Tải bản đầy đủ

Báo cáo thực tập Kinh tế Luật tại Công ty cổ phần sản xuất vạn xuân

LỜI MỞ ĐẦU

Việt Nam đang mong muốn và dần tiến tới trở thành một nước công nghiệp ngày
càng phát triển về mọi mặt.Trong xu hướng hội nhập quốc tế, tầm quan trọng của pháp
luật ngày càng được khẳng định. Đối với mỗi doanh nghiệp, pháp luật được coi như
“kim chỉ nam” cho mọi hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Chính vì vậy, doanh
nghiệp dù hoạt động trên lĩnh vực nào cũng không thể thiếu bộ phận pháp lý. Các
chuyên viên pháp lý là những người tham mưu về mặt pháp lý cho lãnh đạo doanh
nghiệp để đảm bảo hoạt động đúng luật, cạnh tranh lành mạnh và kinh doanh hiệu quả.
Mặt khác, pháp luật là một công cụ hữu ích giúp Nhà nước quản lý, giám sát và điều
hành hoạt động của các doanh nghiệp theo cách hợp lý nhất. Cũng vì lẽ đó, việc khảo sát
thực trạng thi hành pháp luật của các doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay là rất cần thiết.
Là một sinh viên chuyên ngành Luật – Kinh tế của trường đại học Thương Mại,
em có cơ hội được thực tập tại Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân, một công ty hoạt
động trong lĩnh vực đúc gang, thép. Sau 4 tuần thực tập tại công ty, em đã có cái nhìn
toàn diện hơn về sự tác động của pháp luật đối với các doanh nghiệp cũng như các
thành tựu và hạn chế của thực trạng thi hành pháp luật đối với doanh nghiệp hiện nay.
Em xin gửi lời cám ơn tới ban lãnh đạo, các anh chị trong công ty Công ty Cổ
phần sản xuất Vạn Xuân đã tại điều kiện giúp đỡ trong suốt quá trình thực tập. Đồng
thời, em xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Th.s Nguyễn Thái Trường, người
đã tận tình hướng dẫn, giúp em trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành báo cáo

thực tập tổng hợp này.
Do thời gian thực tập cho phép còn hạn chế cũng như kiến thức của em còn hạn
hẹp, nên báo cáo thực tập tổng hợp này không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất
mong nhận được sự góp ý từ phía công ty và các thầy, cô giáo.
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, Ngày 28 tháng 01 năm 2018
Sinh viên
Trần Thị Thảo
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
MỤC LỤC


PHẦN I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT..................1
VẠN XUÂN................................................................................................................... 1
1.1. Chức năng, nhiệm vụ của công ty.........................................................................1
1.2. Ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh.........................................................................1
1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy...........................................................................................2
1.4. Cơ sở vật chất kỹ thuật và mạng lưới kinh doanh của công ty.............................3
PHẦN II. HỆ THỐNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CỦA.............4
CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VẠN XUÂN.......................................................4
2.1. Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động thành lập, tổ chức và quản lý của
Công ty Cổ phần Vạn Xuân..........................................................................................4
2.2. Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh của Công ty....................4
2.3 Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động sản xuất của Công ty..........................6
2.4. Hệ thống pháp luật điều chỉnh về lao động và an sinh xã hội của Công ty.........6
2.5. Hệ thống pháp luật điều chỉnh về thuế của Công ty.............................................7
PHẦN III. THỰC TRẠNG THI HÀNH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG QUY
PHẠM PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VẠN XUÂN..............................................9
3.1. Thực trạng thi hành hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối với hoạt
động, kinh doanh của Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân....................................9
3.1.1. Thực trạng thi hành hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối với hoạt
động thành lập, tổ chức và quản lý của Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân..........9
3.1.2. Thực trạng thi hành hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối với hoạt
động sản xuất của Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân...........................................10
3.1.3. Thực trạng thi hành hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối với hoạt
động kinh doanh của Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân......................................11
3.1.4. Thực trạng thi hành hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối với hoạt
động tuyển dụng, sử dụng lao động...........................................................................11


3.1.5. Thực trạng thi hành hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối với hoạt
động nộp thuế............................................................................................................12
3.2. Thực trạng tác động của hệ thống quy phạm pháp luật thương mại dối với
hoạt động, kinh doanh của Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân..........................13
3.2.1. Thực trạng tác động của hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối với
hoạt động thành lập, tổ chức và quản lý của Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân 13
3.2.2. Thực trạng tác động của hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối với
hoạt động sản xuất của Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân..................................14


3.2.3. Thực trạng tác động của hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối với
hoạt động tuyển dụng, sử dụng lao động ở Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân...14
3.2.4. Thực trạng tác động của hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối với
hoạt động kinh doanh ở Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân.................................15
3.2.5. Thực trạng tác động của hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối với
hoạt động nộp thuế ở Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân......................................15
PHẦN IV. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG THI HÀNH VÀ HỆ
THỐNG PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VẠN XUÂN.....................................................17
4.1. Đánh giá chung về thực trạng thi hành pháp luật thương mại đến hoạt động
của Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân................................................................17
4.1.1. Những ưu điểm của Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân trong việc thi hành
hệ thống pháp luật thương mại..................................................................................17
4.1.2. Những hạn chế của Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân trong việc thi hành
hệ thống pháp luật thương mại và Nguyên nhân của những hạn chế đó................17
4.2. Đánh giá chung về hệ thống pháp luật thương mại điều chỉnh hoạt động của
Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân.......................................................................18
4.2.1. Thành tựu.........................................................................................................18
4.2.2. Hạn chế.............................................................................................................19
PHẦN V. NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN GIẢI QUYẾT...................................21
5.1. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết từ phía luật pháp.......................................21
5.2. Những vấn đề đặt ra cần giải quyết từ phía công ty...........................................21
PHẦN VI. ĐỀ XUẤT ĐỀ TÀI KHÓA LUẬN..........................................................22
KẾT LUẬN................................................................................................................23


PHẦN I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT
VẠN XUÂN
Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân được thành lập 2011, với người đứng đầu là
ông Trần Duy Quý. Nhận thức được sự phát triển của nền công nghiệp Việt Nam và hiểu
rõ điểm hạn chế trong ngành đúc hiện nay, Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân ra đời với
ngành nghề sản xuất chính là đúc sắt, thép. Dưới đây là một số chi tiết về công ty:
 Tên công ty: Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân.
 Tên giao dịch: VAN XUAN MANUFACTURE JOINT STOCK COMPANY
 Trụ sở chính: Số 28, ngõ 266, đường Lê Thanh Nghị, Phường Đồng Tâm, Quận
Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội, Việt Nam.
 Văn phòng giao dịch: Số 28, ngõ 266, đường Lê Thanh Nghị, Phường Đồng
Tâm, Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội, Việt Nam.
 Hình thức sở hữu: Công ty Cổ phần.
 Vốn điều lệ: 3.000.000.000 đồng. (ba tỷ đồng chẵn)
 Mã số thuế: 0105454868
 Ngày cấp giấy phép: 17/08/2011
 Đại diện pháp luật: Trần Duy Quý.
 Điện thoại: (084) 6284376.

1


1.1. Chức năng, nhiệm vụ của công ty
Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân hoạt động với chức năng chủ yếu là sản
xuất, kinh doanh các sản phẩm đúc sắt, thép. Bên cạnh đó, còn thực hiện một số
nghiệp vụ khác như gia công cơ ký, sản xuất và phân phối các thiết bị về điện, buôn
bán, sửa chữa các phụ tùng xe máy, ô tô,…
Nhiệm vụ của công ty, trước hết là thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước, thực
hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật, giữ gìn trật tự, an ninh , làm nghĩa vụ
quốc phòng. Hơn nữa, công ty còn có nhiệm vụ mở rộng thị trường, tìm đối tác; cố
gắng hoàn thiện sản phẩm của công ty về cả chất lượng và số lượng nhằm thúc đẩy
hoạt động kinh doanh ngày càng phát triển. Công ty còn phải thực hiện tốt các chính
sách cán bộ, chính sách tiền lương nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho nhân viên, công
nhân của công ty; chăm lo đời sống tinh thần cũng như khích lệ việc bồi dưỡng, nâng
cao tay nghề, trình độ chuyên môn cho các nhân viên trong công ty.
1.2. Ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh
Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân là một công ty chuyên hoạt động trên các
lĩnh vực:

- Đúc sắt thép (Ngành chính)
- Đúc kim loại màu
- Sản xuất các cấu kiện kim loại
- Sản xuất thùng, bể chứa và dụng cụ chứa đựng bằng kim loại
- Gia công cơ khí; xử lý và tráng phủ kim loại
- Sản xuất mô tơ, máy phát, biến thế điện, thiết bị phân phối và điều khiển

2


- Sản xuất thiết bị dây dẫn điện các loại
- Sản xuất phụ tùng và bộ phận phụ trợ cho xe có động cơ
- Lắp đặt hệ thống điện
- Bán phụ tùng và các bộ phận phụ trợ của mô tô, xe máy
1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy
Sơ đồ tổ chức của Công ty cổ phần Vạn Xuân
ĐẠI HỘI ĐỒNG CỔ
ĐÔNG

BAN KIỂM SOÁT

HỘI ĐỒNG
QUẢN TRỊ

BAN GIÁM ĐỐC

Phòng
Hành
chính
-Nhân
sự

Phòng
Tài
chính Kế toán

Phòng
Kỹ thuật

Phòng
Kinh
doanh

3

Phòng
Thiết kế


(Nguồn: Phòng Hành chính - Nhân sự)
- Đại hội đồng cổ đông: bao gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan
quyết định cao nhất của công ty, nơi thông qua định hướng phát triển của công ty,
quyết định loại và tổng số cổ phần, quyết định sửa đổi bổ sung Điều lệ công ty, thông
qua báo cáo tài chính hằng năm.
- Ban kiểm soát: do Đại hội đồng cổ đông bầu ra thực hiện nhiệm vụ giám sát
Hội đồng quản trị, Giám đốc trong việc quản lý, điều hành công ty. Ban kiểm soát chịu
trách nhiệm trước Đại hội đồng cổ đông việc thực hiện nhiệm vụ được giao.
- Hội đồng quản trị: là cơ quan quản lý của công ty, có toàn quyền nhân danh
công ty để quyết định các chiến lược và kế hoạch phát triển, quyết định chào bán, mua
lại cổ phần, quyết định các phương án, dự án đầu tư, trình báo cáo tài chính hằng năm
lên Đại hội đồng cổ đông.
- Ban giám đốc: gồm Giám đốc và phó Giám đốc, trong đó Giám đốc là người
chịu trách nhiệm điều hành mọi hoạt động hàng ngày của công ty, và là đại diện của
công ty trước pháp luật. Phó Giám đốc là người chịu trách nhiệm giúp đỡ cho Giám
đốc theo các nhiệm vụ được Giám đốc phân công hoặc uỷ quyền.
Các trưởng phòng ban của các phòng ban nghiệp vụ có trách nhiệm báo cáo và
đề xuất ý kiến trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, mỗi phòng ban đều có
nhiệm vụ cụ thể

4


-Phòng kinh doanh: Có nhiệm vụ lập kế hoạch cho các bộ phận khác thực hiện từ
thực hiện tiền khả thi và đi vào hoạt động
- Phòng tổ chức hành chính: Thay giúp việc cho Giám đốc, thực hiện xây dựng
mô hình tổ chức, quản lý hồ sơ cán bộ công nhân viên, tổ chức nhân sự, sắp xếp lao
động, hành chính quản trị. Đồng thời hướng dẫn tình hình hoạt động của công ty, tiếp
nhận quản lý, phân phối và lưu trữ tài liệu, công văn đi và đến.
- Phòng tài chính – kế toán: Nhiệm vụ chính là hướng dẫn và kiểm tra thực hiện
công tác tài chính kế toán, thống kê, thu nhận các thông tin kinh tế, giám sát đầy đủ
kịp thời và chính xác mọi nhiệm vụ kinh tế phát sinh trong công ty đối với Nhà nước,
chế độ qui chế trả lương, phân tích hoạt động tài chính, tổng hợp tình hình hoạt động
kinh doanh để báo cáo thường xuyên cho ban giám đốc.
1.4. Cơ sở vật chất kỹ thuật và mạng lưới kinh doanh của công ty
Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân có trụ sở kinh doanh chính tại: Số 28, ngõ
266, đường Lê Thanh Nghị, Phường Đồng Tâm, Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà
Nội, Việt Nam . Tại trụ sở chính bao gồm các phòng ban: Phòng giám đốc, Phòng phó
giám đốc, Phòng kinh doanh, Phòng hành chính - nhân sự, Phòng tài chính - kế toán,
Phòng thiết kế. Trụ sở chính được trang bị các loại máy móc công nghệ cao, tiên tiến
trong lĩnh vực đức sắt, thép; các đồ bảo hộ cho công nhân viên trong qáu trình sản
xuất, chế tạo sản phẩm,…Ngoài ra, công ty còn có một nhà xưởng lớn, phục vụ cho
hoạt động kinh doanh chính là sản xuất các sản phẩm đúc sắt, thép.
Hằng năm, công ty luôn tiến hành kiểm tra định kỳ, tu sửa và thay mới các loại
máy móc nhằm đảm bảo an toàn cho người lao động. Đồng thời luôn tiến hành nhập
khẩu các loại máy móc công nghệ cao để nâng cao hiệu quả sản xuất và giải phóng sức
lao động của công nhân.
Hoạt động của công ty được tập trung tại khu vực chính tại Hà Nội.

5


PHẦN II. HỆ THỐNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VẠN XUÂN
Hệ thống pháp luật có vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra hành lang pháp lí để
công ty được tạo lập, vận hành và phát triển một cách hợp pháp. Trong quá trình hoạt
động, công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân chịu sự điều chỉnh của các Bộ Luật như Bộ
Luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Luật Doanh nghiệp, Luật Lao động,
Bộ Luật Tố tụng dân sự, Luật Trọng tài Thương mại và các văn bản hướng dẫn có liên
quan… Ngoài ra hoạt động của công ty còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc tế
trong một số trường hợp nhất định, chẳng hạn như hoạt động của công ty với đối tác
có yếu tố nước ngoài và hai bên có thỏa thuận.
2.1. Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động thành lập, tổ chức và quản lý
của Công ty Cổ phần Vạn Xuân
Theo điều 57 Luật Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Công
dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật.” là tiền đề để thực hiện
quyền thành lập công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân Nhưng đồng thời, công ty cũng phải
tuân theo các quy định khác của pháp luật trong việc điều chỉnh các hoạt động kinh
doanh của mình.
Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân được thành lập năm 2011. Vì vậy, việc thành
lập, tổ chức quản lý và hoạt động của công ty thời điểm đó chịu sự điều chỉnh của các
quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Luật
Doanh nghiệp 2005 đã quy định chi tiết về công ty cổ phần, cụ thể tại Chương IV gồm
53 điều (từ Điều 77 đến Điều 129) quy định rõ ràng các vấn đề liên quan đến loại hình
công ty này.
Sau khi Luật Doanh nghiệp 2005 hết hiệu lực, công ty chịu sự tác động của Luật
Doanh nghiệp 2014. Luật này quy định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của các cổ đông trong
công ty, giá thành cổ phiếu và các yếu tố liên quan đến hoạt động chào bán, chuyển
nhượng cổ phần. Dựa vào Luật Doanh nghiệp, công ty có thể huy động được nguồn vốn
bên ngoài để hoạt động hiệu quả hơn và kiểm soát doanh nghiệp chặt chẽ hơn.

6


Ngoài ra còn có các nghị định liên quan khác như:
- Nghị định 96/2015/NĐ-CP Hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Doanh
nghiệp 2014
- Nghị định 78/2015/NĐ-CP Về đăng ký doanh nghiệp
2.2. Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh của Công ty
Trước hết, hoạt động kinh doanh của công ty phải chịu sự điều chỉnh chung của
Bộ luật Dân sự 2005( tính theo thời gian thành lập và hiệu lực của Bộ Luạt dân sự
2005) về các chế định hợp đồng, phương thức giao nhận hàng hóa, điều kiện giao nhận
hàng hóa,… những quy định chung mà luật chuyên ngành không điều chỉnh. Tại thời
điểm hiện tay, sau khi Bộ Luật Dân sự 2015 đã có hiệu lực, thì Công ty phải chịu sự
điều chỉnh của Bộ Luật này.
Quan trọng hơn cả, hoạt động kinh doanh của công ty sẽ phải chịu sự điều chỉnh
của Luật Thương mại năm 2005 từ chủ thể hoạt động kinh doanh, quyền và nghĩa vụ
của chi nhánh, văn phòng đại diện đến các hoạt động của công ty như hoạt động trao
đổi, mua bán hàng hóa, thời gian, phương thức, địa điểm giao nhận hàng hóa, quyền và
trách nhiệm của các bên,…
 Bộ luật Dân sự 2015
Trước khi Bộ luật Dân sự mới ra đời, thì hoạt động kinh doanh của công ty chịu
sự điều chỉnh Bộ luật Dân sự 2005 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2006. Đây là bộ
luật “quy định địa vị pháp lý, chuẩn mực pháp lý cho cách ứng xử của cá nhân, pháp
nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ của các chủ thể về thân nhân và tài sản trong các
quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động”. Như vậy,
bộ luật chứa đựng những quy định chung điều chỉnh mọi quan hệ dân sự phát sinh
trong quá trình hoạt động của công ty như: quan hệ mua bán hàng hoá, quan hệ lao
động,… Cụ thể, các quy định tại Chương 6 (Giao dịch dân sự), phần thứ hai (Tài sản
và quyền sở hữu) và phần thứ ba (Nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự) sẽ tác động
trực tiếp đến quan hệ mua bán, kinh doanh thương mại của công ty.

7


Đến ngày 01 tháng 01 năm 2017 thì hoạt động kinh doanh của công ty chịu sự điều
chỉnh của Bộ luật Dân sự 2015 với những quy định cụ thể, chi tiết, rõ ràng và đầy đủ
hơn so với Bộ luật cũ. Cụ thể là các điểm tiến bộ trong việc hoàn thiện chế định về tài
sản, quyền sở hữu bảo đảm được tính bao quát, minh bạch trong quy định của pháp luật.
 Luật Thương mại 2005
Luật Thương mại 2005 có hiệu lực thi hành từ 01/01/2006, gồm 9 chương, 324
điều, bao gồm các nội dung về mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, xúc tiến thương
mại, các hoạt động trung gian thương mại, một số hoạt động thương mại cụ thể, chế tài
trong thương mại, giải quyết tranh chấp trong thương mại và xử lý vi phạm pháp luật
về thương mại là một trong số các văn bản quan trọng điều chỉnh trực tiếp hoạt động
kinh doanh của công ty. Ngoài ra, công ty còn chịu sự điều chỉnh của văn bản dưới luật
hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Thương mại 2005 như:
- Nghị định số 37/2006/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động
xúc tiến thương mại.
- Nghị định số 68/2009/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 7 Điều 4 Nghị định số
37/2006/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật
Thương mại về hoạt động xúc tiến thương mại.
- Nghị định số 187/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về
hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia công và
quá cảnh hàng hóa với nước ngoài,…
 Luật Cạnh tranh 2004
Trong quá trình hoạt động liên quan đến lĩnh vực công nghệ điện tử cũng như
kinh doanh thiết bị, máy móc,… công ty chắc chắn sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh
của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy, Luật Cạnh tranh 2004 với 6
Chương, 123 Điều bao gồm các nội dung: kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh, hành
vi cạnh tranh không lành mạnh, cơ quan quản lý cạnh tranh, hội đồng cạnh tranh, điều
tra, xử lý vụ việc cạnh tranh,…đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc để công ty bảo vệ quyền
8


kinh doanh chính đáng của mình, cũng như cạnh tranh lành mạnh với các đối thủ khác
trên thị trường.
Ngoài ra hoạt động kinh doanh của công ty còn chịu sự điều chỉnh của các văn
bản pháp luật sau:
- Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Luật Trọng tài thương mại 2010;
- Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009);
- Luật Đầu tư 2014;
- Luật Quảng cáo 2012;
- Các văn bản dưới luật khác có liên quan
2.3 Hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động sản xuất của Công ty
Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân có hoạt động kinh doanh chính là sản xuất
chế tạo các sản phẩm sắt, thép nên sẽ phải tuân theo quy định của pháp luật về nơi sản
xuất, bảo quản hang hóa, chất lượng hang hóa, bảo vệ môi trường trong quá trình sản
xuất sản phẩm. Cụ thể, có các Luật như sau:
- Luật chất lượng sản phẩm, hang hóa năm 2007 quy định áp dụng cho tổ chức,
cá nhân tiến hang sản xuất hang hóa phục vụ cho mục đích kinh doanh hay tiêu dung;
- Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật năm 2006 áp dụng với việc sản xuất
hang hóa phải phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với quy định về sản
phẩm hang hóa đó.
Ngoài ra còn có một số văn bản dưới luật quy định về họa động sản xuấ ctủa
Công ty.
2.4. Hệ thống pháp luật điều chỉnh về lao động và an sinh xã hội của Công ty
Bên cạnh việc đảm bảo thực hiện các quy định về thành lập, tổ chức quản lý và
hoạt động kinh doanh theo khuôn khổ pháp luật, các vấn đề liên quan đến lao động và
an sinh xã hội cũng được công ty chú trọng quan tâm. Để hài hòa mối quan hệ giữa
người lao động và người sử dụng lao động, cũng như tránh những tranh chấp không

9


đáng có xảy ra, thì công tác tuyển dụng và sử dụng lao động của công ty, trước hết,
luôn tuân theo các quy định trong Bộ luật Lao động 2012 có hiệu lực thi hành ngày
01/05/2013.
Bên cạnh đó, công ty còn tìm hiểu thêm các nghị định khác quy định về vấn đề
trả lương, đãi ngộ cho người lao động và hợp đồng lao động như:
- Nghị định số 49/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao
động về tiền lương.
- Nghị định 45/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Bộ luật Lao động
về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động.
- Nghị định 60/2013/NĐ-CP quy định chi tiết khoản 3 điều 63 Bộ luật Lao động
về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc.
- Nghị định 182/2013/NĐ-CP quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người
lao động làm việc ở doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá
nhân và các cơ quan, tổ chức có thuê mướn lao động.
- Nghị định 44/2013/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Lao động về hợp đồng.
Ngoài Bộ luật Lao động 2012, Luật Bảo hiểm y tế 2008 (sửa đổi bổ sung 2014)
và Luật Bảo hiểm xã hội 2014 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2016 cũng là những
văn bản pháp luật chứa đựng những quy định có tác động điều chỉnh đến vấn đề lao
động trong công ty như: chế độ bảo hiểm cho người lao động, chế độ nghỉ hưu và thai
sản,...
2.5. Hệ thống pháp luật điều chỉnh về thuế của Công ty
Nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước là một trong những nghĩa vụ cơ bản mà các
thành phần kinh tế cần phải thực hiện. Công ty cổ phần công nghệ và thương mại Mặt
Trời Việt cũng không nằm ngoài nghĩa vụ đó. Do đó, trong quá trình hoạt động công ty
chịu sự điều chỉnh của hệ thống quy phạm pháp luật về thuế như sau: Luật Thuế xuất
khẩu, thuế nhập khẩu, Luật Thuế giá trị gia tăng, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp,
Luật Thuế thu nhập cá nhân, Luật Quản lý thuế, Luật Thuế môn bài. Trong các văn

10


bản pháp luật về thuế trên thì Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 ban hành ngày 3
tháng 6 năm 2008, có hiệu lực từ ngày 01/01/2009, được sửa đổi bổ sung 2014 có tác
động trực tiếp và rõ rệt nhất đối với các doanh nghiệp, vì nó chứa đựng các quy định
về người nộp thuế, thu nhập chịu thuế, thu nhập được miễn thuế, căn cứ tính thuế,
phương pháp tính thuế và ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, là các văn bản pháp luật khác có liên quan, như:
- Nghị định 92/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều có hiệu lực từ
ngày 01 tháng 7 năm 2013 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế Thu
nhập doanh nghiệp và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế Giá trị gia tăng.
- Nghị định 218/2013/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế
Thu nhập doanh nghiệp.
PHẦN III. THỰC TRẠNG THI HÀNH VÀ TÁC ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG QUY
PHẠM PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VẠN XUÂN
3.1. Thực trạng thi hành hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối với
hoạt động, kinh doanh của Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân
3.1.1. Thực trạng thi hành hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối với
hoạt động thành lập, tổ chức và quản lý của Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân
Để bước vào quá trình hoạt động như một doanh nghiệp độc lập, Công ty cổ phần
sản xuất Vạn Xuân đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp luật về việc tiến hành
đăng ký kinh doanh. Cụ thể, công ty đã tuân theo quy định tại Luật Doanh nghiệp
2005 và Nghị định số 88/2006 NĐ-CP Về đăng ký kinh doanh hướng dẫn về việc đăng
ký kinh doanh của doanh nghiệp.
Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định về Trình tự đăng ký kinh doanh như sau:
Người thành lập doanh nghiệp nộp đủ hồ sơ đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng
ký kinh doanh có thẩm quyền và phải chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác
của nội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh. Cơ quan đăng ký kinh doanh có trách nhiệm
xem xét hồ sơ đăng ký kinh doanh và cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh trong

11


thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ; nếu từ chối cấp Giấy chứng nhận
đăng ký kinh doanh thì thông báo bằng văn bản cho người thành lập doanh nghiệp
biết. Cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét và chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ
sơ khi cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; không được yêu cầu người thành lập
doanh nghiệp nộp thêm các giấy tờ khác không quy định. Thời hạn cấp Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh gắn với dự án đầu tư cụ thể thực hiện theo quy định của pháp
luật về đầu tư.
Theo đó, Cổ đông sáng lập, đồng thời là giám đốc công ty hiện tại – ông Trần
Duy Quý đã tuân thủ pháp luật, tiến hành chuẩn bị hồ sơ theo quy định về hồ sơ của
công ty cổ phần được hướng dẫn tại Điều 15 Nghị định số 88/2006/NĐ-CP về Hồ sơ
đăng ký kinh doanh đối với công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công
ty cổ phần và công ty hợp danh và nộp đến phòng kinh doanh thuộc Sở kế hoạch và
đầu tư thành phố Hà Nội. Ngày 17/08/2011 Công ty đã được cấp Giấy phép đăng ký
kinh doanh với mã số thuế là 0105454868 , chính thức đi vào hoạt động ngay sau đó
với tên thương mại bằng tiếng Việt là Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân, tên tiếng
Anh là VAN XUAN MANUFACTURE JOINT STOCK COMPANY.
Cùng với việc đi đăng ký kinh doanh, công ty đã tiến hành việc phân chia cơ cấu
tổ chức thành các bộ phận, phòng ban và người đứng đầu các phòng, các bộ phận; gồm
các phòng kế toán, phòng kinh doanh, phòng hành chính nhân sự. Đồng thời, trong quá
trình hoạt động, công ty cũng tiến hành hoạt động kinh doanh theo đúng những gì đã
đăng ký trong việc đăng ký ngành nghề kinh doanh.
Luật Doanh nghiệp mới năm 2014 có hiệu lực sau khi công ty thành lập nên tất
cả các thủ tục công ty tuân theo Luật Doanh nghiệp cũ năm 2005 vẫn được giữ và có
hiệu lực đối với hoạt động thành lập công ty. Đồng thời, công ty vẫn tuân thủ theo luật
cũ đó là có một người đại diện theo pháp luật mà không tiến hành bầu thêm người
mới; số cổ đông vẫn duy trì từ khi thành lập đến thời điểm hiện tại.
3.1.2. Thực trạng thi hành hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối với
hoạt động sản xuất của Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân
Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 quy định áp dụng cho tổ chức, cá
nhân tiến hành sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hoá và tổ chức, cá nhân có hoạt
động liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hoá tại Việt Nam. Công ty là một trong
những doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm gang, thép; thiết bị dân dụng công

12


nghiệp,... đạt chất lượng của cả nước. Công ty luôn công bố tiêu chuẩn đầu ra cho mỗi
mặt hàng, đảm bảo chất lượng để cung ứng trên địa bàn cũng như trên cả nước.
Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa quy định về Công bố tiêu chuẩn áp dụng:
Người sản xuất, người nhập khẩu tự công bố các đặc tính cơ bản, thông tin cảnh báo,
số hiệu tiêu chuẩn trên hàng hoá hoặc một trong các phương tiện là bao bì hàng hoá;
nhãn hàng hoá; tài liệu kèm theo sản phẩm, hàng hoá. Đồng thời nội dung của tiêu
chuẩn công bố áp dụng không được trái với yêu cầu của quy chuẩn kỹ thuật do cơ
quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành.
Áp dụng quy định mà công ty luôn đính kèm sản phẩm bởi nhãn hàng hóa để
người tiêu dùng dễ nhận biết, đồng thời một số mặt hàng còn được đính kèm tài liệu về
chất lượng cũng như quy cách sử dụng hàng hóa đó như: các loại máy chế biến, các
thiết bị tự động hóa,…
Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật năm 2006 áp dụng với việc sản xuất hàng
hóa phải phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với quy định về sản phẩm
hàng hóa đó. Luật Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật giải thích từ ngữ như sau: Quy
chuẩn kỹ thuật là quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý
mà sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong
hoạt động kinh tế - xã hội phải tuân thủ để bảo đảm an toàn, vệ sinh, sức khoẻ con
người; bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia,
quyền lợi của người tiêu dùng và các yêu cầu thiết yếu khác.
3.1.3. Thực trạng thi hành hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối với
hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân
Căn cứ theo mục 2 quy định tại Luật Thương mại năm 2005, công ty luôn tuân
thủ các quy tắc được đặt ra trong hoạt động thương mại như nguyên tắc bình đẳng,
cạnh tranh công bằng giữa các thương nhân; nguyên tắc thỏa thuận tự do; nguyên tắc
sử dụng tập quán lâu dài giữa các bên và nguyên tắc bảo vệ lợi ích của người tiêu
dùng. Công ty luôn chia ra các phòng, ban để thực hiện và hỗ trợ thực hiện các công
việc này được tốt, trong đó chịu trách nhiệm chính à phòng kinh doanh. Cụ thể, phòng
kinh doanh sẽ luôn quan tâm đến việc tìm các đối tác lớn, thiết lập mối quan hệ với họ,
tạo lập hợp đồng để cung cấp sản phẩm; đặc biệt luôn chú trọng tới các đối tác kinh
doanh lâu năm, vừa giữ gìn mối quan hệ lâu dài, vừa tạo cơ hội cho nhau tiêu thụ sản
phẩm.

13


Không chỉ vậy, công ty luôn tuân thủ quy định theo Luật Thương mại năm 2005
về thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa cũng như chủ thể tham gia giao dịch nên từ
khi thành lập, công ty chưa xuất hiện việc tranh chấp trong hợp đồng, chưa phải đưa ra
Tòa án hay trọng tài để giải quyết các vụ việc nào liên quan đến hợp đồng mua bán
hàng hóa.
3.1.4. Thực trạng thi hành hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối với
hoạt động tuyển dụng, sử dụng lao động
Trước hết, từ khi mới thành lập, công ty chịu sự điều chỉnh của Bộ luật Dân sự
năm 2005, Bộ luật Lao động năm 1994 (sửa đổi bổ sung năm 2002, năm 2006 và năm
2007), cho đến nay là Bộ luật Lao động năm 2012 (sửa đổi bổ sung năm 2013). Công
ty áp dụng luật này trong việc điều chỉnh các chế độ cho nhân viên như thời giờ làm
việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương, kỷ luật lao động, trách nhiệm của hai bên:
- Người lao động được trả lương trên cơ sở thoả thuận với người sử dụng lao
động nhưng không thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định và theo năng
suất, chất lượng, hiệu quả công việc; được bảo hộ lao động, làm việc trong những điều
kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động; nghỉ theo chế độ, nghỉ hàng năm
có lương và được bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật. Nhà nước quy định chế
độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo vệ lao động nữ và các loại lao động có đặc
điểm riêng.
- Người lao động có quyền thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn theo Luật
công đoàn để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; được hưởng phúc lợi tập
thể, tham gia quản lý doanh nghiệp theo nội quy của doanh nghiệp và quy định của
pháp luật.
- Người sử dụng lao động có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng lao động, thoả ước lao
động tập thể và những thoả thuận khác với người lao động, tôn trọng danh dự, nhân
phẩm và đối xử đúng đắn với người lao động,…
Do vậy, tuân thủ quy định, từ khi thành lập, công ty đã tiến hành tuyển dụng lao
động qua phương thức phỏng vấn vào vị trí theo đúng nguyện vọng và chuyên môn

14


của người lao động. Hai bên ký kết hợp đồng lao động và làm đúng như những gì đã
thỏa thuận nên cũng không có trường hợp nào người lao động phải nghỉ việc vì lỗi vi
phạm hợp đồng của một trong hai bên.
Hiện nay, Bộ luật Lao động năm 2012 (có hiệu lực ngày 1/5/2013) vẫn đang tiếp
tục điều chỉnh hoạt động của công ty về các chính sách đối với người lao động, quyền
và nghĩa vụ của hai bên trong việc thực hiện hợp đồng.
Về hợp đồng lao động, công ty luôn tuân thủ các quy định trong Bộ luật lao động
về hình thức hợp đồng (mỗi bên được giữ một bản khi ký kết hợp đồng), nội dung thỏa
thuận của hai bên không vi phạm pháp luật.
Về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và tiền công của người lao động luôn
được công ty thực hiện đúng. Nhà nước đặt ra quy định ngày làm 8 giờ và khuyến
khích người sử dụng lao động bố trí cho người lao động làm việc 6 giờ một ngày; do
vậy mà công ty cũng luôn khuyến khích nhân viên làm việc có hiệu quả cao, bằng việc
làm việc 7 giờ một ngày đối với nhân viên trong văn phòng và 8 giờ một ngày đối với
những công nhân đứng máy ở xưởng sản xuất. Tiền lương được trả theo năng lực làm
việc của người lao động nhưng không dưới 3 triệu đồng, đồng thời luôn được hưởng
phụ cấp ca làm việc, thưởng khi đạt doanh số. Không chỉ vậy, nhân viên làm việc trong
văn phòng còn được trợ cấp về chỗ ở, được phụ cấp bữa trưa và chi trả tiền xăng xe đi
lại.
Ngoài ra, công ty luôn tuân thủ các chế độ khác theo Luật bảo hiểm xã hội năm
2006 như việc trích từ ngân sách để đóng bảo hiểm xã hội, đóng bảo hiểm thất nghiệp
cho người lao động. Hiện tại, công ty đang bắt đầu áp dụng các chính sách trong luật
mới là Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.
3.1.5. Thực trạng thi hành hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối với
hoạt động nộp thuế
Được đăng ký mã số thuế và quản lý bởi chi cục thuế quận Hai Bà Trưng, công
ty luôn tuân thủ các quy định về việc nộp thuế đến cơ quan thuế có thẩm quyền, đúng
thời gian và số tiền theo quy định. Cụ thể, hàng năm công ty trích 25% doanh thu từ

15


hoạt động kinh doanh của mình, từ năm 2014 nộp 22% (trong đó đã trừ đi các chi phí
được trừ, các khoản không tính vào thu nhập chịu thuế) để nộp thuế thu nhập doanh
nghiệp, thuế môn bài hàng năm vào đầu tháng 1.
Ngoài ra, hoạt động nộp thuế thông quan khi nhập khẩu hàng hóa cũng luôn
được công ty trú trọng và nộp đúng thời điểm khi tiến hành nhập khẩu hàng hóa.
3.2. Thực trạng tác động của hệ thống quy phạm pháp luật thương mại dối
với hoạt động, kinh doanh của Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân
3.2.1. Thực trạng tác động của hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối
với hoạt động thành lập, tổ chức và quản lý của Công ty Cổ phần sản xuất Vạn
Xuân
Nghị định số 88/2006/NĐ-CP có quy định hướng dẫn việc đăng ký thành lập
doanh nghiệp về Quyền thành lập doanh nghiệp và nghĩa vụ đăng ký kinh doanh của
người thành lập doanh nghiệp:
- Nghiêm cấm cơ quan đăng ký kinh doanh và các cơ quan khác gây phiền hà đối
với tổ chức, cá nhân trong khi tiếp nhận hồ sơ và giải quyết việc đăng ký kinh doanh,
đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh.
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp
không được ban hành các quy định về đăng ký kinh doanh áp dụng riêng cho ngành
hoặc địa phương mình.
Do vậy, về cơ bản, công ty đi đăng ký kinh doanh ở phòng đăng ý kinh doanh
thành phố Hà Nội đã không phải chịu quá nhiều rắc rối, cản trở từ phía tổ chức cấp
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Về thời hạn cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Nghị định này cũng quy
định trong thời hạn 10 (mười) ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ,
Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho
doanh nghiệp; nếu không thì phải thông báo cho doanh nghiệp sửa đổi, bổ sung hồ sơ;
đồng thời người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trực tiếp ký vào Giấy chứng
nhận đăng ký kinh doanh tại cơ quan đăng ký kinh doanh.
Trong vòng 10 ngày kể từ khi nộp hồ sơ đăng ký hợp lệ, doanh nghiệp đã có thể
được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh để đi vào hoạt động chính thức, điều
này đã giúp doanh nghiệp nhanh chóng tiến hành thực hiện hoạt động. Không chỉ vậy,
luật còn quy định cho doanh nghiệp được phép thực hiện một số hợp đồng trước khi
được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh để tiện cho việc hoạt động sau này. Do

16


vậy, công ty đã thực hiện hợp đồng và đi vào hoạt động trên thực tế là ngày
12/08/2008 trong khi ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là
17/08/2008.
Như vậy, nói chung thì pháp luật quy định thủ tục thực hiện đăng ký doanh
nghiệp nhanh chóng, doanh nghiệp được phép thực hiện một số hợp đồng trước khi
đăng ký kinh doanh nên về cơ bản đã giúp cho công ty thực hiện khá tốt trách nhiệm
đăng ký kinh doanh của mình. Tuy vậy, không phải ai cũng nắm rõ được pháp luật nên
ban đầu công ty đã gặp không ít khó khăn trong việc tìm hiểu các quy định của pháp
luật và cũng đã phải nhờ đến người tư vấn luật để tìm hiểu kỹ hơn và nắm bắt các yêu
cầu của pháp luật đối với công ty.
3.2.2. Thực trạng tác động của hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối
với hoạt động sản xuất của Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân
Việc công ty sản xuất và công bố chất lượng sản phẩm hàng hóa là một lợi thế để
cạnh tranh với đối thủ kinh doanh cùng ngành nghề. Tuy vậy, việc công bố sản phẩm
đạt yêu cầu tiêu chuẩn quốc gia không phải lúc nào cũng có thể được đáp ứng ngay mà
còn đợi thủ tục xét duyệt của cơ quan cấp trên, phải thông qua nhiều cấp từ việc gửi
mẫu xét duyệt cho cơ quan kiểm định đến nộp hồ sơ có bản sao công chứng rồi cơ
quan khác mới lại cấp chứng nhận hàng hóa đủ tiêu chuẩn chất lượng. Đôi khi có
những hàng hóa công ty còn phải nhờ sự giúp đỡ của văn phòng luật để có thể tiến
hành thủ tục một cách nhanh chóng, thuận lợi, hiệu quả cao mà không phải tốn kém
nhiều chi phí cho việc tìm hiểu thông tin và chi phí đi qua các cửa.
3.2.3. Thực trạng tác động của hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối
với hoạt động tuyển dụng, sử dụng lao động ở Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân
Hoạt động tuyển dụng, sử dụng lao động là một trong những hoạt động được
quan tâm nhiều ở công ty; vì tuyển dụng lao động tốt, đào tạo đội ngũ lao động giỏi,
biết cách sử dụng lao động thì hoạt động kinh doanh sẽ diễn ra thuận lợi, dễ dàng hơn.
Tuy vậy, do được thành lập từ năm 2008 nên công ty đã phải chịu tác động của pháp
luật lao động từ năm 1994 sửa đổi, bổ sung qua các năm rồi đến Bộ luật lao động được
thay thế năm 2012. Trải qua sự tác động của luật lao động, công ty cũng phải thay đổi

17


các chính sách sao cho phù hợp với luật mà không làm tác động tiêu cực nhiều đến
người lao động.
Ban đầu, từ khi thành lập đến năm 2013 công ty chịu sự điều chỉnh của Bộ luật
Lao động năm 1994 (sửa đổi, bổ sung lần cuối cùng vào năm 2007) sau đó là BLLĐ
năm 2012. Có nhiều điểm bộ luật mới thay đổi làm tác động không nhỏ đến công ty
cũng như người lao động, cụ thể có một số điểm nổi bật dưới đây:
Bộ luật Lao động năm 1994 quy định người sử dụng lao động và người lao động
có thể thoả thuận làm thêm giờ, nhưng không quá 4 giờ/ngày, 200giờ/năm, trừ một số
trường hợp đặc biệt được làm thêm không được quá 300giờ/năm do Chính phủ quy
định, sau khi tham khảo ý kiến của Tổng liên đoàn lao động Việt Nam và đại diện của
người sử dụng lao động (theo điều 69 Bộ luật Lao động năm 1994). Tuy vậy Bộ luật
Lao động năm 2012 lại quy định rõ về thời gian làm thêm: Bảo đảm số giờ làm thêm
của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trường
hợp áp dụng quy định làm việc theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số
giờ làm thêm không quá 12giờ/ngày; không quá 30 giờ/tháng và tổng số không quá
200giờ/năm, trừ một số trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định thì được làm thêm
giờ không quá 300giờ/năm (theo điều 106 Bộ luật Lao động năm 2012).
Như vậy, rõ ràng nếu theo quy định cũ thì người lao động có thể làm thêm giờ
nhiều hơn, sẽ giúp doanh nghiệp nhanh chóng nâng cao năng suất lao động, mang lại
doanh thu cho công ty; nhưng theo quy định mới thì công ty không được phép cho
NLĐ làm thêm quá 200h/năm, điều này làm cản trở doanh nghiệp trong việc nhanh
chóng tạo ra năng suất vẫn với số lao động đó mà buộc doanh nghiệp phải tốn thời
gian, chi phí tuyển dụng, đào tạo lao động để làm việc lấp vào khoảng thời gian đó.
Bộ luật Lao động năm 1994 không quy định về việc bổ sung hợp đồng lao động
nhưng BLLĐ năm 2012 quy định thêm việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động tại
điều 35; điều này giúp cả hai bên, phía công ty và phía người lao động đều có quyền
thay đổi những gì đã giao kết trong hợp đồng, giúp người lao động lựa chọn việc làm
thích hợp hơn cho mình, đồng thời cũng giúp công ty dễ dàng hơn trong việc bố trí, sử
dụng lao động khi cần thiết.
Luật mới quy định công ty phải trả cho người lao động trong quá trình thử việc là
85% mức tiền lương của công việc đó chứ không phải là 70% như trước kia. Rõ ràng
luật quy định như vậy thì người lao động đã được tăng quyền lợi nhưng bên phía công

18


ty phải trích thêm một khoản ngân sách thêm 15% so với trước đó để chi trả cho người
lao động; buộc công ty hạn chế tuyển dụng lao động mới và thắt chặt hơn trong vấn đề
chi tiêu vào các dự án mới.
3.2.4. Thực trạng tác động của hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối
với hoạt động kinh doanh ở Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân
Về hoạt động mua bán hàng hóa, Luật Thương mại năm 2005 quy định rõ ràng
quyền lợi và nghĩa vụ của các bên phải có trong hợp đồng; tuy vậy, với các đối tác lâu
năm công ty làm việc chủ yếu dựa trên sự tin tưởng, tín nhiệm lẫn nhau nên thường ít
có hợp đồng trong những trường hợp đặc biệt. Việc quy định bắt buộc về quyền lợi và
nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng của luật thương mại khiến các bên bắt buộc phải
ký hợp đồng trong tất cả các trường hợp giao dịch, có thể làm giảm sự tin cậy của nhau
trên thương trường, vì đôi khi các đối tác quan niệm luật pháp cứng nhắc, rất dễ dàng
dẫn đến sự không tin tưởng lẫn nhau.
3.2.5. Thực trạng tác động của hệ thống quy phạm pháp luật thương mại đối
với hoạt động nộp thuế ở Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân
Hàng loạt các luật về thuế ra đời đã tác động trực tiếp đến hoạt động nộp thuế
của công ty như Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008, Luật thuế giá trị gia tăng
năm 2008, Luật Luật quản lý thuế năm 2006, Luật thuế xuất nhập khẩu năm 2005. Và
đến năm 2013 các luật thuế được sửa đổi, bổ sung đã tác động tích cực đến hoạt động
của công ty.
Trước hết, phải nói đó là thuế thu nhập doanh nghiệp. Trước đây Luật thuế thu
nhập doanh nghiệp quy dịnh công ty phải nộp 25% mức thuế đối với công ty hoạt
động có doanh thu trên 20 tỷ đồng/năm; nhưng luật mới quy định mức này đã giảm
xuống còn 22%/năm, điều này đã giúp doanh nghiệp giảm được một phần rất lớn chi
phí cho hoạt động nộp thuế, tác động tích cực tới những hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
Hơn nữa, Luật Quản lý thuế sửa đổi, bổ sung năm 2013 đã quy định về việc đơn
giản hóa thủ tục hành chính. Theo đó quy định rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục gia

19


hạn nộp hồ sơ khai thuế từ 5 ngày làm việc xuống 3 ngày làm việc. Sửa đổi, bổ sung
cơ bản về nội dung hoàn thuế: Bỏ “Chứng từ nộp thuế” trong hồ sơ hoàn thuế; quy
định người nộp thuế chỉ phải nộp 01 bộ hồ sơ đề nghị hoàn thuế, rút ngắn thời hạn giải
quyết đối với trường hợp “kiểm tra trước, hoàn thuế sau” từ 60 ngày xuống còn 40
ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ và trường hợp “hoàn thuế trước, kiểm tra sau” từ 15
ngày làm việc xuống còn 06 ngày làm việc. Rõ ràng các quy định này tác động rất tích
cực đến hoạt động của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp thực hiện các thủ tục một
cách nhanh chóng, hiệu quả.
PHẦN IV. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ THỰC TRẠNG THI HÀNH VÀ HỆ
THỐNG PHÁP LUẬT THƯƠNG MẠI ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CỦA
CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT VẠN XUÂN
4.1. Đánh giá chung về thực trạng thi hành pháp luật thương mại đến hoạt
động của Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân
4.1.1. Những ưu điểm của Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân trong việc thi
hành hệ thống pháp luật thương mại
Nhìn chung, công ty đã nắm bắt được cơ bản đầy đủ luật pháp điều chỉnh các
hoạt động, kinh doanh của mình và thực hiện tương đối tốt quyền và trách nhiệm đối
với nhà nước, đối với người lao động và đối với chính bản thân công ty.
Về hoạt động đăng ký thành lập doanh nghiệp, do công ty tuân thủ quy định và
thực hiện đúng nên việc đăng ký thành lập doanh nghiệp diễn ra nhanh chóng, không
làm mất quá nhiều thời gian của tổ chức thực hiện đăng ký kinh doanh cũng như của
chính doanh nghiệp.
Mặt khác, về hoạt động sản xuất, công ty đã tuân thủ đúng về sản xuất sản phẩm
đạt tiêu chuẩn và chất lượng hàng hóa như đã công bố; đảm bảo hợp vệ sinh môi
trường.
Xét về trách nhiệm đối với người lao động, công ty luôn đảm bảo chế độ tiền
lương, phụ cấp (ăn trưa, chi phí đi lại), hoa hồng theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng;
đảm bảo thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi Đối với công nhân sản xuất trong nhà

20


máy, công ty luôn đảm bảo trang bị bảo hộ, an toàn lao động cũng như phòng chống
tai nạn, chống cháy nổ trong các xưởng sản xuất nói riêng cũng như trong toàn công ty
nói chung. Đặc biệt, đối với người lao động làm việc trong văn phòng, công ty đã áp
dụng chính sách khuyến khích của nhà nước, đó là cho phép người lao động được làm
việc 7h/ngày (ít hơn 1h/ngày so với quy định)
Còn đối với hoạt động nộp thuế, công ty đã tiến hành kê khai mã số thuế và nộp
đầy đủ, đúng hạn số thuế đã được quy định; đồng thời thực hiện báo cáo tài chính hằng
quý, hằng năm đúng theo pháp luật.
4.1.2. Những hạn chế của Công ty cổ phần sản xuất Vạn Xuân trong việc thi
hành hệ thống pháp luật thương mại và Nguyên nhân của những hạn chế đó
Bên cạnh những ưu điêm của công ty trong việc thi hành hệ thống pháp luật, thì
vẫn còn một số những hạn chế cần khắc phục.Vi dụ như với người lao động, việc chi
trả hoa hồng cho nhân viên đôi khi còn chậm trễ. Mặc dù có thể trong tháng nhân viên
đã đạt chỉ tiêu hoặc vượt nhưng do chưa có nguồn thu về từ hoạt động kinh doanh hay
việc trả tiền của khách hàng nên còn chưa có nguồn thu để bù đắp hoạt động chi ra,
việc nhận hoa hồng của nhân viên vì thế mà lâu hơn dự kiến.
Một hạn chế nữa là vấn đề bảo hộ cho người lao động đã được đặt ra nhưng ở
xưởng sản xuất không phải lúc nào việc này cũng được tuân thủ nghiêm ngặt. Vì đa
phần số lao động trong xưởng đều là những lao động phổ thông, việc đòi hỏi bắt buộc
thực hiện các quy định của công ty đã khó, việc thường xuyên nắm bắt được những
quy định của luật lại càng khó hơn. Hơn nữa, hoạt động sản xuất của công ty chủ yếu
là gia công cơ khí, cắt gọt kim loại, sản xuất trụ cung cấp cho ngành công nghiệp nên
công việc khá nặng nhọc, việc đảm bảo an toàn lao động rất dễ có nguy cơ không thể
thực hiện được nếu sơ ý làm sai một chi tiết nào đó trong cả quy trình sản xuất.
Như đã trình bày ở trên, do các đối tác làm ăn của công ty đều là các đối tác lâu
năm, làm ăn chủ yếu dựa trên sự tín nhiệm lẫn nhau nên đôi khi có những hợp đồng
nhỏ công ty đã không ký kết; vì nếu ký hợp đồng đôi khi lại làm mất đi sự thân thiết
giữa hai bên, làm giảm sự tin cậy lẫn nhau, gây ra sự không thoải mái giữa hai bên.
Tuy vậy, mặt tiềm ẩn bên trong đó là sự đơn phương phá vỡ hợp đồng của đối thủ, có
thể gây bất lợi cho công ty.
21


Do công ty không có bộ phận pháp chế riêng nên việc cập nhật các văn bản luật
đôi khi còn phụ thuộc, thiếu tính linh hoạt và việc thực hiện thay đổi chính sách của
công ty theo quy định của luật cũng còn gặp nhiều khó khăn.
4.2. Đánh giá chung về hệ thống pháp luật thương mại điều chỉnh hoạt động
của Công ty Cổ phần sản xuất Vạn Xuân
4.2.1. Thành tựu
Hiện nay, hệ thống pháp luật của Việt Nam nói chung và hệ thống pháp luật
thương mại nói riêng đã tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc, đầy đủ, điều chỉnh
các hoạt động kinh doanh phát sinh trong quá trình hoạt động của công ty, cũng như
phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế.
Xét về khía cạnh quản lý công ty: Luật Doanh nghiệp 2014 đã quy định đầy đủ
hơn, toàn diện hơn so với các Luật Doanh nghiệp 2005, tạo ra quyền tự chủ kinh
doanh cho công ty trong việc tiến hành và thông qua các quyết định tại cuộc họp Hội
đồng cổ đông.
Xét về khía cạnh hoạt động thương mại: Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Thương
mại 2005 có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ dân sự và thương
mại, thiết lập các nguyên tắc cơ bản và các quy tắc điều chỉnh quan hệ dân sự, thương
mại đồng thời bảo đảm quyền tự do kinh doanh cho mọi chủ thể kinh tế. Nhìn chung,
Bộ luật Dân sự và Luật Thương mại đã có tác động tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội, tạo lập hành lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ dân sự, giao dịch thương mại
nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, nhà nước, đặc biệt trong
việc giao kết hợp đồng. Những quy định của pháp luật cụ thể, rõ ràng tạo điều kiện
thuận lợi cho việc tự do giao kết hợp đồng, soạn thảo nội dung hợp đồng, ràng buộc
các bên tham gia thông qua phân định rõ quyền hạn và trách nhiệm,…
Xét về các khía cạnh khác: những văn bản pháp luật về thuế đã tạo điều kiện cho
công ty hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước. Bên cạnh đó, Bộ luật Lao động
đã tạo nền tảng bảo đảm quyền, lợi ích của người lao động về nhiều mặt: thời gian làm
việc; chế độ trả lương, thưởng, trợ cấp; môi trường làm việc, an toàn lao động; chế độ
đối với lao động nữ… Những quy định của Luật Giao dịch điện tử tạo điều kiện đơn
giản hóa quá trình giao kết hợp đồng giữa các bên nhưng vẫn đảm bảo giá trị pháp lý
22


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×