Tải bản đầy đủ

Pháp luật về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông tại việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ CẤP PHÉP KINH DOANH DỊCH VỤ
VIỄN THÔNG TẠI VIỆT NAM

NGUYỄN THU TRANG

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ CẤP PHÉP KINH DOANH DỊCH VỤ
VIỄN THÔNG TẠI VIỆT NAM


NGUYỄN THU TRANG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: T.S NGUYỄN QUÝ TRỌNG


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả
nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu,
ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi
đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo
quy định của Khoa Đào tạo sau Đại học - Viện Đại học mở Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Sau Đại học xem xét để tôi có thể
bảo vệ luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thu Trang


LỜI CẢM ƠN
Qua hai năm học tập nghiên cứu tại Viện Đại học mở Hà Nội và viết luận văn
tốt nghiệp đề tài "Pháp luật về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông tại Việt
Nam". Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Viện Đại học mở Hà Nội, Khoa Sau
đại học Viện Đại học mở Hà Nội, các thầy giáo, cô giáo Viện Đại học mở Hà Nội,
trường Đại học Luật Hà Nội và các Bộ, ngành đã trực tiếp giảng dạy lớp cao học
Luật kinh tế khoá III (niên khóa 2014-2016). Đặc biệt xin biết ơn thầy hướng dẫn
khoa học Tiến sĩ Nguyễn Quý Trọng –Trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình giúp
đỡ, trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong quá trình viết luận văn.
Cảm ơn các bạn trong lớp cao học Luật Kinh tế khoá III, Khoa Sau đại học,
Viện đại học mở Hà Nội đã giúp đỡ trong quá trình học tập. Tác giả xin được bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc đến đồng nghiệp và gia đình đã nhiệt tình hỗ trợ, động viên, tạo
điều kiện trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thiện luận văn này.
Do thời gian có hạn và kiến thức, kinh nghiệm còn nhiều thiếu sót, hạn chế,
tác giả mong muốn các Quý thầy, cô giáo, nhà khoa học, chuyên gia và độc giả
quan tâm tham gia đóng góp để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 01 tháng 9 năm 2017
Học viên thực hiện



Nguyễn Thu Trang


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU……………………………………………………………………..1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẤP PHÉP KINH DOANH DỊCH
VỤ VIỄN THÔNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ CẤP PHÉP KINH DOANH DỊCH VỤ
VIỄN THÔNG………………………………………………………......................6
1.1. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ viễn thông…………………………...……...6
1.1.1. Khái niệm…………………………………………………………………....6
1.1.2. Đặc điểm dịch vụ viễn thông…………………………………………..........6
1.1.3. Phân loại dịch vụ viễn thông……………………………………………......8
1.2. Khái niệm, đặc điểm của kinh doanh dịch vụ viễn thông……………….......9
1.2.1. Khái niệm kinh doanh dịch vụ viễn thông………………………………......9
1.2.2. Đặc điểm kinh doanh dịch vụ viễn thông………………………………….10
1.3. Cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông………………………...…….......11
1.3.1. Khái niệm về cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông……………....11
1.3.2. Vai trò của việc cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông…………....11
1.4. Cạnh tranh trong kinh doanh dịch vụ viễn thông……………………….....16
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CẤP PHÉP KINH DOANH DỊCH
VỤ VIỄN THÔNG Ở VIỆT NAM……………………..……………...............…21
2.1. Các quy định của pháp luật về kinh doanh dịch vụ viễn thông…….….......21
2.1.1. Nguyên tắc về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông……………..…....21
2.1.2. Các chủ thể trong cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông………....…….21
2.1.3. Điều kiện cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông…………….……….....25
2.1.4. Thủ tục về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông…………………....…26
2.1.5. Thu hồi giấy phép viễn thông………………………………………....…...39
2.1.6. Các trường hợp miễn cấp giấy phép viễn thông……………..………….....41
2.2. Thực tiễn thi hành về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông…………..42
2.2.1. Những kết quả đã đạt được…………………………………………..….....42


2.2.2. Một số hạn chế, bất cập trong hoạt động cấp phép dịch vụ viễn thông........46
2.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong cấp phép kinh doanh dịch vụ
viễn thông………………………………………...……………………................49
Chương 3. YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ CẤP
PHÉP KINH DOANH DỊCH VỤ VIỄN THÔNG Ở VIỆT NAM

HIỆN

NAY………………………………………………………………………………54
3.1. Những yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về cấp phép kinh doanh dịch
vụ viễn thông…………………………………………………………..…............54
3.1.1. Pháp luật về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông phải là hành lang pháp
lý phù hợp với sự thay đổi của thị trường, công nghệ và luật pháp chung nhằm tiếp
tục tạo điều kiện và thúc đẩy ngành viễn thông phát triển…...……......................54
3.1.2. Hoàn thiện pháp luật về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông trên cơ sở
thể chế hoá các quan điểm, cơ chế, chính sách mới của Đảng và Nhà nước, đặc
biệt là về kinh tế thị trường, cải cách hành chính để phát huy nội lực, thúc đẩy
canh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực viễn thông……..................56
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn
thông ở Việt Nam………………………………………………………………...57
3.2.1. Hoàn thiện các quy định về kinh doanh viễn thông……………….…….....57
3.2.2. Hoàn thiện các quy định về cấp phép viễn thông.………………………....63
3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về viễn
thông, cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông ở Việt Nam...…………....….64
3.3.1. Kiến nghị đối với Nhà nước….…….……..................……...……………..64
3.3.2. Kiến nghị đối với doanh nghiệp viễn thông..................................................67
KẾT LUẬN............................................................................................................69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................71
PHỤ LỤC...............................................................................................................74


DANH MỤC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
DVVT

Chữ viết đầy đủ
:

WTO

Dịch vụ viễn thông
World Trade Organization, Tổ chức Thương mại
Quốc tế

TPP

:

Trans-Pacific Partnership Agreement, Hiệp định đối
tác xuyên Thái bình dương

TTHC

:

VMS-MobiFone

Thủ tục hành chính
Vietnam Mobile Telecom Services Company, Công
ty Thông tin Di động Việt Nam

3G

:

Third-generation technology, Công nghệ truyền
thông thế hệ thứ ba

4G

:

Fourth-generation, Công nghệ truyền thông không
dây thứ tư

VNPT

:

Vietnam Posts and Telecommunications Group,
Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam

VNPT-Vinaphone :

Tổng công ty dịch vụ viễn thông

Viettel

:

Tập đoàn Viễn thông Quân đội

Gtel Mobie

:

Công ty Cổ phần Viễn Thông Di Động Toàn Cầu

FPT

:

Công ty Cổ phần FPT

SCTV

:

Công ty TNHH Truyền hình cáp Saigontourist

OTT

:

Over - the – top, là thuật ngữ để chỉ các ứng dụng
và các nội dung như âm thanh, video được cung cấp
trên nền tảng Internet và không một nhà cung cấp
hoặc bất kỳ cơ quan nào có thể can thiệp vào.


LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua cùng với quá trình phát triển của đất nước, ngành viễn
thông Việt Nam là một trong những ngành có những bước phát triển rất nhanh và
đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước. Với những chính sách phù hợp
về viễn thông, Việt Nam đã tạo ra hành lang pháp lý để thúc đẩy cạnh tranh, khuyến
khích và hỗ trợ các doanh nghiệp mới tham gia thị trường. Mạng lưới cơ sở hạ tầng
kỹ thuật viễn thông và chất lượng dịch vụ viễn thông ngày càng được hoàn thiện và
nâng cao, trong khi giá cước từng bước giảm xuống bằng và thấp hơn mức bình
quân của khu vực và thế giới.
Tuy nhiên, khi triển khai thực thi các quy định pháp luật về viễn thông, đặc
biệt khi Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế
giới (WTO), đã gia nhập Hiệp định đối tác xuyên Thái bình dương TPP cùng các
hiệp định thương mại tự do khác thì nội dung của pháp luật viễn thông đã bộc lộ
một số hạn chế, bất cập chưa tương thích với thông lệ quốc tế. Bên cạnh đó, với một
thời gian dài được bảo hộ của Nhà nước, sức cạnh tranh của các doanh nghiệp viễn
thông còn yếu nếu so với các doanh nghiệp viễn thông nước ngoài có tiềm lực về tài
chính, công nghệ và trình độ quản lý, v.v… Do đó cần thiết phải có sự nghiên cứu
cẩn trọng về pháp luật viễn thông nói chung và pháp luật về cấp phép kinh doanh
dịch vụ viễn thông nói riêng (bao gồm môi trường pháp lý, tình hình thị trường viễn
thông, v.v…) để kịp thời có những giải pháp thích hợp nhằm duy trì và phát triển
bền vững và lành mạnh thị trường viễn thông Việt Nam.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá một cách có hệ thống và toàn diện
những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn
thông ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề ra các giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp
luật về nội dung này ở Việt Nam trong nền kinh tế thị trường là rất cần thiết.

1


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về viễn thông đã và đang được nhiều nhà khoa học trên thế giới và ở
trong nước thuộc nhiều lĩnh vực quan tâm nghiên cứu.
Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu khoa học về pháp luật viễn thông được
thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như đề tài nghiên cứu khoa học, sách
chuyên khảo, sách tham khảo, các bài tạp chí, các bài báo hay các tham luận tại hội
thảo khoa học, trong đó phải kể đến:
- Nhà xuất bản Bưu điện (2000): Kết nối toàn cầu – Cơ sở hạ tầng viễn thông
quốc tế và chính sách;
- Nhà xuất bản Bưu điện (2002): Cải cách viễn thông – Kinh nghiệm của một
số nước trên thế giới;
- Viện kinh tế bưu điện (2003): Viễn thông thế kỷ 21 – Công nghệ và quản lý;
- Nhà xuất bản Chính trị quốc gia (2009): Quản lý nhà nước về thông tin và
truyền thông.
Ngoài ra, nhiều nhà khoa học đã thực hiện các công trình nghiên cứu công
phu, phong phú với những nội dung có giá trị về lĩnh vực viễn thông nói chung và
kinh doanh dịch vụ viễn thông nói riêng. Trong đó, có thể kể đến luận văn của tiến
sĩ Trần Đăng Khoa về nội dung “Phát triển ngành viễn thông Việt Nam đến năm
2020” hoặc bài viết “Hoàn thiện pháp luật kinh doanh dịch vụ viễn thông trong nền
kinh tế thị trường” đăng trên Tạp chí Công nghệ thông tin và Truyền thông, kỳ
02/2/2004. Những bài viết này đã cho người đọc một cái nhìn tổng quát về quá trình
phát triển ngành viễn thông ở Việt Nam cũng như định hướng hoàn thiện pháp luật
về viễn thông nói chung và kinh doanh dịch vụ viễn thông nói riêng. Tuy nhiên, các
bài viết đều đã thực hiện trong bối cảnh trước đây, khi Việt Nam chưa tham gia Tổ
chức thương mại thế giới cũng như các hiệp định, tổ chức kinh tế khác. Do đó, việc
nghiên cứu một cách kỹ lưỡng, chi tiết về nội dung pháp luật về kinh doanh dịch vụ
viễn thông trong tình hình mới là thực sự cần thiết và cấp bách.
Trên thế giới cũng đã có nhiều nghiên cứu về pháp luật viễn thông, trong đó
phải kể đến các công trình nghiên cứu có tính tham khảo như:

2


- Arthur R. McGree (1993): Vai trò của viễn thông trong hội nhập kinh tế Đại học Pennylvania;
- Soonthonsiripong (1998): Các quy định về cải cách viễn thông tại các nước
đang phát triển: Trường hợp mạng điện thoại cố định tại Thái Lan;
- Paul Budle Communication (1999): Chiến lược phát triển viễn thông của
Australia 1999 – 2000;
- Kuthuria, Rajat (2000): Cơ quan quản lý viễn thông Ấn Độ - Tạp chí Kinh
doanh Toàn cầu;
- Mahesh Uppal (2006): Viễn cảnh cạnh tranh trong ngành viễn thông tại
Campuchia, Lào và Việt Nam – Trung tâm nghiên cứu cạnh tranh của CUTS (Tổ
chức Thống nhất và Tín thác Bảo vệ Người tiêu dùng - CUTS International).
Các bài viết này đều có tính tham khảo sâu rộng, phù hợp với việc nghiên
cứu để từ đó định hướng xây dựng một hành lang pháp lý hoàn thiện hơn về viễn
thông cũng như về kinh doanh dịch vụ viễn thông, đảm bảo hài hòa lợi ích cho cả
nhà nước, doanh nghiệp, người dân.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn có đối tượng nghiên cứu là quy định của Việt Nam về cấp phép
kinh doanh dịch vụ viễn thông trên phương diện lý luận và thực tiễn thi hành ở Việt
Nam.
Pháp luật về kinh doanh dịch viễn thông có nội hàm rộng, liên quan đến nhiều
nội dung, tuy nhiên phạm vi nghiên cứu của đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu
những quy định của pháp luật về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông, trong đó
chủ yếu tập trung tiếp cận những quy định của Luật Viễn thông và các văn bản
hướng dẫn thi hành. Trên cơ sở đó, chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế và chưa phù
hợp với thông lệ, luật pháp quốc tế về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông trong
điều kiện hiện nay.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

3


Luận văn được thực hiện trên nền tảng của phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối, chính sách của
Đảng và Nhà nước ta về cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông..
Để làm rõ đối tượng và phạm vi nghiên cứu nêu trên, Luận văn sử dụng nhiều
phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, như phương pháp tổng hợp, phân
tích, thống kê, phương pháp so sánh và đối chiếu, kết hợp nghiên cứu lý luận với
thực tiễn v.v...
5. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài: Trên cơ sở những quan điểm và đường lối của
Đảng và Nhà nước cũng như từ thực tiễn hoạt động xây dựng pháp luật viễn thông ở
Việt Nam thời gian qua, mục đích của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
và thực trạng pháp luật về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông ở Việt Nam, từ
đó xác định yêu cầu và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về
cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông ở Việt Nam trong thời gian tới.
Với mục đích như trên, các nhiệm vụ mà luận văn phải giải quyết là:
- Làm rõ khái niệm, đặc điểm của việc cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn
thông; khái niệm, nội dung chủ yếu và vai trò của pháp luật về cấp phép kinh doanh
dịch viễn thông.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về cấp phép kinh doanh dịch vụ
viễn thông ở Việt Nam.
- Đề ra các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về cấp phép kinh doanh
dịch vụ viễn thông ở Việt Nam.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của đề tài
Luận văn đạt được những kết quả nghiên cứu mới như sau:
- Luận văn phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về pháp luật kinh doanh dịch
vụ viễn thông, cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông như: khái niệm, nội dung,
vai trò của pháp luật về kinh doanh dịch vụ viễn thông.
- Luận văn đã đánh giá một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống về thực
trạng pháp luật hiện hành về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông ở Việt Nam

4


nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật kinh doanh dịch vụ viễn
thông ở Việt Nam trong thời gian tới.
- Luận văn đã đề ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về cấp phép kinh doanh
dịch vụ viễn thông ở Việt Nam.
- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu và
thực thi pháp luật viễn thông, về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông.
7. Cơ cấu của luận văn
Cơ cấu của luận văn được xây dựng phù hợp với mục đích, đối tượng và phạm
vi nghiên cứu. Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các chữ viết tắt, danh mục
các tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông và
pháp luật về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông.
Chương 2. Thực trạng pháp luật về cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông ở Việt
Nam.
Chương 3. Những yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật về cấp phép kinh
doanh dịch vụ viễn thông ở Việt Nam hiện nay.

5


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẤP PHÉP KINH
DOANH DỊCH VỤ VIỄN THÔNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ
CẤP PHÉP KINH DOANH DỊCH VỤ VIỄN THÔNG
1.1. Khái niệm và đặc điểm dịch vụ viễn thông
1.1.1. Khái niệm
Khái niệm dịch vụ viễn thông luôn gắn liền với khái niệm mạng viễn thông.
Mỗi mạng viễn thông sẽ cung cấp một vài loại dịch vụ cơ bản đặc trưng cho mạng
viễn thông đó và mạng này có thể cùng hỗ trợ với mạng khác để cung cấp được một
dịch vụ viễn thông cụ thể.
"Dịch vụ viễn thông" là dịch vụ truyền ký hiệu, tín hiệu, số liệu, chữ viết, âm
thanh, hình ảnh hoặc các dạng khác của thông tin giữa các điểm kết cuối thông qua
mạng viễn thông.
Nói một cách khác, đó chính là dịch vụ cung cấp cho khách hàng khả năng
trao đổi thông tin với nhau hoặc thu nhận thông tin thông qua mạng viễn thông
(thường là mạng công cộng như mạng điện thoại chuyển mạch công cộng, mạng
điện thoại di động, mạng Internet, mạng truyền hình cáp) của các nhà cung cấp cung
cấp dịch vụ và nhà cung cấp hạ tầng mạng.
Từ việc phân tích trên cho thấy: Dịch vụ viễn thông là dịch vụ gửi, truyền,
nhận và xử lý thông tin giữa hai hoặc một nhóm người sử dụng dịch vụ viễn thông,
bao gồm dịch vụ cơ bản và dịch vụ giá trị gia tăng1.
1.1.2. Đặc điểm dịch vụ viễn thông
Dịch vụ viễn thông có những đặc điểm cơ bản như sau:
- Thứ nhất: Dịch vụ viễn thông rất khác với các sản phẩm của ngành sản
phẩm công nghiệp, nó không phải là một sản phẩm vật chất chế tạo mới, không phải

1

Khoản 7 Điều 3 Luật Viễn thông.

6


là hàng hoá cụ thể, mà là kết quả có ích cuối cùng của quá trình truyền đưa tin tức
dưới dạng dịch vụ.
- Thứ hai: Đó là sự tách rời của quá trình tiêu dùng và sản xuất dịch vụ viễn
thông. Hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức được tiêu dùng ngay trong
quá trình sản xuất. Ví dụ: trong đàm thoại điện thoại bắt đầu đăng ký đàm thoại là
bắt đầu quá trình sản xuất, sau khi đàm thoại xong tức là sau khi tiêu dùng hiệu quả
có ích của quá trình sản xuất thì quá trình sản xuất cũng kết thúc. Trong viễn thông,
kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất không thể cất giữ được ở trong kho,
không dự trữ được, không thể thu hồi sản phẩm cho vào quay vòng, tái sản xuất. Từ
đặc điểm này rút ra yêu cầu về chất lượng dịch vụ viễn thông phải cao nếu không sẽ
ảnh hưởng trực tiếp ngay đến tiêu dùng. Hơn nữa, để sử dụng dịch vụ viễn thông
người sử dụng phải có mặt ở những vị trí, địa điểm xác định của nhà cung cấp dịch
vụ hoặc nơi có thiết bị của nhà cung cấp dịch vụ.
- Thứ ba: Xuất phát từ truyền đưa tin tức rất đa dạng, nó xuất hiện không
đồng đều về không gian và thời gian. Thông thường, nhu cầu truyền đưa tin tức phụ
thuộc vào nhịp độ sinh hoạt của xã hội, vào những giờ ban ngày, giờ làm việc của
các cơ quan, doanh nghiệp, vào các kỳ hội, lễ tết thì lượng nhu cầu rất lớn. Trong
điều kiện yêu cầu phục vụ không đồng đều, để thoả mãn tốt nhu cầu của khách
hàng, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông phải dự trữ đáng kể năng lực
sản xuất và lực lượng lao động.
- Thứ tư: đó là sự khác biệt so với ngành sản xuất công nghiệp, nơi mà đối
tượng chịu sự thay đổi vật chất (về mặt vật lý, hoá học,..), còn trong sản xuất viễn
thông, thông tin là đối tượng lao động chỉ chịu tác động dời chỗ trong không gian.
Thậm chí, nếu thông tin trong quá trình truyền tải nhờ các thiết bị viễn thông được
biến đổi thành các tín hiệu thông tin điện, thì ở các nơi nhận tín hiệu phải được khôi
phục trở lại trạng thái ban đầu của nó. Mọi sự thay đổi thông tin, đều có nghĩa là sự
méo mó, mất đi giá trị sử dụng và dẫn đến tổn thất lợi ích của khách hàng.
- Thứ năm: là quá trình truyền đưa tin tức luôn mang tính hai chiều giữa
người gửi và người nhận thông tin. Nhu cầu truyền đưa tin tức có thể phát sinh ở

7


mọi điểm dân cư, điều đó đòi hỏi phải hình thành một mạng lưới cung cấp dịch vụ
có độ tin cậy, rộng khắp.
Ngoài ra, nếu xem xét về khía cạnh kinh tế, dịch vụ viễn thông còn bị chi
phối bởi những đặc điểm khác như:
- Dịch vụ viễn thông là một loại sản phẩm thiết yếu của đời sống xã hội.
- Dịch vụ viễn thông là một loại sản phẩm vô hình không nhìn thấy được,
tiêu dùng một lần và là sản phẩm đặc biệt của ngành viễn thông.
- Dịch vụ viễn thông được tiêu thụ ngay trong quá trình nó tạo ra, vì vậy việc
đảm bảo chất lượng khai thác mạng lưới, chất lượng dịch vụ có yêu cầu rất cao.
- Dịch vụ viễn thông là một loại hình dịch vụ được cung cấp đòi hỏi phải
trang thiết bị, máy móc công nghệ cao, hiện đại với vốn đầu tư lớn. Hầu hết hệ
thống trang thiết bị công nghệ, kỹ thuật phục vụ kinh doanh đều nhập từ nước
ngoài, giá cao nhưng lại có chu kỳ sống ngắn nên đòi hỏi phải thu hồi vốn nhanh,
mức độ hấu hao lớn sẽ ảnh hưởng đến giá cả dịch vụ tới khách hàng.
Những đặc điểm trên tác động rất lớn đến việc tổ chức kinh doanh sản phẩm
dịch vụ viễn thông.
1.1.3. Phân loại dịch vụ viễn thông
Việc phân loại dịch vụ viễn thông có vai trò quan trong trong quản lý, điều
chỉnh các loại hình kinh doanh cũng như đảm bảo việc thực hiện các quyền, nghĩa
vụ của các chủ thể trong lĩnh vực này. Việc phân loại dịch vụ viễn thông chủ yếu
được xác định theo quy định tại các văn bản pháp luật như: Nghị định số
25/2011/NĐ-CP ngày 06/4/2011 của Chính phủ; Thông tư số 05/2012/TT-BTTTT
ngày 18/5/2012 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về phân loại dịch vụ
viễn thông; Thông tư số 05/2012/TT-BTTTT còn có một quy định mở về các dịch
vụ viễn thông khác theo quy định của Bộ Thông tin và Truyền thông,.......
Căn cứ vào đặc điểm công nghệ, phương thức truyền dẫn của mạng viễn
thông, các loại hình dịch vụ viễn thông bao gồm:
- Dịch vụ viễn thông cố định bao gồm dịch vụ viễn thông cố định mặt đất,
dịch vụ viễn thông cố định vệ tinh.

8


- Dịch vụ viễn thông di động bao gồm dịch vụ viễn thông di động mặt đất,
dịch vụ viễn thông di động vệ tinh, dịch vụ viễn thông di động hàng hải, dịch vụ
viễn thông di động hàng không2.
Căn cứ theo hình thức thanh toán giá cước, các dịch vụ viễn thông trên được
phân thành dịch vụ trả trước và dịch vụ trả sau.
- Dịch vụ trả trước là dịch vụ mà người sử dụng dịch vụ viễn thông thanh
toán giá cước sử dụng dịch vụ trước khi sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận giữa hai
bên.
- Dịch vụ trả sau là dịch vụ mà người sử dụng dịch vụ viễn thông thanh toán
giá cước sử dụng dịch vụ sau khi sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận giữa hai bên.
Căn cứ theo phạm vi liên lạc, các dịch vụ viễn thông trên được phân thành
dịch vụ nội mạng và dịch vụ liên mạng.
- Dịch vụ nội mạng là dịch vụ gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin giữa
những người sử dụng dịch vụ của cùng một mạng viễn thông.
- Dịch vụ liên mạng là dịch vụ gửi, truyền, nhận và xử lý thông tin giữa
những người sử dụng dịch vụ của các mạng viễn thông khác nhau. Các mạng viễn
thông khác nhau là các mạng viễn thông khác loại của cùng một doanh nghiệp viễn
thông hoặc các mạng viễn thông của các doanh nghiệp viễn thông khác nhau.
Dịch vụ viễn thông cộng thêm là dịch vụ tăng thêm tính năng, tiện ích cho
người sử dụng dịch vụ viễn thông, là một phần không tách rời và được cung cấp
cùng với các dịch vụ viễn thông cơ bản và giá trị gia tăng.
1.2. Khái niệm, đặc điểm của kinh doanh dịch vụ viễn thông
1.2.1. Khái niệm kinh doanh dịch vụ viễn thông
Vấn đề kinh doanh viễn thông đã được quy định thành một chương riêng
trong Luật Viễn thông. Những quy định trong Luật Viễn thông đã xây dựng hành
lang pháp lý cơ bản điều chỉnh nội dung kinh doanh viễn thông. Theo đó, việc quy
định về hình thức của động kinh doanh viễn thông gồm: kinh doanh dịch vụ viễn
thông và kinh doanh hàng hóa viễn thông.
2

Điều 9 Nghị định số 25/2011/NĐ-CP ngày 06/4/2011 của Chính phủ.

9


Kinh doanh dịch vụ viễn thông là hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng viễn thông
công cộng, dịch vụ viễn thông nhằm mục đích sinh lợi.
Kinh doanh hàng hóa viễn thông là hoạt động đầu tư, sản xuất, mua bán, cho
thuê phần mềm và vật tư, thiết bị viễn thông nhằm mục đích sinh lợi3.
Như vậy, có thể nhận thấy kinh doanh dịch vụ viễn thông là một phần quan
trọng của kinh doanh viễn thông. Việc kinh doanh dịch vụ viễn thông phải theo các
quy định của Luật Viễn thông và quy định khác của pháp luật có liên quan. Theo
đó, kinh doanh dịch vụ viễn thông là hoạt động thương mại nhằm giúp một bên sinh
lợi (gọi là bên cung ứng dịch vụ viễn thông) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một
bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (gọi là khách hàng) có nghĩa vụ
thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ viễn thông theo thỏa thuận.
1.2.2. Đặc điểm kinh doanh dịch vụ viễn thông
Kinh doanh dịch vụ viễn thông có những đặc điểm cơ bản như sau:
Một là, Kinh doanh nhóm dịch vụ viễn thông cơ bản: Những dịch vụ này
được kinh doanh dưới nhiều hình thức khác nhau tùy theo mục tiêu của doanh
nghiệp. Đặc trưng cơ bản của nhóm dịch vụ này là quản lý theo thuê bao/người sử
dụng và tính doanh thu theo cước thuê bao và cước truy nhập. Với xu hướng hiện
nay, khi các dịch vụ giá trị gia tăng ngày càng phát triển thì cước thuê bao và cước
truy cập sẽ được giảm dần đến mức tối thiểu. Với đặc trưng trên, nhóm dịch vụ cơ
bản được kinh doanh những hình thức sau: Cước thuê bao + cước truy nhập; Chỉ
tính cước truy nhập; Chỉ tính cước thuê bao hoặc miễn phí toàn bộ.
Hai là, Kinh doanh nhóm các dịch vụ giá trị gia tăng: Hình thức kinh doanh
các dịch vụ giá trị gia tăng hết sức phong phú và có lẽ rằng chúng ta khó có thể liệt
kê hết được. Đặc trưng cơ bản của các hình thức kinh doanh nhóm dịch vụ này là
người sử dụng dịch vụ giá trị gia tăng và cũng có thể chỉ tạo ra môi trường cung cấp
dịch vụ. Doanh thu từ các dịch vụ giá trị gia tăng thị trường được thể hiện dưới các

3

Điều 13 Luật Viễn thông.

10


hình thức sau: Theo hợp đồng kinh tế; Trả theo tháng; Trả theo cường độ sử dụng;
Hoa hồng.
1.3. Cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông
1.3.1. Khái niệm về cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông
Giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông là cơ sở pháp lý quan trọng để các
chủ thể thực hiện các hành vi kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ viễn thông theo quy
định của pháp luật.
Giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông bao gồm 02 loại:
(i) Giấy phép thiết lập mạng viễn thông công cộng, có thời hạn không quá 15
năm được cấp cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có hạ tầng mạng;
(ii) Giấy phép cung cấp dịch vụ viễn thông, có thời hạn không quá 10 năm
được cấp cho doanh nghiệp cung cấp dịch vụ không có hạ tầng mạng4.
Kinh doanh dịch vụ viễn thông là hoạt động đầu tư cơ sở hạ tầng viễn thông
công cộng, dịch vụ viễn thông nhằm mục đích sinh lợi5. Cấp phép kinh doanh dịch
vụ viễn thông là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc cho phép
thực hiện kinh doanh dịch vụ viễn thông. Việc cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ
viễn thông phải được thực hiện theo một quy trình, thủ tục nhất định và phải được
kiểm soát chặt chẽ.
1.3.2. Vai trò của việc cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông
Kinh doanh dịch vụ viễn thông là một hoạt động không thể thiếu được trong
đời sống kinh tế, xã hội và các doanh nghiệp. Tuy nhiên, để đảm bảo việc kinh
doanh dịch vụ viễn thông hiệu quả thì không thể thiếu được hoạt động cấp giấy
phép của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với lĩnh vực này. Vai trò của
việc cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ được thể hiện trên nhiều phương diện khác
nhau, cụ thể:
Thứ nhất, việc cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông là cơ sở pháp lý
quan trọng cho hoạt động kinh doanh dịch vụ viễn thông trong việc đáp ứng nhu
cầu cần thiết về trao đổi, thu nhận thông tin giữa các chủ thể trong các hoạt động
4
5

Khoản 2 Điều 34 Luật Viễn thông
Khoản 1 Điều 13 Luật Viễn thông.

11


sản xuất kinh doanh, quản lý xã hội và đời sống sinh hoạt của con người. Việc cấp
giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông góp phần đưa dịch vụ viễn thông là một
công cụ thông tin hiệu quả nhất, nhanh nhạy nhất với yêu cầu nhanh chóng, chính
xác, an toàn, thuận tiện cho mọi lĩnh vực của đời sống xã hội bao gồm chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng, là yếu tố nhạy cảm có liên quan đến
vấn đề chính trị xã hội, kinh tế, quân sự và an ninh quốc gia, là những công cụ quản
lý quan trọng của hệ thống chính trị. Các nước ở giai đoạn đầu phát triển đều coi
viễn thông là lĩnh vực độc quyền đạt dưới sự quản lý trực tiếp của nhà nước.
Thứ hai, Cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông đảm bảo cho kinh
doanh dịch vụ viễn thông – một nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế – xã
hội và góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần nhân dân. Sản
xuất ngày càng mang tính xã hội hoá cao, từ đó nhu cầu trao đổi, truyền tải, thu
nhận thông tin của các chủ thể kinh tế càng lớn. Vì vậy sự phát triển của kinh doanh
dịch vụ viễn thông có tác dụng thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch
cơ cấu kinh tế, xã hội theo hướng tiến bộ, nâng cao năng suất và hiệu quả trong
nông nghiệp nông thôn, công nghiệp, các dịch vụ xã hội như giáo dục đào tạo, chăm
sóc sức khỏe…cải thiện chất lượng cuộc sống ở các khu vực đang phát triển,
khuyến khích tính cộng đồng và tăng cường bản sắc văn hoá vùng sâu, vùng xa,
những nơi khoảng cách xa, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá. Vai
trò của dịch vụ viễn thông còn thể hiện qua việc góp phần làm tăng trưởng GDP
hằng năm.
Thứ ba, Việc cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông là cơ sở để đảm
bảo thúc đẩy dịch vụ viễn thông, là một công cụ để quản lý nhà nước, đảm bảo
thông tin liên lạc phục vụ an ninh, quốc phòng, phòng chống bão lụt và phục vụ các
sự kiện quan trọng của đất nước.
Thứ tư, với đặc điểm là tạo ra một thế giới không biên giới, không khoảng
cách, kinh doanh dịch vụ viễn thông đã kết nối chúng ta với toàn thế giới; mở rộng
mạng lưới thông tin liên lạc, tăng cường khả năng giao lưu trong và ngoài nước.
Chính vì vậy, hoạt động cấp giấy phép kinh doanh dịch vụ viễn thông là một trong

12


cơ sở pháp lý quan trọng nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh dịch vụ viễn
thông minh bạch, hiệu quả trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng.
1.3.3. Những yếu tố tác động tới việc cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông
Dịch vụ viễn thông nói chung và kinh doanh dịch vụ viễn thông nói riêng
như một sản phẩm tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội, nó có vai trò vô
cùng quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội nói chung. Tuy nhiên, để đảm
bảo hoạt động kinh doanh dịch vụ viễn thông minh bạch, hiệu quả thì không thể
thiếu được việc việc cấp phép đối với lĩnh vực này. Hoạt động cấp phép kinh doanh
dịch vụ viễn thông luôn chịu sự tác động của nhiều yếu tố, cụ thể:
Một là, sự tác động của các yếu tố tự nhiên và con người. Hầu hết các yếu tố
tự nhiên như vị trí địa lý, diện tích, địa hình đồi núi, sông suối, biển, khí hậu, tài
nguyên đều có tác động đến sự phát triển của dịch viễn thông, đó là những nhân tố
vừa có những tác động thuận lợi, vừa có thể gây nên những khó khăn trong phát
triển dịch vụ viễn thông. Vị trí địa lý, địa hình nếu thuận lợi thì sẽ làm cho chi phí
đầu tư xây dựng mạng lưới giảm; ngược lại, nếu vị trí địa lý, địa hình phức tạp, đồi
núi sông suối nhiều bị chia cắt lớn sẽ làm cho chi phí đầu tư xây dựng mạng lưới
tăng lên, dẫn đến giá thành chi phí của dịch vụ cao. Những khu vực khí hậu thuận
lợi như bão gió, lũ lụt ít xảy ra chi phí rủi ro sẽ thấp hơn những khu vực bão gió, lũ
lụt xẩy ra nhiều…cũng có thể tạo ra những khó khăn nhất định cho quy trình, thủ
tục cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông.
Con người ở đây có thể hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm tổ chức, cá nhân liên
quan đến việc cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông. Bên cạnh yếu tố tự nhiên thì
việc tác động từ chính yếu tố con người vo cùng quan trọng. Nếu con người đại diện
cho các cơ quan công quyền không đáp ứng được về năng lực, trình độ hay tưc cách
đạo đức thì có thể tạo ra sự cản trở, ảnh hưởng tới viaaej cấp phép. Những hành vi
vi phạm của những con người này có thể dẫn tới những hệ lụy khôn lường, xâm
phạm quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân, khách hàng và nhà nước.
Hai là, tác động từ các chủ trương đường lối của Đảng, cơ chế, chính sách
của nhà nước.

13


Chủ trương đường lối, cơ chế chính sách nếu kịp thời, phù hợp sẽ thúc đẩy
nhanh sự phát triển của viễn thông, ngược lại chủ trương đường lối, cơ chế chính
sách chậm trễ, không hợp lý sẽ bỏ lỡ cơ hội phát triển nhanh viễn thông. Trong
những năm qua Đảng và Nhà nước đã ban hành được những chủ trương đường lối,
cơ chế chính sách kịp thời, phù hợp nên đã thúc đẩy nhanh sự phát triển của viễn
thông. Bộ Thông tin và Truyền thông thường xuyên có sự quan tâm lãnh đạo, chỉ
đạo về chuyên môn; Lãnh đạo các bộ, ban ngành ở Trung ương, lãnh đạo các địa
phương luôn quan tâm phối hợp, hỗ trợ để ngành viễn thông phát triển tốt. Các
doanh nghiệp kinh doanh phục vụ viễn thông có sự phối hợp cộng tác tốt, các tập
thể doanh nghiệp kinh doanh phục vụ viễn thông và đội ngũ cán bộ, công chức, viên
chức trong toàn ngành đã có nhiều nỗ lực và cố gắng trong công tác quản lý, sản
xuất kinh doanh, phục vụ góp phần thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển ngành viễn
thông, do vậy tình hình hoạt động của dịch vụ viễn thông có nhiều chuyển biến tích
cực, phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Trong giai đoạn chuẩn bị gia nhập và trở thành thành viên chính thức của Tổ
chức thương mại thế giới, Đảng, Nhà nước ta đã xây dựng và ban hành nhiều chủ
trương, chính sách tác động đến sự phát triển ngành viễn thông, như: Quyết định
246/2005/QĐ-TTg ngày 06/10/2005của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt chiến
lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và
định hướng đến năm 2020; Quyết định 32/2006/QĐ-TTg ngày 07/02/2006 về phê
duyệt Quy hoạch phát triển viễn thông và Internet Việt Nam đến năm 2010; ... Đó là
những quy định, hướng dẫn cụ thể có tác dụng định hướng để ngành viễn thông nói
chung và kinh doanh dịch vụ viễn thông nói riêng tại Việt Nam phát triển đúng đắn.
Thứ ba, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trình độ phát triển khoa học công
nghệ của nền kinh tế.
Trình độ phát triển của nền kinh tế, của các ngành sản xuất, dịch vụ ngoài
viễn thông cao, sẽ tạo nên những điều kiện thuận lợi thúc đẩy nhanh sự phát triển
của viễn thông, ngược lại trình độ phát triển kinh tế của các ngành sản xuất, dịch vụ

14


khác thấp, sẽ tác động tới hoạt động cấp phép kinh doanh dịch vụ viễn thông, cụ
thể:
Hệ thống điện ổn định, cung cấp năng lượng đầy đủ thì hệ thống mạng lưới
viễn thông cũng sẽ ổn định, bảo đảm được sự thông suốt của quá trình cung cấp các
dịch vụ viễn thông. Ngược lại, hệ thống điện không ổn định, cung cấp năng lượng
không đầy đủ, sự cố thiếu điện, mất điện xẩy ra sẽ dẫn đến tình trạng thông tin bị
gián đoạn, gây ảnh hưởng trực tiếp đến mọi mặt của đời sống xã hội. Hệ thống các
dịch vụ vận tải như đường bộ, đường sắt, đường sông, đường biển, đường không
nếu phát triển tốt sẽ tạo tiền đề cho viễn thông tiết kiệm trong đầu tư hạ tầng, phát
triển đồng bộ mạng lưới, bảo đảm thông tin nhanh chóng, thuận lợi, an toàn. Ngược
lại, nếu phát triển hạ tầng giao thông không đồng bộ, quy hoạch và thực hiện quy
hoạch đô thị, giao thông không nhất quán sẽ gây lãng phí trong đầu tư phát triển
mạng lưới dịch vụ viễn thông. Nền kinh tế có trình độ phát triển cao, trên nền tảng
cơ sở hạ tầng kỹ thuật hiện đại thì dịch vụ viễn thông có điều kiện phát triển tốt.
Ngược lại, nền kinh tế có trình độ phát triển thấp, cơ sở hạ tầng kỹ thuật cũng lạc
hậu, yếu kém thì điều kiện phát triển dịch vụ viễn thông cũng gặp khó khăn.
Trình độ phát triển khoa học công nghệ có tác động ảnh hưởng đến sự phát
triển dịch vụ viễn thông. Dịch vụ viễn thông nếu phát triển trong điều kiện của một
nền kinh tế xã hội có trình độ khoa học công nghệ phát triển cao, thì ngành viễn
thông sẽ có nhiều điều kiện thuận lợi để vận dụng nền khoa học công nghệ cao đó
vào phát triển ngành mình nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, phục vụ.
Ngược lại dịch vụ viễn thông nếu phát triển trong điều kiện của một nền kinh tế xã
hội có trình độ khoa học công nghệ phát triển lạc hậu, thấp kém, thì ngành viễn
thông cũng sẽ ít có điều kiện để phát triển tốt nhất.
Kết cấu dân số, sự phân bố dân cư thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền
núi, sự phân bố các đơn vị hành chính cũng là những điều kiện có tác động tạo
thuận lợi hoặc gây khó khăn cho phát triển bưu chính viễn thông.
Thứ tư, sự tác động của hội nhập kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế
tạo ra cơ hội cho sự phát triển của dịch vụ viễn thông trên nhiều phương diện như:

15


Hội nhập kinh tế quốc tế thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế trong nước,
làm cho nền kinh tế được phát triển nhanh chóng cả về chiều rộng, chiều sâu, phát
triển phong phú, đa dạng mọi ngành, nghề, lĩnh vực, làm tăng nhanh số lượng các
chủ thể sản xuất kinh doanh và từ đó làm gia tăng mạnh mẽ nhu cầu thông tin, nhu
cầu sử dụng dịch vụ viễn thông phục vụ các hoạt động kinh tế, tạo ra thị trường sử
dụng dịch viễn thông rộng lớn.
Hội nhập kinh tế quốc tế thúc đẩy sản xuất phát triển, làm cho người dân có
thu nhập nhiều hơn, đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, từ đó nhân dân có
điều kiện để sử dụng dịch viễn thông được nhiều hơn và làm gia tăng mạnh mẽ nhu
cầu thông tin, nhu cầu sử dụng dịch vụ viễn thông.
Khi hội nhập kinh tế quốc tế, ngành viễn thông có thể khai thác được các
nguồn lực từ bên ngoài như vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý tiên tiến, đồng
thời mở ra khả năng không ngừng mở rộng thị trường cả trong và ngoàì nước.
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra những thách thức đối với sự phát triển của
dịch vụ viễn thông. Theo đó hội nhập đồng nghĩa với sự tăng thêm của các chủ thể
kinh doanh dịch vụ viễn thông. Bên cạnh các chủ thể trong nước, trong vùng là các
chủ thể nước ngoài với những ưu thế về vốn, công nghệ và kinh nghiệm sẽ tạo ra
sức ép cạnh tranh mạnh mẽ, ngày càng gay gắt. Thực tế hiện nay các doanh nghiệp
kinh doanh dịch vụ viễn thông ở trong nước vẫn còn rất hạn chế cả về vốn, công
nghệ và kinh nghiệm quản lý. Do đó, chỉ có các chủ thể kinh doanh dịch vụ viễn
thông luôn tìm cách vươn lên bằng các biện pháp đổi mới công nghệ, cải tiến, nâng
cao chất lượng dịch vụ phù hợp với những nhu cầu ngày càng khó tính của thị
trường, giảm chi phí giá thành dịch vụ có sức cạnh tranh quốc tế… thì mới có thể
tồn tại và phát triển được.
1.4. Cạnh tranh trong kinh doanh dịch vụ viễn thông
Mức độ cạnh tranh trên thị trường viễn thông hiện là khá cao, khá khốc liệt,
chủ yếu thông qua khuyến mại, giảm giá, đặc biệt đối với thị trường viễn thông di
động. Thị trường viễn thông di động đã chứng kiến cơn bão giảm giá dịch vụ trong
năm 2007 - 2008 giữa các nhà cung cấp để tranh giành thị trường. Gần như tất cả

16


các nhà cung cấp đều tập trung vào một chiến lược duy nhất là cạnh tranh thông qua
giảm giá dịch vụ, khuyến mại. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực của giảm giá,
khuyến mại làm cho người tiêu dùng được tiếp cận, sử dụng dịch vụ với chi phí rẻ
hơn, các chiến dịch khuyến mãi, giảm giá rầm rộ của các nhà cung cấp dịch vụ
nhiều trường hợp đã vượt quá giới hạn, ảnh hưởng tới sự phát triển lành mạnh của
thị trường.
Áp lực cạnh tranh trên thị trường dịch vụ viễn thông di động tạo ra sân chơi
cho các doanh nghiệp đi sau có cơ hội chiếm lĩnh thị phần dịch vụ, đồng thời là
động lực để các doanh nghiệp cũ bắt buộc phải cơ cấu lại tổ chức, mạng lưới dịch
vụ và phong cách phục vụ khách hàng nhằm thích nghi được với thị trường cạnh
tranh. Do đó, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp viễn thông di động không
ngừng được cải thiện và tăng cường mạnh mẽ và thực tế các doanh nghiệp viễn
thông di động là hoạt động có lợi nhuận cao trên thị trường dich vụ này. Ngoài ra,
có doanh nghiệp sau khi chiếm lĩnh thị trường trong nước, đã tìm kiếm và triển khai
hoạt động đầu tư ra nước ngoài khi thị trường trong nước có xu thế bão hòa. Cùng
với sự phát triển của mạng lưới di động trên toàn quốc và số lượng doanh nghiệp di
động tham gia thị trường thì chất lượng dịch vụ cũng đã được cải thiện, tình trạng
tắc nghẽn, mất liên lạc trong những ngày lễ, tết đã được khắc phục, thậm chí trong
thời điểm xảy ra thiên tai, bão lũ thì thông tin liên lạc vẫn được đảm bảo thông suốt.
Để giữ chân khách hàng, doanh nghiệp di động luôn chú trọng đến bảo đảm chất
lượng dịch vụ, đồng thời lôi kéo được thuê bao mới để tăng thị phần của mình.
Một trong những biện pháp nhằm tăng cường chất lượng mạng lưới, dịch vụ
viễn thông di động, doanh nghiệp luôn nghiên cứu, cập nhật và phải đầu tư phát
triển, ứng dụng công nghệ mới tăng cường tốc độ truy nhập và triển khai các ứng
dụng băng rộng, ví dụ như công nghệ 3G. Hiện nay, có 3 trong số 4 doanh nghiệp
cung cấp dịch vụ này 3G (gồm VNPT, VMS, Viettel) đồng thời cũng là các doanh
nghiệp có số lượng thuê bao lớn nhất cả nước. Chính tính cạnh tranh trên thị trường
đã buộc doanh nghiệp phải tự đổi mới công nghệ để tồn tại, và nâng cao chất lượng
dịch vụ, do đó, người sử dụng dịch vụ được hưởng nhiều lợi ích hơn.

17


Đối với lĩnh vực dịch vụ viễn thông di động, các nhà mạng di động đang sử
dụng công cụ giá để tiến hành cạnh tranh. Việc liên tục giảm giá cước tạo ra sự tăng
trưởng nhanh chóng trên thị trường di động. Như với việc VNPT với tư cách là nhà
khai thác khống chế thị trường (30%) bị quản lý chặt chẽ về giá cước đã tạo điều
kiện thuận lợi cho các nhà khác thác mới như Viettel bứt phá. Tuy nhiên, cuộc chiến
về giá cước dẫn đến sự suy giảm chất lượng dịch vụ, tắc nghẽn mạng lưới và gia
tăng khiếu kiện khách hàng. Điều này buộc cơ quan quản lý nhà nước vào cuộc qua
việc công bố tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ bắt buộc và các cuộc kiểm tra, giám sát
quy trình cung cấp dịch vụ để đảm bảo quyền lợi khách hàng. Tuy nhiên đó chỉ là
các biện pháp tạm thời và để ngăn ngừa xu hướng cạnh tranh không lành mạnh,
chèn ép đối thủ cạnh tranh đặc biệt là từ phía các doanh nghiệp lớn, chiếm thị phần
khống chế thì việc hoàn thiện hành lang pháp lý về viễn thông trong lĩnh vực này là
hết sức quan trọng.
Các quy định có liên quan đến cạnh tranh chung đã được quy định chi tiết
trong Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thi hành. Đối với lĩnh vực viễn
thông, nhiều quy định về cạnh tranh đã được cụ thể hóa trong Luật Viễn thông và
Nghị định 25/2011/NĐ-CP, cụ thể:
- Doanh nghiệp viễn thông không được thực hiện các hành vi hạn chế cạnh
tranh, cạnh tranh không lành mạnh theo quy định của Luật cạnh tranh.
- Doanh nghiệp viễn thông hoặc nhóm doanh nghiệp viễn thông có vị trí thống
lĩnh thị trường, doanh nghiệp viễn thông nắm giữ phương tiện thiết yếu không được
thực hiện các hành vi như bù chéo dịch vụ viễn thông để cạnh tranh không lành
mạnh; sử dụng ưu thế về mạng viễn thông, phương tiện thiết yếu để cản trở việc
xâm nhập thị trường, hạn chế, gây khó khăn cho hoạt động cung cấp dịch vụ viễn
thông của các doanh nghiệp viễn thông khác; sử dụng thông tin thu được từ doanh
nghiệp viễn thông khác vào mục đích cạnh tranh không lành mạnh; v.v…
- Doanh nghiệp viễn thông hoặc nhóm doanh nghiệp viễn thông có vị trí thống
lĩnh thị trường, doanh nghiệp viễn thông nắm giữ phương tiện thiết yếu phải thực

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×