha của đứa trẻ
là người chồng hợp pháp của mẹ đứa trẻ trong thời kỳ mang thai hoặc sinh con.
Quy định tại khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 con do

11


người vợ sinh ra hoặc mang thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ
chồng.
Để tránh gây ra những tranh chấp về quyền nhận con, nhận cha trong
trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh trùng của người hiến,
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định như sau:
“Điều 93. Xác định cha, mẹ trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật
hỗ trợ sinh sản
3. Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan
hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người con
được sinh ra”.
Như vậy, người hiến tinh trùng sẽ không có quyền đòi lại đứa trẻ đã được
sinh ra.
2.3.4. Xác định cha, mẹ trong trường hợp con sinh ra không trong
thời kỳ hôn nhân
Trong trường hợp phụ nữ độc thân sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
sau đó kết hôn. Nếu đứa trẻ sinh ra trong thời kỳ hôn nhân áp dụng quy định tại
khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đứa trẻ sẽ là con chung
của vợ chồng. Trong trường hợp người chồng không thừa nhận con thì có thể
yêu cầu Tòa án xác định đứa trẻ đó không là con mình. Còn nếu đứa trẻ được
sinh ra trước khi kết hôn áp dụng khoản 1 Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014 quy định: “con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ
thừa nhận là con chung của vợ chồng”, nếu vợ hoặc chồng không thừa nhận
đứa trẻ đó là con chung của vợ chồng thì đứa trẻ đó sẽ được xác định là con
riêng của vợ.
Trường hợp sau khi người chồng chết người vợ sử dụng tinh trùng của
chồng lưu giữ trước khi chết để sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, đứa trẻ
được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân (người
chồng chết) được coi là con chung của vợ chồng, nếu đứa trẻ được sinh ra quá
12


thời hạn trên, trên 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân làm phát sinh
các quan hệ ngoài quan hệ hôn nhân gia đình thì thực hiện theo quy định của
pháp luật hôn nhân gia đình và pháp luật dân sự theo quy định tại Khoản 4 Điều
21 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh
trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo như sau:
“Người vợ hoặc người chồng sử dụng tinh trùng, noãn, phôi thuộc trường
hợp quy định tại Khoản 2, Điểm b Khoản 3 Điều này làm phát sinh các quan hệ
ngoài quan hệ hôn nhân gia đình thì thực hiện theo quy định của pháp luật hôn
nhân gia đình và pháp luật dân sự”.
Quy định này dẫn chiếu đến Khoản 2 và điểm b Khoản 3 Điều 4 của Nghị
định này:
“Điều 21. Gửi tinh trùng, gửi noãn, gửi phôi
2. Trường hợp người gửi tinh trùng, gửi noãn, gửi phôi bị chết mà cơ sở
lưu giữ tinh trùng, noãn, phôi nhận được thông báo kèm theo bản sao giấy khai
tử hợp pháp từ phía gia đình người gửi, thì phải hủy số tinh trùng, noãn, phôi
của người đó, trừ trường hợp vợ hoặc chồng của người đó có đơn đề nghị lưu
giữ và vẫn duy trì đóng phí lưu giữ, bảo quản.
3. Trường hợp người gửi tinh trùng, gửi noãn, gửi phôi ly hôn:
b) Trường hợp đề nghị hủy phôi thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của
cả hai vợ chồng; nếu muốn tiếp tục lưu giữ thì phải có đơn đề nghị lưu giữ và
vẫn duy trì đóng phí lưu giữ, bảo quản”.
II. ĐÁNH GIÁ VIỆC XÁC ĐỊNH CHA, MẸ, CON TRONG
TRƯỜNG HỢP SINH CON BẰNG KỸ THUẬT HỖ TRỢ SINH SẢN
1. Thực trạng việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con
bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
Hiện nay, với sự phát triển tiên tiến của nền y học, phương pháp sinh con
bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản ngày càng trở nên phổ biến và được áp dụng rộng
13


rãi. Đã có rất nhiều trường hợp các cặp vợ chồng vô sinh, những người phụ nữ
độc thân có nhu cầu sinh con bằng phương pháp khoa học đã đến bệnh viện, các
cơ sở y tế xin tinh trùng, xin phôi để thực hiện việc thụ tinh nhân tạo, thậm chí là
nhờ mang thai hộ. Tuy nhiên nếu không có các quy định cụ thể để kiểm soát
hoạt động này thì nó không chỉ gây ra những ảnh hưởng lớn tới những cá nhân
sử dụng mà còn mang đến những tác động xấu đến kinh tế xã hội. Chính vì vậy,
nhà nước đã đưa ra nhiều chế tài pháp luật để ngăn chặn những tác hại của việc
lạm dụng biện pháp này, đặc biệt là trong việc xác định cha, mẹ, con bằng các
phương pháp khoa học được sử dụng phổ biến như hiện nay.
Với sự xuất hiện của những điều luật quy định về vấn đề này, phần lớn
người dân đã có nhận thức đứng đắn hơn về tầm quan trọng của việc xác định
cha, mẹ cho đứa trẻ sau khi sinh ra. Bộ y tế đã dựa vào các quy định được Nhà
nước ban hành để áp dụng, xây dựng một cơ chế hoàn chỉnh hơn trong lĩnh vực
này, cụ thể là đưa ra những chính sách riêng nhằm quản lý các bệnh viện để
tránh những việc sử dụng không đúng phương pháp hoặc gây khó khăn trong
việc xác định cha mẹ con.
Để có thể đảm bảo được đứa trẻ có cha mẹ khi sinh ra thì chúng ta phải có
đầy đủ thông tin về những người tham gia vào quá trình thực hiện phương pháp
hỗ trợ sinh sản này. Chính vi vậy, nhà nước đã có những chế tài xử lý nghiêm
khắc với những hành vi mang thai hộ, hiến tinh trùng, thụ tinh trong ống nghiệm
mà trái với pháp luật. Những chế tài này giúp nhà nước có thể dễ dàng hơn trong
việc xác định cha mẹ con, đông thời tạo một môi trường lành mạnh hơn cho
những gia đình đang hiếm muộn.
Tuy nhiên, do phương pháp sinh sản này còn rất mới mẻ nên trong pháp
luật vẫn còn tồn tại những kẽ hở, điều này khiến cho việc xác định cha mẹ con
gặp nhiều khó khăn hơn. Hệ thống các quy định của luật còn nhiều bất cập, chưa
được chặt chẽ, mà việc xác định cha, mẹ, con bằng phương pháp khoa học đã
dẫn đến nhiều hệ lụy khó lường. Cụ thể như hiện nay có nhiều cặp vợ chồng vô
sinh nhờ người thân thích mang thai hộ, thế nhưng sau khi đứa trẻ được sinh ra,
14


một số trường hợp bên mang thai hộ không trả lại con cho bên nhờ mang thai hộ
vì suy nghĩ rằng đó là con của mình “mang nặng đẻ đau” để sinh ra.
Không chỉ vậy, Nhà nước vẫn chưa đưa ra phạm vi, đối tượng điều chỉnh
và những chế tài xử lý cụ thể vẫn còn chưa rõ ràng đối với các trường hợp vi
phạm. Bởi trên thực tế, với thời đại 4.0, mạng xã hội phát triển một cách nhanh
chóng vượt quá sự kiểm soát của các cơ quan chức năng có thẩm quyền, trên
nhiều diễn đàn, hay các nhóm kín của Facebook hay Zalo, một bộ phận không
nhỏ đối tượng rêu rao, kêu gọi, đăng các bài bán tinh trùng, bán noãn để kiếm
tiền. Điều này mang lại rất nhiều hậu quả: thứ nhất, vì họ có thể không chỉ thực
hiện một lần mà còn rất nhiều lần, vô hình chung vẫn là một bố của nhiều đứa
con, hậu quả dẫn đến cả một thế hệ hôn nhân cận huyết là điều không thể tránh
khỏi; thứ hai, đây là hành vi trái pháp luật, là tệ nạn xã hội, gây ảnh hưởng
nghiêm trọng và làm đảo lộn trật tự xã hội.
2. Những điểm mới của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về việc
xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh
sản
Nếu như trước đây, Nhà nước nghiêm cấm việc mang thai hộ (được quy
định tại khoản 1 điều 6 Nghị định số 12/2003/NĐ – CP), nhưng cho đến thời
điểm y học đang dần phát triển ở nước ta, đồng thời tỉ lệ các cặp vợ chồng vô
sinh ngày càng gia tăng, gây ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống gia
đình, thì điều cấm này trở nên không còn phù hợp với hoàn cảnh hiện tại. Hơn
thế nữa, việc sinh con bằng phương pháp khoa học ngày càng trở nên phổ biến,
nhưng đi kèm với nó là hàng loạt những hệ lụy về lâu dài, đòi hỏi Nhà nước cần
phải có những chế tài và biện pháp xử lý đối với những tranh chấp phát sinh sau
đó. Chính vì vậy, Nhà nước ta đã bổ sung thêm vào Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014 cho phép mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, đồng thời quy định
thêm việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ
sinh sản và mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (Điều 93, 94 Luật Hôn nhân và
15


gia đình năm 2014). Đây là một trong những điểm mới và tiến bộ của các nhà
làm luật khi đưa những quy định này vào sửa đổi, bổ sung Luật hôn nhân và gia
đình để phù hợp với tình hình thực tế hiện nay.
Đối với trường hợp những cặp vợ chồng vô sinh, hiếm muộn mong muốn
có con, muốn sinh con bằng phương pháp hỗ trợ sinh sản hay muốn nhờ mang
thai hộ, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định tại như sau:
- Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời
kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Con được sinh ra trong thời hạn 300
ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai
trong thời kỳ hôn nhân.Con được sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được
cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng. (Khoản 1 Điều 93 và khoản 1
Điều 88)
- Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con
chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra. (Điều
94)
Pháp luật đã quy định trong trường hợp con sinh ra trước ngày vợ, chồng
đăng ký kết hôn và được vợ chồng thừa nhận là con chung sẽ không được áp
dụng đối với trường hợp con sinh ra bằng hỗ trợ kỹ thuật sinh sản. Để bảo đảm
nguyên tắc tự nguyện, người vợ trong cặp vợ chồng vô sinh được xác định là mẹ
đứa trẻ trong mọi trường hợp kể cả người mẹ là người nhận tinh trùng, nhận
noãn hay nhận phôi của người khác và người chồng hợp pháp của người mẹ đó
cũng chính là cha đứa trẻ, ngay cả trường hợp người chồng không phải là người
cho tinh trùng. Thêm vào đó, việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không
làm phát sinh quan hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, hoặc
cho phôi với đứa con được sinh ra. Sau khi đưa ra những quy định về sinh con
bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, Nhà nước còn quy định thêm về việc xác định cha,
mẹ, con trong trường hợp này để hạn chế nhất có thể những tranh chấp phát sinh
khi đứa trẻ được sinh ra. Điều này còn cho thấy sự đảm bảo về nguyên tắc tự
nguyện, nguyên tắc vô danh giữa người cho – người nhận, nguyên tắc bảo đảm
16


an toàn về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và được pháp luật
tôn trọng, bảo vệ (quy định tại khoản 2, 3, 4 Điều 3 Nghị định 10/2015/NĐ – CP
của Chính Phủ quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và
điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo).
3. Những điểm bất cập của quy định pháp luật về xác định cha, mẹ,
con trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và một số kiến
nghị
Thứ nhất, việc xác định cha, mẹ, con trong trường hợp người vợ sinh con
bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản từ tinh trùng của người chồng lưu giữ trước khi
chết.
Đối với trường hợp sinh con tự nhiên con sinh ra không trong thời kỳ hôn
nhân việc xác định quan hệ cha, mẹ, con căn cứ vào huyết thống. Người có
chung huyết thống với đứa trẻ là cha, mẹ đứa trẻ. Vậy có thể áp dụng nguyên tắc
này trong việc xác định quan hệ cha, mẹ, con trong trường hợp người vợ sinh
con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản từ tinh trùng của người chồng lưu giữ trước
khi chết không?
Pháp luật đã cho phép sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản với tinh
trùng của người chồng lưu giữ trước khi chết thì cũng nên cho phép xác lập quan
hệ cha mẹ con dựa trên căn cứ huyết thống, con là người có chung huyết thống
với cha mẹ mà không dựa trên căn cứ thời kỳ hôn nhân để bảo vệ quyền và lợi
ích của người mẹ và đứa trẻ.
Thứ hai, việc xác định cha mẹ con trong trường hợp sinh con bằng kỹ
thuật hỗ trợ sinh sản cũng xuất phát từ nguyên tắc chung đó là xác định cha, mẹ,
con khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp (Điều 88, 93 Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2014). Quy định này nhằm đảm bảo mọi quyền lợi cho cặp vợ chồng, người
phụ nữ độc thân và đặc biệt là đứa trẻ. Đối với trường hợp người phụ nữ độc
thân khi sinh con thì áp dụng tương tự như trường hợp xác định cha, mẹ, con khi

17


cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp, trong trường hợp này chỉ có quan hệ giữa
mẹ và con.
Ngoài ra, trong trường hợp xác định cha, mẹ, con cần quy định rõ sau khi
đứa trẻ được sinh ra nếu cha, mẹ không muốn thừa nhận con thì cũng không
được yêu cầu xác định lại. Bởi vì họ là người yêu cầu thực hiện việc sinh con
bằng biện pháp hỗ trợ sinh sản, quan hệ cha, mẹ và con là tất yếu, không thể phủ
nhận. Điều này khác với trường hợp sinh con tự nhiên vì người chồng có quyền
yêu cầu xác định lại quan hệ cha con khi không tin tưởng đứa trẻ là con ruột của
mình. Tuy nhiên, trong những trường hợp đặc biệt nếu cặp vợ chồng, người phụ
nữ độc thân nghi ngờ cơ sở y tế và có thể có sự nhầm lẫn trong quá trình thực
hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì có nên cho phép họ được quyền yêu cầu xem
xét lại.
Vấn đề xác định cha, mẹ, con trong trường hợp vợ chồng ly hôn. Quy
định tại khoản 4 Điều 21 Nghị định số 10/2015/NĐ-CP trong trường hợp hai vợ
chồng ly hôn người vợ sử dụng phôi để sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
làm phát sinh các quan hệ ngoài quan hệ hôn nhân gia đình thì thực hiện theo
quy định của pháp luật hôn nhân gia đình và pháp luật dân sự. Với quy định như
vậy thì “quan hệ ngoài hôn nhân và gia đình” được hiểu như thế nào? Thiết
nghĩ, pháp luật cần phải quy định cụ thể, nếu không sẽ gây khó khăn trong việc
áp dụng trong việc giải quyết các quan hệ đó, nếu phát sinh tranh chấp.
Thứ ba, thủ tục xác định lại cha, mẹ, con còn hạn chế đối với trường hợp
mang thai hộ và trường hợp thụ tinh trong ống nghiệm
Trường hợp mang thai hộ, đây là một chế định mới trong Luật Hôn nhân và
gia đình năm 2014 so với năm 2000. Chính vì sự mới mẻ này mà việc áp dụng
các quy định này trên thực tế chưa nhiều và khi áp dụng vào thực tiễn còn nhiều
vướng mắc. Cho nên để hạn chế tối đa những rủi ro xảy ra, Nhà nước cần đưa ra
các văn bản hướng dẫn cụ thể hơn về thẩm quyền cũng như thủ tục xác định lại
cha, mẹ, con trong trường hợp này.
18


Trường hợp sinh con bằng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm, mặc dù
các quy định về xác định lại cha, mẹ, con trong trường hợp này đã được quy
định cụ thể trong Luật Hôn nhân và gia đình 2014 và Nghị định 10/2015/NĐ –
CP Quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện
mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, tuy nhiên, các quy định cụ thể về quyền
được yêu cầu xác định lại cha, mẹ, con vẫn chưa được đưa ra. Đã có nhiều
trường hợp trên thực tế đứa trẻ được sinh ra bằng phương pháp khoa học này
không mang gen của bố, mẹ dẫn đến hậu quả người mẹ sau khi sinh con ra bỏ
rơi con hoặc không muốn nhận con. Điều này dẫn đến sự khó khăn trong việc
xác định đồng thời không đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đứa trẻ
sinh ra bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm.
KẾT LUẬN
Hiện nay, việc áp dụng các kĩ thuật hỗ trợ sinh sản để sinh con được áp
dụng ở rất nhiều nước trên thế giới và cả ở Việt Nam. Mặc dù pháp luật nước ta
đã có một số quy định liên quan đến vấn đề này, đặc biệt là việc xác định cha,
mẹ, con trong trường hợp sinh con bằng các phương pháp hỗ trợ sinh sản, nhưng
các quy định này vẫn cần được hoàn thiện hơn để tạo điều kiện thuận lợi cho
việc ứng dụng vào thực tế cuộc sống, từ đó giúp tạo tiền đề để xây dựng mỗi gia
đình Việt nam ấm no, tiến bộ, hạnh phúc.
Bài viết của nhóm chúng em còn nhiều thiếu sót, kính mong thầy cô góp ý
để bài làm được hoàn thiện hơn. Chúng em xin chân thành cảm ơn.

19


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
2. Nghị định 10/2015/NĐ-CP quy định về sinh con bằng kỹ thuật thụ tinh
trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
3. Nguyễn Thị Lan, Xác định cha, mẹ, con theo Luật Hôn nhân và gia
đình Việt Nam - Cơ sở lí luận và thực tiễn, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại
học Luật Hà Nội, 2010.
4. Phạm Thị Hồng Đào, Quy định của pháp luật về xác định cha, mẹ, con
bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản và kiến nghị, Trang thông tin điện tử Bộ Tư pháp
đăng ngày 24/5/2017.
5. Thông tin phổ biến giáo dục pháp luật về Y tế số 03 tháng 09/2014:
Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.
6. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật Hôn nhân và gia đình
Việt Nam, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội, 2012.
7. TS. Ngô Thị Hường (chủ biên), Hướng dẫn học tập, tìm hiểu Luật Hôn
nhân và gia đình Việt Nam, NXB Lao động năm 2015.
8. Viện Đại học Mở, Giáo trình luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam,
NXB. Tư pháp, Hà Nội, 2015.
9. Vũ Ngọc Huy, Xác định cha, mẹ con trong trường hợp sinh con bằng
kỹ thuật hỗ trợ sinh sản theo pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Hà
Nội, 2017.

20


21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×