Tải bản đầy đủ

Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi tiếng anh và tiếng việt (tt)

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------------------

NGUYỄN THỊ VÂN ANH

PHƯƠNG TIỆN BIỂU HIỆN NGHĨA TÌNH THÁI Ở
HÀNH ĐỘNG HỎI TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành:

Ngôn ngữ học so sánh đối chiếu

Mã số:

9 22 20 24

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI 2019



Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học:
Phản biện 1: GS. TS Nguyễn Văn Khang
Phản biện 2: GS. TS Hoàng Văn Vân
Phản biện 3: PGS. TS Trần Kim Phượng

Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại
Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam,
477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội.
Vào hồi .... giờ ... ngày .... tháng ..... năm 201...

Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội Việt Nam


DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1. Nguyễn Thị Vân Anh: “Nghĩa tình thái ở kiểu hỏi chính
danh thể hiện ở câu trần thuật”, Tạp chí Từ điển học và bách khoa
thư, số 2 (58) 3/2019.
2. Nguyễn Thị Vân Anh: “Tình thái trong kiểu hỏi chính
danh tiếng Anh và tiếng Việt”, Tạp chí Nhân lực khoa học xã hội, số
2(69) - 3/2019.
3. Võ Đại Quang- Nguyễn Thị Vân Anh “Nghiên cứu về
một số phương tiện biểu đạt tình thái trong câu hỏi tiếng Anh”, Tạp
chí ngôn ngữ và đời sống, số 9 (239) 2015.
4. Võ Đại Quang- Nguyễn Thị Vân Anh “Một số đặc điểm
ngữ dụng của các kiểu câu hỏi chính danh tiếng Anh”, Tạp chí Khoa
học ngoại ngữ, trường ĐH Hà Nội, số 45/2015.


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài


Những sắc thái tình cảm, những cung bậc cảm xúc khác nhau
của người nói và người nghe trong quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ
chính là tình thái. Tình thái trong ngôn ngữ là một mảng kiến thức rất
rộng và ở bất kì ngôn ngữ nào, tình thái cùng với cách thức diễn đạt tình
thái đều rất phong phú, đa dạng.
Trên thế giới và cả ở Việt Nam cũng đã có rất nhiều công trình khoa học
nghiên cứu về tình thái và các phương tiện truyền tải tình thái đặc biệt là
dưới góc nhìn của ngữ dụng học. Tình thái là một phạm trù liên hệ với
việc diễn đạt sự bắt buộc sự cho phép, sự cấm đoán, sự cần thiết, tính
khả hữu, khả năng. Không thể tạo ra ý nghĩa lời nói nếu trong lời nói ấy
ta không tìm thấy một biểu hiện nào đó của tính tình thái. Tình thái
không những là linh hồn của câu, của văn bản mà còn là của cả hoạt
động giao tiếp. Giao tiếp sẽ đạt được hiệu quả tối ưu khi chúng ta biết
vận dụng những phương tiện biểu hiện tình thái. Viêc vận dụng
những phương tiện biểu hiện tình thái giúp người nói người nói tạo
dựng phát ngôn cũng như để người nghe tiếp nhận và nắm bắt đúng ý
định giao tiếp của người nói. Bởi vậy nghiên cứu về tình thái và
phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái là một đề tài thú vị, ngày càng
được mở rộng chú trọng và phát triển giúp chúng ta hướng tới thành
công trong giao tiếp, ứng xử.
Qua tìm hiểu chúng tôi thấy rằng đã có những đề tài trong và
ngoài nước tập trung nghiên cứu về lĩnh vực tình thái và xoay quanh
việc xác định nghĩa tình thái và phân loại nghĩa tình thái, các phương
tiện biểu hiện nghĩa tình thái, phạm vi nghiên cứu quan hệ của nghĩa tình
thái trong câu hỏi hay câu cầu khiến, ý nghĩa tình thái và phương tiện
tình thái cú pháp học ở các ngôn ngữ, tuy nhiên trong phạm vi tư liệu
chúng tôi có được cũng chưa có công trình nào trực tiếp quan tâm
chuyên sâu nghiên cứu một cách có hệ thống về cách biểu đạt ý nghĩa
tình thái của hành động hỏi trong tiếng Anh và tiếng Việt biểu hiện
không chỉ bằng câu hỏi mà còn bằng các kiểu câu khác như câu mệnh
lệnh, câu trần thuật ở bậc luận án tiến sĩ.
Vì những lí do đã nêu ở trên, việc nghiên cứu các phương
tiện biểu hiện nghĩa tình thái trong hành động ngôn từ hỏi của luận
án này là cần thiết, giúp mang đến một cái nhìn bao quát hơn về vấn
đề tình thái trong ngôn ngữ đáp ứng nhu cầu học thuật mà còn đáp


ứng nhu cầu thực tiễn. Luận án ở chừng mực nào đó có thể đóng góp
thêm cho việc biên soạn tài liệu tham khảo phục vụ cho học tập giảng
dạy chuyên sâu, nâng cao hiểu biết cho những ai quan tâm đến lĩnh
vực nghiên cứu của luận án.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án này được thực hiện mục đích nghiên cứu các phương
tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi tiếng Anh và tiếng
Việt nhằm tìm hiểu về những tương đồng và dị biệt của phương
tiện biểu hiện loại nghĩa này về phương diện ngữ nghĩa- ngữ dụng ở
cả hai ngôn ngữ.Thông qua việc nghiên cứu luận án, tác giả trau dồi
thêm những hiểu biết cần thiết, nâng cao trình độ phục vụ cho
công tác giảng dạy và dịch thuật ngoại ngữ.
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận án tập trung vào việc tìm hiểu
những vấn đề sau:
1. Lí thuyết hành động ngôn từ (speech act theory), hành động
hỏi, nghĩa tình thái và các phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái trong
các ngôn ngữ.
2. Nhận diện hành động hỏi trực tiếp và hành động hỏi gián
tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt.
3. Miêu tả những phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành
động hỏi trực tiếp và hành động hỏi gián tiếp trong tiếng Anh và
tiếng Việt
4. Nhận xét về sự tương đồng và khác biệt về nghĩa tình thái
và phương tiện biểu hiện tình thái hành động ngôn từ, tình thái nhận
thức và tình thái đạo nghĩa ở hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt.
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phạm vi nguồn
ngữ liệu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những phương tiện biểu
hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt, nghĩa là
trong khuôn khổ của luận án này chúng tôi tập trung khảo sát các
phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi trực tiếp và
hành động hỏi gián tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt trên các nguồn
tư liệu như nguồn câu hỏi Anh -Việt, nguồn câu trần thuật, câu mệnh
lệnh dùng để hỏi do một nhóm tác giả xử lí ngôn ngữ tự nhiên thuộc
trường đại học Stanford (The Stanford Natural Language Processing
Group) tiến hành ghi âm lại lời thoại trong các video TED talks (corpus
song ngữ Anh -Việt: http://nlp.stanford.edu/project/nmt/), các tác phẩm
văn học như “Gone with the Wind” (Cuốn theo chiều gió) của Margaret


Mitchell, “The Da Vinci Code” (Mật mã Da Vinci) của Dan Brown, tập
truyện ngắn Nguyễn Hào Hải, truyện ngắn Chu Lai, truyện ngắn Ngô Tự
Lập “ Tháng có 15 ngày”, tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, tuyển tập
truyện ngắn Nam Cao, Ngô Tất Tố và các truyện ngắn in trên các báo,
tạp chí Quân đội Nhân dân từ các năm 2000 đến 2016.
Hiện nay có nhiều loại tình thái được xác lập theo các tiêu chí
khác nhau. Phạmvi nghiên cứu của luận án này chúng tôi tập trung
vào tình thái và phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái hành động
ngôn từ , tình thái nhận thức (epistemic modality) và tình thái đạo
nghĩa (deontic modality) ở hành động hỏi trực tiếp và gián tiếp
tiếng Anh và tiếng Việt. Các phương tiện biểu hiện tình thái ở
hỏi tu từ tiếng Anh và tiếng Việt nằm ngoài phạm vi nghiên cứu
của luận án này.
Hành động hỏi là một hành động mà người nói thực hiện thông
qua ngôn ngữ, là một một kiểu ngôn trung cố gắng gợi ra một thông
tin nào đó dưới hình thức một câu trả lời. Nói cách khác, đây là hành
động mà người nói thực hiện nhằm thu thập thông tin chưa biết cần
biết. Hành động hỏi có thể có nhiều phương tiện biểu đạt và cùng
một cách thức biểu đạt có thể thực hiện được nhiều hành động ngôn
từ khác nhau. Hành động hỏi dùng kết cấu hỏi và các kết cấu khác để
yêu cầu cung cấp thông tin hay thực hiện các mục đích giao tiếp.
Người nói có thể sử dụng phương tiện câu hỏi (hay cấu trúc câu khác
như câu trần thuật hoặc là câu mệnh lệnh) để thực hiện một hành
động ngôn từ hỏi. Hành động hỏi thể hiện bằng câu hỏi là hành động
hỏi trực tiếp. Hành động hỏi thực hiện bởi các câu trần thuật hay
mệnh lệnh được gọi là hành động hỏi gián tiếp.
Như vậy, có nhiều cách khác nhau để thực hiện cùng một hành
động ngôn từ, bởi vì có nhiều câu khác nhau thực hiện cùng một mục
đích nói. Từ sự phân tích đã đề cập ở trên chúng tôi nêu ra hành động
hỏi tiếng Anh và tiếng Việt như sau :
(1) Hành động hỏi trực tiếp tiếng Anh và tiếng Việt là hành
động hỏi thể hiện bằng câu nghi vấn;
(2) Hành động hỏi gián tiếp tiếng Anh và tiếng Việt là hành
động hỏi thể hiện bằng câu trần thuật và câu mệnh lệnh.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Để nghiên cứu đề tài chúng tôi sử
dụng phương pháp nghiên cứu chủ đạo là phương pháp miêu tả và
đối chiếu. Phương pháp miêu tả nhằm làm sáng tỏ các kiểu nghĩa tình


thái và phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi trong
tiếng Anh và tiếng Việt.Trong phương pháp miêu tả, chúng tôi đã vận
dụng các thủ pháp như thủ pháp thống kê, phân loại và thủ pháp phân
tích ngữ cảnh trên các ngữ liệu cụ thể mà chúng tôi thu thập được.
Bên cạnh đó chúng tôi vận dụng phương pháp so sánh đối
chiếu nhằm tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt giữa các bộ phận
nghĩa tình thái, những phương tiện biểu thị chúng, hiệu quả của việc
sử dụng những phương tiện ấy trong thực tế, qua đó mà hiểu rõ hơn
về nghĩa tình thái, và phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành
động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt giúp nâng cao hiệu quả trong giao
tiếp bằng ngôn ngữ.
5. Những đóng góp của luận án
Luận án đã nhận diện được hành động hỏi trực tiếp và gián tiếp
trong tiếng Anh và tiếng Việt. Nghiên cứu tập trung vào phương tiện
biểu hiện tình thái hành động ngôn từ, phương tiện biểu hiện tình thái
nhận thức và tình thái đạo nghĩa ở hành động hỏi trực tiếp và gián
tiếp cụ thể với các đặc trưng về nội dung, ý nghĩa và các mối quan hệ
tương ứng giữa hình thức và nội dung. Qua phân tích, nghiên cứu đã
bước đầu nhận ra những nét tương đồng và khác biệt về phương tiện
biểu hiện tình thái hành động ngôn từ, phương tiện biểu hiện tình thái
nhận thức, phương tiện biểu hiện tình thái đạo nghĩa ở hành động hỏi
trực tiếp và gián tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn
Về lí luận: Thông qua việc đối chiếu tình thái và phương tiện
biểu hiện nghĩa tình thái trong hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt,
luận án giúp làm nhận thức rõ hơn về biểu hiện của các nghĩa tình thái
như tình thái hành động ngôn từ , tình thái nhận thức, tình thái đạo nghĩa
ở hành động hỏi hỏi trực tiếp và gián tiếp tiếng Anh và tiếng Việt, đồng
thời tìm ra sự tương đồng và khác biệt của phương tiện biểu hiện nghĩa
tình thái ở hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt.
Về thực tiễn: Vấn đề tình thái từ xưa đến nay tuy không mới
nhưng luôn là đề tài thú vị thu hút sự quan tâm của nhiều nhà ngôn
ngữ học. Trên tinh thần kế thừa và phát huy các kết quả nghiên cứu
của nhiều tác giả đi trước về vấn đề nghĩa tình thái và phương tiện
biểu hiện nghĩa tình thái, ở khuôn khổ luận án này chúng tôi tập trung
tìm hiểu nhằm nêu bật nội dung tình thái nào và cách thức truyền tải
nghĩa tình thái ở hành động hỏi trực tiếp và gián tiếp tiếng Anh và
tiếng Việt. Không có nhiều công trình nghiên cứu về phương tiện


biểu hiện nghĩa tình thái ở các kiểu ngôn trung trong hành động ngôn
từ hỏi ở cả hai ngôn ngữ: tiếng Anh và tiếng Việt. Kết quả sau nghiên
cứu của luận án giúp phục vụ cho công tác giảng dạy ngoại ngữ, hay
một tài liệu tham khảo phục vụ cho những ai quan tâm đến lĩnh vực
nghiên cứu của đề tài.
7. Bố cục của luận án
Luận án được bố cục thành ba chương ngoài phần mở đầu và
phần kết luận bao gồm:
Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận
của luận án
Chương 2: Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành
động hỏi trực tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt.
Chương 3: Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành
động hỏi gián tiếp trong tiếng Anh và tiếng Việt.
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA LUẬN ÁN
1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu nghĩa tình thái và
phương tiện biểu hiện tình thái trong tiếng Anh và tiếng Việt
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Nhà nghiên cứu ngôn ngữ nước ngoài như Ch.Bally
(1905), O. Jespersen (1949),V.Wright(1951) ,N. Rescher (1968),
J. Lyons(1995), J.R. Searle (1969), T. Givón (1993), F.Palmer
(2001) đã có những đóng góp không nhỏ cho việc xây dựng
khung lí luận chung về tình thái, phân loại tình thái. Trong đó
Ch.Bally là người đầu tiên phân biệt Modus (bộ phận tình thái)
là một trong hai thành phần thiết yếu, quan trọng của cấu trúc
nghĩa của phát ngôn gắn với bình diện tâm lí, thể hiện những
nhân tố thuộc phạm vi cảm xúc, ý chí, thái độ, sự đánh giá của
người nói đối với điều được nói ra, xét trong quan hệ với thực tế,
với người đối thoại và với hoàn cảnh giao tiếp. Hầu hết các nhà
nghiên cứu về tình thái ở nước ngoài như O. Jepersen (1949),
V.Wright (1951), N.Reacher (1968), Quirk et al.(1972), T. Givón
(1993), M.A. K Halliday (1994), J.Lyons (1995), F.Palmer
( 2001) đều bàn về hai loại tình thái chính đó là tình thái trong
ngôn ngữ học và tình thái trong logic học.


1.1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam các nhà ngôn ngữ học như Hoàng Phê (1989),
Cao Xuân Hạo (1991), Hồ Lê (1992), Lê Đông (1996), Nguyễn
Thị Lương (1996), Nguyễn Đức Dân(1998), Diệp Quang
Ban(2000), Hoàng Tuệ (2001), Phạm Hùng Việt(2003), Bùi
Mạnh Hùng (2003), Nguyễn Văn Hiệp (2001, 2004, 2007,
2015)...trực tiếp quan tâm đến vấn đề tình thái với những nghiên
cứu rất chi tiết và có nhiều kiến giải sâu sắc vấn đề tình thái trên
nhiều phương diện khác nhau. Trong đó Cao Xuân Hạo (1999)
đã phân biệt hai loại tình thái là tình thái hành động phát ngôn và
tình thái của lời phát ngôn. Nguyễn Thị Lương (1996) vận dụng
lí thuyết hành động ngôn từ vào việc nghiên cứu mười tiểu từ
tình thái dứt câu dùng để hỏi nhằm tìm ra các hành động ngôn từ
mà tiểu từ tình thái dứt câu có khả năng biểu thị trong những ngữ
cảnh cụ thể mà chúng xuất hiện, miêu tả đánh giá hiệu lực của
các hành động đó”. Phạm Hùng Việt cho rằng để biểu thị ý nghĩa
tình thái của câu cần có các phương tiện như: phương tiện ngữ
âm (ngữ điệu, trọng âm), từ vựng (động từ tình thái, phụ từ, trợ
từ, thán từ, quán ngữ tình thái), ngữ pháp (đảo trật tự từ, thay đổi
cấu trúc câu...)và trợ từ tiếng Việt có khả năng tham gia biểu thị
một số loại hành động ngôn từ khác nhau gồm cả các hành động
ngôn từ trực tiếp và các hành động ngôn từ gián tiếp. Nguyễn
Văn Hiệp (2007) nêu ra những phạm trù tình thái chủ yếu trong
ngôn ngữ dựa trên sự đối lập của các cặp nghĩa tình thái như sự
đối lập giữa tình thái nhận thức (epistemic modality) và tình thái
đạo nghĩa (deontic modality), sự đối lập giữa tình thái nhận thức
(epistemic modality) và tình thái căn bản (root modality), đối lập
giữa tình thái hướng tác thể (agent- oriented modality) và tình
thái hướng người nói ( speaker- oriented modality), đối lập giữa
tình thái của mục đích phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn.
Những đối lập về tình thái mà ông nêu ra cho thấy phạm vi rất
rộng trong việc nghiên cứu về tình thái.
Việc nghiên cứu tình thái và phương tiện biểu hiện tình thái
trong hành động hỏi tiếng Anh và tiếng Việt bước đầu giúp chúng tôi
chúng tôi xác định được thế nào là hành động hỏi trong tiếng Anh và
tiếng Việt, nhận diện về hành động hỏi trực tiếp và hành động hỏi
gián tiếp, tình thái hành động ngôn từ, tình thái nhận thức, tình thái
đạo nghĩa cùng phương tiện biểu hiện những tình thái này.


1.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu hành động hỏi
trong tiếng Anh và tiếng Việt
Nghiên cứu hành động hỏi là một vấn đề tuy không mới và
được các nhà ngôn ngữ học rất quan tâm song quan điểm của các nhà
nghiên cứu cũng có những khác nhau. Đối với tiếng Anh, đặc biệt
chú ý có công trình của J. Austin (1969) và J. Searle (2001) khi các
nhà nghiên cứu đề cập đến thuyết hành động ngôn từ. Các nhà nghiên
cứu như A.Wierzbicka, J. Sadock, G.Gazdar, R.M Harnis, G.Yule
cùng có chung quan điểm với J.Searle về tiêu chí phân loại hành
động ngôn từ, đó là các đặc tính chủ yếu, quan trọng của hành động
ngôn từ. Tuy nhiên điểm khác nhau trong nghiên cứu của các tác giả
về hành động ngôn từ nằm ở những tiêu chí bổ sung cho các đặc tính
quyết định hành động ngôn trung như là các điều kiện sử dụng, hay
điều kiện thỏa mãn, định hướng sắp xếp các tiêu chí nhỏ thuộc các
tiêu chí lớn trong phân loại. Các công trình của J. Austin (1969) O
Ducrot (1972) J.Searle (1979)...hướng nghiên cứu về vấn đề ngữ
nghĩa, ngữ dụng học của câu hỏi. J. Searle là người khởi xướng trong
việc nghiên cứu về hành động ngôn từ gián tiếp. O. Ducrot với quan
điểm nghiên cứu câu hỏi trong mối quan hệ giữa câu- phát ngôn. Đối
với tiếng Việt, nghiên cứu của Nguyễn Kim Thản (1979) cho thấy
việc nhận diện câu nghi vấn qua mục đích nói. Hồ Lê (1992), Cao
Xuân Hạo(1995), Diệp Quang Ban (2000) nhận diện câu nghi vấn
thông qua các tiêu chí hỏi có dấu hiệu hỏi và dấu hiệu tình thái hỏi.
Việc đảo trật tự, thay đổi cấu trúc của câu hỏi có thể thể hiện ý định
của người nói nhằm tập trung vào điểm nhấn nào đó trong phát ngôn
hỏi.Ở bình diện ngữ dụng học, đáng chú ý là công trình nghiên cứu
của Lê Đông (1996) về câu nghi vấn. Ông xem xét vấn đề câu nghi
vấn trong các mối quan hệ giao tiếp liên nhân như người tham giao
tiếp, vai giao tiếp, ngữ cảnh, mục đích nói, thái độ của người nói. Lê
Đông nghiên cứu sâu về ngữ nghĩa ngữ dụng của câu hỏi chính danh,
các tiểu loại câu hỏi, thông tin ngữ dụng bổ trợ, tình thái trong câu
hỏi chính danh. Nguyễn Thị Thìn (1996) tập trung bàn về 11 kiểu câu
hỏi không dùng để hỏi, câu hỏi gián tiếp, câu hỏi không chính danh
trong mối quan hệ giữa cấu trúc ngữ pháp và cách sử dụng, quan hệ
của cấu trúc với chức năng cho nên nghiên cứu này chỉ dừng lại ở
việc miêu tả mục đích và đặc điểm cú pháp, đặc điểm cách dùng của
3 loại câu hỏi trong số các kiểu câu hỏi điển hình không dùng để hỏi.


Võ Đại Quang (2000) nghiên cứu về đặc điểm câu hỏi chính danh
tiếng Anh và tiếng Việt trên bình diện ngữ dụng học với các quan
điểm phân loại chúng thành câu hỏi lựa chọn hiển ngôn, câu hỏi lựa
chọn ngầm ẩn và câu hỏi không lựa chọn qua đó rút ra những tương
đồng và khác biệt về phương diện ngữ nghĩa ngữ dụng của câu hỏi
chính danh tiếng Anh và tiếng Việt. Nguyễn Việt Tiến (2006) nghiên
cứu về hành động hỏi và câu hỏi theo quan điểm ngữ dụng học trên
cứ liệu tiếng Pháp với những phân tích cụ thể hành động hỏi và câu
hỏi tiếng Việt và tiếng Pháp trong hành chức cụ thể của chúng.
Nguyễn Phúc Trung (2011) nghiên cứu về hành động hỏi trong ngôn
ngữ phỏng vấn truyền hình (trên các kênh của VTV, có so sánh với
kênh TV5 của Pháp) theo quan điểm dụng học. Nghiên cứu tập trung
tìm hiểu về hành động hỏi và các hành động ngôn ngữ khác nữa với
mục đích khai thác được thông tin cần thiết mà người nói mong
muốn trong các hình thức hồi đáp trên khía cạnh cặp thoại, tham
thoại liên quan đến tính lịch sự và thể diện của các hành động ngôn
ngữ trong phỏng vấn truyền hình.
CHƯƠNG 2
PHƯƠNG TIỆN BIỆN HIỆN NGHĨA TÌNH THÁI Ở HÀNH
ĐỘNG HỎI TRỰC TIẾP TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
2.1. Khái quát về hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Anh
và tiếng Việt
2.1.1. Định nghĩa hành động hỏi trực tiếp
Những hành động ngôn từ thực hiện các chức năng của chúng
một cách trực tiếp và theo nghĩa đen được gọi là những hành động
ngôn từ trực tiếp. Tức là cái chức năng mà câu thực hiện trong diễn
ngôn là từ nghĩa đen của nó. Các hành động ngôn từ trực tiếp có thể
được thực hiện theo hai cách:
1) Bằng cách tạo ra một phát ngôn theo nghĩa đen, trực tiếp;
2) Bằng cách sử dụng một động từ ngôn hành gọi tên hành
động ngôn từ đó.
Như vậy hành động hỏi trực tiếp là hành động ngôn từ được
thực hiện bằng câu nghi vấn mang biểu thức hỏi nhằm tìm kiếm
thông tin chưa biết cần biết. Chúng ta có thể sử dụng câu nghi vấn để
thực hiện hành động hỏi trực tiếp.


2.1.2. Nhận diện hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Anh
Hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Anh được thực hiện bằng
câu nghi vấn. Hình thức của câu nghi vấn trong tiếng Anh thể hiện
như sau:
1. Vị trí đầu tiên của động từ làm vị ngữ (hay còn được gọi là
vị từ) trong tiếng Anh.
2. Câu nghi vấn với từ nghi vấn bắt đầu bằng what, when,
where, who, whom, which, whose, why và how….
3. Câu nghi vấn với từ nghi vấn what, who, which or whose là
chủ ngữ hay một phần của chủ ngữ, câu nghi vấn này không có trợ
động từ
4. Câu nghi vấn có từ nghi vấn mang nghĩa phủ định được
hình thành bằng cách thêm ‘not’ vào sau trợ động từ.
5. Câu nghi vấn mang nghĩa phủ định
Như vậy hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Anh được nhận
diện như sau:
(1) Hành động được thực hiện bằng câu nghi vấn như (Câu
nghi vấn tổng quát (Overview questions or Yes-No questions), Câu
nghi vấn bộ phận (Wh- questions), Câu nghi vấn lựa chọn sử dụng
OR ( Questions with OR) hoặc sử dụng động từ ngôn hành gọi tên
hành động ngôn từ hỏi (ask)
(2) Đại từ nghi vấn trong câu nghi vấn đóng vai trò là phương
tiện chuyển tải tình thái.
(3) Ngữ điệu hỏi
Trong tiếng Anh ngữ điệu hỏi thường được sử dụng là ngữ
điệu đi lên (glide-up) trong các câu nghi vấn tổng quát (yes-no
questions, tag questions) và xuống giọng ở các câu nghi vấn bộ phận
(Wh-questions)
(4) Trợ từ tình thái trong câu nghi vấn
(5) Cuối câu nghi vấn có dấu hỏi chấm (?) ở dạng viết.
2.1.3. Nhận diện hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Việt
Hành động hỏi trực tiếp là hành động mà hiệu lực ngôn trung
hỏi của nó phù hợp với hình thức và chức năng của kiểu câu nghi vấn
được dùng để biểu thị nó”. Hành động hỏi trực tiếp trong tiếng Việt
được nhận diện như sau:
- Hành động hỏi được thực hiện bằng câu câu nghi vấn


- Hành động hỏi được sử dụng đúng với điều kiện sử dụng
- Hành động hỏi sử dụng đúng với đích ngôn trung hỏi của chúng.
Hình thức của câu nghi vấn tiếng Việt được thể hiện như sau:
1. Câu nghi vấn thường sử dụng những đại từ nghi vấn ai, gì,
nào, sao, tại sao, đâu, bao giờ, bao nhiêu, à, ư, hả, chứ, các tiểu từ
hỏi chuyên dụng trong các khuôn hỏi như (có)… không ,có phải...
không.... (đã,… chưa…)
2. Các tiểu từ hỏi chuyên dụng trong các khuôn hỏi như (có)…
không ,có phải... không.... (đã,… chưa…) hoặc có từ hay (nối các vế có
quan hệ lựa chọn).
3. Tiểu từ tình thái (à, ư, nhỉ, nhé..).
4. Kết thúc câu nghi vấn là dấu hỏi chấm (?) ở dạng viết và ngữ
điệu nghi vấn ở dạng nói ( thường là ngữ điệu lên giọng ở cuối câu)
Trong tiếng Việt, hành động hỏi trực tiếp là hành động được
thực hiện bằng câu nghi vấn tổng quát, Câu nghi vấn bộ phận, Câu
nghi vấn lựa chọn, và Câu nghi vấn vọng lại.
2.2. Các phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động
hỏi trực tiếp tiếng Anh
2.2.1. Phương tiện biểu hiện tình thái hành động ngôn từ ở
hành động hỏi trực tiếp tiếng Anh
Tình thái trong hành động hỏi trực tiếp là tình thái nghi vấn.
Tình thái nghi vấn được người nói dùng để biểu hiện ý muốn tìm
hiểu điều chưa biết hoặc còn hồ nghi và mong đợi sự trả lời, sự giải
thích của người nghe. Phương tiện truyền tải tình thái nghi vấn là câu
nghi vấn. Theo tổng hợp từ nguồn ngữ liệu phát ngôn nghi vấn trong
corpus song ngữ Anh -Việt (http://nlp.stanford.edu/project/nmt/), các
tác phẩm văn học như “Gone with the Wind”(Cuốn theo chiều gió)
của Margaret Mitchell, “The Da Vinci Code” (Mật mã Da Vinci) của
Dan Brown, chúng tôi thống kê có có 545 câu nghi vấn tổng quát,
525 câu nghi vấn bộ phận, 485 câu nghi vấn lựa chọn, 465 câu nghi
vấn vọng lại trên tổng số hơn 2020 phát ngôn nghi vấn.
Tình thái nghi vấn thể hiện bằng phương tiện các câu nghi vấn
thường chứa đựng những động từ vị ngữ tình thái (look like, suppose,
think, would of ask, may, will, must, should,…), khung cấu trúc hỏi
với or/ or maybe, từ nghi vấn what, why, how, where, when,…,các
động từ Say, tell, ask đứng trước toàn bộ mệnh đề nghi vấn hay từ
nghi vấn dùng để hỏi.


2.2.2. Phương tiện biểu hiện tình thái nhận thức và tình thái
đạo nghĩa ở hành động hỏi trực tiếp tiếng Anh
Tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa ở hành động hỏi trực tiếp
tiếng Anh được đánh dấu bằng thức trần thuật (declarative mood), động
từ tình thái làm vị ngữ (modal verbs), tính từ tình thái (modal
adjectives) , danh từ tình thái (modal nouns), biểu thức rào đón
(hedges) , trạng từ tình thái (modal adverbs) .
2.3. Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi
trực tiếp tiếng Việt
2.3.1. Phương tiện biểu hiện tình thái của hành động ngôn
từ ở hành động hỏi trực tiếp tiếng Việt
Nghi vấn là hành động ngôn từ được người nói dùng để biểu hiện
điều chưa biết hoặc còn hồ nghi và mong đợi sự trả lời, sự giải thích của
người nghe. Tình thái trong hành động hỏi trực tiếp Tiếng Việt là tình
thái nghi vấn. Tình thái nghi vấn đựơc thể hiện qua phương tiện câu nghi
vấn như câu nghi vấn tổng quát, câu nghi vấn lựa chọn, câu nghi vấn bộ
phận, câu hỏi/ nghi vấn vọng lại.
2.3.2. Phương tiện biểu hiện tình thái nhận thức và tình thái
đạo nghĩa ở hành động hỏi trực tiếp tiếng Việt
Tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa đều thuộc phạm trù
tình thái chủ quan. Tình thái chủ quan là loại tình thái có liên quan
đến thái độ của người nói đối với điều được nói ra trong câu cũng
như quan hệ giữa chủ thể và vị thể của một mệnh đề được biểu đạt.
Tình thái chủ quan còn là nhận định của người nói về chân trị của
điều được truyền đạt trong câu; là tính khả năng hay tính tất yếu của
điều đó; là cách đánh giá của người nói đối với sự tình được truyền
đạt; là sự giới thiệu của người nói về tính chất câu nói; là mối liên hệ
giữa câu và tình huống đối thoại hay với ngữ cảnh và nhiều nội dung
khác thuộc lĩnh vực logic hoặc siêu ngôn ngữ.
Các phương tiện thể hiện tình thái trong tình thái nhận thức và
tình thái đạo nghĩa trong hành động hỏi trực tiếp tiếng Việt được biểu
đạt bằng:
(1) Động từ tình thái: muốn, có thể, phải, dám, cần phải, phải
nói, biết, nghĩ, đoán, đồ, tiên đoán, bị, nên, cần, hi vọng, sẽ, suýt,
toan, định, hòng…;
(2) Phụ từ tình thái: đã, đang, sẽ, còn, chưa….;
(3) Tiểu từ tình thái: à, ư, nhỉ, nhé, chăng…..;


(4) Trạng từ tình thái: có lẽ là, có thể là, chắc chắn, thường
xuyên, cần thiết, thường thường, thực tế…;
(5) Tính từ tình thái: thật, quả thật, hiển nhiên, rõ ràng, đúng, rất,
quá, lắm, chắc, hết sức, vô cùng, cực kì, tốt nhất, ít nhất, vừa vừa..
(6) Biểu thức rào đón: Chúng (tôi) cho rằng, chúng (tôi)
nghĩ rằng, tôi nghĩ rằng, chúng (tôi) tin rằng, theo chúng tôi,
theo tôi; tôi hỏi khí không phải, tôi mạn phép hỏi, nếu không
phiền tôi xin phép hỏi….;
2.3.3. Nhận xét những tương đồng và khác biệt về phương
tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi trực tiếp tiếng Anh
và tiếng Việt
2.3.3.1. Tương đồng
Trong cả hai ngôn ngữ, phương tiện truyền tải tình thái
hành động ngôn từ, tình thái nhận thức, tình thái đạo nghĩa trong
hành động hỏi trực tiếp gồm phương tiện ngữ pháp, phương tiện
từ vựng và phương tiện ngữ âm. Về mặt số lượng các phương
tiện biểu hiện tình thái hành động ngôn từ, tình thái nhận thức,
tình thái đạo nghĩa ở hành động hỏi trực tiếp ở cả hai ngôn ngữ
là tương đương nhau.
2.3.3.2. Khác biệt
Ở các ngôn ngữ khác nhau, các cách diễn đạt nghĩa tình
thái cũng không giống nhau. Trong tiếng Anh, nghĩa tình thái
được thể hiện qua các hệ thống ngữ pháp như thức - Phương tiện
danh từ tình thái ( possibility, probability) và phương tiện ngữ
âm (đường nét ngôn điệu – contour, ngữ điệu –tune: the glidedown, the glide-up, the take-off, the dive...) âm tiết tiết điệu
( tonic syllable), âm vực (pitch) chất giọng ( voice quality) kết
hợp với các từ tình thái chuyển tải nội dung nghi vấn là một
trong phương tiện chuyển tải nghĩa tình thái nhận thức và tình
thái đạo nghĩa khá đặc thù trong tiếng Anh mà trong tiếng Việt
lại không có hoặc rất hiếm khi sử dụng.
Chúng ta nhận thấy bộ phận từ vựng như các tiểu từ tình thái
(à , ư , nh ỉ , nh é, sao, chăng…) đều chuyển tải một nghĩa tình thái
nào đó và là một nét đặc thù trong tiếng Việt, tuy nhiên các tiểu từ
tình thái này lại không có trong tiếng Anh, thay vào đó người Anh
dùng ngôn điệu (ngữ điệu, trọng âm âm lượng) để truyền tải các nét
nghĩa tình thái.


CHƯƠNG 3
PHƯƠNG TIỆN BIỂU HIỆN NGHĨA TÌNH THÁI Ở
HÀNH ĐỘNG HỎI GIÁN TIẾP TRONG TIẾNG ANH VÀ
TIẾNG VIỆT
3.1. Khái quát về hành động hỏi gián tiếp trong tiếng Anh
và tiếng Việt
Từ các quan điểm về hành động ngôn từ gián tiếp có thể nhận
thấy hành động hỏi gián tiếp có hai dạng biểu hiện: Dạng biểu hiện
thứ nhất là lực ngôn trung hỏi được biểu hiện dưới một hình thức
không phải câu hỏi, và biểu hiện thứ hai là hình thức câu hỏi được
dùng để biểu thị một hiệu lực ở lời khác- không phải để yêu cầu cung
cấp thông tin. Trong khuôn khổ của luận án này chúng tôi tập trung
vào dạng biểu hiện thứ nhất.
3.1.1. Định nghĩa hành động hỏi gián tiếp tiếng Anh
Hành động hỏi gián tiếp là hành động hỏi sử dụng kiểu câu
không có hình thức của câu nghi vấn và được nhận diện bằng mục
đích của người nói, như thế có nghĩa là có nhiều cách để thực hiện
hành động hỏi. Việc thực hiện hành động hỏi thông qua câu nghi vấn
thì gọi là hành động hỏi trực tiếp. Còn hành động hỏi gián tiếp là
hành động khi người nói không dùng câu nghi vấn mà dùng câu
trần thuật và câu mệnh lệnh để hỏi nhằm tìm thấy thông tin trả lời
mà người nói muốn biết.
3.1.2. Nhận diện hành động hỏi gián tiếp tiếng Anh
Hành động hỏi gián tiếp được nhận diện bằng mục đích của
người nói, bằng hình thức và cấu trúc các câu trần thuật, mệnh lệnh
được sử dụng trong giao tiếp. Chúng thường có những dấu hiệu
hình thức sau đây:
3.1.2.1. Hành động hỏi gián tiếp tiếng Anh thông qua câu
trần thuật
(1) Mệnh đề chính dùng thức trần thuật.
(2) Mệnh đề phụ có chứa đựng các đại từ nghi vấn, các từ
tình thái
(3) Ngữ điệu hỏi.
Hình thức câu trần thuật tiếng Anh
Đặc điểm hình thức câu trần thuật là nó không có đặc điểm
hình thức của các loại câu nghi vấn, câu mệnh lệnh hay câu cảm thán,
nghĩa là câu trần thuật không sử dụng những từ ngữ đặc trưng, từ ngữ


riêng như từ nghi vấn, từ cầu khiến/ mệnh lệnh, từ cảm thán. Câu trần
thuật là loại câu phổ biến và quan trọng nhất. Chức năng của câu trần
thuật là để truyền đạt thông tin, một sự việc, một hiện tượng hoặc để
tuyên bố một điều gì đó. Ở dạng viết, câu trần thuật thường được kết
thúc bởi dấu chấm câu (.), hoặc đôi khi là dấu chấm than(!) hoặc dấu
chấm lửng(;) Ở dạng nói câu trần thuật có ngữ điệu kể hay là ngữ
điệu trần thuật .Câu trần thuật thường được chia làm hai dạng: dạng
khẳng định (affirmative) và dạng phủ định (negative).
Cấu trúc của câu trần thuật dùng để hỏi bao gồm thức trần thuật
của động từ (ở mệnh đề chính), từ nghi vấn (Wh- word) ở tiểu cú.
2.2.2.2. Hành động hỏi gián tiếp thông qua câu mệnh lệnh
tiếng Anh
Hành động hỏi gián tiếp trong tiếng Anh thông qua câu mệnh
lệnh thường thấy là:
(1) Mệnh đề chính là một thức mệnh lệnh.
(2) Mệnh đề phụ có chứa các đại từ nghi vấn như Who, Whom,
which, whose, why, how...
(3) Ngữ điệu hỏi.
Hình thức câu mệnh lệnh tiếng Anh
Câu mệnh lệnh (Imperative sentence) là câu có tính chất sai
khiến nên còn được gọi là câu cầu khiến, được dùng khi người nói
yêu cầu hoặc ra lệnh cho một người khác làm một việc gì đó. Nó
thường theo sau bởi từ “please”. Chủ ngữ của câu mệnh lệnh được
ngầm hiểu là “you”. Trong tiếng Anh, câu mệnh lệnh được đặc trưng
bằng thức mệnh lệnh với dấu hiệu vắng chủ ngữ, động từ ở nguyên
dạng và không có từ tình thái cũng như những phương tiện đánh dấu
thời, thể đi kèm.
Hành động hỏi gián tiếp tiếng Việt thông qua câu trần thuật có
những dấu hiệu sau đây:
(1) Các động từ tình thái: muốn biết, thắc mắc, băn khoăn,
muốn hỏi ở vị trí vị ngữ và các từ nghi vấn như ai, gì nào, sao,
không, có phải.. ở vị trí tiểu cú phù hợp trong câu.
(2) Có lực ngôn trung nghi vấn
(3) Ngữ cảnh
Hình thức câu trần thuật tiếng Việt
Câu trần thuật là câu miêu tả, trình bày, nhận định rất nhiều
loại sự tình, sự việc. Câu trần thuật trong tiếng Việt không có những
dấu hiệu hình thức được đánh dấu (unmarked sentence) như các kiểu


câu khác, chúng được thấy là một nhận định và có những dấu hiệu
ngôn hành riêng. Loại câu này thường dùng dấu chấm khi kết thúc.
Các câu trần thuật không phải bao giờ cũng được dùng để nhận định
mà ngoài các giá trị đó ra chúng còn được dùng với chức năng hỏi
hay yêu cầu đề nghị hay biểu lộ cảm xúc. Câu trần thuật là kiểu câu
rất phổ biến trong giao tiếp.
Hành động hỏi gián tiếp thông qua câu trần thuật được nhận
diện thông qua: Các động từ tình thái: muốn biết, thắc mắc, băn
khoăn, muốn hỏi ở vị trí vị ngữ, các từ nghi vấn như ai, gì nào, sao,
không, có phải ...ở vị trí mệnh đề phụ phù hợp trong câu.
3.1.2.2. Hành động hỏi gián tiếp tiếng Việt thông qua câu mệnh lệnh.
Hành động hỏi gián tiếp tiếng Việt thông qua câu mệnh lệnh
những dấu hiệu sau đây:
(1). Động từ thể hiện hành động yêu cầu, đòi hỏi, hỏi: Nói cho
biết, hãy nói, hãy cho biết....
(2). Các từ nghi vấn như tại sao, cái gì, nào, đâu,đi chứ, đi
nào...trong tiểu cú.
(3). Ngữ cảnh
Hình thức câu mệnh lệnh trong tiếng Việt
Câu mệnh lệnh trong tiếng Việt, thật ra, là một cấu trúc trần
thuật nhưng được đánh dấu chủ yếu bằng ngữ điệu và một số yếu tố
tình thái như “ hãy, đừng, chớ, v.v...” hay các tiểu từ “ đi, nào,
thôi,đi chứ, v.v...” .Cuối câu có dấu chấm than.(!)
3.2. Các phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động
hỏi trực tiếp tiếng Anh
3.2.1. Phương tiện biểu hiện tình thái hành động ngôn từ ở
hành động hỏi trực tiếp tiếng Anh
Tình thái trong hành động hỏi trực tiếp là tình thái nghi vấn.
Tình thái nghi vấn được người nói dùng để biểu hiện ý muốn tìm
hiểu điều chưa biết hoặc còn hồ nghi và mong đợi sự trả lời, sự giải
thích của người nghe. Phương tiện truyền tải tình thái nghi vấn là
câu nghi vấn. Theo tổng hợp từ nguồn ngữ liệu chúng tôi thống kê
có 545 câu nghi vấn tổng quát, 525 câu nghi vấn bộ phận, 485 câu
nghi vấn lựa chọn, 465 câu nghi vấn vọng lại trên tổng số hơn 2020
phát ngôn nghi vấn.


Tình thái nghi vấn thể hiện bằng phương tiện các câu nghi vấn
thường chứa đựng những động từ vị ngữ tình thái (look like, suppose,
think, would of ask, may, will, must, should,…), khung cấu trúc hỏi
với or/ or maybe, từ nghi vấn what, why, how, where, when,…,các
động từ Say, tell, ask đứng trước toàn bộ mệnh đề nghi vấn hay từ
nghi vấn dùng để hỏi.
3.2.2. Phương tiện biểu hiện tình thái nhận thức và tình thái
đạo nghĩa ở hành động hỏi trực tiếp tiếng Anh
Tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa ở hành động hỏi trực tiếp
tiếng Anh được đánh dấu bằng thức trần thuật (declarative mood), động
từ tình thái làm vị ngữ (modality verb), tính từ tình thái (modality
adjective) , danh từ tình thái (modality noun), biểu thức rào đón
(hedges) , trạng từ tình thái (modality adverbs) .
3.3. Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi
trực tiếp tiếng Việt.
3.3.1. Phương tiện biểu hiện tình thái hành động ngôn từ ở
hành động hỏi trực tiếp tiếng Việt
Nghi vấn là hành động ngôn từ được người nói dùng để biểu hiện
điều chưa biết hoặc còn hồ nghi và mong đợi sự trả lời, sự giải thích của
người nghe. Tình thái trong hành động hỏi trực tiếp Tiếng Việt là tình
thái nghi vấn. Tình thái nghi vấn đựơc thể hiện qua phương tiện câu nghi
vấn như câu nghi vấn tổng quát, câu nghi vấn lựa chọn, câu nghi vấn bộ
phận, câu nghi vấn vọng lại.
3.3.2. Phương tiện biểu hiện tình thái nhận thức và tình thái
đạo nghĩa ở hành động hỏi trực tiếp tiếng Việt
Tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa đều thuộc phạm trù
tình thái chủ quan. Tình thái chủ quan là loại tình thái có liên quan
đến thái độ của người nói đối với điều được nói ra trong câu cũng
như quan hệ giữa chủ thể và vị thể của một mệnh đề được biểu đạt.
Tình thái chủ quan còn là nhận định của người nói về chân trị của
điều được truyền đạt trong câu; là tính khả năng hay tính tất yếu của
điều đó; là cách đánh giá của người nói đối với sự tình được truyền
đạt; là sự giới thiệu của người nói về tính chất câu nói; là mối liên hệ
giữa câu và tình huống đối thoại hay với ngữ cảnh và nhiều nội dung
khác thuộc lĩnh vực logic hoặc siêu ngôn ngữ.
Các phương tiện thể hiện tình thái trong tình thái nhận thức và
tình thái đạo nghĩa trong hành động hỏi trực tiếp tiếng Việt được biểu
đạt bằng:


(1) Động từ tình thái: muốn, có thể, phải, dám, cần phải, phải
nói, biết, nghĩ, đoán, đồ, tiên đoán, bị, nên, cần, hi vọng, sẽ, suýt,
toan, định, hòng…;
(2) Phụ từ tình thái: đã, đang, sẽ, còn, chưa….;
(3) Tiểu từ tình thái: à, ư, nhỉ, nhé, chăng…..;
(4) Trạng từ tình thái: có lẽ là, có thể là, chắc chắn, thường
xuyên, cần thiết, thường thường, thực tế…;
(5) Tính từ tình thái: hiển nhiên, rõ ràng, đúng, tốt nhất, ít nhất, vừa
vừa ..kèm các phụ từ mức độ rất, quá, lắm, chắc, hết sức, vô cùng, cực kì.
(6) Biểu thức rào đón: Chúng (tôi) cho rằng, chúng (tôi) nghĩ
rằng, tôi nghĩ rằng, chúng (tôi) tin rằng, theo chúng tôi, theo tôi; tôi
hỏi khí không phải, tôi mạn phép hỏi, nếu không phiền tôi xin phép hỏi….;
3.3.3. Nhận xét những tương đồng và khác biệt về phương
tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi trực tiếp tiếng Anh
và tiếng Việt
3.3.3.1. Tương đồng
Trong cả hai ngôn ngữ, phương tiện truyền tải tình thái
hành động ngôn từ, tình thái nhận thức, tình thái đạo nghĩa trong
hành động hỏi trực tiếp gồm phương tiện ngữ pháp, phương tiện
từ vựng và phương tiện ngữ âm. Về mặt số lượng các phương
tiện biểu hiện tình thái hành động ngôn từ, tình thái nhận thức,
tình thái đạo nghĩa ở hành động hỏi trực tiếp ở cả hai ngôn ngữ
là tương đương nhau.
3.3.3.2. Khác biệt
Ở các ngôn ngữ khác nhau, các cách diễn đạt nghĩa tình thái
cũng không giống nhau. Trong tiếng Anh, nghĩa tình thái được thể
hiện qua các hệ thống ngữ pháp như thức - Phương tiện từ vựng như
danh từ tình thái ( possibility, probability) và phương tiện ngữ
âm( như ngữ điệu the glide-down, the glide-up, the take-off, the dive)
là một trong những phương tiện chuyển tải nghĩa tình thái nhận thức
và tình thái đạo nghĩa khá đặc thù trong tiếng Anh mà trong tiếng
Việt lại không có hoặc rất hiếm khi sử dụng.
Chúng ta nhận thấy bộ phận từ vựng như các tiểu từ tình thái
(à , ư , nh ỉ , nh é, sao, chăng…) đều chuyển tải một nghĩa tình thái
nào đó và là một nét đặc thù trong tiếng Việt, tuy nhiên các tiểu từ
tình thái này lại không có trong tiếng Anh, thay vào đó người Anh
dùng ngôn điệu (ngữ điệu, trọng âm âm lượng) để truyền tải các nét
nghĩa tình thái.


3.4. Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi
gián tiếp tiếng Anh
3.4.1. Phương tiện biểu hiện tình thái hành động ngôn từ ở
hành động hỏi gián tiếp tiếng Anh
Phương tiện biểu hiện tình thái của hành động ngôn từ ở hành
động hỏi gián tiếp tiếng Anh thường thấy là: Thức trần thuật, thức
mệnh lệnh trong mệnh đề chính, mệnh đề phụ (tiểu cú) có chứa đựng
các đại từ nghi vấn, các từ tình thái, ngữ điệu hỏi nhấn vào các tiêu
điểm nghi vấn.
3.4.1.1. Phương tiện thức trần thuật ở mệnh đề chính
Phương tiện thức trần thuật là một trong những phương tiện
biểu hiện tình thái của hành động ngôn từ ở hành động hỏi gián tiếp.
Thức trần thuật của động từ ở mệnh đề chính cho thấy yếu tố nghi
vấn, mục đích hỏi của người nói khi muốn tìm hiểu thông tin và sự
giải đáp nào đó từ phía người trả lời.
3.4.1.2. Phương tiện thức mệnh lệnh ở mệnh đề chính
Phương tiện thức mệnh lệnh được coi một trong những phương
tiện biểu hiện tình thái của hành động ngôn từ ở hành động hỏi gián
tiếp. Thức mệnh lệnh của động từ ở mệnh đề chính cho thấy mục
đích đòi hỏi, mục đích yêu cầu (command or request), của người nói
khi muốn người nghe thực hiện hành động hồi đáp.
3.4.1.3. Phương tiện đại từ nghi vấn, các trợ từ tình thái ở
mệnh đề phụ
Đại từ nghi vấn, các từ tình thái What, Where, Which, Who,
Why, How… thể hiện yếu tố nghi vấn mà người hỏi muốn hướng tới
người nghe xuất hiện trong mệnh đề phụ ở vị trí ngay sau thức trần
thuật của động từ like to know, wonder about, double/suspect/
suppose, want to know, ask …., thức mệnh lệnh của động từ tell, let
me know… cho thấy người nói thể hiện mục đích hỏi, mục đích yêu
cầu và tìm kiếm thông tin hướng người nghe nhận diện và thực hiện
theo đích nghi vấn của mình, từ đó có câu trả lời phù hợp.
3.4.1.4. Phương tiện ngữ điệu
Ngữ điệu nhấn mạnh vào các tiêu điểm nghi vấn, các đại từ
nghi vấn, phụ từ nghi vấn trong mệnh đề phụ không chỉ giúp người
nói truyền tải mục đích hỏi mà còn giúp người nghe nhận diện ý định
của người hỏi từ đó cung cấp thông tin trả lời, hay thực hiện những
đòi hỏi phù hợp. Ngữ điệu mà người nói nhấn vào tiêu điểm nghi vấn
nào nghĩa là tiêu điểm ấy cần người nghe giải đáp cụ thể.


3.4.2. Các phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái nhận thức
và tình thái đạo nghĩa ở hành động hỏi gián tiếp tiếng Anh
3.4.2.1. Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái nhận thức ở
hành động hỏi gián tiếp tiếng Anh
Phương tiện các đại từ nghi vấn tình thái who, why, how, what,
where,… các trợ động từ tình thái do, be, have ở trong mệnh đề phụ
của các câu trần thuật và câu mệnh lệnh dùng để hỏi. Đặc điểm ngữ
nghĩa của phương tiện từ nghi vấn này mang lại ý nghĩa nhận thức nào
đó về tiêu điểm nghi vấn của người nói được phản ánh trong câu.
3.4.2.2. Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái đạo nghĩa trong
hành động hỏi gián tiếp tiếng Anh
Hành động hỏi sử dụng câu trần thuật là hành động yêu cầu cung
cấp thông tin, giải thích, xác nhận thông tin đi kèm là loại câu nghi vấn
bị lược bớt dấu hỏi chấm (?), mệnh đề nghi vấn hay biểu thức nghi vấn
thường được nhận diện dựa trên việc hồi đáp thông tin, sự phục hồi
thông tin bị lược đi và các yếu tố tình thái biểu thị tình thái đạo nghĩa.
Những yếu tố tình thái đạo nghĩa trong câu trần thuật dùng để hỏi
thường biểu hiện bằng các các động từ như want to know, want to ask,
would like to know, wonder, suppose, double…ở mệnh đề chính, Trọng
âm và ngữ điệu của người hỏi vào các tiêu điểm nghi vấn.
3.5. Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi
gián tiếp tiếng Việt.
3.5.1. Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái hành động ngôn
từ ở hành động hỏi gián tiếp tiếng Việt
Nghĩa tình thái của hành động ngôn từ ở hành động hỏi gián
tiếp tiếng Việt được biểu hiện bằng phương tiện sau:
(1)
Phương tiện các động từ tình thái: muốn biết, băn
khoăn, muốn hỏi, muốn tìm hiểu…, Hãy nói cho biết, Xin hãy cho
biết…, nằm ở mệnh đề chính
(2) Phương tiện từ nghi vấn như ai, gì nào, sao, không, có
phải ...nằm ở mệnh đề phụ.
(3) Phương tiện ngữ điệu nghi vấn
3.5.2. Phương tiện biểu hiện tình thái nhận thức và tình thái
đạo nghĩa trong hành động hỏi gián tiếp tiếng Việt
3.5.2.1. Phương tiện biểu hiện tình thái nhận thức trong hành
động hỏi gián tiếp tiếng Việt
Phương tiện biểu hiện tình thái nhận thức trong hành động hỏi
gián tiếp tiếng Việt sử dụng câu trần thuật: Qua những yếu tố nghi


vấn của từ nghi vấn ai, làm gì, thế nào… trong mệnh đề phụ trong
mệnh đề phụ của các câu trần thuật và câu mệnh lệnh dùng để hỏi.
Đặc điểm ngữ nghĩa của phương tiện từ nghi vấn này mang lại ý nghĩa
nhận thức nào đó cho người nghe về tiêu điểm nghi vấn của người nói
được phản ánh trong câu.
3.5.2.2. Phương tiện biểu hiện tình thái đạo nghĩa trong hành
động hỏi gián tiếp tiếng Việt
Phương tiện biểu hiện tình thái đạo nghĩa trong hành động hỏi
gián tiếp tiếng Việt gồm có:
(1) Các động từ tình thái như Muốn biết, Băn khoăn, muốn
hỏi…trong mệnh đề chính ở câu trần thuật, các động từ thể hiện hành
động yêu cầu, đòi hỏi, hỏi : Nói cho biết, hãy nói, hãy cho biết,
....trong mệnh đề chính ở câu mệnh lệnh
(2) Các tính từ tình thái kèm với phụ từ mức độ rất, thực sự
(3) Các trạng từ tình thái như dĩ nhiên, chắc chắn,
(4) Các tiểu từ tình thái đi, đi chứ, nào, đi nào trong mệnh đề phụ.
C. Nhận xét những tương đồng và khác biệt phương tiện
biểu hiện nghĩa tình thái ở hành động hỏi gián tiếp tiếng Anh và
tiếng Việt
 Tương đồng
Để truyền tải nghĩa tình thái của hành động hỏi gián tiếp, cả
hai ngôn ngữ tiếng Anh và tiếng Việt đều sử dụng phương tiện ngữ
pháp, phương tiện từ vựng và phương tiện ngữ âm. Phương tiện ngữ
pháp trong tiếng Anh là các thức (trần thuật, mệnh lệnh)của động từ
vị ngữ, trong tiếng Việt là cách sử dụng những động từ tình thái thể
hiện đòi hỏi, yêu cầu trong mệnh đề chính. Phương tiện từ vựng trong
tiếng Anh và tiếng Việt gồm động từ tình thái làm vị ngữ, đại từ tình
thái nghi vấn, trạng từ tình thái, tính từ tình thái, tiểu từ tình thái.
Phương tiện các đại từ nghi vấn, trạng từ tình thái, tính từ tình
thái,tiểu từ tình thái ở mệnh đề phụ giúp người nói tường minh nội
dung nghi vấn. Hầu hết các phương tiện ngữ pháp, từ vựng, hay ngữ
âm là những phương tiện giúp truyền tải tình thái hành động ngôn từ,
tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa, trong đó phương tiện ngữ
pháp và phương tiện từ vựng đều được sử dụng với tần suất cao.
Phương tiện ngữ âm tuy không có tần suất xuất hiện cao trong nguồn
ngữ liệu nhưng cũng là một trong những phương tiện truyền tải hữu
hiệu của các nghĩa tình thái.


 Khác biệt

Điểm khác biệt khi sử dụng phương tiện từ vựng trong tiếng
Anh để biểu thị tình thái hành động ngôn từ, tình thái nhận thức, tình
thái đạo nghĩa là ngôn ngữ này có danh từ tình thái còn trong tiếng
Việt lại không có. Trong tiếng Anh phương tiện thức của động từ vị
ngữ cho biết về thời gian của hành động được thể hiện bằng thời
(thời hiện tại, thời quá khứ hay thời tương lai), thể hoàn thành, hay
thể tiếp diễn... Nhưng đối với tiếng Việt việc xác định thời gian của
hành động lại luôn dựa vào ngữ cảnh cụ thể, dựa vào các phụ từ tình
thái đã, đang,sẽ …. Trong tiếng Anh không có bộ phận từ vựng nào
để truyền tải tình thái thể hiện tương đương với các tiểu từ tình thái
“ à, ư, nhỉ, nhé, ạ, thôi, nào, đi, ...”trong mệnh đề phụ của các câu
trần thuật, mệnh lệnh dùng để hỏi của tiếngViệt mà họ dùng ngôn
điệu (ngữ điệu, trọng âm). Ở hành động hỏi gián tiếp sử dụng câu
trần thuật hay mệnh lệnh, tiêu điểm nghi vấn trong mệnh đề phụ được
xem như dấu hiệu quan trọng xác định được chính xác loại hình hành
động hỏi và qua đó thể hiện ý kiến chủ quan của người nói.


KẾT LUẬN
Phân tích tình thái theo hướng tiếp cận vấn đề về hành động
ngôn từ cho thấy mối quan hệ giữa người nói, người nghe và nội
dung phát ngôn bao chứa rất nhiều nội dung tình thái do đó vai trò
của người tham gia giao tiếp được nhấn mạnh. Dưới ánh sáng của lí
thuyết hành động ngôn từ, qua phân tích so sánh và đối chiếu về tình
thái và phương tiện biểu hiện tình thái ở hành động hỏi tiếng Anh và
tiếng Việt, chúng tôi nhận thấy có ba loại tình thái gồm:
(1)Tình thái hành động ngôn từ là tình thái thể hiện mục đích
phát ngôn, thái độ, ý kiến, sự đánh giá của người nói với các quan
điểm, ý kiến nêu ra trong mệnh đề cũng như thái độ tri nhận của
người nghe đối với điều được nói ra thể hiện đặc trưng phát ngôn của
người nói, gắn với các quan hệ liên nhân trong giao tiếp.
(2) tình thái nhận thức là tình thái thể hiện sự đối lập giữa
khẳng định và phủ định về sự tồn tại của sự việc, thể hiện vị thế, khả
năng, thái độ, lập trường, tâm trạng hay cảm xúc, sự đánh giá, đảm
bảo của người nói đối với nội dung mệnh đề được thông báo, về độ
tin cậy của điều được đánh giá, về tính khả năng hay hiện thực.
(3) tình thái đạo nghĩa là tình thái thể hiện trách nhiệm thuộc
phương diện đạo đức, ý chí, ý muốn của người nói được nói đến
trong câu, đến tính hợp thức về đạo đức hay các chuẩn mực xã hội
đối với người nào đó hay do chính người nói thực hiện thuộc phạm
trù tình thái đạo nghĩa.
Trong mọi loại ngôn ngữ, tình thái được biểu đạt bằng các
phương tiện khác nhau. Đối với tiếng Anh và tiếng Việt, tình thái
hành động ngôn từ, tình thái nhận thức, tình thái đạo nghĩa ở
hành động hỏi trực tiếp và gián tiếp được truyền tải theo một số
cách nhưng những cách phổ biến nhất vẫn là thông qua phương
tiện câu nghi vấn và các câu khác mang mục đích nghi vấn (như
câu trần thuật, câu mệnh lệnh dùng để hỏi) thông qua phương
tiện động từ (dưới dạng thức) và thông qua các tính từ tình thái,
trạng từ tình thái, danh từ tình thái, tiểu từ tình thái và những
biểu thức rào đón.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×