Tải bản đầy đủ

Thực trạng pháp luật cạnh tranh việt nam về tập trung kinh tế

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...................................................................................................................2
NỘI DUNG...............................................................................................................2
I.Khái quát chung về tập trung kinh tế..............................................................2
1.Khái niệm tập trung kinh tế..................................................................................................2
1.Mô hình kiểm soát tập trung kinh tế:....................................................................................5
2.Xử lý vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế:......................................................................8
3.Một số tồn tại trong quy định pháp luật cạnh tranh về kiểm soát tập trung kinh tế:............9
4. Thực trạng hoạt động tập trung kinh tế trong thời gian từ 2009- 2016:.............................11

III.Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật cạnh tranh và nâng cao
hiệu quả kiểm soát tập trung kinh tế................................................................12
1.Hoàn thiện các quy định của pháp luật cạnh tranh về tập trung kinh tế:............................12
2.Nâng cao hiệu quả kiểm soát tập trung kinh tế...................................................................14

KẾT LUẬN............................................................................................................15
PHỤ LỤC...............................................................................................................18

1



MỞ ĐẦU
Trong thời gian qua hoạt động tập trung kinh tế tại Việt nam diễn ra sôi động
và tăng trưởng mạnh với tổng quy mô giao dịch giai đoạn 2009 - 2014 đạt khoảng
18 tỷ đô la Mỹ1 . thực trạng này cho thấy hoạt động mua bán sáp nhập vẫn được
các doanh nghiệp trong và ngoài nước coi là cách thức đầu tư hiệu quả nhất trong
việc tiết kiệm nguồn lực, thâm nhập thị trường, giảm thiểu các rào cản gia nhập thị
trường cũng như nhằm gia tăng nguồn lực và sức mạnh thị trường của các doanh
nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động tập trung kinh tế tại Việt nam đã và đang diễn biến
khá phức tạp. Tập trung kinh tế tại Việt nam có nguy cơ tiềm ẩn những yếu tố hình
thành các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh và có thể gây ảnh hưởng tới môi trường
cạnh tranh. Để tiem hiểu sâu hơn về pháp luật Việt Nam và thực trạng tập trung
kinh tế, bài tiểu luận được lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Thực trạng pháp luật cạnh
tranh Việt Nam về tập trung kinh tế”

NỘI DUNG
I.

Khái quát chung về tập trung kinh tế
1. Khái niệm tập trung kinh tế
1.1 Định Nghĩa:
Theo khoa học kinh tế, tập trung kinh tế được hiểu là việc làm giảm số

lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị tường thông qua các hành vi
sáp nhập (theo nghĩa rộng) hoặc thông qua tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp
trên cở sở mở rộng năng lực sản xuất.
Dưới góc độ pháp luật, Luật cạnh tranh năm 2004 không quy định thế nào là
tập trung kinh tế mà chỉ liệt kê các hành vi được coi là tập trung kinh tế. Theo đó,
khoản 3 Điều 3 khẳng định TTKT là hành vi hạn chế cạnh tranh; Điều 16 quy định
1

Tổng hợp của Cục QLCT

2


TTKT là hành vi của doanh nghiệp gồm: sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh
nghiệp, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp, các hành vi
TTKT khác theo quy định của pháp luật.
1.2 Đặc điểm cơ bản:
- Chủ thể thực hiện hành vi tập trung kinh tế là các doanh nghiệp theo Luật


cạnh tranh 2004. Đối với từng hình thức tập trung kinh tế, chủ thể thực hiện
phải đáp ứng những yêu cầu nhất định. Các doanh nghiệp tham gia tập trung
kinh tế có thể là doanh nghiệp hoạt động trên cùng hoặc không trên cùng
một thị trường liên quan.
- Hành vi tập trung kinh tế được thực hiện dưới những hình thức nhất định
theo quy định của pháp luật. Bao gồm: sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất
doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp.
- Hậu quả của hành vi tập trung kinh tế là làm thay đổi tương quan cấu trúc
cạnh tranh trên thị trường. Đồng thời dễ hình thành các doanh nghiệp có sức
mạnh thị trường, có ảnh hưởng tới cạnh tranh.
2. Các hình thức tập trung kinh tế
TTKT bao gồm tập trung theo chiều ngang, tập trung theo chiều dọc hoặc
tập trung theo đường chéo (tập trung hỗn hợp).
Theo pháp LCT Việt Nam, quy định tại Điều 16 và Điều 17 LCT, TTKT
gồm 4 hình thức cơ bản sau:
 Sáp nhập doanh nghiệp
Sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ
tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác,
đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập (khoản 1 Điều 17 Luật
Cạnh tranh năm 2004).
Bên cạnh đó, khoản 1 Điều 195 Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng quy định về
khái niệm sáp nhập doanh nghiệp rõ ràng và chi tiết hơn. Theo đó, Sáp nhập doanh
nghiệp là: “Một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp

3


nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách
chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp
nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập”.
 Hợp nhất doanh nghiệp
Khoản 2 Điều 17 LCT quy định: “Hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều
doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của
mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các
doanh nghiệp bị hợp nhất”.
Cũng giống như sáp nhập doanh nghiệp, việc hợp nhất doanh nghiệp chỉ được
tiến hành khi các doanh nghiệp cùng loại. Điểm khác nhau cơ bản giữa hoạt động
sáp nhập doanh nghiệp và hợp nhất doanh nghiệp đó là: Hợp nhất doanh nghiệp là
hai hay nhiều công ty cùng loại hợp nhất lại thành một công ty mới cùng loại hình
và đồng thời các công ty hợp nhất đó phải chấm dứt hoạt động. Trong khi đó, sáp
nhập doanh nghiệp là một hoặc một số công ty cùng loại sáp nhập vào một công ty
khác và đồng thời chấm dứt hoạt động của công ty sáp nhập vào.
 Mua lại doanh nghiệp
Khoản 3 Điều 17 LCT quy định: “Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh
nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát,
chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”. Ở Luật
Doanh nghiệp năm 2005 không quy định về khái niệm này. Ở trường hợp mua lại
toàn bộ doanh nghiệp thì doanh nghiệp bị mua lại sẽ phải chấm dứt hoạt động. Tuy
nhiên, đối với trường hợp mua lại một phần tài sản của doanh nghiệp thì doanh
nghiệp đó sẽ vẫn tồn tại. Về bản chất, việc mua lại không phải là quá trình thống
nhất về tổ chức giữa doanh nghiệp mua lại và doanh nghiệp bị mua lại. Cần lưu ý
rằng pháp luật cạnh tranh có quy định một số trường hợp mua lại doanh nghiệp
khác không bị coi là tập trung kinh tế. Cụ thể, khi doanh nghiệp bảo hiểm, tổ chức
tín dụng mua lại doanh nghiệp khác nhằm mục đích bán lại trong thời hạn dài nhất

4


là 01 năm sẽ không bị coi là tập trung kinh tế nếu doanh nghiệp mua lại không thực
hiện quyền kiểm soát hoặc chi phối doanh nghiệp bị mua lại, hoặc thực hiện quyền
này chỉ trong khuôn khổ bắt buộc để đạt được mục đích bán lại đó2.
 Liên doanh giữa các doanh nghiệp
Khoản 4 Điều 17 LCT quy định: “Liên doanh giữa các doanh nghiệp là việc hai
hoặc nhiều doanh nghiệp cùng nhau góp một phần tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi
ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới”.
Có thể thấy, hành vi liên doanh có một sự khác biệt cơ bản so với hành vi hợp
nhất doanh nghiệp đó là sau khi các doanh nghiệp góp một phần tài sản, quyền,
nghĩa vu, lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới thì địa vị
pháp lý của các doanh nghiệp đó vẫn còn tồn tại.
II.

Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về TTKT
1. Mô hình kiểm soát tập trung kinh tế:

1.1 Mô hình TTKT hoàn toàn tự do:
LCT năm 2004 đã sử dụng tiêu chí thị phần của doanh nghiệp trên thị trường
liên quan để kiểm soát TTKT. Theo quy định khoản 1 Điều 20 của Luật này, các
doanh nghiệp có quyền tự do thực hiện TTKT trong hai trường hợp sau:
- Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia TTKT thấp hơn 30% trên
thị trường liên quan thì không bị cấm và không có nghĩa vụ phải thông báo;
- Thị phần kết hợp của các doanh nghiệp từ 30% đến 50% trên thị trường liên
quan cũng không bị cấm và không phải thông báo, nếu sau khi thực hiện
TTKT vẫn thuộc loại doanh nghiệp vừa và nhỏ theo quy định của pháp luật.
1.2 Mô hình TTKT có sự kiểm soát:
Khoản 1 Điều 20 LCT năm 2004 quy định: “Các doanh nghiệp tập trung
kinh tế có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện

2

Khoản 1 Điều 35 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2005, sửa đổi theo Nghị định số
119/2011/NĐ-CP của Chính phủ

5


hợp pháp của doanh nghiệp đó phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh
trước khi tiến hành tập trung kinh tế”.
Để đảm bảo hoặt động này diễn ra bình đẳng thì pháp luật bắt buộc các
doanh nghiệp phải tiến hành khái báo với nhà nước và hoạt động này chỉ áp dụng
đối cới một nhóm đối tượng nhất định khi doanh ngiệp đó chiếm thị phần theo quy
định của pháp luật. Nhà nước thông qua pháp luật để kiểm soát nền kinh tế phát
triển một cách bền vững và công bằng.
Thủ tục các bước thông báo và xme xét thông báo tập trung kinh tế:
- Bước 1: Thông báo tập trung kinh tế, gồm việc nộp hồ sơ thông báo tập
trung kinh tế và cơ quan có thẩm quyền tiến hành xem xét các nội dung chính sau:
xác định và mô tả thị trường liên quan; xác định các doanh nghiệp tham gia thị
trường liên quan và ngưỡng nhất định để kiểm soát tập trung kinh tế.
- Bước 2: Thụ lý hồ sơ thông báo tập trung kinh tế
- Bước 3: Trả lời thông báo về hồ sơ tập trung kinh tế
- Bước 4: Thực hiện thủ tục tập trung kinh tế tại cơ quan đăng ký kinh doanh
Sau khi hoàn tất các bước trên, doanh nghiệp tiến hành tập trung kinh tế.
1.3 Mô hình tập trung kinh tế bị cấm và miễn trừ đối với TTKT bị cấm
Cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia
tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan, trừ trường hợp quy định
miễn trừ quy định tại Điều 19 Luật Cạnh tranh năm 2004 hoặc trường hợp doanh
nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa
theo quy định của pháp luật.
Theo đó, việc nhà làm luật muốn kiểm soát các hành vi tập trung kinh tế để
thống lĩnh thị trường nhất là độc quyền bao tiêu, gây ảnh hưởng đến quyền lợi của
doanh nghiệp khác và người tiêu dùng. Như vậy, đòi hỏi nhà nước phải kiểm soát
và cấm các hành vi tập trung kinh tế mà thị phần kết hợp của doanh nghiệp tham
gia tập trung kinh tế trên 50%. Việc ngăn cản hình thành doanh nghiệp khống chế
thị trường sẽ giúp duy trì môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh, có lợi cho
6


người tiêu dùng, cũng như không ngăn cản việc hình thành những công ty lớn có
khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới. Thị phần của cá nhân,
tổ chức kinh doanh đối với một loại hàng hóa, dịch vụ nhất định được tính bằng tỷ
lệ phần trăm giữa doanh thu của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả
các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hóa, dịch vụ đó trên thị trường liên quan
theo tháng, quý, năm3.
Trường hợp miễn trừ đối với tập trung kinh tế bị cấm: Điều 18, 19 Luật
Cạnh tranh quy định về 03 trường hợp miễn trừ tập trung kinh tế bị cấm đó là:
 Trường hợp doanh nghiệp sau khi thực hiện tập trung kinh tế vẫn thuộc loại
doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, để giải thích thể nào là doanh nghiệp vừa và nhỏ thì lại có hai văn
bản có hiệu lực song song cùng tồn tại tại thời điểm này. Đó là quy định của Nghị
định số 56/2009/NĐ-CP và Thông tư số 16/2013/TT-BTC hướng dẫn Nghị quyết
số 02/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2013. Điểm a Khoản 1 Điều 1 Thông tư số 16
ngày 8-2-2013 của Bộ Tài chính quy định: Doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ,
bao gồm cả chi nhánh, đơn vị trực thuộc nhưng hạch toán độc lập, hợp tác xã sử
dụng dưới 200 lao động làm việc toàn bộ thời gian năm và có doanh thu năm
không quá 20 tỷ đồng. Tuy nhiên, trong Nghị định số 56/2009/NĐ-CP của Chính
phủ : Về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa lại quy định doanh nghiệp
vừa và nhỏ ở 03 lĩnh vực khác nhau (Nông, lâm nghiệp và thủy sản, Công nghiệp
và xây dựng, Thương mại và dịch vụ) và với căn cứ xác định không giống nhau và
không đồng nhất với quy định của Thông tư trên. Do đó, sẽ gây ra những bất cập
trong việc xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ.
 Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang trong nguy cơ bị giải thể
hoặc lâm vào tình trạng phá sản;
Các trường hợp và điều kiện giải thể doanh nghiệp được quy định tại Điều 157
Luật Doanh nghiệp năm 2005. Theo đó, nguy cơ bị giải thể sẽ là các tình huống có
3

http://vietbao.vn/Kinh-te/Cam-tap-trung-kinh-te-chiem-tren-50-thi-phan/10853978/87/

7


nguy cơ rơi vào các trường hợp được quy định tại Điều 157 Luật Doanh Nghiệp.
Lâm vào tình trạng phá sản được quy định tại Điều 3 Luật Phá sản 2004: Doanh
nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi
chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản. Quy định miễn trừ về
trường hợp tập trung kinh tế khi doanh nghiệp đang trong nguy cơ bị giải thể là
quy định không hợp lý. Các doanh nghiệp có thể lợi dụng tình trạng giải thể để có
thể thực hiện hành vi tạp trung kinh tế rất dễ dàng. Như vậy, nhà làm luật cần xem
xét lại trường hợp miễn trừ này.
 Việc tập trung kinh tế có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát
triển kinh tế - xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ.
Với mục đích xuất khẩu, không thâu tóm thị trường trong nước hoặc mục đích
phát triển kinh tế xã hội nhằm tuân theo chủ trương phát triển của nhà nước thì đây
là hành vi được khuyến khích để phát triển. Điều này cũng phù hợp với lộ trình
phát triển đất nước, công nghiệp hóa- hiện đại hóa của Việt Nam trong giai đoạn
hiện nay.
2. Xử lý vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế:
Các hành vi trái với quy định của pháp luật cạnh tranh và các hệ thống pháp
luật khác có liên quan đều phải chịu hình thức xử lý tương ứng mức độ vi phạm. Vi
phạm pháp luật về tập trung kinh tế tại các trường hợp bị cấm; tiến hành tập trung
kinh tế không thông báo nếu thuộc trường hợp phái thông báo. Đối với hành vi vi
phạm pháp luật về tập trung kinh tế các doanh nghiệp vi phạm phải chịu hình thức
xử phạt về vi phạm hành chính là phạt tiền cới các mức khác nhau nhưng tối đa là
10% tổng doanh thu của các doanh nghiệp vi phạm trong phạm vi năm tài chính
trước năm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về tập trung kinh tế.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung
như biện pháp khắc phục hậu quả, bị thu hồi GCN đăng ký doanh nghiệp; hoặc
buộc chia tách, sáp nhập doanh nghiệp đã hợp nhất, sáp nhập,… theo quy định của

8


Luật cạnh tranh và Nghị định 71/2014/NĐ-CP hướng dẫn Luật Cạnh tranh về xử lý
vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh.
3. Một số tồn tại trong quy định pháp luật cạnh tranh về kiểm soát tập
trung kinh tế:
 LCT năm 2004 chưa đề cập đến việc kiểm soát đối với TTKT theo chiều
dọc, TTKT hỗn hợp.
Ngoài ra, LCT hiện hành cũng chưa đề cập đến việc kiểm soát hình thức liên
kết thông qua đội ngũ lãnh đạo, quản lý chung. Những dạng TTKT này, có khả
năng xảy ra trong tương lai cùng với sự đa dạng hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp trên thị trường, và có thể gây ra hạn chế cạnh tranh ở mức độ nhất
định hoặc làm gia tăng nguy cơ thỏa thuận giữa các doanh nghiệp sau khi tiến hành
TTKT.
 Ngoài các quy định có nội dung khái quát và mang tính nguyên tắc trong
Mục 3 Chương II LCT năm 2004, và tại Mục 5 chương II Nghị định số
116/2005/NĐ-CP, hiện nay vẫn chưa có các hướng dẫn cụ thể.
LCT hiện hành vẫn chưa có quy định để trao quyền cho cơ quan quản lý cạnh
tranh trong việc xây dựng nội dung thẩm tra trong thủ tục thông báo, thủ tục miễn
trừ các trường hợp TTKT và quy chế kiểm soát TTKT. Nếu khung pháp lý này
được hoàn thiện, doanh nghiệp có thể hình dung được phạm vi của quyền tự do
kinh doanh liên quan đến hoạt động sáp nhập, hợp nhất, mua lại, góp vốn thành lập
doanh nghiệp,… mà họ muốn thực hiện.
 Bất cập trong quy định về xác định thị trường liên quan.
Cụ thể: Tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 116/2005/NĐ-CP quy định: “Đặc tính
của hàng hóa, dịch vụ được xác định theo một hoặc một số căn cứ sau đây: a) Tính
chất vật lý; b) Tính chất hóa học; c) Tính năng kỹ thuật; d) Tác dụng phụ đối với
người sử dụng; đ) Khả năng hấp thụ”. Các tiêu chí cụ thể nêu trên có thể phù hợp
đối với hàng hóa nhưng không có một sự liên quan nào tới dịch vụ. Do đó, trong

9


trường hợp cần phải xác định thị trường liên quan của một loại dịch vụ, cơ quan
cạnh tranh không thể áp dụng các tiêu chí này để xác định đặc tính của dịch vụ, từ
đó, không đảm bảo đầy đủ các yếu tố xác định thị trường liên quan theo quy định
của luật.
 Bất cập khi sử dụng thị phần làm tiêu chí để đánh giá vụ việc TTKT.
Khó khăn đối với doanh nghiệp khi sử dụng thị phần làm tiêu chí để thông báo.
Quy định nghĩa vụ phải thông báo chính xác về thị phần của các bên tham gia
TTKT là một khó khăn cho doanh nghiệp. Trên thực tế, doanh nghiệp chỉ có thể
biết và chịu trách nhiệm về doanh số của mình mà không có nghĩa vụ phải nắm
được doanh số của các đối thủ cạnh tranh trên thị trường (căn cứ để tính toán thị
phần của các bên tham gia TTKT). Việc yêu cầu doanh nghiệp phải thu thập một
khối lượng lớn thông tin liên quan đến thị trương và thị phần tạo một áp lực rất lớn
cho các doanh nghiệp mong muốn thực hiện thủ tục thông báo hoặc thâm vấn ý
kiến của Cục Quản lý cạnh tranh.
Ngoài ra, việc sử dụng yếu tố thị phần kết hợp làm căn cứ để kiểm soát
TTKT cho thấy LCT Việt Nam chỉ kiểm soát các trường hợp TTKT theo chiều
ngang. Vì vậy, việc sáp nhập, hợp nhất, mua lại, liên doanh giữa các doanh nghiệp
không cùng thị trường liên quan (các dạng sáp nhập thep chiều dọc và hỗn hợp)
không chịu sự kiểm soát của LCT.
 Các quy định của pháp luật về thủ tục thông báo còn đơn giản.
LCT dành 5 điều luật để quy định về thủ tục này nên chỉ giải quyết được một số
vấn đề trong thủ tục thông báo như hồ sơ thông báo, thời hạn thụ lý hồ sơ, thời hạn
và nội dung trả lời thông báo TTKT. Các quy định này chỉ mang tính nguyên tắc
mà chưa làm rõ các nội dung mang tính kỹ thuật của quá trình đánh giá một vụ
việc TTKT.

10


4. Thực trạng hoạt động tập trung kinh tế trong thời gian từ 20092016:
Trong thời gian qua, làn sóng mua bán sáp nhập tại Việt nam ngày một gia
tăng mạnh mẽ. giai đoạn 2009 - 2011, có khoảng 750 thương vụ mua bán sáp nhập
tại Việt nam với tổng giá trị giao dịch ước đạt 6,89 tỷ đô la Mỹ giai đoạn 2012 2014, tổng giá trị các vụ việc mua bán, sáp nhập tăng khá cao, đạt khoảng 11,13 tỷ
đô là Mỹ. Trong đó, năm 2012, tổng giá trị các thương vụ M&A đạt khoảng 3,85 tỷ
đô la Mỹ. năm 2013, tổng giá trị các thương vụ M&A tại Việt nam đạt 4,78 tỷ đô la
Mỹ, tăng 24% so với năm 2012. năm 2014, Việt nam có khoảng 285 giao dịch
M&A được thực hiện với giá trị khoảng 2,5 tỷ USD.
Theo nghiên cứu của hãng thomson Reuters về thị trường M&A khu vực
Đông nam Á năm 2014, quy mô các giao dịch trong khu vực đạt khoảng 140 tỷ
USD, tăng 68% so với năm trước và đây là kỷ lục mới kể từ sau cuộc khủng hoảng
tài chính toàn cầu. Singapore tiếp tục là quốc gia dẫn đầu với 880 thương vụ trị giá
hơn 82 tỷ USD. nhiều giao dịch lớn ở các nước khác trong khu vực cũng được thực
hiện như Malaysia, Indonesia… So với các nước khác trong khu vực thì quy mô
giao dịch tập trung kinh tế năm 2014 của thị trường Việt nam tương đối nhỏ.
Xét về số lượng thương vụ M&A, nếu như giai đoạn trước yếu tố nước
ngoài chiếm tỷ trọng tới 66% về giá trị và 77% về số lượng giao dịch tập trung
kinh tế tại Việt nam thì giai đoạn 2012 - 2014, yếu tố nước ngoài chỉ còn chiếm tỷ
trọng cao về giá trị giao dịch với khoảng 68%, tỷ trọng về số lượng giao dịch đã
giảm xuống dưới 30%. như vậy, các thương vụ liên quan đến doanh nghiệp nội địa
chiếm đa số với khoảng 75%. Điều này phản ánh tác động của chương trình tái cấu
trúc nền kinh tế đang được nhà nước đẩy mạnh, trong đó nổi bật là Đề án cổ phần
hóa các doanh nghiệp nhà nước giai đoạn 2011 - 2015 cũng như Đề án Cơ cấu lại
hệ thống các TCTD giai đoạn 2011 - 2015 (Đề án 254).

11


Ngoài ra, một số doanh nghiệp Việt nam cũng bắt đầu thực hiện các thương
vụ ở nước ngoài (ví dụ Vinamilk, Viettel, FPT). tuy nhiên, xu thế chủ đạo vẫn là
làn sóng mua lại doanh nghiệp trong nước của các công ty nước ngoài.
Xét tổng quan thì các lĩnh vực bán lẻ, hàng tiêu dùng, năng lượng, tài chính
ngân hàng là những lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn nhất trong số các thương vụ M&A
được công bố. Đứng đầu trong các thương vụ M&A trong năm qua là ngành bán lẻ,
chiếm tới 36% tổng giá trị. trong đó thương vụ có giá trị cao nhất là sự kiện tập
đoàn BJC mua lại toàn bộ hệ thống siêu thị Metro với giá trị được thông báo là 870
triệu USD. Có thể thấy xu hướng tiếp tục khai phá thị trường hơn 90 triệu dân ở
Việt Nam luôn là chiến lược cốt lõi mà các doanh nghiệp bán lẻ trong và ngoài
nước đang thực hiện.
Ở vị trí thứ 2 là lĩnh vực hàng tiêu dùng thiết yếu với tỉ trọng 21% tổng giá
trị các thương vụ M&A. Đứng ở vị trí thứ 3 là lĩnh vực năng lượng (18%). nhu cầu
tiêu thụ năng lượng lớn trong tiêu dùng và phục vụ sản xuất đã khiến lĩnh vực này
hấp dẫn để M&A. Ví dụ, năm qua, Công ty Cổ phần Cơ điện (REE) đã rất tích cực
thâu tóm thêm cổ phần trong các doanh nghiệp thủy điện, nhiệt điện và chiến lược
này dự kiến sẽ được tiếp tục trong các năm tới. ngoài ra, các doanh nghiệp nước
ngoài cũng dành nhiều sự quan tâm đến ngành năng lượng ở Việt nam và điều này
hứa hẹn sẽ thúc đẩy thêm nhiều thương vụ M&A trong thời gian tới.
III.

Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật cạnh tranh và nâng cao
hiệu quả kiểm soát tập trung kinh tế.
1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật cạnh tranh về tập trung kinh tế:
 Mở rộng về hình thức và hành vi giao dịch TTKT cần phải điều chỉnh.
LCT Việt Nam chỉ điều chỉnh các vụ việc TTKT theo chiều ngang. Các tác

động phản cạnh tranh tiềm ẩn của dạng TTKT theo chiều ngang là rõ rệt khi doanh
nghiệp sau khi sáp nhập có một sức mạnh thị trường đáng kể. Tuy nhiên, cả về mặt

12


học thuật lẫn thực tiễn đã chỉ ra rằng, các dạng TTKT theo chiều dọc không phải
không tiềm ẩn những tác động xấu tới cạnh tranh mặc dù không làm thay đổi trực
tiếp tới cấu trúc thị trường.
Ngoài ra có một số dạng giao dịch thuộc dạng TTKT hiện tại chưa được quy
định trong LCT cũng cần được xem xét điều chỉnh như: mua lại phần sở hữu của
cổ đông thiểu số; mua, bán một phần tài sản độc lập. Những giao dịch dạng này có
thể được xem xét điều chỉnh dưới dạng kiểm soát TTKT do có tiềm ẩn nguy cơ
thâu tóm và kiểm soát doanh nghiệp, thị trường.
 Xem xét bỏ quy định về miễn trừ.
Về bản chất, khi pháp luật cạnh tranh cho phép cơ quan quản lý cạnh tranh
quyền đánh giá sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp tham gia TTKT và
đánh giá tác động vụ việc TTKT, cũng như việc đưa ra yêu cầu đối với các bên
tham gia TTKT có các biện pháp khắc phục thì quy định về việc xin hưởng miễn
trừ là không cần thiết. Đối với những trường hợp quyết định TTKT của các
doanh nghiệp nhà nước là do Chính phủ đưa ra thì luật cần quy định rõ để chỉ
thực hiện việc thông báo mà không nhất thiết phải qua các quy trình đánh giá
(được hưởng miễn trừ đương nhiên). Những trường hợp quyết định TTKT đối
với doanh nghiệp nhà nước do chính quyền cấp địa phương thực hiện thì vẫn
cần phải có sự đánh giá tác động tiềm ẩn tới môi trường cạnh tranh và cơ quan
cạnh tranh có quyền không cho phép thực hiện các giao dịch này.
 Không nên áp dụng một cách cứng nhắc các đánh giá mang tính kỹ thuật đối
với việc xác định thị trường liên quan.
Cần mở rộng các tiêu chí đánh giá để xác định thị trường liên quan cả về định
tính và định lượng để đảm bảo xác định một thị trường liên quan phản ánh đúng
thực tế của vụ việc.

13


 Hoàn thiện quy trình thông báo TTKT. Để hoàn thiện quy trình này, cần sửa
đổi, bổ sung quy định trong LCT hoặc Nghị định hướng dẫn, liên quan đến
vấn đề này theo hướng tập trung làm rõ những nội dung sau:
- Phải làm rõ yêu cầu cơ bản về nội dung của các tài liệu có trong hồ sơ thông
báo, đặc biệt là các thông tin về sản phẩm mà các doanh nghiệp tham gia
TTKT kinh doanh; các thông tin trong Báo cáo về thị phần của các doanh
nghiệp. Ngoài ra, cần quy định về cơ chế chủ động thu thập, thẩm tra thông
tin của cơ quan quản lý cạnh tranh để đối chiếu, rà soát tài liệu có trong hồ
sơ thông báo do các doanh nghiệp cung cấp. Từ đó, cơ quan quản lý cạnh
tranh có thể xác minh tài liệu một cách chân thực và có các kết luận phù
hợp, đúng đắn với thực tế khách quan.
- Cần có cơ chế hỗ trợ và tư vấn doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục thông báo
TTKT. Trong điều kiện hiện nay, khi LCT hiện hành còn xa lạ với cộng
đồng doanh nghiệp và các yêu cầu pháp lý cũng như kỹ thuật lập hồ sơ
thông báo còn vượt quá tầm hiểu biết và năng lực của đại bộ phận doanh
nghiệpViệt Nam thì việc xây dựng cơ chế tham vấn và tư vấn trong thủ tục
kiểm soát TTKT là cần thiết.
- Cần làm rõ nội dung thẩm tra của cơ quan quản lý cạnh tranh đối với hồ sơ
thông báo TTKT. Theo đó, pháp luật sẽ quy định nội dung thẩm tra theo
phương thức và căn cứ kiểm soát TTKT.
2. Nâng cao hiệu quả kiểm soát tập trung kinh tế
 Nâng cao năng lực của cơ quan quản lý cạnh tranh trong kiểm soát TTKT.
Cần tăng cường khả năng kiểm soát của Cục quản lý cạnh tranh - Cơ quan có
chức năng kiểm soát TTKT theo hướng cơ quan quản lý cạnh tranh cần được trao
quyền chủ động khi thực thi dựa trên những nguyên tắc được pháp luật ghi nhận,
bao gồm quyền tự chủ trong việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện, công cụ kỹ

14


thuật cho từng vụ việc; chủ động xây dựng quy trình cho việc kiểm soát tập trung
kinh tế.
 Thực hiện nghiên cứu và dự đoán trước những thị trường, những lĩnh vực
kinh tế có nguy cơ xảy ra hiện tượng TTKT, thậm chí những doanh nghiệp
có khả năng thực hiện hành vi thâu tóm thị trường bằng hình thức TTKT.
Đồng thời, cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý cạnh tranh và cơ
quan đăng ký kinh doanh và các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành. Việc
kiểm soát TTKT hiệu quả, cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý
cạnh tranh đối với cộng đồng doanh nghiệp.
 Bồi dưỡng và nâng cao kiến thức kinh tế, pháp lý, chính sách và pháp luật
cạnh tranh cho nhân sự các cơ quan quản lý cạnh tranh, tổ chức có liên quan.
Điều tra một vụ TTKT là vô cùng khăn, nhất là khi chúng ta chưa hề có kinh
nghiệm trong việc kiểm soát TTKT cùng với số lượng đội ngũ nhân sự có hạn. Có
lẽ, một giải pháp cần thiết là cơ quan quản lý cạnh tranh nên thiết lập một hệ thống
cộng tác viên để hỗ trợ cùng xử lý, giải quyết các vụ việc TTKT.
 Cần đẩy mạnh hơn nữa hoạt động tuyên truyền phổ biến pháp luật cạnh
tranh nói và các quy định về TTKT tới cộng đồng doanh nghiệp.

KẾT LUẬN
Hoạt động tập trung kinh tế sẽ giải quyết triệt để tình trạng manh mún trong
quy mô đầu tư của các doanh nghiệp tham gia thị trường, đồng thời giúp doanh
nghiệp đó đủ sức cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài, các tập đoàn kinh tế
đa quốc gia có tiềm lực tài chính và kinh nghiệm kinh doanh lâu đời bởi lẽ, chỉ khi
các doanh nghiệp tập trung các nguồn lực kinh tế để hình thành nên các tập đoàn
hoặc liên minh có sức mạnh về tài chính, kỹ thuật, công nghệ đủ mạnh mới có thể
cạnh tranh được với các đối thủ này. Tuy nhiên, pháp luật Việt Nam cũng có một số
bất cập về quy định tập trung kinh tế. Theo đó, cần phải đồng bộ hóa các quy định

15


pháp luật về tập trung kinh tế để dễ dàng cho công tác quản lý cũng như việc thực
hiện các hành vi tập trung kinh tế của các doanh nghiệp trên thị trường.

16


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Luật Cạnh tranh năm 2004
2. Luật Doanh nghiệp 2015
3. Nghị định 116/2005/NĐ-CP Hướng dẫn Luật Cạnh tranh
4. Nghị định 71/2014/NĐ-CP hướng dẫn Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm
pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh
5. Nghị định 119/2011/NĐ-CP sửa đổi thủ tục hành chính tại Nghị định
116/2005/NĐ-CP hướng dẫn Luật Cạnh tranh
6. Tập trung kinh tế theo quy định của Luật cạnh tranh năm 2004 và kiến nghị,
Phạm Thị Hồng Đào - Văn phòng luật sư Thạnh Hưng, Cổng thông tin điện
tử Bộ Tư pháp, < http://www.moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-traodoi.aspx?ItemID=2051 >
7. Báo cáo tập trung kinh tế Việt Nam năm 2014, Cục quản lý cạnh tranh

17


PHỤ LỤC
1. Biểu đồ thực trạng TTKT tại Việt Nam giai đoạn 2012 – 2014

2. Một số vụ việc điển hình về TTKT

18


2.1. Vụ việc của Công ty PEPSICO
 Tóm tắt vụ việc:
Công ty Suntory Beverage (SBF) và Công ty Food Asia Pte.Ltd (SBFA) là hai
công ty hoạt động ở nước ngoài (hà Lan và Singapore) đã mua lại 51% cổ phần
trong Công ty PepsiCo global Investment II B.V (PgI II) - công ty con của
Linkbay, trực thuộc tập đoàn Pepsi Co. tập đoàn Suntory holdings Limited sở hữu
hai công ty con là SBF và SBFA, tập đoàn này tiến hành giao dịch ở nước ngoài
với PepsiCo để mua 51% cổ phần của PgI II. Đây là giao dịch của 2 tập đoàn diễn
ra ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Giao dịch giữa Pepsico và Suntory
Tuy nhiên, PgI II là công ty nắm giữ 100% vốn góp của Công ty PepsiCo Việt
nam (PIVC), công ty này hoạt động kinh doanh thực phẩm và nước giải khát của
19


PepsiCo tại Việt nam. như vậy là PepsiCo có công ty con tại Việt nam, tức là có
hoạt động kinh doanh tại Việt nam (dẫn chiếu Luật thương mại và Luật Doanh
nghiệp về hoạt động kinh doanh). Sau khi thương vụ mua bán được hoàn tất, PIVC
sẽ tách hoạt động kinh doanh thực phẩm để một công ty thực phẩm khác điều hành,
PIVC chỉ hoạt động trong lĩnh vực nước giải khát.
Mặc dù Suntory không có hiện diện thương mại tại Việt nam nhưng sản
phẩm đồ uống của doanh nghiệp này vẫn có mặt và được tiêu thụ tại thị trường
Việt nam (được nhập khẩu và phân phối vào thị trường Việt nam).giao dịch mua lại
được thực hiện ở nước ngoài nhưng cả hai doanh nghiệp đều có hoạt động ở Việt
nam nên vẫn thuộc đối tượng áp dụng của Luật Cạnh tranh.
Vụ việc trên thuộc trường hợp mua lại theo quy định của pháp luật cạnh
tranh (Điều 16, Luật Cạnh tranh; Điều 34 nghị định 116/nĐ-CP). thị trường liên
quan là thị trường nước giải khát trên phạm vi toàn quốc. Căn cứ báo cáo thị phần
do doanh nghiệp cung cấp, thị phần của PIVC năm 2010, 2011 lần lượt là 45,6%
và 47,1% (số liệu của hai năm liên tiếp trước giao dịch mua lại được thực hiện), thị
phần của Suntory tương ứng là 0,2% và 0,3%. như vậy, thị phần kết hợp của hai
doanh nghiệp là 45,8% và 47,4%. Số liệu thị phần này nằm trong ngưỡng kiểm
soát tập trung kinh tế (từ 30% đến 50%) nên doanh nghiệp có nghĩa vụ phải thực
hiện thủ tục thông báo tập trung kinh tế. trường hợp mua lại này không thuộc
trường hợp bị cấm nên doanh nghiệp được làm thủ tục tập trung kinh tế tại cơ quan
nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.
Tác động tới cạnh tranh trên thị trường sau giao dịch: Sau khi Suntorymua
lại 51% cổ phần của Pepsico thì cấu trúc thị trường nước giải khát không thay
đổi. trên thị trường thì PIVC vẫn có vị trí dẫn đầu thị trường với cơ cấu sở hữu
vốn: PepsiCo chiếm 49% cổ phần và Suntory chiếm 51% cổ phần. Mặt khác, thị
trường nước giải khát là thị trường có mức độ cạnh tranh khá cao do có số lượng
lớn doanh nghiệp tham gia trên thị trường này (134 doanh nghiệp), vì vậy giao dịch
mua lại này cũng không tiềm ẩn những nguy cơ gây hạn chế cạnh tranh trên thị
20


trường, thực chất của việc mua lại này là thay đổi cơ cấu sở hữu vốn trong PIVC
hoạt động kinh doanh tại Việt nam.
Công tác giám sát cạnh tranh năm 2013 - 2014 (sau thời điểm hoàn tất giao
dịch này) cho thấy PIVC hoạt động kinh doanh khá lành mạnh, tuân thủ pháp luật
cạnh tranh, chưa xuất hiện hành vi phản cạnh tranh (Mặc dù có vị trí thống lĩnh
nhưng doanh nghiệp không có hành vi lạm dụng vị trí này).
Về mặt tuân thủ pháp luật cạnh tranh:năm 2012, doanh nghiệp đã gửi hồ sơ
tham vấn về vụ việc mua lại tới Cục Quản lý cạnh tranh. Bộ hồ sơ có đầy đủ các
thông tin, tài liệu liên quan như yêu cầu của Bộ hồ sơ thông báo tập trung
kinh tế. Có thể thấy rằng, các doanh nghiệp nước ngoài có ý thức tuân thủ luật
cạnh tranh và chủ động tham vấn, thông báo vụ việc tập trung kinh tế của mình.
2.2.

Vụ việc xin hưởng miễn trừ của BankNetVN và Smartlink

 Tóm tắt vụ việc:
Ngày 19 tháng 8 năm 2014, Bộ Công thương nhận được đầy đủ hồ sơ đề nghị
hưởng miễn trừ đối với TTKT của Công ty CP Chuyển mạch tài chính Quốc gia
Việt nam (Banknetvn) và Công ty CP Dịch vụ thẻ Smartlink (Smartlink) theo quy
định tại Điều 30 LCT và Điều 57 nghị định số 116/2005/NĐ-CP. Công ty CP
Chuyển mạch tài chính Quốc gia Việt nam và Công ty CP Dịch vụ thẻ Smartlink là
hai doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực trung gian thanh toán ngân hàng. Hoạt
động tập trung kinh tế dự kiến của hai doanh nghiệp thuộc trường hợp sáp nhập
doanh nghiệp quy định tại Khoản 1 Điều 16 LCT, theo đó Smartlink sẽ sáp nhập
vào Banknetvn. Thị phần kết hợp của các bên trên thị trường liên quan là 100%.
Do đó, trường hợp tập trung kinh tế này bị cấm theo quy định tại Điều 18 LCT.
Tuy nhiên, trường hợp tập trung kinh tế này đáp ứng được các điều kiện được
hưởng miễn trừ theo Điều 19, Luật Cạnh tranh và thẩm quyền cho hưởng miễn trừ
là thủ tướng Chính phủ (điều 25, Luật cạnh tranh). Việc tập trung kinh tế này có tác

21


dụng góp phần phát triển kinh tế-xã hội, tiến bộ kỹ thuật, công nghệ; cụ thể như
sau:
- Việc sáp nhập hai Công ty là phương án được Ngân hàng Nhà nước lựa chọn
để thực hiện chủ trương xây dựng một Trung tâm chuyển mạch thẻ thống
nhấtnhằm thúc đẩy thanh toán bằng thẻ ngân hàng, phục vụ thực hiện chủ trương
của Chính phủ phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, tăng hiệu quả quản lý
nền kinh tế của các cơ quan quản lý thông qua kênh thanh toán, đáp ứng nguyên
tắc minh bạch hóa. Phương án này cũng đáp ứng được mục tiêu xây dựng Trung
tâm chuyển mạch thẻ thống nhất, với một thương hiệu thống nhất, kết nối các hệ
thống thanh toán thẻ của các tổ chức phát hành thẻ, tổ chức thanh toán thẻ và các
liên minh thẻ hiện hành thành một hệ thống thống nhất, tạo điều kiện cho các ngân
hàng nhỏ và tiềm lực tài chính hạn chế có thể tham gia vào thị trường thẻ, đồng
thời giảm gánh nặng đầu tư hạ tầng kỹ thuật cho các ngân hàng lớn.
- Mặt khác, phương án sáp nhập Công ty Smartlink vào Công ty Banknet nhằm
thực hiện chủ trương xây dựng trung tâm chuyển mạch thẻ thống nhất của Việt
nam được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của 49 thành viên kết nối. như vậy, Công
ty sau sáp nhập đã đảm bảo với các thành viên sẽ không lạm dụng vị trí độc quyền,
tác động tới cạnh tranh trên thị trường trung gian thanh toán thẻ.
- Về tiến bộ kỹ thuật, công nghệ:Công ty sau sáp nhập sẽ áp dụng công nghệ
tiên tiến, mô hình trung tâm xử lý thanh toán bù trừ tự động giá trị thấp – Ach của
Mỹ và sẽ thực hiện đánh giá và hợp chuẩncho các đơn vị cung cấp giải pháp công
nghệ thông tin nước ngoài khi muốn kết nối với trung tâm chuyển mạch thẻ thống
nhất. hơn nữa, công ty sau sáp nhập sẽ chuyển đổi sang công nghệ thẻ chip thanh
toán sử dụng tiêu chuẩn EMV tại Việt Nam.
Với việc đáp ứng đầy đủ các điều kiện cho hưởng miễn trừ, thủ tướng Chính
phủ đã ra Quyết định số 2327/QĐ-ttg ngày 22 tháng 12 năm 2014 cho hưởng miễn
trừ đối với hai doanh nghiệp theo hình thức sáp nhập doanh nghiệp kèm theo các
điều kiện cụ thể.
22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×