Tải bản đầy đủ

Giải pháp góp phần phát triển kỹ năng giao tiếp tiếng anh của học sinh ở các trường tiểu học

[Type text]

I.PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập
với cộng đồng quốc tế, đặc biệt hơn nước ta đã chính thức là thành viên của WTO.
Vậy nên Tiếng Anh trở nên vô cùng quan trọng và là chiếc cầu nối không thể thiếu
để Việt Nam sánh vai và hòa nhập với các nước trên thế giới, nó được xem như
một ngôn ngữ toàn cầu, là phương tiện đặc biệt hữu ích phục vụ
cho việc giao tiếp, trao đổi kinh tế, văn hóa...v..v..trên toàn thế
giới.
Đã nhiều năm nay Tiếng Anh được đưa vào giảng dạy trong
các trường phổ thông theo quan điểm chủ điểm ( Thematic
approach) và đường hướng giao tiếp. Các chủ điểm trong chương
trình Tiếng Anh được phân thành các chủ đề cụ thể, liên tục và
dần dần mở rộng theo nguyên tắc xoáy ốc giúp học sinh luôn củng
cố và phát triển nội dung kiến thức và kĩ năng ngôn ngữ đã học.
Các kĩ năng được luyện tập phối hợp qua đó phát triển kĩ năng
nghe, nói, đọc, viết của học sinh và phát triển kĩ năng giao tiếp .Vì
thế người học phải thành thạo và lưu loát ở các kỹ năng ngôn ngữ nghe, nói, đọc và
viết để giao tiếp. . Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã và đang thúc đẩy

việc dạy và học ngoại ngữ với đề án phát triển ngoại ngữ Quốc gia
năm 2020 xác định mục tiêu cơ bản của việc dạy và học tiếng Anh ở tiểu học,
đó là: “Dạy và học tiếng Anh ở tiểu học nhằm giúp học sinh có một công cụ giao
tiếp mới, bước đầu có khả năng giao tiếp đơn giản bằng tiếng Anh một cách tự tin,
tạo tiền đề để các em có thể sử dụng tiếng Anh trong học tập, hình thành thói quen
học tập suốt đời để trở thành những công dân toàn cầu tương lai trong thời kì hội
nhập.” . Điều này đã thể hiện sự ý thức đầy đủ và định hướng quyết


[Type text]
tâm của các cấp quản lí GD trong việc trang bị cho những chủ
nhân tương lai của đất nước ngôn ngữ chìa khóa này.
Trước yêu cầu đó, đặt ra cho mỗi giáo viên dạy tiếng Anh tiểu học một nhiệm
vụ là phải làm thế nào để giúp các em học sinh mạnh dạn, tự tin trong giao tiếp.
Đề tài mà tôi nghiên cứu là "Giải pháp góp phần phát triển kỹ năng giao tiếp
Tiếng Anh của học sinh ở các trường tiểu học”.. Với việc nghiên cứu đề tài này,
tôi mong muốn sẽ phần nào giúp giáo viên dạy tiếng Anh tiểu học có được phương
pháp tích cực trong phát triển kỹ năng giao tiếp cho học sinh, giúp học sinh tích
cực, chủ động, tự tin hơn trong giao tiếp. Sử dụng tốt Tiếng Anh trong giao
tiếp đang là mục tiêu hướng đến của hoạt động dạy - học môn
Tiếng Anh.
2. Những điểm mới của đề tài.
- Tổ chức nhóm học tập nhằm khai thác tối đa sự giúp đỡ lẫn nhau (cooperation).
- Sử dụng ngôn ngữ Tiếng Anh một cách thường xuyên trong các hoạt động
giao tiếp của cô và trò.
- Rèn luyện cho học sinh nói đúng và chuẩn ngay từ khi mới học Tiếng Anh.
-Tạo cho các em môi trường giao tiếp.
3. Phạm vi nghiên cứu.
Đề tài được nghiên cứu qua thực tế giảng dạy của bản thân tôi với đối tượng là
học sinh lớp 5 . Những vấn đề tôi gặp phải là những vấn đề chung của bộ môn
Tiếng Anh tiểu học, đặc biệt là đối với học sinh lớp 5 – theo chương trình tiếng Anh
mới của Bộ GD & ĐT. Hệ thống giải pháp dễ áp dụng, phù hợp với đặc thù bộ môn
và đã được chứng minh qua thực nghiệm giảng dạy của bản thân tôi. Chính vì thế,
đề tài này có thể áp dụng rộng rãi tại các trường tiểu học.
II. PHẦN NỘI DUNG


[Type text]
1. Thực trạng về kỹ năng giao tiếp môn Tiếng anh 5 trong đơn vị.
Vào đầu năm học 2018 - 2019, tôi được phân công giảng dạy môn Tiếng Anh


lớp 5 mới theo chương trình SKG của Bộ GD&ĐT. Điểm mới của chương trình là
dạy - học chú trọng kỹ năng nghe - nói nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp của học
sinh. Điều này đòi hỏi phải có sự thay đổi về mặt phương pháp, thủ thuật dạy của
giáo viên, phương pháp học tập của học sinh, đồng thời cũng yêu cầu đáp ứng về
cơ sở vật chất trang thiết bị dạy phù hợp mới mong mang lại hiệu quả tốt nhất cho
các tiết dạy.
Thực tế trong đơn vị có những thuận lợi và khó khăn sau:
1.1 Thuận lợi
*Chương trình sách giáo khoa:
- Được xây dựng xoay quanh các chủ đề quen thuộc, sát thực với cuộc sống
hàng ngày của học sinh.
- Ngữ liệu được giới thiệu và luyện tập thông qua các tình huống sinh động,
phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh, giúp các em phát triển
năng lực giao tiếp
- Nhà trường không ngừng mua sắm các trang thiết bị phục vụ cho môn
Tiếng Anh
*Về phía giáo viên:
-Không ngừng trau dồi chuyên môn, trao đổi kinh nghiệmvới đồng nghiệp để
ngày càng có được những phương pháp phù hợp: Bản thân đã được tham gia tập
huấn chương trình SKG Tiếng Anh 5 mới, nên nắm vững cơ cấu chương trình, cũng
như phương pháp dạy - học cơ bản.
- Thường xuyên học tập nâng cao trình độ: Bản thân đã tham gia lớp học nâng
cao năng lực ngoại ngữ vào dịp hè do Phòng Giáo dục tổ chức.
- Tăng cường tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm, cặp để phát huy sức mạnh
tập thể, hỗ trợ lẫn nhau trong học tập.


[Type text]
- Thường xuyên đổi mới các hình thức tổ chức dạy học tạo hứng thú, đam mê
học tập cho học sinh.
* Về phía học sinh:
- Học sinh rất hào hứng với bộ môn Tiếng Anh, nên ý thức học tập của các em
rất tốt. Đặc biệt thực hiện Công văn 784/GDĐT-TH của Phòng GD&ĐT Lệ Thủy
về việc cải thiện môi trường Tiếng Anh cấp Tiểu học, với sự thay đổi tích cực về
môi trường Tiếng Anh, trong đó bao gồm cả không gian, cảnh quan trường lớp, lẫn
các hoạt động bổ trợ dạy học bộ môn, đã có tác động hết sức tích cực đến hứng thú
học tập của học sinh
- Nhiều học sinh đã hình thành được kỹ năng học tập môn Tiếng Anh, tích cực
chủ động lĩnh hội kiến thức và có ý thức vận dụng tốt.
- Đồ dùng học tập, sách giáo khoa, sách bài tập đầy đủ.
1.2. Khó khăn
- Giáo viên sử dụng Tiếng Anh trong tiết dạy còn ít nên chưa tạo được thói
quen nói bằng Tiếng Anh cho học sinh.
-Trong các tiết luyện nói chỉ dừng lại ở mức độ nói một hoặc một vài câu đối
thoại theo mẫu nên chưa đạt yêu cầu theo ý nghĩa giao tiếp.
- Một số em ngại nói bằng tiếng Anh vì không có môi trường giao tiếp ngoài
giờ học, ít được cọ xát, và còn sợ bị mắc lỗi. Các em ngại hoặc sợ nói Tiếng Anh,
hoặc khi gặp tình huống cụ thể thì thiếu tự tin.
- Học sinh ít có cơ hội tiếp xúc với người nước ngoài nên hạn chế việc giao
tiếp.
1.3. Tình hình thực tế của học sinh
Bước vào năm học các em đã bộc lộ rõ khả năng của mình trong môn học .
Tôi tìm hiểu, quan sát để nắm được khả năng của các em. Sau cuộc khảo sát đầu
năm về kĩ năng nói với một số dạng đề để phân loại đối tượng học sinh để từ đó có
biện pháp cụ thể.


[Type text]
*Interview
1.What’s your name? / How are you? / How old are you?
2.Where do you live? / What your hometown like?
3.What do you do in the morning/ afternoon/ evening?
4.Where did you go on holiday? / How did you get there?
5.How many lessons do you have today?
- Mức Giỏi: Học sinh trả lời thành thạo và tự tin các câu hỏi trên.
- Mức khá: Học sinh trả lời được các câu hỏi
- Mức trung bình: Học sinh trả lời được các câu hỏi về bản thân : câu 1,2,3
- Mức yếu: Học sinh mới chỉ trả lời được về tên, tuổi: Câu 1
Kết quả kỹ năng nói đầu năm học 2018 – 2019
Lớp

SS

Giỏi
SL

Khá

TBình

Yếu /Kém

TrênTBình

TL

SL TL

SL

TL

SL

TL

SL

TL

51

26 3

11,5

7

26,9

14

53,9

2

7,7

24

92,3

52

28 4

14,3

6

21,4

13

46,4

5

17,9

23

82,1

Những nhận xét sau kiểm tra:
Căn cứ vào kết quả khảo sát, tôi thấy: Hầu hết học sinh còn rụt rè, ngại nói sai,
chưa thật sự tự tin trong giao tiếp nên kết quả tỉ lệ học sinh nói Tiếng Anh yếu còn
cao, một số em trả lời các câu hỏi cá nhân về bản thân còn chưa trả lời được.
Nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp cho học sinh tại trường Tiểu học nói chung
và tại trường tôi đang công tác nói riêng, tôi mạnh dạn đưa ra các giải pháp như
sau:
2. Giải pháp góp phần phát triển kĩ năng giao tiếp Tiếng Anh cho học sinh
.
2.1 Tổ chức nhóm học tập nhằm khai thác tối đa sự giúp đỡ lẫn nhau (cooperation).
Thảo luận nhóm (Group discussion) là kỹ năng vừa giúp bạn phát huy được
sức mạnh trí tuệ tập thể vừa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của từng thành
viên. Các em được phân nhóm nhỏ từ 3 đến 5 em cùng thảo luận một vấn đề nhỏ


[Type text]
trong việc học môn Tiếng Anh hoặc học sinh có thể bắt cặp đôi, các em tự do trao
đổi chủ đề mà giáo viên vừa đưa ra. Kết thúc thảo luận học sinh trình bày lại bằng
Tiếng Anh.
Hình thức làm việc theo cặp thích hợp với hoạt động hội thoại giữa hai người
với nhau, do vậy sẽ phù hợp với các loại bài tập:
1) Luyện mẫu câu sau phần giới thiệu ngữ liệu mới và sau một vài phút
luyện tập với cả lớp (Giáo viên - học sinh; nửa lớp - nửa lớp, cặp mở, cặp đóng).
2) Luyện các bài hội thoại ngắn: đóng lại bài hội thoại, làm các bài hội thoại
tương tự với gợi ý cho sẵn.
3) Các bài tập luyện giao tiếp.
Hình thức làm việc theo cặp nhóm có nhiều ưu điểm, đặc biệt trong việc
luyện tập các chức năng lời nói song trong thực tế, khi học sinh làm việc theo cặp
hoặc nhóm, giáo viên không thể kiểm soát hết được lời nói của học sinh và cũng
không nhất thiết phải kiểm soát hết.
Có nhiều cách tổ chức làm việc theo cặp, nhóm.
* Hoạt động cặp :
a- Giữa giáo viên và học sinh
b- Cặp mở : Giữa hai học sinh không ngồi gần nhau.
c- Cặp đóng : Giữa hai học sinh ngồi kề nhau.
Với hình thức này giáo viên phải quy định nhiệm vụ của từng học sinh trong cặp –
hỏi trả lời và ngược lại hoặc vai A - vai B và ngược lại đổi vai.
* Hoạt động nhóm:
Trong trường hợp tổ chức làm việc theo nhóm nếu lớp chật, thì có thể tổ
chức cho hai học sinh ngồi ở hai hàng ghế sát nhau ngồi quay đầu lại với nhau tạo
thành nhóm 4 người mà không cần học sinh di chuyển nhiều trong lớp, không làm
lãng phí thời gian.
- Khi chia nhóm phải đảm bảo phù hợp về số lượng.


[Type text]
- Cần phân đều số lượng học sinh cho mỗi nhóm (giỏi, khá, trung bình)
- Một nhóm có bao nhiêu học sinh là tuỳ ở sĩ số của lớp.
- Yếu tố ảnh hưởng đến chia nhóm là vị trỗ ngồi của học sinh trong nhóm.
- Có thể đặt tên cho các nhóm bằng Tiếng Anh như theo chữ số, màu sắc, loài
hoa, con vật hay những tính từ mà các em thích ...
* Một số ví dụ để tổ chức cho hoạt động cặp, nhóm.
Hoạt động luyện tập cặp
Example1: ( English 5 ) -Unit 11.What’s the matter with you? Lesson 1: ( 1,2,3)
+ Activity 1: Giáo viên sử dụng những bức tranh về các vấn đề sức khỏe thường
gặp ( common healthy problems), học sinh luyện tập theo cặp ( using the pictures)
Eg:

S1: What’s the matter with you?
S2: I have a toothache.

Tương tự các cặp khác lần lượt luyện tập theo các bức tranh,
+ Activity 2: Tổ chức cho học sinh luyện tập theo nhóm dưới hình thức:
Brainstorming :Tự đưa ra các vấn đề sức khỏe của bản thân và giao tiếp với bạn.
Hoạt động luyện tập nhóm
+ Take a survey : (Group work).
Mục đích của hoạt động này là giúp học sinh ôn lại cách hỏi và trả lời về các vấn
đề sức khỏe thường gặp
Cách tổ chức: chia lớp thành 4 nhóm – Các nhóm hỏi đáp theo cặp các thành
viên trong nhóm.
Example
Common healthy problems survey. By.................
Name
Healthy problem
Minh
fever
Ly
Sore throat
…..
…………………..
* Khi tiến hành các hoạt động cặp hoặc nhóm, cần lưu ý :


[Type text]
+ Giáo viên phải có sự chuẩn bị tốt. Có mẫu hoặc ví dụ cho trước, cung cấp
đủ ngữ liệu cần thiết cho bài tập.
+ Quy định thời gian luyện tập.
+ Cần phân cặp hay nhóm hợp lý, có thể chọn học sinh có cùng trình độ,
hoặc khác trình độ nhận thức để làm việc với nhau tuỳ theo từng ý đồ và tính chất
của bài tập. Đề ra quy ước bắt đầu và kết thúc hoạt động (gõ thước, vỗ tay).
+ Có sự theo dõi, bao quát chung của giáo viên. Có sự hỗ trợ kịp thời của
giáo viên khi học sinh trong nhóm gặp khó khăn (giáo viên đi quanh lớp lắng nghe
và giúp đỡ những học sinh yếu và giải đáp thắc mắc của học sinh).
+ Sau khi học sinh hoàn thành bài tập trong nhóm, cần có sự kiểm tra phản
hồi kịp thời như nhận xét, góp ý kiến, chữa lỗi hoặc cung cấp mẫu đúng.
+ Khi hoạt động nhóm giáo viên có thể kết hợp nhiều phương pháp giúp học
sinh luyện tập như: repetition, substitution, change into form và kết hợp các đồ
dùng dạy học như máy chiếu, tranh ảnh, phiếu học tập, bảng phụ để hướng dẫn...
2.2. Sử dụng ngôn ngữ Tiếng Anh một cách thường xuyên trong các
hoạt động giao tiếp của cô và trò.
Đa số giáo viên Tiểu học dạy Tiếng Anh “ lười” nói Tiếng Anh trong các tiết
dạy, giáo viên còn nói Tiếng Việt nhiều . Tôi nghĩ đây là một trong những lí do làm
cho học sinh chưa tự tin khi đàm thoại bằng Tiếng Anh. Như chúng ta đã biết, học
sinh Tiểu hoc còn rất ngây thơ và dễ bắt chước, nếu giáo viên thường xuyên nói
Tiếng Anh thì những câu nói đó sẽ thấm dần vào tâm trí của học sinh, khi cần nói
tự nhiên các em sẽ tự phát ra được.
Theo phương pháp đổi mới, các em được khuyến khích sử dụng Tiếng Anh càng
nhiều càng tốt tùy theo trình độ của đối tượng.Trong lớp học cần tạo cơ hội cho học
sinh giao tiếp bằng nhiều hình thức: T- Whole class, T-S, S –S. Giáo viên là người
hướng dẫn các em làm quen với đàm thoại từ những tình huống đơn giản đến đàm
thoại theo chủ điểm, chủ đề.


[Type text]
Trong các hoạt động trên lớp, thường thường giáo viên cần sử dụng toàn bộ
tiếng Anh (mainly English), đôi khi phải dùng Tiếng Việt (mainly Vietnamese)
và đôi khi sử dụng cả hai ngôn ngữ ( a mixture of the two languages)
English
Introducing the lesson
Checking attendance
Organizing
Classroom control / discipline
Giving praise
Presenting new language
Introducing a new text
Asking questions on the text
Correcting errors
Setting homework

Vietnamese

Both












Trong các tiết dạy tôi thường xuyên sử dụng những câu lệnh, những mẫu câu
giao tiếp bằng Tiếng Anh đơn giản như chào hỏi, hỏi sức khỏe , hỏi ngày tháng
trước khi bắt đầu tiết học.
Ví dụ: Beginning of lesson:
*Good morning. How are you?
Example:

T: Goodmorning, everybody!. How are you today?
Ss: Goodmorning, teacher. We’re fine.
T: What’s the weather like today?
Ss: It’s sunny.
T: What’s the date today?
Ss: It’s the seventh of January.
*Did you have a nice weekend?
*Have you done your homework?
*Let’s play a game now, shall we?
*Are you ready?


[Type text]
Ask for repetition:
*Would you mind repeating…?
*Could you say it again?
*Pardon?
Asking for clarification:
*What is it? Please tell me again.
*What do you mean?
*Could you explain more about..?
Ask for ideas/opinions
*What do you think about that…(name)?
*Do you have any ideas/opinions?
*How about you?
Checking:
*Is that clear?
*Okay so far?
*Have you got it / that?
2.3 Rèn luyện cho học sinh phát âm chuẩn từ vựng và đúng ngữ điệu
Nhiều người quan điểm rằng học sinh tiểu học còn nhỏ, không cần phát âm
chuẩn như người bản xứ nhưng đối với tôi thì ngược lại: Phải tập cho học sinh nói
đúng và chuẩn ngay khi mới học Tiếng Anh. Bởi người xưa có câu “ Tre già dễ
uốn” và một phần vì kinh nghiệm bản thân đã nhiều năm dạy Tiếng Anh ở Tiểu học
nên tôi thấy được những mặt hạn chế của học sinh mình. Nếu giáo viên lơ là trong
việc sửa lỗi phát âm, không chú ý đến trọng âm từ, ngữ điệu câu thì khi nghe người
phát âm đúng các em sẽ không nhận ra và không hiểu được người đối diện đang
nói gì. Mặt khác các em sẽ lúng túng, không biết thầy mình dạy đúng hay người đó
nói đúng, làm cho người khác e dè, thiếu tự tin trong giao tiếp


[Type text]
Thực tế, ngữ điệu rất quan trọng trong việc giao tiếp đàm
thoại với ngời khác, đặc biệt là ngời nớc ngoài. Có thể những từ
mà sự phát âm cha thật đúng nh tiết tấu, ngữ âm, ngữ điệu
mà đúng thì ngời nớc ngoài cũng sẽ hiểu. Ngợc lại nếu ta phát
âm các từ đúng, mà tiết tấu, ngữ âm, ngữ điệu lại sai thì ngời
nớc ngoài cũng sẽ khó hiểu thậm chí không hiểu là gì. Nhiều ngời khi mới học tiếng Anh thờng nghĩ rằng chỉ cần phát âm đúng
các từ mà không chú ý đến tiết tấu, ngữ âm, ngữ điệu. Thực ra
phát âm đúng các từ mới chỉ là điều kiện cần nhng cha đủ.
Trong câu nói của ngời Anh ta thấy có hiện tợng khác hẳn,
nhng vẫn đợc "nhấn giọng" xuất hiện gần nh cách đều nhau
trong dòng chảy âm thanh, giữa chúng là vẫn nói nhanh và lớt
qua - không nhấn mạnh, tạo cho ngời nghe cảm giác là ngời Anh
nói nhanh hơn ngời Việt. Trong một câu tiếng Anh bình thờng,
những từ có ý nghĩa, có nội dung diễn đạt chính thờng đợc
"nhấn giọng". Những loại câu nói khác nhau sử dụng ngữ điệu
khác nhau.
Ví dụ :
His name

is Tam

(Tên anh ấy là Tam).
Nhng:
His name

is Tam?

(Tên anh ấy là Tam phải không?).
Giỏo viờn thng xuyờn cho hc sinh nghe bng a, cho cỏc em tip xỳc nhiu
vi ging c chun ca ngi bn x v cho cỏc em nghe lp i lp li nhiu ln,
chỳ ý ng iu cõu, khuyn khớch cỏc em bt chc ging c trong bng a, cú


[Type text]
như vậy các em sẽ ph¸t ©m chuÈn vµ ®óng ng÷ ®iÖu tõ ®ã c¸c em
sÏ m¹nh d¹n, tự tin khi giao tiếp.
2.4 Sử dụng cử chỉ điệu bộ khi đối thoại.
Như các thầy cô đã biết người nước ngoài khi nói chuyện với người khác họ
thường sử dụng nét mặt, cử chỉ, điệu bộ để diễn đạt điều mướn nói, làm cho người
đối diện dễ hiểu và có cảm giác gần gũi trong giao tiếp. Tại sao chúng ta học ngôn
ngữ của họ mà không học cách thể hiện như thế để hoàn thiện hơn trong giao tiếp?.
Đây là lí do mà tôi chọn biện pháp này để góp phần tạo sự tự tin khi giao tiếp
Tiếng Anh.
Tôi thường yêu cầu học sinh khi đối thoại thì phải nói kết hợp với sử dụng cử
chỉ điệu bộ, điều này giúp các em nhớ mẫu câu lâu hơn và góp phần phát triển tốt
kĩ năng giao tiếp.
Example: Unit 11: What’s the matter with you? Lesson 1: Part 2: Point and say
Nam: What’s the matter with you?
( Thể hiện thái độ lo lắng, đưa tay về phía bạn)
Mai: I have a headace.
( Nam ôm đầu)
2.5 Tạo cho học sinh môi trường giao tiếp.
Môi trường giao tiếp có vai trò quan trọng đối với hoạt động học tập của học
sinh, môi trường giao tiếp tích cực sẽ giúp học sinh tự tin, năng động trong việc
rèn luyện kỹ năng giao tiếp và sử dụng ngoại ngữ thành thạo.Chúng ta nên tạo môi
trường nói Tiếng Anh từ những câu nói đơn giản nhất nhằm tạo thói quen nói
Tiếng Anh cho các em để học sinh thường xuyên sử dụng Tiếng Anh trong giao
tiếp thực tế.
Để tạo dựng thói quen này, tôi tổ chức cho các em sinh hoạt Câu lạc bộ nói
Tiếng Anh : Tôi chia lớp thành các nhóm từ 4-6 em, cứ sau một chủ điểm ( 2-3
Units) sinh hoạt một lần. Các em được luyện nói theo chủ đề, chủ điểm mà các em


[Type text]
đã được học, tôi hướng dẫn cách thức làm việc, cùng với chủ nhiệm CLB soạn nội
dung và trò chơi phù hợp với chủ điểm, sau đó các em tự sinh hoạt dưới sự điều
hành của bạn lớp trưởng đóng vai trò là chủ nhiệm CLB và các bạn trưởng nhóm.
Ví dụ : Trong buổi sinh hoạt CLB nói Tiếng Anh, sau chủ điểm 1( sau Unit
3), tôi tổ chức cho các em sinh hoạt : “Talk about Personal information” giúp học
sinh rèn luyện thành thạo các cách chào hỏi, giới thiệu về bản thân, hỏi nhau về
tuổi tác, nơi ở, các thành viên trong gia đình…Greeting, Introducing yourself,
describing family and family members, asking about ages, address…..
Giáo viên cần tổ chức các buổi sinh hoạt ngoại khóa, câu lạc bộ Tiếng Anh
tạo cho học sinh môi trường giao tiếp, có cơ hội giao lưu, hỏi đáp cùng bạn về
những chủ đề quen thuộc, gần gũi trong cuộc sống
Vào các buổi sáng chào cờ thứ 2 đầu tuần nhà trường thường tổ chức cho
học sinh giao lưu Tiếng Anh, cho học sinh lên trình bày các topic đơn giản về các
chủ đề quen thuộc hàng ngày như: bản thân, gia đình, thói quen, sở thích…. Sau đó
các em tự do hỏi đáp lẫn nhau. Tôi nhận thấy các em rất hào hứng khi trình bày
trước bạn bè, trước trường và rất nhiều em xung phong để được hỏi đáp cùng bạn
bè. Trong các buổi sinh hoạt ngoại khóa Tiếng Anh các em còn được giao lưu, hát
múa những bài hát Tiếng Anh cùng bạn, cùng thầy cô; được nghe những câu
chuyện bằng Tiếng Anh, chơi những trò chơi Tiếng Anh.
*Để chuẩn bị cho buổi sinh hoạt ngoại khóa giao lưu hùng biện Tiếng
Anh:
-Về nội dung: + Phát động các lớp tự đưa ra câu hỏi, câu đố, bài hát… bằng
Tiếng Anh liên quan đến các chủ đề đã học hoặc thực tế.
+ Giáo viên lựa chọn học sinh hùng biện, sắp xếp nội dung, chương trình.
*Tiến trình tiến hành:


[Type text]
-Để tạo không khí thân mật, vui tươi, phấn khởi tôi thường cho học sinh hát
một số bài hát Tiếng Anh thiếu nhi vui nhộn, vừa hát vừa múa : Baby shark; head
shoulder, knee, toes……
-Tổ chức trò chơi tập thể: shark attack để học sinh đoán từ “ ENGLISH
SPEAKING CLUB”.
- Trò chơi hái hoa dân chủ: mỗi em bốc 1 câu hỏi để trả lời để tất cả các đối
tượng học sinh đều được tham gia và tự tin hơn trong cuộc chơi, tôi phân câu hỏi
ra thành 3 loại tương đương với 3 loại hoa khác nhau: Hoa đỏ câu hỏi khó, hoa
xanh câu hỏi trung bình, hoa vàng câu dễ, sau mỗi câu trả lời đúng các em nhận
được 1 món quà nhỏ.
Phần hùng biện bằng Tiếng Anh: 3 em đại diện lên bốc thăm chủ đề hùng biện
của mình, các em tự tin trình bày topic và trả lời các câu hỏi của các bạn khán giả.
Ba giải thưởng sẽ được trao cho 3 bạn thể hiện phần thi của mình, giải nhất sẽ trao
cho bạn nào nói Tiếng Anh trôi chảy nhất, nội dung súc tích nhất, phong cách tự tin
nhất và trả lời câu hỏi nhanh và đúng nhất.
Cuối buổi sinh hoạt giáo viên nhận xét, rút kinh nghiệm, tuyên dương một số
em điển hình nói Tiếng Anh tốt, động viên các em phát huy năng lực của mình,
khích lệ các em cố gắng sử dụng Tiếng Anh mọi lúc mọi nơi có thể ví dụ như trên
đường về nhà, trong giờ ra chơi….
Những hoạt động giao lưu, vui chơi ngoại khóa này thật sự bổ ích và lí thú
với học sinh Tiểu học. Các em thấy vui vẻ, hứng thú với Tiếng Anh vì vừa được
học, vừa được chơi, vừa được giao lưu học hỏi với nhau. Đây chính là hoạt động
giao tiếp của các em .
3. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU KHI ÁP DỤNG ĐỀ TÀI:
Với việc vận dụng sáng kiến kinh nghiệm này, bản thân tôi đã đạt được
một số kết quả hết sức khả quan. Trước hết, học sinh có hứng thú học tập hơn,
tích cực chủ động sáng tạo để mở rộng vốn hiểu biết, đồng thời cũng rất linh


[Type text]
hoạt trong việc thực hiện nhiệm vụ lĩnh hội kiến thức và phát triển kỹ năng.
Không khí học tập sôi, nổi nhẹ nhàng. Học sinh có cơ hội để khẳng định mình,
không còn lúng túng, lo ngại khi bước vào giờ học, tự tin hơn trong giao tiếp.
Đây cũng chính là những nguyên nhân đi đến những kết quả tương đối khả
quan của các lớp mà tôi đã dạy. Kết quả kĩ năng nói trong bài kiểm tra cuối kì
I năm 2018- 2019
Lớp

SS

Giỏi

Khá

TBình

Yếu /Kém

TrênTBình

SL

TL

SL

TL

SL

TL

SL

TL

SL

TL

51

26

7

26,9

12

46,2

7

26,9

0

0

26

100

52

28

6

21,4

15

53,6

7

25

0

0

28

100

*Những nhận xét sau kiểm tra:
Nhìn vào bảng kết quả cho thấy tỉ lệ hoạc sinh khá giỏi tăng lên đáng kể, tỉ lệ
học sinh trung bình giảm xuống, tỉ lệ học sinh yếu không còn. Từ kết quả trên cho
thấy, nếu giáo viên đầu tư tốt cho giảng dạy, áp dụng phương pháp phù hợp thì
chúng ta sẽ gặp hái được chất lượng và hiệu quả như mong muốn.
III. PHẦN KẾT LUẬN
1. Ý nghĩa của đề tài:
Qua thực tế giảng dạy ở trường, tôi có thể nói rằng việc nâng cao chất lượng
dạy và học Tiếng Anh cho học sinh là vô cùng quan trọng vì: Nếu như các em có
được hứng thú đối với môn học thì các em mới nỗ lực phấn đấu hết mình để đạt
được kết quả cao trong học tập.
Vì vậy luôn luôn học tập đổi mới, làm cho trẻ bất ngờ về khả năng làm mới
phong cách dạy của mình là thành công lớn của thầy cô trong việc thu hút trẻ học
môn Tiếng Anh. Tuỳ từng hoàn cảnh thời gian, địa điểm và điều kiện vật chất tinh
thần cụ thể mà giáo viên có thể sáng tạo ra cách giảng dạy Tiếng Anh mới cho tiết


[Type text]
học. Phương pháp dạy học phải phù hợp với đặc điểm của từng lớp học sinh; tác
động đến tình cảm, đem lại niềm vui, tạo được hứng thú học tập cho học sinh.
Sau khi áp dụng thành công đề tài này bản thân tôi đã gặt được những kết quả
đáng kể và những kinh nghiệm quý báu cho bản thân như sau:
- Giáo viên phải luôn tạo môi trường ngoại ngữ trong giờ học và phải sử
dụng tiếng Anh như là ngôn ngữ chính để giao tiếp. Tùy theo khối lớp và đối tượng
học sinh, giáo viên có thể sử dụng những câu tiếng Anh ngắn gọn, đơn giản, dễ
hiểu, dễ nhớ, dễ thuộc.
- Phải luôn biết khích lệ học sinh sử dụng kiến thức đã học để sử dụng trong
giao tiếp.
- Không nên quá chú ý đến lỗi của học sinh trong khi nói. Hãy để các em nghe
và nói tự nhiên. Đừng bao giờ buộc học sinh phải dừng nói trong khi học sinh đó
đang cố gắng diễn tả ý nghĩa của mình bằng tiếng Anh, làm như vậy sẽ khiến các
em cảm thấy sợ mắc lỗi khi nói.
- Nên lồng ghép các hoạt động nghe và nói tiếng Anh với hình thức " vừa
chơi - vừa học",hướng dẫn các em tập nghe tiếng Anh qua đài, tivi, nghe các bài hát
bằng tiếng Anh ....
Bằng việc tạo ra các môi trường ngoại ngữ như vậy thì học sinh mới có thể tự
tin giao tiếp .
Giáo viên cần phải chọn, sử dụng và phối hợp linh hoạt các phương pháp
giảng dạy để đưa lại hiệu quả cao nhất.
2. Kiến nghị, đề xuất:
Xuất phát từ thực tiễn giảng dạy,mục đích dạy học cũng như những thành
công và hạn chế trong khi thực hiện đề tài, để góp phần cho việc dạy tiếng Anh nói
chung, và phát triển kỹ năng giao tiếp nói riêng đạt chất lựơng ngày càng tốt hơn
bản thân tôi có những kiến nghị thiết thực sau:
* Về phía cơ sở


[Type text]
Nhà trường cần tăng trưởng mục sách tham khảo, tài liệu tham khảo môn
Tiếng Anh phục vụ công tác dạy học tại thư viện trường để giáo viên, học sinh có
nhu cầu được tiếp cận kiến thức một cách dễ dàng.
Mua sắm thêm trang thiết bị phục vụ cho việc dạy học ngoại ngữ. Hiện nay
các loại phương tiện, đồ dùng dạy học dành cho bộ môn Tiếng Anh còn thiếu thốn
như băng, đĩa, tranh ảnh,… Vì vậy đề nghị các cấp lãnh đạo cần tăng cường mua
sắm, trang bị đầy đủ các trang thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy.
* Về phía ngành
Sở, phòng GD&ĐT, Phòng GD&ĐT nên thường xuyên tổ chức các hội thảo
chuyên môn, các lớp tập huấn về phương pháp giảng dạy theo từng cụm trường,
huyện, toàn tỉnh để tạo không gian học tập, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm cho giáo
viên tiếng Anh từ đó đúc rút thêm kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy- Tổ chức
các đợt tập huấn, các hội thảo về phương pháp dạy Tiếng Anh tiểu học nói chung
và dạy giao tiếp nói riêng cho giáo viên.
Đề nghị Sở, Phòng GD - ĐT tổ chức nhiều hơn các buổi tập huấn bổ sung,
chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy bộ môn. Tạo điều kiện cho giáo viên Tiếng Anh tổ
chức những buổi hoạt động ngoại khoá “Vui học Tiếng Anh” cho học sinh để các
em có thêm hứng thú học tốt hơn.
Tăng cường tổ chức câu lạc bộ tiếng Anh, tổ chức các cuộc hội thảo về đổi
mới phương pháp giảng dạy, tổ chức các tiết dạy mẫu các bài khó , các tiết dạy áp
dụng công nghệ thông tin… để trao đổi kinh nghiệm .
Cần lựa chọn và thống nhất về chương trình, sách giáo khoa bộ môn Tiếng
Anh tiểu học.
Trên đây là một vài kinh nghiệm mà tôi đã đúc rút được trong quá trình giảng
dạy tiếng Anh tại trường cũng đã đạt được những thành công nhất định. Tôi mạnh
dạn nêu ra để hội đồng khoa học xem xét, bổ sung, góp ý kiến để tôi có thêm những
kinh nghiệm trong giảng dạy nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và góp


[Type text]
phần nâng cao chất lượng kỹ năng giao tiếp của học sinh nói riêng và giáo dục toàn
diện cho học sinh nói chung . Đây là ý kiến chủ quan của cá nhân tôi nên không
tránh khỏi những hạn chế. Rất mong nhận được sự tham gia góp ý của Hội đồng
khoa học, Ban giám hiệu nhà trường và bạn bè đồng nghiệp .
Xin chân thành cảm ơn !


[Type text]



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×