Tải bản đầy đủ

Các lỗi học sinh thường mắc phải khi viết PTHH loại phản ứng trao đổi trong dung dịch

ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƯNG
TRƯỜNG THCS TÔ HOÀNG

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
CÁC LỖI HỌC SINH THƯỜNG MẮC PHẢI KHI VIẾT PTHH
LOẠI PHẢN ỨNG TRAO ĐỔI TRONG DUNG DỊCH

Tên tác giả: Lê Kiều Trang
Lĩnh vực/Môn: Hóa học
Cấp học: THCS

Năm học 2019 - 2020


MỤC LỤC
PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trang

I. Lý do chọn đề tài ……………………………………………….................. 1 - 2
II. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài ……………………………..................... 2 - 3

III. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu nghiên cứu ..................................3
PHẦN B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. Cơ sở khoa học
1. Cơ sở lý luận ............................................................................................. 4
2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................... 4 - 7
II. Những vấn đề cần giải quyết
1. Khái niệm ……………………………………………………….................... 7 - 8
2. Điều kiện để phản ứng trao đổi trong dung dịch xảy ra …………...................... 8
3. Một số loại phản ứng trao đổi thường gặp cấp THCS …………................... 8 - 11
4. Những điều cần chú ý khi viết PTHH loại phản ứng trao đổi ……………. 12 - 13
5. Cách khắc phục và ví dụ cụ thể ……………………………….........…….13 - 17
6. Kết quả của việc nghiên cứu ..................................................................... 18
PHẦN C. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ ………………………………................... 19 - 20


A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong chương trình THCS, Hóa học là bộ môn khoa học tự nhiên mà học
sinh được tiếp cận muộn nhất nhưng nó lại có vai trò quan trọng trong nhà trường
phổ thông. Môn hóa học cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ thông,
cơ bản và thiết thực, rèn cho học sinh tư duy sáng tạo, khả năng trực quan nhanh
nhạy, đặc biệt là rèn luyện cho học sinh một số kĩ năng thực hành thí nghiệm. Vì
vậy, giáo viên bộ môn hóa học cần hình thành ở các em các kỹ năng cơ bản, thói
quen học tập và làm việc khoa học.
Học hóa học hiện nay không những học sinh học lý thuyết mà còn đòi hỏi
học sinh vận dụng lý thuyết được học vào giải các bài tập lý thuyết, thực tiễn và
đặc biệt là kĩ năng thực hành thí nghiệm.
Giải toán hóa học và lập phương trình hóa học (PTHH) là hai nội dung rất
quan trọng đối với môn hóa học, tất cả các bài tập hoàn thành PTHH, tính toán và
chuyển đổi giữa các chất ... đều liên quan tới PTHH. Tuy nhiên học sinh bậc THPT
nói chung, học sinh lớp 8, 9 nói riêng thường rất lúng túng và không đúng trong
việc lập PTHH (cân bằng số nguyên tử của mỗi nguyên tố trước và sau phản ứng),
dẫn đến việc tính toán hóa học bị sai liên quan đến phương trình hóa học.
Trong chương trình Hóa học phổ thông “Phản ứng trao đổi trong dung dịch”
chiếm một vị trí quan trọng từ THCS đến THPT liên quan đến nhiều câu hỏi, bài
tập gắn liền với thực tiễn đời sống hằng ngày như môi trường không khí, nước, đất,
vệ sinh an toàn thực phẩm …
Qua tham khảo ý kiến của các đồng nghiệp, đặc biệt là qua quá trình trực
tiếp giảng dạy nhiều năm qua về phản ứng trao đổi trong dung dịch được đề cập
đến ở Bài 9 – Tiết 14 – Tính chất hóa học của muối – Phần II.


Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay “là dạy học
theo phương pháp tích cực”, giúp học sinh tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo, rèn
luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác bạn bè, hoạt động nhóm, đặc
biệt là rèn kĩ năng thực hành thí nghiệm cho học sinh. Khả năng vận dụng vào tình

1


huống khác nhau trọng học tập và trong thực tiễn đời sống. Tạo niềm tin và hứng
thú trong học tập môn học.
Khi lập PTHH cho các loại phản ứng nói chung và đặc biệt là lập PTHH loại
phản ứng trao đổi, học sinh thường rất lúng túng, gặp nhiều khó khăn. Học sinh
đang tiến hành lập PTHH theo một cách máy móc, không hiểu bản chất của phản
ứng, chưa biết phản ứng nào xảy ra, phản ứng nào không xảy ra, các em chỉ biết
lập PTHH một cách máy móc.
Làm như thế nào để giúp học sinh lập được PTHH loại phản ứng trao đổi
chính xác và nhanh nhất là điều khiến tôi băn khoăn trăn trở bấy lâu nay.
Từ suy nghĩ đó, tôi đã chọn đề tài: “Các lỗi học sinh thường mắc phải khi
viết PTHH loại phản ứng trao đổi trong dung dịch” để nghiên cứu và thể nghiệm
chuyên đề trong mấy năm học gần đây và kết quả đem lại là rất tốt.
II. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
1. Mục đích:
- Hệ thống hóa những kiến thức cơ bản về phản ứng trao đổi trong dung
dịch, khắc sâu phân loại phản ứng trao đổi, các trường hợp đặc biệt và những kiến
thức liên quan đến thực tiễn đời sống.
- Phương pháp tư duy phát hiện điều kiện để phản ứng trao đổi trong dung
dịch xảy ra, giải bài tập liên quan đến phản ứng trao đổi trong dung dịch.
- Nhận biết được một phản ứng hóa học thuộc loại phản ứng trao đổi.
- Một số bài tập vận dụng và những điểm cần lưu ý khi xét phản ứng trao đổi
trong dung dịch.
- Rèn kĩ năng lập PTHH loại phản ứng trao đổi và xét một phản ứng trao đổi
cụ thể xảy ra hay không.
- Nâng cao chất lượng học sinh khá, giỏi thi vào trường chuyên, lớp chọn.
- Làm tài liệu chuyên môn áp dụng giảng dạy cho các đối tượng học sinh,
đặc biệt là trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
2. Nhiệm vụ của đề tài:
- Nêu lên được những cơ sở lý luận của việc lập PTHH trong quá trình dạy
và học.
2


- Nêu ra được những lỗi, sai lầm mà học sinh thường mắc phải và cách khắc
phục cho mỗi loại phản ứng trao đổi trong dung dịch.
- Hệ thống hóa những kiển thức cơ bản cho từng loại phản ứng trao đổi.
- Bước đầu sử dụng việc phân loại các loại phản ứng trao đổi và cách khắc
phục những sai lầm mắc phải khi lập PTHH loại phản ứng trao đổi. Từ đó giúp học
sinh lĩnh hội các kiến thức một cách chủ động, hiểu rõ bản chất của phản ứng. Rèn
luyện cho tính độc lập suy nghĩ, khả năng vận dụng để tiến hành lập đúng và nhanh
nhất PTHH loại phản ứng trao đổi, rèn luyện và phát triển kĩ năng thực hành thí
nghiệm.
- Tiến hành điều trà tình hình nắm vững kiến thức cơ bản của học sinh.
III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh lớp 9 trường tôi công tác (trong quá trình dạy học trên lớp và
trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi)
2. Phương pháp nghiên cứu:
- Vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: điều tra cơ bản,
kiểm tra bằng phiếu trắc nghiệm, dùng phiếu học tập (bài tập điền khuyết, bài tập
nêu hiện tượng xảy ra, bài tập xét phản ứng hóa học xảy ra hay không ...), phân
tích lý thuyết, tổng kết kinh nghiệm, sử dụng một số phương pháp thống kê trong
việc phân tích kết quả thực nghiệm.
- Tìm hiểu thông tin trong quá trình dạy và học, đúc rút kinh nghiệm cho bản
thân qua nhiều năm dạy học.
- Nghiên cứu kĩ chương trình sách giáo khoa hóa 9 và các tài liệu tham khảo,
nâng cao.
- Phương pháp dạy học kiểu bài nghiên cứu kiến thức mới, bài thực hành thí
nghiệm
- Trao đổi ý kiến, học hỏi kinh nghiệm một số đồng nghiệp.

3


B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
I. CƠ SỞ KHOA HỌC
1. Cơ sở lý luận:
Khi lập PTHH trong suy nghĩ các em luôn xuất hiện rất nhiều câu hỏi:
(?) Vì sao phải lập PTHH.
(?) Các bước tiến hành khi lập PTHH.
(?) Thực chất của việc lập PTHH là gì.
(?) Đặt hệ số cho chất nào trước, chất nào sau và hệ số cần đặt là bao nhiêu.
(?) Điều kiện để phản ứng hóa học đó xảy ra là gì.
(?) ……………..
- PTHH tức là dùng CTHH để biểu diển PƯHH. � Phải
lập PTHH
- Bản chất PƯHH: Số lượng các nguyên tử được bảo toàn.
- Các bước lập PTHH:
+ Viết sơ đồ của phản ứng.
+ Cân bằng số nguyên tử của mỗi nguyên tố tríc vµ sau P¦.
+ Viết PTHH đúng.
Thực chất của việc lập PTHH là dùng công thức hóa học (CTHH) để biểu
diển chất và đặt các hệ số trước các chất sao cho số nguyên tử trước phản ứng
bằng số nguyên tử sau phản ứng và hệ số ở hai vế phương trình phải tối giản.
Khi lập PTHH, một số phản ứng ngoài điều kiện các chất tham gia phản ứng
phải tiếp xúc với nhau thì một số phản ứng muốn xảy ra cồn cần thêm một số điều
kiện khác như: nhiệt độ, chất xúc tác thích hợp, áp suất … Đặc biệt là loại phản
ứng trao đổi trong dung dịch thì ngoài các điều kiện cơ bản còn cần một số điều
kiện khác mà chuyên đề tôi nghiên cứu sẽ đề cập tới.
2. Cơ sở thực tiễn:
Để đạt được mục đích của việc dạy – học hóa học trong trường THCS thì
người giáo viên dạy hóa học là nhân tố tham gia quyết định chất lượng. Do vậy,
ngoài những hiểu biết về hóa học, người giáo viên cần phải có phương pháp
truyền đạt thu hút, gây hứng thú học tập cho học sinh.
4


Xuất phát từ thực tiễn dạy học hiện nay là đổi mới phương pháp, hình thức
tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của người học. Tăng
cường và hiệu quả việc sử dụng đồ dùng, thiết bị dạy học, khai thác triệt để phòng
học bộ môn, người giáo viên cần có kĩ năng thực hành thí nghiệm. Đặc biệt là các
kì thi học sinh giỏi cấp huyện, tỉnh hiện nay ngoài phần thi lý thuyết thì mỗi đội
thi còn có phần thi thực hành. Vì vậy, giáo viên cần thể hiện rõ vai trò là người tổ
chức, điều khiển cho học sinh hoạt động một cách chủ động, sáng tạo. Khi dạy bài
học có liên quan đến thí nghiệm thực hành, giáo viên cần rèn luyện cho học sinh
kĩ năng thực hành, thí nghiệm.
Qua thực tế giảng dạy mấy năm qua, tôi nhận thấy đa số học sinh không tự
giải quyết được các dạng bài tập hóa học. Trong đó, dạng bài tập lập PTHH cho
các phản ứng hóa học cụ thể nói chung và dạng bài tập lập PTHH cho loại phản
ứng trao đổi nói riêng, học sinh thường rất bỡ ngỡ, khó khăn và không làm được.
Trong thời gian đó tôi đã đi sâu tìm hiểu nguyên nhân để tìm ra biện pháp khắc
phục. Tôi nhận thấy có một số nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến tình
trạng trên:
- Trường tôi đóng trên địa bàn có điều kiện kinh tế khó khăn, mức độ nhận
thức của phụ huynh học sinh còn nhiều hạn, không có điều kiện quan tâm đến việc
học tập của con em mình.
- Bộ phận học sinh theo Công giáo khá nhiều, thời gian dành cho học tập
không nhiều, nhiều học sinh còn ham chơi, lười học.
- Việc học tập của học sinh chủ yếu ở giờ học chính khóa, thời gian ôn tập,
củng cố cũng như hướng dẫn các dạng bài tập cho học sinh không có. Đặc biệt đối
với bộ môn hóa học, học sinh chưa có khái niệm học phụ đạo thêm.
- Một số giáo viên chưa thực sự nhiệt tình trong giảng dạy, chưa có sự đầu tư
nhiều trong giảng dạy.
- Kĩ năng lập phương trình hóa học của các em còn hạn chế, đặc biệt là việc
cân bằng phương trình phản ứng. Đối với cân bằng PTHH dạng công thức tổng
quát thì các em lại càng gặp nhiều khó khăn hơn.

5


- Học sinh nắm chưa vững hóa trị của các nguyên tố cũng như của các nhóm
nguyên tử nên việc viết công thức hóa học của các chất trong phản ứng không
đúng. Vì việc lập công thức hóa học của các chất chưa đúng nên rất nhiều học sinh
tự tiện thay đổi công thức hóa học của các chất.
- Hầu hết học sinh không nhớ và hiểu tính chất hóa học của các chất nên khi
viết PTHH minh họa các em còn gặp nhiều khó khăn, thậm chí không viết được
PTHH minh họa cho các tính chất hóa học đó.
- Khái niệm, phân loại, cách gọi tên về các hợp chất vô cơ ở chương trình
hóa học lớp 8 đa số học sinh nắm chưa vững, dẫn đến các em không nhận biết
được một chất cụ thể thuộc loại oxit, axit, bazơ hay là muối.
- Khi lập PTHH loại phản ứng trao đổi, học sinh do không nắm vững các
điều kiện để một phản ứng trao đổi trong dung dịch xảy ra. Vì thế mà học sinh
vẫn viết các PTHH xảy ra theo như tính chất hóa học mà các em được học
nhưng nhiều phản ứng thực chất nó không xảy ra. Đây được xem là sai lầm
mắc phải nhiều nhất của học sinh mà tôi thấy được trong mấy năm học vừa
qua.
- Học sinh chưa biết hay là rất ít khi sử dụng bảng tính tan trong nước của
một số axit, bazơ và muối. Mặc dù nội dung bảng này rất quan trọng cho học sinh
cũng như cho giáo viên sử dụng trong việc xét một phản ứng hóa học thuộc loại
phản ứng trao đổi xảy ra hay không?
- Một nguyên nhân khách quan nữa là kiến thức cũng như thời gian nghiên
cứu loại phản ứng trao đổi còn rất hạn chế. Nội dung chương trình mà Bộ GD &
ĐT quy định cho "phản ứng trao đổi" thuộc chương trình hóa học THCS rất ngắn.
Cụ thể, bài "tính chất hóa học của muối" quy định dạy trong 1 tiết bao gồm cả
mục II - Phản ứng trao đổi. Trong 1 tiết này có cả kiến thức luyện tập.
Vì các nguyên nhân trên, dẫn đến chất lượng học tập của học sinh đối với
môn hóa còn rất thấp. Học sinh không tự lập được các PTHH nói chung và PTHH
loại phản ứng trao đổi trong dung dịch nói riêng. Học sinh không biết được bản
chất của phản ứng trao đổi, không biết cách xem xét phản ứng nào xảy ra và phản
ứng nào không xảy ra.
6


C th kt qu hc tp ca hc sinh trong nm hc 2018 2019 2 nh sau:
Nm hc

im 8 - 10 im 6,5 - 7,5
SL
%
SL
%

im 5 - 6,5
SL
%

im < 5
SL
%

37

57

2018 - 2019
(s HS: 116)

5

4,3

17

14,7

31,9

49,1

Qua kt qu kho sỏt trờn, chỳng ta thy c t l hc sinh khỏ gii cũn
thp, s hc sinh yu, kộm cũn nhiu.
T thc trng hc sinh nh vy, tụi ó dnh thi gian th nghim phng
phỏp riờng ca mỡnh v bc u ó cho kt qu kh quan.
II. NHNG VN CN GII QUYT
Nu hc sinh nm chc kin thc v cụng thc húa hc, b ản chất của
phn ng húa hc và đặc biệt nữa là hóa trị của các nguyên tố (để
lập nhanh công thức hóa học) thỡ hc sinh cú th vit c s ca phn
ng. Thụng thng i vi hc sinh lp 8, 9 thỡ thng cho s phn ng
hoc ch yờu cu lp nhng PTHH n gin nờn hc sinh cú th vit c s
phn ng. Khú khn cũn li m hc sinh thng mc phi l cõn bng s nguyờn
t ca mi nguyờn t. Nhng đối với một số đề học sinh yêu cầu lập
PTHH của một số phản ứng dạng tổng quát thì học sinh hầu nh
không giải quyết đợc kể cả các em học sinh khá giỏi.
Thụng thng hc sinh cõn bng s nguyờn t ca mi nguyờn t bng cm
tớnh, thm chớ mt s em cũn thay i c ch s nguyên tử ca cỏc cht, ...
1. Khỏi nim:
- Phn ng trao i trong dung dch l phn ng húa hc, trong ú gia hai cht
tham gia phn ng trao i thnh phn phõn t cho nhau to thnh nhng hp
cht mi.
- i vi mụn húa hc núi chung thỡ nh ngha v phn ng trao i trong dung
dch c phỏt biu nh sau: Phn ng trao i trong dung dch l phn ng m
khụng cú s thay i s oxi húa ca cỏc nguyờn t trc v sau phn ng.
- Phng trỡnh phn ng trao i cú dng tng quỏt:
7


AB + CD → AD + CB
A, B, C, D trao đổi vị trí cho nhau còn số oxi hóa của mỗi nguyên tố không
thay đổi.
2. Điều kiện để phản ứng trao đổi trong dung dịch xảy ra:
- Các chất tham gia phản ứng phải tan trong nước (trừ phản ứng giữa muối tác
dụng với axit và axit tác dụng với bazơ).
Ví dụ:

BaSO4 + KCl → Không xảy ra
Na2SO4 + Fe(OH)2 → Không xảy ra

- Phản ứng phải tạo thành chất kết tủa (chất không tan trong nước).
Ví dụ:

KCl

+ AgNO3 → KNO3 + AgCl ↓

2NaOH + CuCl2 → 2NaCl + Cu(OH)2 ↓
- Phản ứng tạo thành chất điện ly yếu:
+ Phản ứng tạo thành nước:
Ví dụ 1:
Ví dụ 2:

NaOH + HCl → NaCl
2Fe(OH)3 +

+

H2 O

3H2SO4 → Fe2(SO4)3 + 6H2O

+ Phản ứng tạo thành axit yếu (axit dễ bay hơi):
Ví dụ 1:
Ví dụ 2:

2NaCl +
FeS

H2SO4 đặc → Na2SO4 + 2HCl ↑

+

2HCl



FeCl2 + H2S ↑

+ Phản ứng tạo thành chất khí:
Ví dụ 1:

Na2SO3

+

2HCl → 2NaCl + SO2 ↑ + H2O

Ví dụ 2:

CaCO3 + 2HCl

→ CaCl2 + CO2 ↑ + H2O

3. Một số loại phản ứng trao đổi thường gặp cấp THCS:
3.1. Axit tác dụng với muối → Muối mới và axit mới.
2HCl + CuS → CuCl2 + H2S ↑
2HCl + Na2CO3 → 2NaCl + CO2 ↑ + H2O
BaCl2 + H2SO4 → BaSO4 ↓

+ 2HCl

- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên nên lưu ý và bổ sung cho học sinh kiến thức
sau: Một số muối sunfua như CuS, PbS, Ag2S, HgS không tan trong axit thông
thường (HCl, H2SO4 loãng) nên axit yếu H2S đẩy được các muối này ra khỏi muối
của axit mạnh.
8


H2S + CuCl2 → CuS ↓ + 2HCl
H2S + Pb(NO3)2 → PbS ↓ + 2HNO3
3.2. Axit tác dụng với bazơ → Muối và nước.
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên nói rõ cho học sinh biết loại phản ứng này
luôn luôn xảy ra, không cần xét điều kiện vì H2O là chất điện ly yếu.
2HCl
H2SO4 +

+

Ca(OH)2 → CaCl2 + 2H2O
Ba(OH)2 → BaSO4 ↓

+ 2H2O

- Đối với axit yếu loại đa nấc, ví dụ H 3PO4 khi tác dụng với bazơ mạnh, ví dụ
NaOH thì tùy thuộc vào tỷ lệ số mol giữa H 3PO4 và NaOH mà ta thu được một
muối hay nhiều muối, muối axit hay muối trung hòa.
H3PO4 + NaOH → NaH2PO4 + H2O
H3PO4 + 2NaOH → Na2HPO4 + 2H2O
H3PO4 + 3NaOH → Na3PO4 + 3H2O
3.3. Muối tác dụng với bazơ → Muối mới và bazơ mới.
Ví dụ:

CuCl2 + 2NaOH → 2NaCl + Cu(OH)2 ↓
FeSO4 + Ba(OH)2 → BaSO4 ↓ + Fe(OH)2 ↓
NH4Cl + NaOH → NaCl + NH3 ↑

+ H2O

- Trong quá trình giảng dạy, đặc biệt là bồi dưỡng học sinh giỏi giáo viên nói rõ
cho học sinh biết: Trường hợp kết tủa hiđroxit tạo ra là hiđroxit lưỡng tính như
Al(OH)3, Zn(OH)2 … thì nó sẽ tan trở lại trong kiềm dư.
Ví dụ 1:

AlCl3 + 3NaOH → 3NaCl + Al(OH)3 ↓

Nếu dư NaOH:
Al(OH)3 + NaOH → NaAlO2 + 2H2O
Ví dụ 2:

ZnSO4 + 2NaOH → Na2SO4 + Zn(OH)2 ↓

Nếu dư NaOH:
Zn(OH)2 + 2NaOH → Na2ZnO2 + 2H2O
3.4. Muối tác dụng với muối → Hai muối mới.
NaCl + AgNO3 → NaNO3 + AgCl ↓
MgSO4 + BaCl2 → MgCl2 + BaSO4 ↓
Lưu ý: Muối axit của axit mạnh được xem như một axit.
9


Ví dụ:

2NaHSO4 + Na2CO3 → 2Na2SO4 + CO2 ↑ + H2O

3.5. Axit tác dụng với oxit bazơ → Muối và nước.
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên nói rõ cho học sinh biết loại phản ứng này
luôn luôn xảy ra, không cần xét điều kiện vì H2O là chất điện ly yếu.
CaO + 2HCl → CaCl2 + H2O
Fe2O3 + 3H2SO4 → Fe2(SO4)3 + 3H2O
- Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần lưu ý cho học sinh: Fe 3O4 khi tác dụng
với axit HCl, H2SO4 loãng tạo thành 2 muối:
Fe3O4 + 8HCl → FeCl2 + 2FeCl3 + 4H2O
Fe3O4 + 4H2SO4 → FeSO4 + Fe2(SO4)3 + 4H2O
3.6. Bazơ tác dụng với oxit axit.
- Dung dịch bazơ tác dụng với oxit axit tạo thành muối và nước.
Ví dụ:

2NaOH + SO3 → Na2SO4 + H2O

- Trong quá trình giảng dạy, đặc biệt khi giải bài toán tính theo PTHH thì giáo
viên cần lưu ý cho học sinh:
+ Oxit axit CO2, SO2 khi tác dụng với dung dịch bazơ đầu tiên tạo ra muối trung
hòa và nước. Sau đó nếu còn dư CO 2 (hay SO2) thì nó tác dụng tiếp với muối trung
hòa và nước để tạo ra muối axit.
Ví dụ: CO2 tác dụng vơi dung dịch NaOH
2NaOH + CO2 → Na2CO3 + H2O (1)
Nếu dư CO2:
Na2CO3 + CO2 + H2O → 2NaHCO3 (2)
+ Oxit NO2 khi tác dụng với dung dịch bazơ thì phản ứng tạo thành 2 muối:
2NO2 + 2NaOH → NaNO3 + NaNO2 + H2O
4NO2 + 2Ba(OH)2 → Ba(NO3)2 + Ba(NO2)2 + 2H2O
Nếu có mặt của O2:
4NO2 + O2 + 4NaOH → 4NaNO3 + 2H2O

10


3.7. Oxit axit tác dụng với oxit bazơ → Muối.
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên cần lưu ý cho học sinh biết điều kiện để phản
ứng thuộc loại này xảy ra: Một trong 2 oxit phải có một oxit mạnh (thuộc oxit bazơ
mạnh hay oxit axit mạnh tương ứng).
CaO + CO2 → CaCO3
MgO + SO3 → MgSO4
3.8. Oxit axit tác dụng với dung dịch muối.
Oxit axit tác dụng với dung dịch muối thì đầu tiên oxit đó tác dụng với nước
tạo ra axit tương ứng, sau đó axit tác dụng với muối theo điều kiện của phản ứng
trao đổi thuộc loại 3.2 ở trên.
Ví dụ 1: Khi sục SO2 vào dung dịch Na2CO3:
SO2 + H2O → H2SO3
Na2CO3 + H2SO3 → Na2SO3 + CO2 ↑ + H2O
Ví dụ 2: Khi sục SO3 vào dung dịch BaCl2:
SO3 + H2O → H2SO4
BaCl2 + H2SO4 → BaSO4 ↓

+ 2HCl

3.9. Oxit bazơ tác dụng với dung dịch muối.
Đầu tiên oxit tác dụng với nước tạo thành bazơ kiềm tương ứng. Sau đó
bazơ tác dụng với muối theo điều kiện của phản ứng trao đổi thuộc loại 3.3 ở trên.
Ví dụ 1: Viết phương trình phản ứng xảy ra khi cho Na 2O tác dụng với dung dịch
muối CuSO4.
Na2O + H2O → 2NaOH
2NaOH + CuSO4 → Cu(OH)2 ↓ + Na2SO4
Ví dụ 2: Viết phương trình phản ứng xảy ra khi cho K 2O tác dụng với dung dịch
muối Al2(SO4)3.
K2O + H2O → 2KOH
11


6KOH + Al2(SO4)3 → 2Al(OH)3 ↓ + 3K2SO4
Nếu dư KOH:
KOH + Al(OH)3 → KAlO2 + 2H2O
4. Những điều cần chú ý khi viết PTHH loại phản ứng trao đổi.
a. Giáo viên cần hướng dẫn học sinh nắm vững tính tan của một số axit, bazơ và
muối trong nước (sử dụng bảng tính tan).
- Các chất ít tan, chất kết tủa:
+ Hầu hết các axit tan trong nước trừ axit H2SiO3 (thực tế là SiO2.H2O).
+ Đa số bazơ không tan trong nước trừ LiOH, NaOH, KOH, Ba(OH) 2,
Ca(OH)2, NH4OH.
+ Tất cả muối của kim loại Na, K; muối amoni NH4+; muối axit đều tan
trong nước.
+ Hầu hết muối clorua (Cl-) tan trừ: AgCl, PbCl, CuCl.
+ Hầu hết muối sunfat (SO42-) tan trừ: BaSO4, PbSO4, CaSO4, Ag2SO4.
+ Muối nitrat (NO3-), muối axetat (CH3COO-) đều tan.
+ Muối cacbonat (CO32-) hầu hết không tan và ít tan trừ muối của kim loại
kiềm và muối amoni.
+ Muối sunfua (S2-) hầu hết không tan và ít tan trừ muối của kim loại kiềm
và muối amoni.
- Lưu ý: Các trường hợp chất ít tan trong nước (hiđroxit, muối của axit yếu …) có
thể tan trong axit mạnh. Nhưng muối của axit mạnh như BaSO 4, PbSO4, CaSO4,
Ag2SO4 hoàn toàn không tan trong axit mạnh.
- Một số muối không tồn tại trong dung dịch như: Fe 2(CO3)3, Al2(CO3)3,
Fe2(SO3)3 ...
b. Những điểm cần nhớ:
- Một số axit mạnh thường gặp: H2SO4, HNO3, HCl, HBr, HI, HClO4,
HCOOH
- Một số axit trung bình thường gặp: H2SO3, H3PO4 …
- Một số axit yếu thường gặp: H2S, H2CO3, CH3COOH, NH4+ …các axit hữu
cơ…
12


- Một số bazơ mạnh thường gặp tan trong nước tạo thành dung dịch kiềm:
NaOH, KOH, Ba(OH)2, Ca(OH)2 …
- Một số bazơ trung bình thường gặp: Mg(OH)2, Cu(OH)2 …
- Một số bazơ lưỡng tính: Al(OH)3, Zn(OH)2, Be(OH)2, …
- Một số bazơ yếu: Dung dịch NH3, dung dịch amin …
- H2SO4 loãng không đẩy được HCl ra khỏi dung dịch muối clorua, trái lại
H2SO4 đặc nóng với tinh thể NaCl thì được.
- Một số axit yếu cũng có thể đẩy được axit mạnh ra khỏi dung dịch muối
nếu muối tạo thành ít tan hoặc kết tủa:
Ví dụ:

H2S + CuSO4 → CuS ↓ + H2SO4
- Người ta dùng H2SO4 đặc để đẩy axit yếu hoặc axit dễ bay hơi ra khỏi dung

dịch muối do H2SO4 bền không bay hơi (đây là phương pháp sunfat dùng điều chế
HCl, HF) nhưng tuyệt đối không dùng axit HNO 3 do axit HNO3 có tính oxi hóa
mạnh.
- Bazơ kiềm mạnh mới tác dụng được với muối của bazơ yếu:
Ví dụ:

2KOH + FeSO4 → K2SO4 + Fe(OH)2 ↓
Mg(OH)2 +

NaCl → không phản ứng.

5. Cách khắc phục và ví dụ cụ thể.
5.1. Axit tác dụng với bazơ → Muối và nước.
Giáo viên lưu ý cho học sinh tính chất này luôn luôn xảy ra, cả bazơ tan và
bazơ không tan đều tác dụng với dung dịch axit tạo thành muối và nước.
Trong đó, giáo viên đưa ra định nghĩa về phản ứng trung hòa khác trong
SGK: Phản ứng trung hòa là phản ứng hóa học giữa dung dịch axit với dung dịch
bazơ tạo thành muối trung hòa và nước.
Ví dụ:

HCl +
H2SO4 +

NaOH → NaCl

+ H2O

Cu(OH)2 → CuSO4 + 2H2O

5.2. Axit tác dụng với muối → Muối mới và axit mới.
Đây là loại phản ứng trao đổi thường gặp đầu tiên trong chương trình hóa
học lớp 9. Đối với loại phản ứng này, giáo viên cần lưu ý cho học sinh một số vấn
đề sau:
13


- Những thành phần nào của hai chất tham gia phản ứng trao đổi cho nhau
để tạo thành hợp chất mới: Nguyên tử H trong axit trao đổi với nguyên tử kim loại
hoặc là hai gốc axit trao đổi cho nhau.
- Điều kiện để phản ứng loại này xảy ra: Ít nhất một trong hai sản phẩm sinh
ra phải là chất kết tủa hoặc là chất dễ bay hơi.
- Cần sử dụng bảng tính tan.
Ví dụ 1.

2HCl + CaCO3 → CaCl2 +

CO2 ↑ + H2O

H2SO4 + BaCl2 → BaSO4 ↓ + 2HCl
2HCl + CuS → CuCl2 + H2S ↑
HCl +

Na2SO4 → Không xảy ra

Ví dụ 2. Trong các cặp chất sau, cặp chất nào phản ứng được với nhau? Giải thích
và viết phương trình phản ứng xảy ra?
a. HCl +

CuSO4 →

c. H2SO4 +

b. H2S +

Na2SO3 →

CuCl2 →

d. HNO3 + BaCl2 →

Đối với dạng bài tập này, giáo viên yêu cầu học sinh cần nắm vững các vấn
đề lưu ý như ở trên thì chúng ta sẽ giải quyết bài tập một cách đơn giản và nhanh
chóng.
Câu (a) và (d), phản ứng không xảy ra vì sản phẩm sinh ra không có chất kết
tủa hoặc là chất khí.
Câu (b) và (c), phản ứng xảy ra như sau:
H2S +
H2SO4 +

CuCl2 → CuS↓

+

2HCl

Na2SO3 → Na2SO4 + SO2 ↑ + H2O

5.3. Muối tác dụng với bazơ → Muối mới và bazơ mới.
- Đây là loại phản ứng trao đổi thường gặp tiếp theo trong chương trình hóa học
lớp 9 - ở bài 9 “Tính chất hóa học của muối”. Đối với loại phản ứng này, giáo viên
cần lưu ý cho học sinh một số vấn đề sau:
- Những thành phần nào của hai chất tham gia phản ứng trao đổi cho nhau để tạo
thành hợp chất mới: Nguyên tử kim loại trong muối và trong bazơ trao đổi cho
nhau hoặc là gốc axit của phân tử muối trao đổi với nhóm –OH của phân tử bazơ.
- Điều kiện để phản ứng loại này xảy ra:
14


+ Hai chất tham gia phản ứng phải tan trong nước.
+ Ít nhất một trong hai sản phẩm sinh ra phải là chất kết tủa hoặc là chất dễ
bay hơi.
- Cần sử dụng bảng tính tan.
Ví dụ 1.

CuSO4

+

2NaOH → Na2SO4 +

CaCl2
NaCl

+
+

Cu(OH)2↓

KOH → Không xảy ra
Al(OH)3 → Không xảy ra

Ví dụ 2. Nêu hiện tượng xảy ra, giải thích và viết phương trình phản ứng (nếu có)
khi cho:
a. Dung dịch AlCl3 vào dung dịch NaOH
b. BaSO4 vào dung dịch KOH
c. NaNO3 vào dung dịch Ca(OH)2
- Đối với dạng bài tập này, giáo viên yêu cầu học sinh cần nắm vững các vấn đề
lưu ý như ở trên thì chúng ta sẽ giải quyết bài tập một cách đơn giản và nhanh
chóng. Riêng đối với câu (a) giáo viên cần hướng dẫn kĩ cho học sinh trường hợp
nếu dư dung dịch NaOH. Trong quá trình giảng dạy, giáo viên nên đưa ra kiên
thức này để bồi dưỡng học sinh khá giỏi.
- Câu a. Xuất hiện kết tủa trắng dạng keo, sau đó một phần kết tủa bị tan nếu dùng
dư NaOH.
AlCl3

+ 3NaOH → 3NaCl

+ Al(OH)3↓

Nếu dư NaOH:
Al(OH)3 + NaOH → NaAlO2 + 2H2O
- Câu (b) không có hiện tượng gì xảy ra, phản ứng không xảy ra vì muối BaSO 4
không tan trong nước.
- Câu (c) cũng không có hiện tượng gì xảy ra, phản ứng không xảy ra vì hai sản
phẩm sinh ra là Ca(NO3)2 và NaOH đều tan trong nước, không phải là chất kết tủa
hay là chất khí.
5.4. Muối tác dụng với muối → Hai muối mới.

15


- Đây là loại phản ứng trao đổi thường gặp tiếp theo trong chương trình hóa học
lớp 9 - ở bài 9 “Tính chất hóa học của muối”. Đối với loại phản ứng này, giáo viên
cần lưu ý cho học sinh một số vấn đề sau:
- Những thành phần nào của hai chất tham gia phản ứng trao đổi cho nhau để tạo
thành hợp chất mới: Nguyên tử kim loại trong hai muối trao đổi cho nhau hoặc là
hai gốc axit của hai phân tử muối trao đổi với nhau.
- Điều kiện để phản ứng loại này xảy ra:
+ Hai muối tham gia phản ứng phải tan trong nước.
+ Ít nhất một trong hai muối sinh ra phải là chất kết tủa hoặc là chất dễ bay
hơi.
- Cần sử dụng bảng tính tan.
Ví dụ 1.

NaCl + AgNO3 → NaNO3 + AgCl↓
FeCl3 + NaNO3 → Không xảy ra
CaSO4

+

BaCl2 → Không xảy ra

5.5. Oxit bazơ tác dụng với dung dịch muối.
- Đối với chương trình hóa học lớp 9 thì tính chất hóa học này không đưa ra trong
bài “Tính chất hóa học của oxit bazơ” cũng như trong bài “Tính chất hóa học của
muối” nhưng theo tôi, trong quá trình dạy bồi dưỡng học sinh giỏi thì đây là một
kiến thức quan trọng mà giáo viên cần phải đưa ra giảng dạy.
- Giáo viên cần hướng dẫn kĩ cho học sinh: Đầu tiên oxit tác dụng với nước tạo
thành bazơ kiềm tương ứng. Sau đó bazơ tác dụng với muối theo điều kiện của
phản ứng trao đổi thuộc loại 6.3 ở trên.
Ví dụ 1. Viết phương trình phản ứng xảy ra khi cho CaO tác dụng với dung dịch
muối FeSO4.
CaO + H2O → Ca(OH)2
Ca(OH)2 + FeSO4 → Fe(OH)2 ↓ + CaSO4
Ví dụ 2. Viết phương trình phản ứng xảy ra khi cho Na 2O tác dụng với dung dịch
muối ZnCl2.
Na2O + H2O → 2NaOH
2NaOH + ZnCl2 → Zn(OH)2 ↓ + 2NaCl
16


Nếu dư NaOH:
2NaOH + Zn(OH)2 → Na2ZnO2 + 2H2O
Trên đây chỉ giới thiệu một số loại phản ứng trao đổi điển hình, những lỗi
học sinh thường mắc phải cũng như một số cách khắc phục mà tôi đưa ra trong quá
trình giảng dạy môn hóa học lớp 9 cấp THCS. Đề tài được tôi áp dụng cho từng
đối tượng học sinh trong một lớp cũng như cho các lớp có đối tượng học sinh khác
nhau. Đặc biệt trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
Ngoài ra, lên cấp THPT các em còn gặp nhiều loại phản ứng trao đổi trong
dung dịch, ví dụ dạng phản ứng trao đổi “ion” trong dung dịch cũng như một số
cách giải câu hỏi và bài tập về phản ứng trao đổi ion trong dung dịch.
Trong suốt thời gian viết đề tài, tôi luôn cố gắng thông qua thực tế giảng
dạy trên lớp để kiểm nghiệm đề tài và ngược lại. Trước tiên, cần giúp HS nắm
vững một cách có hệ thống về các loại phản ứng trao đổi trong dung dịch thường
gặp trong chương trình hóa học lớp 9. Sau đó từng bước nâng dần kĩ năng, tập
dượt cho học sinh cách nhận dạng một phản ứng thuộc loại phản ứng trao đổi, biết
được một phản ứng trao đổi muốn xảy ra cần những điều kiện gì, những thành
phần nào trao đổi cho nhau cũng như biết được những lỗi mà các thường mắc phải
khi lập PTHH thuộc loại phản ứng trao đổi trong dung dịch. Trong quá trình luyện
tập và làm bài tập các em dần dần khắc phục được các sai lầm của mình.
Những HS khá giỏi môn Hoá hứng thú tìm đến với các bài tập khó, biết thêm một
số kiến thức nâng cao ngoài SGK mà giáo viên đưa ra. Kết quả kiểm tra khả năng
viết PTHH của học sinh được nâng dần lên.
Tóm lại, đề tài này tôi chỉ nêu ra được một vài phương pháp khắc phục, mặc
dù còn nhiều phương pháp hơn nữa, nhưng vì thời gian và kinh nghiệm còn hạn
chế nên tôi chưa thể phát hiện thêm được các phương pháp khác nữa. Cuối cùng tôi
rất mong sự đóng góp chân thành và thẳng thắn của quý đồng nghiệp và các em
học sinh để tôi có thể sữa chữa bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả dạy học, đó là
nguồn động viên và kinh nghiệm quý báu để giúp cho quá trình giảng dạy của bản
thân tôi sau này được tốt hơn.

17


6. Kết quả của việc nghiên cứu:
Trên cơ sở khai thác các nội dung như trên, tôi đã tiến hành khảo sát chất
lượng học sinh ở những lớp trực tiếp giảng dạy trong năm gần đây.
Đề ra: (Thời gian làm bài 20 phút)
Câu 1. Viết các PTHH xảy ra (nếu có):
a. HNO3 +

Cu(OH)2 →

b. HCl

+

NaNO3 →

c. BaCl2 +

Na2SO4 →

d. AlCl3 +

KOH (dư) →

e. HCl

CaSO3 →

+

g. Fe(OH)3 + NaCl →
Câu 2. Nêu hiện tượng và viết PTHH khi cho:
a. Kim loại Na vào dung dịch muối CuSO4.
b. BaCO3 vào dung dịch axit H2SO4.
Kết quả thu được như sau:
Năm học

Điểm 8 – 10 Điểm 6,5 - 7,5
SL
%
SL
%

Điểm 5 - 6,5
SL
%

Điểm < 5
SL
%

45

35

2019 - 2020
(Số HS: 125)

16

12,8

29

23,2

36

28

Bảng số liệu trên là minh họa một phần cho sự thành công của chuyên đề, tỉ
lệ học sinh yếu kém giảm dần còn tỉ lệ học sinh khá giỏi tăng lên.

18


C. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ
I. KẾT LUẬN
Trong suốt quá trình nghiên cứu và áp dụng sáng kiến kinh nghiệm trên, bản
thân tôi thấy nó giúp cho mình được củng cố thêm về vốn kiến thức hóa học, tăng
cường khả năng tự học tự bồi dưỡng nhằm góp phần nâng cao trình độ chuyên
môn. Qua đó nắm bắt được kịp thời những nội dung kiến thức mà học sinh còn
hổng, những sai lầm mà học sinh thường mắc phải trong việc PTHH loại phản ứng
trao đổi nói riêng cũng như đối với môn Hóa học nói chung. Từ đó có phương án
khắc phục, giảng dạy một cách phù hợp cho từng đối tượng học sinh mà mình phụ
trách. Một phản ứng trao đổi có thể xảy ra hay không và nếu xảy ra thì ta lập
PTHH như thế nào? Vấn đề đặt ra là giáo viên phải hướng dẫn và định hướng cho
học sinh lựa chọn cách nhận dạng cũng như cách khắc phục đơn giản, dễ hiểu và
bản chất nhất mới đem lại hiệu quả cao. Trong thực tế giảng dạy, tùy vào chất
lượng cụ thể của mỗi lớp mà tôi khai thác đề tài này với mức độ, cách thức khác
nhau và kết quả đem lại là rất tốt; đa số học sinh lớp 9 hiểu được bản chất của phản
ứng trao đổi, điều kiện để phản ứng trao đổi xảy ra cũng như biết được một số cách
khắc phục sai lầm khi lập PTHH thuộc loại phản ứng trao đổi. Đối với học sinh
khá và giỏi có thể biết thêm một số dạng bài tập khó hơn, mới hơn.
Đề tài này có ý nghĩa thiết thực không những cho học sinh và giáo viên bộ
môn trong nhà trường mình giảng dạy mà nó còn là một tài liệu chuyên môn bổ ích
cho đồng nghiệp cùng chuyên môn nhằm nâng cao chất lượng đại trà, chất lượng
học sinh khá, giỏi trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi. Vì thế, giáo viên cần
hướng dẫn cho học sinh các dạng bài tập, các câu hỏi, các PTHH từ thấp đến cao,
từ dễ đến khó phù hợp với từng đối tượng học sinh nhằm ra sự tích cực, tò mò, tự
lực học tập ở học sinh, gây sự hứng thú giúp học sinh phát huy năng lực sáng tạo,
nhớ lâu hơn các kiến thức đã học.
Không có phương pháp nào là vạn năng, tùy vào học sinh cụ thể của lớp
mình giảng dạy mà lựa chọn, khai thác cho phù hợp.

19


II. KIẾN NGHỊ
Số lượng bài tập, phương pháp khắc phục còn ít chỉ mang tính chất minh
họa nên khi giảng dạy giáo viên cần nghiên cứu, bổ sung và dành nhiều thời gian
cho chuyên đề này hơn.
Đối với những lớp có học lực trung bình và yếu thì giáo viên cần phải lưu ý
thêm cách nhận ra mỗi dạng bài để học sinh vận dụng cho dễ dàng.
Đối với bản thân tôi cũng như giáo viên giảng dạy bộ môn Hóa học trong
trường, phải thường xuyên tự học, tự bồi dưỡng, tham khảo nhiều tài liệu để nâng
cao kiến thức, luôn học tập, trao đổi với đồng nghiệp để không ngừng nâng chuyên
môn nghiệp vụ cho bản thân nhằm nâng cao chất lượng đại trà cũng như chất
lượng mũi nhọn. Giáo viên cần dành thêm thời gian rèn luyện cho học sinh kỹ
năng thực hành thí nghiệm, ngoài những tiết chính khóa trên lớp thì có thể tăng
cường thêm các buổi ngoại khóa.
Tổ chuyên môn cần bố trí cho giáo viên báo cáo chuyên đề, tạo điều kiện
thuận lợi để đề tài được áp dụng rộng rãi.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, ngành giáo dục nước nhà đang có những
đổi mới căn bản và toàn diện về công tác dạy học nhằm phát huy tính tích cực chủ
động của học sinh. Tăng cường và sử dụng hiệu quả các đồ dùng, thiết bị dạy học,
khai thác phòng học bộ môn. Nhà trường cần trang bị, bổ sung nhiều tài liệu nâng
cao bộ môn hóa học để hỗ trợ cho giáo viên trong quá trình giảng dạy và bồi
dưỡng học sinh giỏi. Việc thi học sinh giỏi hiện nay là có 2 phần: phần thi lý thuyết
cho từng cá nhân và phần thi đồng đội (thực hành, thí nghiệm), Ban giám hiệu cần
mua sắm trang thiết bị dạy học kịp thời và sắp xếp thời khóa biểu hợp lý để giáo
viên có thể sử dụng hiệu quả phòng bộ môn.
Thời lượng dành cho phần “phản ứng trao đổi” ở chương trình môn hóa 9
cấp THCS là còn quá ít, mong các nhà quản lý giáo dục có sự sắp xếp hợp lý hơn
phần kiến thức này.
Trên đây là suy nghĩ của riêng cá nhân tôi, mặc dù tôi đã rất cố gắng nhưng
chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong các đồng chí, đồng nghiệp
góp ý thêm để đề tài được hoàn thiện. Xin chân thành cảm ơn!
20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. SGK Hóa học lớp 9 - Nhà xuất bản Giáo dục.
2. SGV Hóa học lớp 9 - Nhà xuất bản Giáo dục.
3. Sách thiết kế bài giảng Hóa học 9 - Nhà xuất bản Hà Nội.
4. Tài liệu bồi dưỡng thường xuyên chu kì III cho giáo viên THCS môn Hóa
học - Nhà xuất bản Giáo dục.
5. Một số vấn đề đổi mới phương pháp dạy học môn Hóa học THCS - Nhà
xuất bản Giáo dục.
6. Dạy học thế nào cho học sinh tự lực nắm kiến thức Hóa học THCS - Nhà
xuất bản Hà Nội.
8. Giáo trình bài tập hóa học sơ cấp – Nhà xuất bản Giáo dục.
9. Sách bài tập hóa học nâng cao hóa học 9 – Nhà xuất bản Giáo dục.
10. Sách 400 bài tập hóa học 9 – Tác giả Ngô Ngọc An.
11. Một số tài liệu tham khảo khác trên Internet.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×