Tải bản đầy đủ

Thanh tra pháp luật về lao động tại khu công nghiệp đồng văn, huyện duy tiên, tỉnh hà nam

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài luận văn nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Minh Sơn. Các luận điểm, dẫn chứng, số liệu
nêu trong luận văn bảo đảm tính chính xác, tin cậy và trung thực
Tác giả luận văn

Tống Văn Tam

i


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Khoa đào tạo Sau đại học –
Viện Đại học mở Hà Nội và các thầy cô giáo đã giúp đỡ tôi trang bị kiến thức, tạo
môi trường, điều kiện thuận lợi nhất trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận
văn này.
Tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn tới TS Phạm Minh Sơn đã chỉ
dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện việc nghiên cứu và hoàn thiện
luân văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí Lãnh đạo Văn phòng UBND tỉnh,
Sở Lao động - Thương binh và Xã hội; Liên đoàn Lao động tỉnh; Ban quản lý KCN

tỉnh; các bộ phận nghiệp vụ liên quan của các cơ quan tỉnh Hà Nam đã tạo điều kiện
cung cấp, chia sẻ cho tôi nhiều nguồn tư liệu hữu ích phục vụ cho quá trình nghiên
cứu cũng như quá trình thực hiện, hoàn thiện luân văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã động
viên, hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, công tác và thực hiện luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn./.
Tác giả luận văn

Tống Văn Tam

ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .....................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN .........................................................................................................ii
MỤC LỤC ............................................................................................................ iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ................................................................................. vi
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ....................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài ........................................................................... 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 3
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài ............................................................................ 4
6. Kết cấu của luận văn ............................................................................................ 4
CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THANH TRA VÀ THANH TRA LAO
ĐỘNG ..................................................................................................................... 5
1.1. Những vấn đề chung về thanh tra ...................................................................... 5
1.1.1. Khái niệm thanh tra ....................................................................................... 5
1.1.2. Đặc điểm của thanh tra.................................................................................. 5
1.1.3. Phân loại thanh tra ........................................................................................ 5
1.1.4. Vị trí, chức năng, vai trò của thanh tra .......................................................... 6
1.1.5. Nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra ................................................................ 7
1.1.6. Tổ chức và hoạt động của thanh tra ............................................................... 9
1.2. Một số vấn đề lý luận về thanh tra lao động .................................................... 10
1.2.1. Khái niệm thanh tra lao động ...................................................................... 10
1.2.2. Đặc điểm của thanh tra lao động ................................................................. 10

iii



1.2.3. Nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra lao động ............................................... 11
1.2.4. Tổ chức và hoạt động của thanh tra lao động .............................................. 12
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM .............................. 15
2.1. Thực trạng pháp luật về thanh tra lao động ở Việt Nam .................................. 15
2.1.1. Quy định về cơ quan, tổ chức, đối tượng, nguyên tắc và hoạt động của các cơ
quan thực hiện chức năng thanh tra lao động ........................................................ 15
2.1.2. Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Bộ, Chánh Thanh tra Bộ,
Thanh tra Sở, Chánh Thanh tra Sở, thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra ngành
Lao động - Thương binh và Xã hội ........................................................................ 18
2.1.3. Quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động
thanh tra ngành Lao động-Thương binh và Xã hội ................................................ 20
2.1.4. Quy định về nội dung thanh tra chuyên ngành lao động............................... 21
2.1.5. Quy định về trình tự, thủ tục hoạt động thanh tra lao động .......................... 24
2.1.6. Quy định về xử phạt vi phạm lao động ......................................................... 26
2.1.7. Quy định về giải quyết tranh chấp lao động ................................................. 27
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về thanh tra lao động tại khu công nghiệp Đồng
Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam....................................................................... 27
2.2.1. Khái quát chung về khu công nghiệp Đồng Văn ........................................... 27
2.2.2. Thực hiện pháp luật về thanh tra lao động tại khu công nghiệp Đồng Văn. . 28
2.2.3. Nhận xét, đánh giá thực trạng pháp luật về thanh tra lao động, thực tiễn thực
hiện pháp luật về thanh tra lao động tại khu công nghiệp Đồng Văn ..................... 43
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯƠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THANH TRA VIỆC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG QUA

iv


THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI KHU CÔNG NGHIỆP ĐÔNG VĂN, DUY TIÊN,
HÀ NAM…………………………………………………………………..54
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về thanh tra lao động .............................. 54
3.1.1. Pháp luật về thanh tra lao động đáp ứng tính thống nhất, đồng bộ của hệ
thống pháp luật ..................................................................................................... 54
3.1.2. Pháp luật về thanh tra lao động đáp ứng tính minh bạch và hiệu quả trong hệ
thống pháp luật, phù hợp với những cam kết của các quốc gia thành viên, của các
tổ chức quốc tế ...................................................................................................... 55
3.1.3. Pháp luật về thanh tra lao động phải rõ ràng, thông suốt và đúng đắn ........ 56
3.1.4. Pháp luật về thanh tra lao động phải xác định và tìm hiểu những thách thức
mà hệ thống thanh tra lao động đang gặp phải và tìm cách giải quyết những vấn đề
đang nổi lên ........................................................................................................... 56
3.1.5. Pháp luật về thanh tra lao động phải cần sử dụng Quy tắc hợp nhất toàn cầu
của IALI về Thanh tra Lao động như là công cụ hướng dẫn nhằm tăng cường quy
tắc ứng xử của thanh tra lao động ......................................................................... 57
3.1.6. Văn bản pháp luật chuyên biệt điều chỉnh hoạt động thanh tra lao động cần
được bổ sung những quy định về nội dung ............................................................. 57
3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về thanh tra lao động ................................ 58
3.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định về thanh tra lao động ................... 58
3.2.2. Nhóm giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về thanh tra lao động......Error!
Bookmark not defined.
3.2.2.1. Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành trong việc thực
hiện Bộ luật Lao động năm 2012……………………………………………………..64
3.2.2.2. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Thanh tra lao động sở LĐTB&XH tỉnh………………………………………………………………………………66.
3.2.2.3. Đảm bảo điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, phục vụ công

v


tác quản lý và hoạt động của thanh tra lao động……………………………………67
3.2.2.4. Tăng cường mối quan hệ phối hợp với các cơ quan, tổ chức khác……68
3.2.2.5. Hoạt động thanh tra v được tiến hành theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ
tục pháp luật quy định…………………………………………………………………69
3.2.2.6. Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động thanh tra……………………….69
3.2.2.7. Nâng cao chất lượng, năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức
thanh tra…………………………………………………………………………………..70
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 72

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ATVSLĐ

: An toàn vệ sinh lao động

BHXH

: Bảo hiểm xã hội

BHYT

: Bảo hiểm y tế:

KCN

: Khu công nghiệp

LĐ-TB&XH

: Lao động - Thương binh và Xã hội

NLĐ

: Người lao động

NSDLĐ

:Người sử dụng lao động

vi


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, giúp tạo ra của cải vật
chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu
quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước. Trong quan hệ lao động
giữa người lao động và người sử dụng lao động, thế yếu thuộc về người lao động.
Người sử dụng lao động, vì lợi ích kinh tế nên có xu hướng vi phạm pháp luật lao
động, xâm hại đến quyền và lợi ích chính đáng của người lao động được pháp luật
bảo vệ. Một thực tế đáng lo ngại là tình hình vi phạm pháp luật lao động ngày càng
phức tạp và gia tăng.
Thanh tra lao động là một chức năng không thể thiếu của quản lý nhà nước về
lao động, thực hiện chức năng thanh tra chính sách lao động, an toàn lao động và vệ
sinh lao động, với mục đích cuối cùng là nhằm phòng ngừa, phát hiện và xử lý các
hành vi vi phạm pháp luật; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách,
pháp luật để kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền các biện pháp khắc
phục, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước, đảm
bảo quyền lao động của người lao động, đảm bảo việc làm nhân văn. Tuy nhiên, kết
quả hoạt động thực tiễn cho thấy hoạt động của thanh tra lao động chưa phát huy
hết hiệu lực và hiệu quả, mục đích đạt được còn rất hạn chế.
Trước đòi hỏi ngày càng cao của yêu cầu quản lý nhà nước và sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt trước đòi hỏi của cơ chế thị trường và
hội nhập quốc tế, thanh tra lao động nói riêng và thanh tra nói chung cần được
nghiên cứu và hoàn thiện, trong đó, hoàn thiện pháp luật về thanh tra lao động là
vấn đề đặt ra cấp thiết. Trước thực trạng và các yêu cầu nêu trên, đề tài "Thanh tra
pháp luật về lao động tại khu công nghiệp Đồng Văn, huyện duy Tiên, tỉnh Hà
Nam" đã được triển khai nghiên cứu, với mong muốn nghiên cứu thành công đề tài
sẽ có đóng góp không chỉ về khoa học pháp lý mà còn có ý nghĩa thực tiễn trong

1


hoạt động thanh tra lao động ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trong những năm qua, đã có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ, công trình
nghiên cứu, đề tài khoa học và bài viết liên quan đến đề tài luận văn đang nghiên
cứu, trong đó đáng lưu ý là một số công trình sau: Luận án tiến sĩ luật học của Phạm
Thị Anh Đào, “Tổ chức và hoạt động thanh tra xây dựng ở Việt Nam hiện nay",
(2017); Luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Thị Thương Huyền, "Hoàn thiện pháp
luật thanh tra trong giai đoạn hiện nay", (2009); Luận văn thạc sĩ Luật học của
Nguyễn Thị Hồng Diệp (2009), "Tổ chức và hoạt động của Thanh tra Lao động Thương binh và Xã hội, thực trạng và giải pháp", (2009); Luận văn thạc sĩ Luật học
“Thanh tra lao động theo pháp luật lao động Việt Nam” của Đỗ Thị Thu Hiền,
(2011); Luận văn thạc sĩ Luật học “Thanh tra việc thực hiện pháp luật lao động từ
thực tiễn áp dụng tại tỉnh sơn La” của nguyễn Xuân Vinh, (2016); Đề tài nghiên
cứu khoa học cấp Bộ của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội "Các điều kiện và
giải pháp để chuyển phương thức thanh tra theo đoàn sang Thanh tra viên phụ
trách vùng", do TS. Bùi Sỹ Lợi làm chủ nhiệm (2003); Đề án "Nâng cao năng lực
hệ thống thanh tra ngành Lao động - Thương binh và Xã hội" của Thanh tra ngành
Lao động - Thương binh và Xã hội (2005); “Đề án nâng cao năng lực thanh tra
ngành Lao động - Thương binh và Xã hội đến năm 2020” của Thanh tra Bộ Lao
động - Thương binh và Xã hội được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết
định số 2155/QĐ-TTg ngày 11/11/2013; Sách tham khảo "Tổ chức và hoạt động
thanh tra, kiểm tra, giám sát của một số nước trên thế giới" (2001), Nguyễn Văn
Kim chủ biên; Sách "Quy trình và phương pháp tiến hành một cuộc thanh tra
chính sách lao động", do Nguyễn Xuân Bân chủ biên (2000), Nxb Lao động - Xã
hội, Hà Nội; Bài viết "Vai trò của thanh tra lao động trong việc thúc đẩy trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp", TS. Bùi Sỹ Lợi đăng trên Tạp chí Lao động và
Xã hội (2006);

Bài viết nghiên cứu "Coping With Changes on all Fronts:

Reaffirming the Ombudsman’s Powers and Adapting its Actions" (2003) ("Đối
phó với những thay đổi trên mọi phương diện: Khẳng định lại thẩm quyền của cơ

2


quan thanh tra và thích ứng về hành động"), của Clare Lewis, cơ quan thanh tra
của Bang Ontario, Canada.
Tuy không phải là vấn đề nghiên cứu mới nhưng nghiên cứu về thanh tra theo
pháp luật về lao động, lấy thực tiễn một địa bàn là KCN để phân tích là một cách
tiếp cận mới mà chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản, toàn
diện và có hệ thống. Trên cơ sở tiếp thu và kế thừa những kết quả đã đạt được của
các công trình trước đó, luận văn đưa ra những lý luận cơ bản về thanh tra, thanh tra
theo pháp luật về lao động và thực trạng thực hiện thanh tra theo pháp luật về lao
động tại KCN Đồng Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam; từ đó đề xuất các giải
pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về lao động;
hiệu lực, hiệu quả về thanh tra, thanh tra theo pháp luật về lao động hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, thực tiễn về pháp
luật và thực hiện pháp luật về thanh tra lao động ở Việt Nam dưới góc độ pháp lý.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các qui định của pháp
luật về thanh tra, thanh tra theo pháp luật về lao động ở Việt Nam (với mốc là Luật
Thanh tra 2010 ban hành); việc thực hiện pháp luật về lao động từ thực tiễn địa bàn
KCN Đồng Văn, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.
4. Mục đính và nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích của đề tài là từ thực trạng pháp luật về thanh tra lao động, từ thực
tiễn thực hiện thanh tra theo pháp luật về lao động tại KCN Đồng Văn, huyện Duy
Tiên, tỉnh Hà Nam để đánh giá, góp phần hoàn thiện, bổ sung những vấn đề lý luận
về thanh tra pháp luật về lao động, đưa ra những đề xuất, giải pháp hoàn thiện pháp
luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước đối với
thanh tra theo pháp luật về lao động trong các KCN.
- Đề tài có nhiệm vụ tìm hiểu những quy định của pháp luật Việt Nam về thanh
tra theo pháp luật về lao động, áp dụng vào thực tiễn hoạt động của thanh tra lao

3


động tại một địa bàn tại tỉnh Hà Nam; đánh giá, phân tích những khó khăn, vướng
mắc; đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý
nhà nước trong lĩnh vực thanh tra theo pháp luật về lao động hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử mácxít; quan điểm của Đảng về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa. Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể
như phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp, so sánh đối chiếu và khảo sát
thực tiễn.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về thanh tra và thanh tra lao động.
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về thanh tra
lao động ở Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thanh tra việc
thực hiện pháp luật về lao động.

4


CHƯƠNG 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THANH TRA
VÀ THANH TRA LAO ĐỘNG
1.1. Những vấn đề chung về thanh tra
1.1.1. Khái niệm thanh tra
Thanh tra, kiểm tra, giám sát là các phương thức đảm bảo pháp chế và kỷ luật
trong quản lý nhà nước, trong đó thanh tra là một khâu không thể thiếu trong công
tác quản lý nhà nước.
Thanh tra là sự xem xét, đánh giá và xử lý việc thực hiện pháp luật của tổ chức,
cá nhân do tổ chức, người có thẩm quyền thực hiện theo trình tự pháp luật quy định
nhằm phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và
lợi ích hợp pháp của chủ thể quyền sở hữu và tổ chức, cá nhân khác.
1.1.2. Đặc điểm của thanh tra
Phân tích những đặc trưng của thanh tra để phân biệt với hoạt động kiểm tra,
giám sát, đó là:
- Thanh tra luôn gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước.
- Thanh tra luôn mang tính quyền lực nhà nước.
- Thanh tra là một hoạt động được thực hiện bởi chủ thể là cơ quan nhà nước có
thẩm quyền.
- Thanh tra có đối tượng thuộc quyền quản lý của cơ quan quản lý nhà nước.
- Thanh tra có tính độc lập tương đối.
1.1.3. Phân loại thanh tra
Căn cứ vào chủ thể thực hiện hoạt động thanh tra, căn cứ vào nội dung, tính
chất của hoạt động thanh tra mà thanh tra được phân thành hai loại: Thanh tra nhà

5


nước và thanh tra nhân dân, với mục đích xác định rõ đối tượng thanh tra, phạm vi
thanh tra, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chủ thể hoạt động thanh tra.
1.1.3.1. Thanh tra nhà nước
Thanh tra nhà nước là "việc xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý nhà
nước đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức,
cá nhân chịu sự quản lý theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong luật
này và các quy định khác của pháp luật. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành
chính và thanh tra chuyên ngành".
Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước theo
cấp hành chính đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan,
tổ chức, cá nhân thuộc quyên quản lý trực tiếp.
Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan quản lý nhà nước
theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp
luật, những quy định về chuyên môn - kỹ thuật, quy tắc quản lý của ngành, lĩnh vực
thuộc thẩm quyền quản lý.
1.1.3.2. Thanh tra nhân dân
Thanh tra nhân dân là hình thức giám sát của nhân dân thông qua Ban Thanh
tra nhân dân đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, việc giải quyết khiếu nại,
tố cáo, việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở của cơ quan, tổ chức, cá nhân có
trách nhiệm ở xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, doanh
nghiệp nhà nước.
1.1.4. Vị trí, chức năng, vai trò của thanh tra
Công tác thanh tra có một vị trí, vai trò rất quan trọng. Nó là chức năng thiết
yếu của quản lý, là công cụ phục vụ sự quản lý của nhà nước. Thanh tra luôn luôn
gắn liền với quản lý, là một nội dung của quản lý. Thanh tra còn là một phương
thức phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế, phát hiện và xử lý những hành vi vi
phạm pháp luật trong hoạt động quản lý.

6


Nói tới vai trò của thanh tra là nói tới những tác động, ảnh hưởng của thanh tra
đối với quản lý nhà nước, đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động của
mình; đối với xã hội thông qua việc thực hiện chức năng thanh tra. Vai trò của
thanh tra thể hiện như hoàn thiện cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật; phòng ngừa,
phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, phát hiện những sơ hở trong cơ
chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền các biện pháp khắc phục; phát huy nhân tố tích cực, góp phần nâng cao hiệu
lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền
và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
Qua phân tích thấy rằng, thanh tra có vị trí quan trọng trong quản lý nhà nước, bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền.
1.1.5. Nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra
Với tầm quan trọng và địa vị pháp lý của thanh tra, pháp luật quy định về
nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra để các cơ quan được trao nhiệm vụ, quyền hạn
nhất định khi thực hiện chức năng này. Những nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra
được quy định như sau:
- Thanh tra hoàn thiện cơ chế, chính sách về kiểm soát quyền lực trong lĩnh vực
hành pháp:
Xuất phát từ chức năng của các cơ quan thanh tra nhà nước có chức năng quản
lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng chống tham
nhũng. Bản thân hoạt động thanh tra, kiểm tra chính là hoạt động kiểm soát quyền
lực nhà nước. Từ chức năng vốn có của mình, các cơ quan thanh tra nhà nước tham
mưu cho cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp trong việc xây dựng chính sách, pháp
luật, ban hành các quy định theo thẩm quyền; tuyên truyền, phổ biến chính sách,
pháp luật về tổ chức và hoạt động có liên quan đến hoạt động của các cơ quan thanh
tra nhà nước.
- Thanh tra đảm bảo việc thực thi chính sách một cách thống nhất, nhất quán
trong hệ thống hành pháp:

7


Sau quy trình ban hành chính sách pháp luật là việc tổ chức thực hiện chính
sách pháp luật. Thông qua công tác thanh tra các cơ quan thanh tra giúp các chủ thể
có trách nhiệm tổ chức thực hiện chính sách pháp luật nhận thức đúng chủ trương,
chính sách; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận thức chưa đúng hoặc làm chưa
đúng thì sửa chữa, khắc phục để từ đó đảm bảo việc thực thi chính sách được thông
suốt, đồng bộ, thống nhất từ trên xuống, đảm bảo quyền, lợi ích của công dân từ đó
đảm bảo nguyên tắc chế độ xã hội chủ nghĩa.
- Thanh tra đảm bảo sự tuân thủ chỉ đạo điều hành của cơ quan cấp trên với
cơ quan cấp dưới trong việc tổ chức thực hiện pháp luật và quản lý hành chính
nhà nước:
Hệ thống cơ quan hành chính nhà nước gồm nhiều cơ quan hành chính nhà
nước được tổ chức theo thứ bậc nhất định từ Chính phủ, các bộ, ngành và các cơ
quan cấp tỉnh, huyện, xã. Với bộ máy các cơ quan nhà nước được tổ chức ở các cấp
hành chính một trong những yêu cầu đảm bảo nền hành chính mạnh đó là bộ máy
hành chính phải thông suốt, việc chỉ đạo, điều hành được thực hiện nhanh chóng, hệ
thống hành chính có kỷ luật, cấp dưới tuân thủ cấp trên, mệnh lệnh hành chính được
ban hành cần phải được tổ chức đồng bộ; cán bộ làm hết chức trách, nhiệm vụ được
giao, tận tụy với công việc.
- Thanh tra hạn chế lạm dụng quyền lực, phòng ngừa vi phạm pháp luật của
các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước:
Để kiểm soát tính hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước, từng cơ quan
hành chính nhà nước phải thường xuyên kiểm soát các cơ quan thuộc quyền quản lý
của mình, cán bộ, công chức do mình quản lý. Bên cạnh đó còn phải có cơ quan
chuyên trách thường xuyên thanh tra, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ
công vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của mình, kịp thời
phòng ngừa những hành vi vi phạm pháp luật, chấn chỉnh, khắc phục các vi phạm
và việc lạm dụng quyền lực của nhà nước.
Thanh tra đảm bảo cung cấp thông tin phản hồi liên quan đến việc thực hiện

8


chính sách pháp luật và kiến nghị việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện chính sách, pháp
luật phù hợp với thực tiễn nhằm sử dụng quyền lực nhà nước có hiệu lực, hiệu quả:
Đây là một vai trò quan trọng của cơ quan thanh tra, góp phần kiểm soát quyền
lực nhà nước, đảm bảo quyền lực nhà nước được sử dụng một cách đúng mục đích,
có hiệu lực, hiệu quả. Cơ quan thanh tra không chỉ giúp các cơ quan, tổ chức, cá
nhân nhận thức đúng pháp luật, sửa chữa những sai sót trong quá trình thực hiện
nhiệm vụ, công cụ mà cũng thông qua công tác thanh tra để có biện pháp tháo gỡ
khó khăn, đề xuất sửa đổi, cơ chế chính sách góp phần nâng cao hiệu quả quản lý
nhà nước.
1.1.6. Tổ chức và hoạt động của thanh tra
Ở mỗi quốc gia, quy định về tổ chức và hoạt động của thanh tra là không giống
nhau. Xét về góc độ chung nhất, tổ chức của thanh tra được phân theo cấp độ hành
chính, bao gồm:
- Thanh tra Nhà nước hay Thanh tra Chính phủ; Thanh tra Bộ, Cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
Thanh tra Sở, Ngành; Thanh tra huyện, quận, thị xã; Thanh tra xã, phường, thị trấn;
Thanh tra nội bộ trong các cơ quan.
- Thanh tra chuyên ngành: Các tổ chức thanh tra chuyên ngành được thành lập
ở một số Bộ, Tổng cục, Cục thuộc Bộ, các sở...
- Thanh tra nhân dân: Được thành lập ở xã, phường, thị trấn, cơ quan hành
chính, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp nhà nước.
Các cơ quan Thanh tra Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc song trùng trực
thuộc; mỗi cơ quan thanh tra chịu sự chỉ đạo trực tiếp của thủ trưởng cơ quan quản
lý nhà nước cùng cấp, đồng thời chịu sự chỉ đạo hướng dẫn của cơ quan thanh tra
nhà nước cấp trên về công tác, tổ chức, nghiệp vụ thanh tra. Các cơ quan thanh tra
nhà nước có chức năng giúp thủ trưởng cùng cấp thực hiện nhiệm vụ thanh tra trong
phạm vi quản lý nhà nước của ngành và cấp đó; nhiệm vụ, quyền hạn chung của các

9


cơ quan thanh tra nhà nước là thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm
vụ kế hoạch nhà nước của các cơ quan, tổ chức và cá nhân thuộc phạm vi quản lý
của cơ quan đó; xem xét, kiến nghị cấp có thẩm quyền giải quyết hoặc giải quyết
theo thẩm quyền các khiếu nại, tố cáo; chỉ đạo về tổ chức và hoạt động đối với cơ
quan, tổ chức hữu quan trong phạm vi chức năng của mình; tuyên truyền, hướng
dẫn việc thực hiện pháp luật về thanh tra; kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm
quyền những vấn đề về quản lý nhà nước cần sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các
quy định phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước...
1.2. Một số vấn đề lý luận về thanh tra lao động
1.2.1. Khái niệm thanh tra lao động
Thanh tra lao động là thanh tra chuyên ngành, được giao thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật về lao động;
điều tra tai nạn lao động và những vi phạm an toàn lao động, vệ sinh lao động; tham
gia hướng dẫn áp dụng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về điều kiện lao
động, an toàn lao động, vệ sinh lao động; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi
phạm pháp luật về lao động theo quy định của pháp luật.
Thanh tra lao động đóng vai trò thiết yếu trong quản lý nhà nước về lao động.
Với mục đích của thanh tra lao động là phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi
vi phạm pháp luật lao động; phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách
pháp luật để kiến nghị nhà nước biện pháp khắc phục, phát huy nhân tố tích cực góp
phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước về lao động.
1.2.2. Đặc điểm của thanh tra lao động
Quan hệ lao động là quan hệ xã hội phát sinh trong việc thuê mướn, sử dụng
lao động, trả lương giữa người lao động và người sử dụng lao động. Quan hệ pháp
luật lao động là các quan hệ phát sinh trong quá trình sử dụng sức lao động của
người lao động ở các cơ quan Nhà nước, các tổ chức, các hợp tác xã, các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và các gia đình hay cá nhân có thuê mướn lao
động, được các quy phạm pháp luật lao động điều chỉnh.

10


Trên cơ sở nhận diện được quan hệ lao động, quan hệ pháp luật lao động để tìm
ra những đặc điểm của thanh tra lao động. Những đặc điểm cơ bản của thanh tra lao
động như sau:
Thứ nhất, pháp luật lao động là pháp luật chuyên ngành, do đó các quy định về
thanh tra lao động vừa đảm bảo tính chuyên môn vừa phải phù hợp với các quy định
của pháp luật về thanh tra. Thanh tra lao động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh
tra trong phạm vi quản lý nhà nước của cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp. Đối
tượng thanh tra lao động cũng là đối tượng quản lý, nội dung thanh tra phụ thuộc
vào nội dung quản lý của cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước. Tổ chức
và hoạt động của thanh tra lao động vừa đảm bảo thực hiện đúng các quy định của
pháp luật thanh tra, vừa đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật chuyên ngành.
Thứ hai, nội dung thanh tra lao động chính là các nội dung được quy định trong
Bộ luật, Luật lao động và các văn bản hướng dẫn thi hành (như các quy định về
tuyển dụng, đào tạo, hợp đồng lao động, tiền công, tiền lương, thời giờ làm việc
nghỉ ngơi, bảo hiểm xã hội, an toàn, vệ sinh lao động…);
Thứ ba, pháp luật về thanh tra lao động mang tính thủ tục chặt chẽ về thanh tra
nói chung và thanh tra lao động nói riêng. Hoạt động được thực hiện theo một trình
tự, thủ tục rất chặt chẽ để đảm bảo hiệu quả của hoạt động một cách chính xác,
khách quan. Để tiến hành một cuộc thanh tra lao động, pháp luật lao động quy định
thủ tục hết sức chặt chẽ từ khâu ra quyết định thanh tra đến việc chỉ đạo, báo cáo ra
kết luận và xử lý kết luận thanh tra.
Thứ tư, pháp luật về thanh tra lao động gắn liền với pháp luật khiếu nại, tố cáo
và pháp luật phòng chống tham nhũng. Ngoài nhiệm vụ thanh tra, thanh tra lao
động có nhiệm vụ rất quan trọng là giải quyết khiếu nại, tố cáo về lao động.
1.2.3. Nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra lao động
Có thể tóm tắt nhiệm vụ, quyền hạn cơ bản của thanh tra lao động như sau:
- Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về lao động, người có

11


công và xã hội của các cơ quan, tổ chức và cá nhân trên phạm vi cả nước;
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về lao động theo quy định của pháp luật;
- Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ của cơ
quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý của cơ quan quản lý nhà nước về lao
động;
- Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, người có công
và xã hội;
- Kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền đình chỉ hành vi vi phạm pháp
luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân;
- Kiến nghị hủy bỏ quyết định trái pháp luật về lao động, người có
công và xã hội khi có đủ căn cứ cho rằng hành vi hay quyết định đó gây
thiệt hại đến lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân;
- Thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng
thuộc lĩnh vực lao động, người có công và xã hội.
- Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
1.2.4. Tổ chức và hoạt động của thanh tra lao động
Hội nghị toàn thể của Tổ chức Lao động quốc tế tổ chức năm 1947 đã thông
qua Công ước 81 quy định về thanh tra lao động trong công nghiệp và
thương mại quy định mỗi nước thành viên của tổ chức lao động quốc tế mà tại đó
Công ước này có hiệu lực, phải duy trì một hệ thống thanh tra lao động trong các cơ
sở công nghiệp, cơ sở thương mại (Điều 1, Công ước 81).
Là thành viên của Công ước (được Việt Nam phê chuẩn năm l994), Việt Nam
đã nội luật hóa các quy định của Công ước 81 thể hiện trong hệ thống pháp luật lao
động nói chung và pháp luật về thanh tra lao động nói riêng nhằm tạo mọi điều kiện
thuận lợi và bảo vệ quyền lợi cho người lao động.
Trên thế giới, mỗi nước có cách tổ chức thanh tra chuyên ngành lao

12


động khác nhau. Hệ thống thanh tra lao động được chia thành "Thanh tra chung" và
"Thanh tra chuyên ngành". Các nước Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và các nước
nói tiếng Pháp và tiếng Tây Ban Nha lựa chọn mô hình "Thanh tra chung". Theo mô
hình thì phạm vi thanh tra rất rộng, bao gồm các nội dung như an toàn, vệ sinh lao
động, điều kiện lao động, tiền lương, lao động bất hợp pháp, lao động di cư… Đối
với các nước như Thụy Điển, Anh, Áo, các nước Bắc Âu, Niu di lân, Ai len thì lựa
chọn theo mô hình "Thanh tra chuyên ngành" có phạm vi thanh tra chủ yếu tập
trung vào việc tuân thủ các quy định về sức khỏe và an toàn lao động, phúc lợi và
các điều kiện chung trong những quy định về lao động. Ngoài ra có những nước chỉ
tập trung vào lĩnh vực an toàn, vệ sinh lao động, còn các vấn đề thực hiện chính
sách lao động có cơ chế giải quyết khác như hòa giải, Trọng tài hay Tòa án.
Ở Việt Nam, Thanh tra LĐ-TB&XH được tổ chức theo nguyên tắc "song trùng
trực thuộc", tức là vừa phụ thuộc cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp về lãnh đạo,
chỉ đạo, vừa phụ thuộc cơ quan thanh tra cấp trên về tổ chức, nghiệp vụ, công tác.
Theo mô hình này, ở cấp Trung ương có Thanh tra Bộ LĐ-TB&XH. Ở cấp địa
phương có Thanh tra Sở LĐ-TB&XH tại 63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Thanh tra Bộ chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH,
đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về công tác, tổ chức và nghiệp vụ thanh tra
của Thanh tra Chính phủ, theo quy định của pháp luật.
Thanh tra thuộc Sở LĐ-TB&XH các tỉnh, thành phố chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo
trực tiếp của Giám đốc Sở LĐ-TB&XH, đồng thời chịu sự chỉ đạo, hướng dẫn về
công tác, tổ chức và nghiệp vụ thanh tra hành chính của thanh tra cấp tỉnh và hướng
dẫn về công tác, nghiệp vụ thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Bộ.
Pháp luật Việt Nam quy định, Thanh tra LĐ-TB&XH thực hiện hoạt động
thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành với hai hình thức thanh tra là thanh
tra theo chương trình, kế hoạch và thanh tra đột xuất; phương thức thanh tra là
thanh tra theo Đoàn hoặc thanh tra độc lập, ngoài ra còn có phương thức thanh tra
viên phụ trách vùng.

13


Hoạt động thanh tra hành chính là thanh tra việc thực hiện chính sách,
pháp luật, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý
của Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH, Giám đốc Sở LĐ-TB&XH. Hoạt động thanh tra
chuyên ngành thanh tra lao động đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân về việc thực hiện
chính sách, pháp luật của nhà nước trong các lĩnh vực lao động như hợp đồng lao
động; thỏa ước lao động tập thể; thời giờ làm việc và nghỉ ngơi; tiền công và trả
công lao động; an toàn lao động, vệ sinh lao động...

14


CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THANH TRA
LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
2.1. Thực trạng pháp luật về thanh tra lao động ở Việt Nam
2.1.1. Quy định về cơ quan, tổ chức, đối tượng, nguyên tắc và hoạt động của
các cơ quan thực hiện chức năng thanh tra lao động
- Quy định về cơ quan thực hiện chức năng thanh tra:
Điều 4, Luật thanh tra năm 2010 quy định cơ quan thực hiện chức năng thanh
tra là Cơ quan thanh tra nhà nước và Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh
tra chuyên ngành. Cơ quan thanh tra nhà nước bao gồm: Thanh tra Chính phủ;
Thanh tra bộ, cơ quan ngang bộ (sau đây gọi chung là Thanh tra bộ); Thanh tra tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Thanh tra tỉnh); Thanh tra
sở; Thanh tra huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là
Thanh tra huyện). Theo đó, bộ máy thanh tra được xác định là hệ thống các cơ quan
thanh tra từ trung ương đến địa phương, có mối liên hệ với nhau trong công tác
thanh tra, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của thủ trưởng cơ quan quản lý cùng cấp, đồng
thời chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất của Tổng Thanh tra Chính phủ về tổ chức
và hoạt động thanh tra .
Cơ quan thanh tra nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực
hiện và giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về công
tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành
thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định
của pháp luật. Cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành là cơ
quan thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực, bao gồm tổng cục,
cục thuộc bộ, chi cục thuộc sở được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên

15


ngành. Hoạt động thanh tra chuyên ngành có những đặc điểm đó là do các cơ quan
có chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực tiến hành (như Bộ, Sở, Thanh tra
bộ, Thanh tra sở), cơ quan được giao thực hiện nhiệm vụ thanh tra chuyên ngành
(Tổng cục, Cục thuộc bộ, Chi cục thuộc sở). Đối tượng thanh tra chuyên ngành là
mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự điều chỉnh của pháp luật chuyên ngành; Nội
dung của thanh tra chuyên ngành là xem xét, đánh giá việc chấp hành pháp luật
chuyên ngành, quy định về chuyên môn, kỹ thuật, qui tắc quản lý của ngành.
- Quy định về cơ quan thực hiện chức năng thanh tra lao động:
Hoạt động thanh tra chỉ được tiến hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, vì
vậy pháp luật phải quy định cụ thể những cơ quan được thực hiện chức năng thanh
tra lao động. Bộ luật lao động năm 2012 quy định tại Khoản 1, Điều 237 là Bộ LĐTB&XH, Thanh tra Sở LĐ-TB&XH có nhiệm vụ thanh tra việc chấp hành các quy
định pháp luật về lao động. Đồng thời quy định Thanh tra Bộ LĐ-TB&XH, Thanh
tra Sở LĐ-TB&XH thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về lao động
(Khoản 1, Điều 238, Bộ luật lao động). Việc thanh tra an toàn lao động, vệ sinh lao
động trong các lĩnh vực: phóng xạ, thăm dò, khai thác dầu khí, các phương tiện vận
tải đường sắt, đường thuỷ, đường bộ, đường hàng không và các đơn vị thuộc lực
lượng vũ trang do các cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực đó thực hiện với sự
phối hợp của thanh tra chuyên ngành về lao động (Khoản 2, Điều 238, Bộ luật
lao động).
Theo quy định tại Nghị định số 39/2013/NĐ-CP ngày 24/4/2013 của Chính phủ
quy định về tổ chức hoạt động của Thanh tra ngành LĐ-TB&XH, Thanh tra Bộ LĐTB&XH là cơ quan thuộc Bộ LĐ-TB&XH, giúp Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH quản
lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham
nhũng; thực hiện thanh tra hành chính, thanh chuyên ngành; giải quyết khiếu nại, tố
cáo và phòng, chống tham những thuộc lĩnh vực LĐ-TB&XH trong phạm vi cả
nước. Thanh tra Bộ LĐ-TB&XH chịu sự chỉ đạo, điều hành của Bộ trưởng Bộ LĐ-

16


TB&XH và chịu sự chỉ đạo về công tác, hướng dẫn về nghiệp vụ của Thanh tra
Chính phủ. Thanh tra Sở LĐ-TB&XH là cơ quan thuộc Sở LĐ-TB&XH, giúp Giám
đốc Sở LĐ-TB&XH tiến hành thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành, giải
quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật.
Thanh tra Sở LĐ-TB&XH chịu sự chỉ đạo, điều hành của Giám đốc Sở LĐTB&XH; chịu sự chỉ đạo về công tác thanh tra và hướng dẫn về nghiệp vụ thanh tra
hành chính của Thanh tra tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, về nghiệp vụ
thanh tra chuyên ngành của Thanh tra LĐ-TB&XH. Thanh tra Bộ, Thanh tra Sở có
Chánh Thanh tra, Phó Chánh Thanh tra, Thanh tra viên và các công chức khác.
- Quy định về hoạt động thanh tra chuyên ngành lao động:
Hoạt động thanh tra chuyên ngành lao động được quy định là việc thực hiện các
quy định pháp luật lao động về báo cáo định kỳ; tuyển dụng và đào tạo lao động;
hợp đồng lao động; thỏa ước lao động tập thể; thời giờ làm việc và nghỉ ngơi; tiền
công và trả công lao động; an toàn lao động, vệ sinh lao động; việc thực hiện các
quy định đối với lao động nữ, lao động là người cao tuổi, lao động là người tàn tật,
lao động chưa thành niên; việc thực hiện các quy định đối với lao động là người
nước ngoài; kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất; việc thực hiện các quy định
khác của pháp luật lao động. Các hoạt động trên được thực hiện dưới hình thức
thanh tra theo chương trình, kế hoạch và thanh tra đột xuất (Quy định tại Điều 20Nghị định 39/2013/NĐ- CP, ngày 24/4/2013 của Chính phủ).
- Quy định về đối tượng thanh tra lao động:
Đối tượng thanh tra ngành LĐ-TB&XH được quy định tại Điều 2, Nghị định
39/2013/NĐ-CP, ngày 24/4/2013 của Chính phủ bao gồm: (1) Cơ quan, tổ chức, cá
nhân thuộc phạm vi quản lý của Bộ LĐ-TB&XH, Sở LĐ-TB&XH; (2) Cơ quan, tổ
chức, cá nhân Việt Nam và nước ngoài có nghĩa vụ chấp hành các quy định pháp
luật trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ LĐ-TB&XH, Sở
LĐ-TB&XH.

17


- Quy định về nguyên tắc hoạt động của thanh tra lao động:
Pháp luật hiện hành quy định nguyên tắc hoạt động của ngành thanh tra LĐTB&XH như sau: (1) Hoạt động của thanh tra ngành LĐ-TB&XH phải tuân theo
pháp luật, bảo đảm chính xác, trung thực, khách quan, công khai, dân chủ và kịp
thời; (2) Hoạt động thanh tra hành chính được tiến hành theo Đoàn thanh tra; hoạt
động thanh tra chuyên ngành được tiến hành theo Đoàn thanh tra hoặc do Thanh tra
viên, công chức thanh tra chuyên ngành tiến hành độc lập (Điều 4, Nghị định
39/2013/NĐ-CP, ngày 24/4/2013).
Với quy định như trên, trong quá trình tổ chức và hoạt động của thanh tra lao
động vừa đảm bảo thực hiện đúng các quy định của pháp luật thanh tra, vừa đảm
bảo tuân thủ các quy định của pháp luật chuyên ngành.
2.1.2. Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Bộ, Chánh Thanh tra
Bộ, Thanh tra Sở, Chánh Thanh tra Sở, thanh tra viên, cộng tác viên thanh tra
ngành Lao động - Thương binh và Xã hội
Nghị định 39/2013/NĐ-CP ngày 24/4/2013 là sự cụ thể hóa quy định của pháp
luật về thanh tra lao động, trong đó quy định về tổ chức và hoạt động của các cơ
quan thực hiện chức năng thanh tra lao động; nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra
Bộ (Điều 7), Chánh Thanh tra Bộ (Điều 8), Thanh tra Sở (Điều 10), Chánh Thanh
tra Sở LĐ-TB&XH (Điều 11), thanh tra viên (Điều 17), cộng tác viên thanh tra lao
động (Điều 19).
- Trong hoạt động thanh tra, Thanh tra Bộ LĐ-TB&XH có nhiệm vụ, quyền hạn
sau đây:
a) Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của
cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của bộ; thanh tra đối với
doanh nghiệp nhà nước do Bộ trưởng quyết định thành lập;
b) Thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn
– kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh vực của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc
phạm vi quản lý nhà nước của ngành, lĩnh vực do bộ phụ trách;

18


c) Thanh tra vụ việc khác do Bộ trưởng giao;
d) Kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra và quyết định xử
lý sau thanh tra của Thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra
chuyên ngành thuộc bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với vụ việc thuộc
ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước của bộ khi cần thiết.” (Khoản 2, Điều 18, Luật
thanh tra).
Ngoài việc phải thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 18 Luật thanh
tra, Thanh tra Bộ LĐ-TB&XH còn phải thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy
định tại Điều 7, Nghị định số 39/NĐ-CP. Đối với Chánh Thanh tra Bộ LĐ-TB&XH,
ngoài việc phải thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 19 Luật thanh tra,
Chánh Thanh tra Bộ LĐ-TB&XH còn phải thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy
định tại Điều 8, Nghị định số 39/NĐ-CP.
- Trong hoạt động thanh tra, Thanh tra Sở LĐ-TB&XH có một trong những
nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
2. Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của
cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý trực tiếp của sở.
3. Thanh tra việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn
– kỹ thuật, quy tắc quản lý ngành, lĩnh vực của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc
phạm vi quản lý của sở”. (Khoản 2, 3, Điều 24, Luật thanh tra).
Ngoài việc phải thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 24 Luật thanh
tra, Thanh tra Sở LĐ-TB&XH còn phải thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy
định tại Điều 10, Nghị định số 39/NĐ-CP. Đối với Chánh Thanh tra Sở LĐTB&XH, ngoài việc phải thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 25 Luật
thanh tra, Chánh Thanh tra Bộ LĐ-TB&XH còn phải thực hiện các nhiệm vụ, quyền
hạn quy định tại Điều 11, Nghị định số 39/NĐ-CP.
Thanh tra viên ngành LĐ-TB&XH là công chức của Thanh tra Bộ, Thanh tra
Sở được bổ nhiệm vào ngạch thanh tra để thực hiện nhiệm vụ thanh tra theo quy

19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×