Tải bản đầy đủ

Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại từ thực tiễn tại toà án nhân dân huyện yên khánh tỉnh ninh bình

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Theo số liệu đánh giá của ngành tòa án, hàng năm mỗi đơn vị tòa án cấp
quận huyện thụ lý hàng trăm vụ án lớn nhỏ liên quan đến tranh chấp kinh doanh
thương mại (KDTM). Hầu hết là các tranh chấp từ hợp đồng mua bán hàng hóa,
tranh chấp hợp đồng tín dụng, tranh chấp hợp đồng dịch vụ, yêu cầu thực hiện
nghĩa vụ thanh toán…Sự gia tăng của các tranh chấp như trên cũng như những loại
án đặc thù trong lĩnh vực KDTM ngày càng đa dạng và phức tạp, đòi hỏi sự không
ngừng nghiên cứu và làm mới các yêu cầu luật pháp cũng như chuyên môn trong
lĩnh vực giải quyết tranh chấp loại này để giải quyết ổn thỏa, đảm bảo quyền lợi
cho các bên là việc làm không phải đơn giản. Để đáp ứng nhu cầu này, tác giả
mạnh dạn lựa chọn nghiên cứu đề tài “Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
mại từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Yên Khánh – tỉnh Ninh Bình”.
Trên thực tế, các tranh chấp KDTM ở Việt Nam hầu hết đều được lựa chọn
giải quyết bằng con đường tòa án, các bên tham gia hoạt động KDTM khi giao kết
hợp đồng thương mại thường không biết và nêu quy định lựa chọn trọng tài trong
hợp đồng nên khi xảy ra tranh chấp không được áp dụng thủ tục này nên việc lựa
chọn ưu tiên giải quyết tranh chấp KDTM bằng thủ tục tòa án là giải pháp hiệu quả
nhất. Tuy nhiên, ngoài những ưu điểm bằng việc giải quyết tranh chấp thông
qua con đường tòa án thì cũng không ít những nhược điểm của phương thức
này khiến các doanh nghiệp băn khoăn khi lựa chọn giải quyết tại tòa án như: thủ

tục phức tạp, rườm rà hay thời gian giải quyết kéo dài, việc bảo mật thông tin
không được đảm bảo. Tuy nhiên, tòa án là cơ quan tài phán quốc gia, mang tính
cưỡng chế nghiêm minh nên việc lựa chọn tòa án là cơ quan giải quyết tranh chấp
trong lĩnh vực KDTM vẫn là lựa chọn an toàn cho các doanh nghiệp.
Hiện tại, thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp KDTM ở tòa án được quy
định tại BLTTDS. Trên cơ sở chính là BLTTDS, tác giả nghiên cứu đề tài này
nhằm mục đích tìm hiểu những ưu và nhược điểm của phương thức giải quyết nêu

1


trên, từ đó có thể góp phần nhỏ nhoi vào công tác cải sửa hoàn chỉnh phương thức
giải quyết tranh chấp trong kinh doanh thương mại thông qua con đường tòa án
cho các doanh nghiệp trong và ngoài nước đang hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng
hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Hơn thế nữa, trong công cuộc đổi mới như hiện
nay, hệ thống tài phán kinh tế của nước ta ngày càng tụt hậu, đặc biệt là khối
ngành chịu sự bao cấp của nhà nước, đã bộc lộ sự trì trệ trong công tác giải quyết,
tạo ra không ít khó khăn trong việc cải tiến chất lượng giải quyết án gây ảnh hưởng
đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp. Vì vậy, việc sửa đổi hệ thống pháp
luật tố tụng trong lĩnh vực này cùng với thay đổi ngành tòa án nhân dân (TAND),
tạo niềm tin cho các doanh nghiệp khi gửi gắm cho tòa án giải quyết các tranh chấp
KDTM là việc làm hết sức cần thiết phải thực hiện.
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu một cách tổng quát các vấn đề lý luận cơ
bản của nội dung tố tụng tại tòa án (chủ yếu dựa trên văn bản pháp luật hiện hành
là BLTTDS và các văn bản pháp lý có liên quan cùng với thực tiễn hoạt động xét
xử các loại án KDTM tại TAND hiện nay). Từ đó, có phương hướng đề xuất các
giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM hiện
nay. Mục tiêu cụ thể như sau:
- Đánh giá thực trạng của pháp luật giải quyết tranh chấp KDTM bằng thủ
tục tố tụng tại tòa án ở Việt Nam hiện nay.
- Đánh giá thực tiễn giải quyết tranh chấp KDTM tại TAND huyện Yên
Khánh – Ninh Bình.
Qua đó tìm hiểu, phát hiện ưu và nhược điểm của thủ tục này để các cơ sở
KDTM có được sự lựa chọn tốt nhất trong việc giải quyết các tranh chấp của mình,
nhanh chóng khắc phục những hạn chế bất cập làm ảnh hưởng đến quá trình sản
xuất kinh doanh. Trên cơ sở đó đề xuất những phương hướng hoàn thiện pháp luật
tố tụng hiện nay ở Việt Nam để phục vụ tốt hơn trong quá trình hội nhập kinh tế
thế giới.


2


3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn chọn khuôn khổ trình tự, thủ
tục tố tụng trong công tác giải quyết án KDTM tại tòa án nhân dân (trên cơ sở các
quy định của phần thủ tục của phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm trong BLTTDS và
các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thực hiện BLTTDS và có liên quan
làm đối tượng nghiên cứu và khoanh vùng phạm vi nghiên cứu.
Do thời gian thực hiện còn hạn chế, luận văn chỉ tập trung vào nghiên cứu
thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM đến giai đoạn phúc thẩm tại TAND huyện
Yên Khánh – Ninh Bình.
4. Phương pháp nghiên cứu:
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu này chủ yếu vận dụng phương pháp
nghiên cứu pháp luật truyền thống và phổ biến là phương pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, đó là:
Phương pháp khai thác các tài liệu sẵn có như các văn bản pháp luật, giáo
trình, tạp chí chuyên ngành, các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến
đề tài nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích và so sánh luật.
- Phương pháp diễn dịch và quy nạp
- Phương pháp tổng hợp;
Từ đó rút ra những nhận xét và kết luận trong quá trình giải quyết những
nhiệm vụ mà luận văn đề ra.
5. Tình hình nghiên cứu:
Hiện tại, có rất nhiều đề tài nghiên cứu và cả các công trình khoa học đã
nghiên cứu về nội dung giải quyết tranh chấp KDTM bằng tòa án, hoặc TTTM
hoặc bằng con đường hòa giải hay thương lượng hoặc bằng nhiều phương thức
khác. Tuy nhiên, việc nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở các bài viết, chưa thực sự
được áp dụng thực tiễn khoa học, khiến cho việc áp dụng luật trên thực tế trong
công tác giải quyết tranh chấp KDTM tại các TAND còn nhiều lúng túng, chưa có
3


định hướng cụ thể. Vì vậy, rất cần thiết có nhiều hơn nữa các nghiên cứu chuyên
sâu về nội dung này, đặc biệt là những nghiên cứu mang tính áp dụng thực tế. Do
đó, đề tài của luận văn lựa chọn nghiên cứu các vấn đề cơ bản còn tồn tại và kém
hiệu quả của công tác giải quyết tranh chấp KDTM bằng con đường tòa án đồng
thời rút ra những sáng kiến, đóng góp định hướng sửa đổi hoàn thiện các quy định
pháp luật trong lĩnh vực này để phục vụ cho công tác của ngành TAND và
VKSND, góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp KDTM trên thực tế là
rất cần thiết và hoàn toàn phù hợp với yêu cầu mới trong giai đoạn hiện nay.
6. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn được kết cấu gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về pháp luật giải quyết tranh chấp kinh
doanh thương mại tại tòa án.
Chương 2: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
mại tại tòa án nhân dân và thực hiễn tại tòa án nhân dân huyện Yên Khánh – Ninh
Bình.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
mại tại tòa án nhân dân ở Việt Nam hiện nay.

4


Chương 1 – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN
1.1 Khái quát về tranh chấp kinh doanh thương mại và giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại tại Tòa án
1.1.1 Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại
a. Tranh chấp kinh doanh thương mại
Theo Triết học Mac-Lê nin, mâu thuẫn là quy luật chung của xã hội, là
nguồn gốc, là động lực của sự phát triển. Mâu thuẫn luôn luôn tồn tại như một tất
yếu tự nhiên trên mọi lĩnh vực của xã hội, tạo nên sự phát triển của xã hội. Tranh
chấp là những xung đột thường phát sinh từ những mâu thuẫn và từ những lợi ích
riêng. Tuy nhiên, mâu thuẫn và tranh chấp lại tạo nên những phát triển của xã hội,
góp phần xây dựng xã hội ngày càng hiện đại, văn minh. Theo định nghĩa của từ
điển Tiếng Việt, “Tranh chấp là đấu tranh, giằng co khi có mâu thuẫn, bất đồng,
thường là trong vấn đề quyền lực giữa hai bên” [1,66, tr 1024] Tranh chấp KDTM
được hiểu là những tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh và thương mại, cụ thể:
Theo quy định tại khoản 2 điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005 (LDN
2005): “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công
đoạn của quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ
trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Theo quy định tại khoản 1 điều 3 Luật Thương mại năm 2005 (LTM
2005):“ Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua
bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động
nhằm mục đích sinh lợi khác”.
Như vậy, cả hai hoạt động kinh doanh và thương mại nêu trên có cùng nội
hàm về việc các chủ thể kinh doanh cùng hoạt động đầu tư, kinh doanh, cung ứng
các dịch vụ…nhằm mục đích sinh lợi, do đó hai hoạt động này đã được BLTTDS
gọi chung là hoạt động KDTM và đưa vào cùng một quy trình khi giải quyết tranh
chấp là hoàn toàn phù hợp. BLTTDS không dùng khái niệm “tranh chấp về hợp
5


đồng kinh tế” như Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế mà dùng khái niệm “tranh
chấp trong hoạt động KDTM” và đã liệt kê đầy đủ hơn các hành vi KDTM nào có
tranh chấp thì thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân.
Có thể nhận thấy rằng, khái niệm tranh chấp KDTM thực chất là những mâu
thuẫn phát sinh từ việc các chủ thể kinh doanh có sự bất đồng đến mức trái ngược
nhau trong hoạt động kinh doanh, đầu tư, cung ứng dịch vụ...gọi chung là trong
hoạt động KDTM.
Cách định nghĩa này mặc dù còn nhiều hạn chế song cũng đã chỉ ra được
bản chất của tranh chấp KDTM là mâu thuẫn, xung đột về những lợi ích phát sinh
khi tham gia các hoạt động KDTM. Tuy nhiên, phạm vi giữa mâu thuẫn, xung đột
và tranh chấp là khác nhau, chỉ khi nào mâu thuẫn và xung đột lớn, đến mức không
thể điều hòa thì tranh chấp mới xảy ra.
Ngoài các định nghĩa trên về tranh chấp kinh doanh thương mại thì giáo
trình Luật Thương mại, tập 2 của trường Đại học Luật Hà Nội cũng đưa ra quan
điểm về tranh chấp thương mại: Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất
đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện
các họat động thương mại.[11, Tr 432].
Từ những phân tích trên, có thể thấy hiện nay, vẫn chưa đưa ra được cách
hiểu thống nhất, đặc biệt là chưa có văn bản pháp lý nào quy định cụ thể khái niệm
tranh chấp kinh doanh thương mại mà mới chỉ dừng lại ở vấn đề quan điểm của
một số tác giả trên cơ sở tiếp cận nó thông qua luật nội dung và luật tố tụng.
Như vậy, có thể hiểu khái niệm tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn, bất
đồng giữa các chủ thể phát sinh trong việc thực hiện các hoạt động có liên quan
đến lĩnh vực kinh doanh, đầu tư và thương mại. Và có thể định nghĩa một cách
ngắn gọn đối với tranh chấp KDTM như sau: “Tranh chấp KDTM là những mâu
thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia
các quá trình của hoạt động KDTM”.
b. Đặc điểm pháp lý của tranh chấp kinh doanh thương mại.

6


Từ những phân tích về cách hiểu của nội hàm tranh chấp KDTM như trên
có thể cho thấy tranh chấp KDTM là các tranh chấp bao hàm các đặc điểm pháp lý
sau:
- Chủ thể trong tranh chấp KDTM là các chủ thể tham gia hoạt động KDTM
là các chủ thể tham gia toàn bộ quá trình từ lao động sản xuất đến tiêu thụ sản
phẩm cung ứng các dịch vụ trên thị trường, các hoạt động xúc tiến, đầu tư thương
mại, cung ứng dịch vụ trên thị trường và các hoạt động khác với mục đích tìm
kiếm lợi nhuận. Do đó, trên thực tế chủ thể của tranh chấp KDTM có thể là thương
nhân hoặc các nhà đầu tư khác.
- Tranh chấp KDTM là tranh chấp xảy ra trong quá trình thực hiện các hoạt
động KDTM giữa các chủ thể, khi ít nhất một bên cho là quyền và nghĩa vụ hợp
pháp của mình bị bên kia xâm phạm, và yêu cầu phải được giải quyết.
- Tranh chấp KDTM phải là những tranh chấp phát sinh trong hợp đồng đã
cam kết giữa các bên (hợp đồng thương mại, góp vốn thành lập công ty, mua bán
chứng khoán ...).
1.1.2 Đặc điểm giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng con đường
Tòa án
Khi tranh chấp xảy ra, có rất nhiều con đường giải quyết mà các bên có thể lựa
chọn. Con đường nào ngắn nhất, ít tốn kém nhất có thể khôi phục lại được các quyền,
lợi ích hợp pháp của mình sẽ được các bên lựa chọn. Trên thực tế, tranh chấp KDTM
có thể được giải quyết bằng những con đường như Thương lượng, Hòa giải, Trọng tài,
Tòa án.
Tòa án là thiết chế mang quyền lực tài phán cao nhất. Quyền lực tài phán của
Tòa án là đương nhiên xuất phát từ chức năng bảo vệ pháp luật của cơ quan tư pháp.
Giải quyết tranh chấp KDTM

bằng toà án là hình thức giải quyết tranh chấp do cơ

quan tài phán của nhà nước thực hiện. Được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm
ngặt, chặt chẽ. Bản án hay quyết định của Toà án về vụ tranh chấp được đảm bảo thi
hành bằng sức mạnh cưỡng chế nhà nước.
Giải quyết tranh chấp KDTM bằng con đường Tòa án có những đặc trưng sau:
- Thẩm quyền giải quyết tranh chấp của Toà án chỉ phát sinh khi bên có tố
7


quyền thực hiện tố quyền của mình bằng thủ tục khởi kiện tại Tòa án.
- Bằng hình thức Toà án, tranh chấp có thể được xem xét và giải quyết qua nhiều
cấp (sơ thẩm, phúc thẩm) và có thể phải thông qua thủ tục xem xét lại bản án (giám đốc
thẩm hoặc tái thẩm) theo quy định của pháp luật mà nhiều khi không phụ thuộc vào ý
chí của các đương sự;
- Quyết định có hiệu lực của toà án có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với các bên
và có thể được cưỡng chế thi hành nếu các bên không tự nguyện thi hành.
Phương thức giải quyết tranh chấp bằng toà án có những ưu, nhược điểm sau:
Ưu điểm: Giải quyết tranh chấp kinh tế bằng Toà án có ưu điểm lớn là các phán
quyết của Toà án đưa ra có bộ máy cưỡng chế của Nhà nước thi hành, đảm bảo tính
hiệu lực cao của bản án.
Nhược điểm: Trình tự tố tụng Toà án rất nghiêm ngặt, cứng nhắc, thời gian xét
xử kéo dài vì phải trải qua nhiều cấp xét xử, chi phí tốn kém, xét xử công khai, uy tín
của các bên tranh chấp không được đảm bảo, bí quyết kinh doanh khó có thể được giữ
kín... Đây không phải là hình thức giải quyết tranh chấp hấp dẫn vì nó không phù hợp
với tính chất nghề nghiệp và tâm lý của các nhà kinh doanh.

1.2 Khái quát về pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng
Tòa án ở Việt Nam
1.2.1 Khái niệm pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
bằng Toà án
Có thể nhận thấy, mối quan hệ trong hoạt động KDTM vừa mang tính xung
đột vừa hợp tác. Vì thế, khi xảy ra tranh chấp các bên luôn tìm cách nhanh chóng
để giải quyết các xung đột, mâu thuẫn này để sớm đưa hoạt động kinh doanh, sản
xuất của mình trở lại bình thường ổn định. Do đó, việc giải quyết tranh chấp
KDTM đòi hỏi các bên tranh chấp cũng như cơ quan giải quyết tranh chấp phải
tiến hành nhanh chóng, kín đáo, không làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh
doanh của các bên đồng thời phải luôn đảm bảo được sự hợp tác trong hoạt động
KDTM.
Như đã phân tích, tranh chấp KDTM là việc phát sinh các mâu thuẫn, bất
đồng từ hoạt động sản xuất, đầu tư hay cung ứng các dịch vụ…(được gọi chung là
8


các hoạt động KDTM). Đây là một trong các loại việc thuộc lĩnh vực tư, do đó các
bên có quyền thỏa thuận lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh ngay
từ trước khi nó xảy ra (quyền định liệu trước) hoặc sau khi tranh chấp xảy ra. Việc
lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp của các bên được thực hiện trên cơ sở
sự nhanh chóng, ít tốn kém và phải đảm bảo các quyền tự do kinh doanh của các
chủ thể, không cản trở các hoạt động kinh doanh của chủ thể và không làm mất cơ
hội kinh doanh của họ.
Việc giải quyết tranh chấp KDTM là các bên tranh chấp thông qua hình
thức, thủ tục thích hợp tiến hành các giải pháp nhằm loại bỏ những mâu thuẫn,
xung đột, bất đồng về lợi ích kinh tế nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của
mình. Pháp luật giải quyết tranh chấp KDTM là các quy định điều chỉnh quy trình
tiến hành giải quyết các tranh chấp KDTM, bao gồm các quy trình từ khi có tranh
chấp đến khi quá trình giải quyết tranh chấp hoàn thiện.
Tóm lại, giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại được hiểu là quá
trình phân xử để làm rõ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của các bên, buộc bên vi
phạm nghĩa vụ phải thực hiện trách nhiệm của mình đối với bên bị vi phạm. Việc
giải quyết tranh chấp KDTM được tiến hành khi có ít nhất một bên cho rằng mình
có quyền lợi hợp pháp bị bên kia xâm phạm và có yêu cầu được giải quyết. Kết
quả là các quyền và nghĩa vụ của các bên được xác định lại hoặc mâu thuẫn hay
xung đột giữa các bên được dung hòa thông qua các phán quyết của người đứng ra
giải quyết tranh chấp.
1.2.2 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng tòa
án
Là một quy trình giải quyết tranh chấp đặc biệt do tòa án-cơ quan tư pháp
của nhà nước đứng ra tiến hành, giải quyết tranh chấp KDTM bằng tòa án phải
tuân thủ một. Nguyên tắc cơ bản trong quá trình giải quyết các tranh chấp KDTM
được quy định trong BLTTDS như sau:
- Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự (Điều 5
BLTTDS):

9


1. Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu toà án có thẩm
quyền giải quyết vụ việc dân sự. Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có
đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi
kiện, đơn yêu cầu đó.
2. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm
dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện,
không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Về nguyên tắc các quan hệ kinh tế là những quan hệ được xác lập một cách
tự nguyện, xuất phát từ ý chí và nguyện vọng của các bên mà không có bất cứ sự
cưỡng ép, đe dọa nào trong quá trình xác lập, thực hiện. Các quan hệ kinh tế này
hay các Hợp đồng kinh tế hoàn toàn do các bên tự thỏa thuận và được Nhà nước
bảo hộ và không trái với các quy định của pháp luật cũng như trái các quy phạm
đạo đức xã hội. Chính vì thế, khi phát sinh tranh chấp, bên bị vi phạm có quyền
yêu cầu Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; nhưng ngược lại, họ
cũng có quyền từ bỏ quyền lợi của mình đã bị xâm phạm cho dù đã có yêu cầu Nhà
nước bảo vệ. Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự được
thể hiện trong suốt các giai đoạn của quá trình tố tụng, họ có thể khởi kiện hoặc
không khởi kiện; trong quá trình giải quyết vụ việc, các đương sự có quyền chấm
dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện,
không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Việc thực hiện quyền này của đương sự
không chỉ dừng lại việc giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm mà còn
được thực hiện cả trong các giai đoạn của quá trình thi hành bản án, quyết định của
tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Việc đề cao nguyên tắc tôn trọng quyền tự định
đoạt của các đương sự nhằm mục đích khuyến khích hòa giải trước khi mở phiên
tòa, thậm chí hòa giải trước khi có đơn khởi kiện tại tòa án, tôn trọng quyền tự hòa
giải của các đương sự khi xảy ra tranh chấp.
- Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật (Điều 8 BLTTDS)
“Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước toà án không phân biệt
dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hoá, nghề

10


nghiệp. Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ
chức, hình thức sở hữu và những vấn đề khác. Các đương sự đều bình đẳng về
quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ
thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình.” Bình đẳng trước pháp luật trong tố
tụng kinh tế cũng là thể hiện sự bình đẳng trong các mối quan hệ kinh tế. Đó là sự
bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định của pháp luật tố tụng.
Tuy nhiên, trên thực tế không phải lúc nào đương sự cũng thực hiện được quyền
này, nhiều trường hợp do trình độ hiều biết của đương sự dẫn đến họ không thực
hiện được hết quyền của mình hoặc có trường hợp đương sự vi phạm việc chấp
hành pháp luật trong quá trình tiến hành tố tụng của toà án do sự không hiểu biết
pháp luật. Do đó, cần phải tiến hành sớm cải cách cơ cấu tổ chức của toà án, nâng
cao trình độ của các thẩm phán và trình độ hiểu biết và tuân thủ pháp luật của các
cá nhân, tổ chức hoạt động trong vấn đề kinh doanh, là mục tiêu trong giải quyết
các vấn đề còn tồn đọng về thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp KDTM tại
tòa án ở Việt Nam hiện nay.
- Nguyên tắc tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu thập chứng
cứ. Đây là bản chất của quá trình tố tụng giải quyết các tranh chấp trong KDTM
tại tòa án, được quy định tại Điều 6 BLTTDS. Theo đó, tòa án không tiến hành
điều tra mà đương sự phải cung cấp chứng cứ, tòa án chỉ xác minh, thu thập chứng
cứ trong những trường hợp nhất định. Việc quy định đương sự có nghĩa vụ cung
cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình, trong trường hợp đương sự
không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán mới tự
mình thu thập chứng cứ hoặc trong các trường hợp khác mà pháp luật có quy định.
Quy định như vậy là phù hợp song việc áp dụng nguyên tắc này trên thực tế gặp
nhiều khó khăn. Trong BLTTDS không quy định biện pháp chế tài mà chỉ quy
định chung chung nếu không cung cấp chúng cứ thì bị bất lợi và không có quy
định về thời hạn bắt buộc đương sự phải cung cấp chứng cứ. Có những trường hợp
đương sự đang giữ chứng cứ hoặc có khả năng thu thập chứng cứ nhưng lại không
thu thập chứng cứ để cung cấp cho toà án, chỉ đến khi thấy có lợi mới cung cấp,

11


thậm chí có trường hợp để đến giai đoạn xét xử phúc thẩm mới xuất trình chứng cứ
các hoặc sau khi bản án có hiệu lực pháp luật mới xuất trình chứng cứ, kèm theo
đơn khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm dẫn đến tòa án bị thụ động
trong việc xét xử.
- Nguyên tắc hòa giải trong giải quyết tranh chấp KDTM (Điều 10
BLTTDS): “Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để
các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định
của Bộ luật này”. Hòa giải được xem là một biện pháp quan trọng hàng đầu và
cũng là nguyên tắc bắt buộc trong tố tụng kinh tế. Hòa giải có ý nghĩa hết sức quan
trọng, được thực hiện nhằm mục đích nâng cao kết quả giải quyết các tranh chấp
KDTM, góp phần hạn chế những tốn kém về tiền bạc, thời gian của Nhà nước,
công sức của cán bộ Nhà nước cũng như của công dân, hạn chế những khiếu nại,
tố cáo trong lĩnh vực tư pháp, tạo mối quan hệ đoàn kết, gắn bó kinh doanh giữa
các Doanh nghiệp, khuyến khích các bên tự hòa giải, hàn gắn mâu thuẫn, dung hòa
lợi ích, hạn chế căng thẳng xung đột. BLTTDS quy định hòa giải có thể được thực
hiện ở tất cả các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm… trừ những vụ án không được hòa
giải theo quy định tại Điều181 BLTTDS.
- Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời đảm bảo khắc phục
kịp thời các thiệt hại cho bên bị vi phạm. BLTTDS quy định cụ thể thời hạn trong
từng giai đoạn tố tụng, như thời hạn thụ lý, thời hạn thu thập chứng cứ và đưa vụ
việc ra xét xử, thời hạn tống đạt các văn bản tố tụng, thời hạn ban hành các văn
bản tố tụng, thời hạn kháng cáo, thời hạn kháng nghị... Phần lớn toà án các cấp đều
giải quyết vụ việc trong thời hạn luật định. Tuy nhiên, trên thực tế vẫn còn tồn tại
nhiều trường hợp vi phạm thời hạn từ việc cố tình lẩn tránh của thẩm phán về trình
độ còn hạn chế và vì những tác động khác của xã hội.
1.2.3 Đặc điểm của pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thương
mại bằng tòa án.
- Thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM bằng Tòa án được bắt đầu khi một
trong các bên tranh chấp khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết các nội dung tranh

12


chấp của họ khi các lợi ích của họ bị xâm phạm.
- Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp loại này tuân theo các quy định
của Bộ luật này và các văn bản hướng dẫn thi hành. Bao gồm các thủ tục tại nhiều
cấp xét xử (sơ thẩm, phúc thẩm) và thủ tục xem xét lại bản án, quyết định (giám
đốc thẩm hoặc tái thẩm).
- Thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM thường không phụ thuộc vào ý chí
của các bên đương sự.
- Bản án hay quyết định có hiệu lực của tòa án bắt buộc thi hành đối với
các bên và có thể được cưỡng chế thi hành nếu các bên không tự nguyện thi hành.
Đây là đặc điểm khác biệt với các phương thức giải quyết tranh chấp KDTM bằng
hòa giải, thương lượng hay TTTM.
Bản chất của giải quyết tranh chấp KDTM bằng tòa án:
- Mang tính chất nghiêm ngặt, theo quy trình được quy định chặt chẽ bởi
pháp luật tố tụng dân sự.
- Mang bản chất cưỡng chế cao của cơ quan thi hành pháp luật của Nhà
nước, bắt buộc các bên khi tham gia tố tụng phải tuân theo và thực thi.
- Được hỗ trợ bởi các cơ quan bổ trợ tư pháp thông qua các hoạt động bổ
trợ tư pháp khác nhau như hoạt động giám định, định giá, các hoạt động trợ giúp
pháp lý, cơ quan thi hành án,….góp phần tạo điều kiện cho tòa án giải quyết tranh
chấp KDTM được nhanh chóng, thuận lợi hơn so với các thủ tục khác.
Tóm lại: Giải quyết tranh chấp KDTM bằng con đường tòa án có những
đặc điểm pháp lý như sau:
- Thẩm quyền giải quyết tranh chấp KDTM bằng tòa án thường phát sinh khi
một trong các bên cho rằng quyền và lợi ích của mình bị xâm phạm nên khởi kiện
ra tòa án yêu cầu tòa án giải quyết các tranh chấp. Việc khởi kiện được thực
hiện tại tòa án thông qua thủ tục khởi kiện và thụ lý đơn khởi kiện của đương sự.
- Thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM được thực hiện thông qua thủ tục tố
tụng tại tòa án, chịu sự điều chỉnh của BLTTDS, thông qua các cấp sơ thẩm, phúc
thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
13


- Quá trình giải quyết tranh chấp KDTM chịu sự chi phối bởi các quy định
pháp luật nội dung cụ thể của từng loại tranh chấp mà không phụ thuộc vào ý chí
của các bên đương sự hay Hội đồng xét xử.
- Bản án hoặc quyết định của tòa án không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu
lực bắt buộc thi hành đối với các bên và có thể bị cưỡng chế thi hành nếu các bên
không tự nguyện thi hành.
* Cơ cấu tổ chức của bộ máy xét xử tham gia vào quy trình giải quyết tranh
chấp KDTM tại tòa án nhân dân:

14


HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN
Giám đốc, tái thẩm

TÒA KINH TẾ

TÒA PHÚC THẨM

TANDTC

TANDTC

UBTP TAND CẤP TỈNH
Giám đốc, tái thẩm

TÒA ÁN KINH TẾ -

TÒA ÁN KINH TẾ - TAND CẤP

TAND CẤP TỈNH

TỈNH

TAND CẤP HUYỆN
Cấp Sơ thẩm

Sơ đồ 1: Cơ cấu thẩm quyền
xét xử theo cấp tranh chấp
KD-TM

15


1.3 Những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại của tòa án nhân dân ở Việt Nam
Quá trình giải quyết tranh chấp KDTM của tòa án trải qua nhiều giai đoạn
khác nhau, chịu nhiều tác động khác nhau từ môi trường pháp lý Việt Nam cũng
như từ thực tiễn thi hành pháp luật, bao gồm: các quy định pháp luật liên quan đến
hoạt động tố tụng của tòa án, các văn bản pháp lý liên quan đến nội dung tranh
chấp trong từng lĩnh vực KDTM, tài liệu do các bên đương sự cung cấp cho tòa
án, năng lực pháp lý của người giải quyết, điều kiện về cơ sở vật chất cũng như hệ
thống cơ quan bổ trợ tư pháp trợ giúp giải quyết các tranh chấp KDTM.
1.3.1 Môi trường pháp lý Việt Nam trong hoạt động giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại
Hiện tại, hoạt động giải quyết tranh chấp KĐTM của TAND ở Việt Nam
chịu sự điều chỉnh chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật. Trình tự, thủ tục giải
quyết được quy định nghiêm ngặt của Luật tố tụng và đường lối giải quyết chịu sự
điều chỉnh của riêng từng mối quan hệ pháp luật khác nhau. Tuy nhiên, đối với các
văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tố tụng và nội dung trong việc giải
quyết mỗi vụ án tranh chấp KDTM hiện nay còn nhiều bất cập. Quy định pháp luật
còn rườm rà, dài dòng, gây cản trở đến hoạt động giải quyết tranh chấp KDTM.
Như vậy, các quy định pháp luật hay môi trường pháp lý là yếu tố hàng đầu
ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình giải quyết tranh chấp KDTM bằng tòa án. Vì
vậy, để hoạt động giải quyết tranh chấp KDTM bằng tòa án đạt hiệu quả cao đòi
hỏi pháp luật cần phải đảm bảo tính thống nhất, công bằng, hợp lý, yêu cầu nội
dung rõ ràng, đầy đủ. Môi trường pháp lý hoàn hảo sẽ tạo điều kiện cho việc giải
quyết án của tòa án được nhanh chóng, thuận lợi, đạt hiệu quả chất lượng tốt, góp
phần đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp được an toàn,
kín đáo….Các quy định của pháp luật đặc biệt là Luật tố tụng càng khoa học và
hợp lý tránh rườm rà, gây khó khăn, sách nhiễu cho đương sự sẽ tạo ra các công
đoạn làm việc hợp lý khoa học, không bị trùng lắp, có tác dụng thúc đẩy thời gian
giải quyết nhanh chóng, đảm bảo chất lượng đầu ra.

16


Ngoài ra, khi tiến hành giải quyết mỗi vụ án tranh chấp KDTM thì các bên
đương sự có thể cung cấp cho tòa án hoặc tòa án thu thập các tài liệu chứng cứ
đảm bảo đầy đủ, phản ánh chân thực những bất đồng, mâu thuẫn từ hoạt động sản
xuất, kinh doanh và cung ứng dịch vụ. Chỉ khi có đầy đủ các tài liệu này thì tòa án
mới đánh giá đúng và chính xác được nội dung tranh chấp và phân xử mới đúng
đắn, công bằng, khách quan. Tuy nhiên, trên thực tế việc cung cấp chứng cứ của
đương sự hoặc tòa án tự mình thu thập chứng cứ chưa thực sự đạt hiệu quả, do đó
gây cản trở cho hoạt động giải quyết tranh chấp KDTM. Các bên đương sự vì các
lý do khác nhau đã cố tình che giấu các chứng cứ chân thực hoặc thậm chí trong
nhiều trường hợp thực tế các bên đương sự còn cố tình tạo ra chứng cứ giả mạo
nhằm che giấu sự thực, đánh lạc hướng cơ quan tòa án, dẫn đến nhiều phán quyết
sai lầm của tòa án khiến cho vụ án không được đánh giá khách quan, gây mất niềm
tin trong cộng đồng doanh nghiệp đối với phán quyết của tòa án.
1.3.2 Yếu tố con người và cơ sở vật chất trong hoạt động giải quyết tranh
chấp kinh doanh thương mại bằng tòa án.
Cơ sở vật chất là điều kiện quan trọng, tạo sự yên tâm trong công tác của
cán bộ, thẩm phán tòa án. Cơ sở vật chất đầy đủ sẽ góp phần nâng cao chất lượng
giải quyết án, tạo dựng sự tin tưởng, yên tâm để doanh nhân lựa chọn phương thức
tòa án để giải quyết tranh chấp trong KDTM. Ngoài ra, do tính chất nghiêm trang,
uy nghi nên càng đòi hỏi phải trang bị điều kiện cơ sở vật chất tốt cho tòa án để thu
hút được số lượng các loại án tranh chấp KDTM nhất là các loại tranh chấp có liên
quan đến doanh nghiệp nước ngoài.
Hiện nay, nhiều toà án nhất là ở tòa án cấp huyện còn nhiều thiếu thốn, chật
chội về trụ sở làm việc và hội trường xét xử thậm chí có đơn vị ở nhiều vùng vẫn
chưa được cấp đất để xây dựng trụ sở mà phải thuê nơi làm việc và phòng xét xử.
Bên cạnh đó, phương tiện làm việc, kinh phí hoạt động, chế độ chính sách đối với
cán bộ toà án được cấp như định mức đối với cơ quan hành chính sự nghiệp hàng
năm nên chưa thực sự phù hợp với tính chất đặc thù của công tác xét xử, từ đó làm
hạn chế đến hiệu quả công tác của ngành toà án. Trong khi đó, những năm gần
17


đây, số lượng các loại vụ án tranh chấp KDTM cũng như các loại án khác thuộc
thẩm quyền giải quyết của tòa án liên tục gia tăng mạnh, trung bình mỗi năm tăng
khoảng 15% làm cho công việc của các tòa án ngày càng quá tải. Điều kiện làm
việc thiếu thốn khiến các cán bộ, tòa án trễ nải trong việc xét xử, thậm chí là cửa
quyền, tiêu cực, gây không ít khó khăn cho công tác giải quyết án nói chung.
Ngoài những điều kiện về cơ sở vật chất ra, năng lực, phẩm chất, trình độ
của thẩm phán, hội thẩm nhân dân cũng như điều kiện về hệ thống cơ quan bổ trợ
tư pháp trợ khác giúp giải quyết các tranh chấp KDTM cũng là yếu tố quan trọng
ảnh hưởng đến quá trình giải quyết án. Trên thực tế, trình độ chuyên môn của đội
ngũ thẩm phán đặc biệt là thẩm phán tòa án cấp huyện trong lĩnh vực giải quyết
tranh chấp KDTM vẫn còn nhiều hạn chế, đều chưa đáp ứng yêu cầu thực cần. Đây
là gánh nặng và là vấn đề bức xúc của các cấp Đảng và Nhà nước. Việc tổ chức
của tòa án ở Việt Nam theo đơn vị hành chính cũng như việc cán bộ, thẩm phán tòa
án các cấp đều được biên chế nhà nước, chịu sự ảnh hưởng của những tồn tại của
xã hội trước nên chuyên môn, năng lực của họ thường bị hạn chế, đơn giản, sơ sài,
không có chế định riêng chuyên trách cho thẩm phán giải quyết tranh chấp KDTM.
Ngoài ra, chế độ tiền lương, phụ cấp đối với cán bộ, thẩm phán được quy định như
các ngạch cán bộ, công chức hành chính nhà nước khác do đó chưa thực sự đáp
ứng được yêu cầu của công tác xét xử và không tương xứng với vị trí, vai trò và
tính chất hoạt động quan trọng của cơ quan toà án trong bộ máy Nhà nước dễ dẫn
đến những tiêu cực trong xã hội. Do đó, cần thiết phải xây dựng, kiện toàn, bổ
sung đội ngũ cán bộ và nâng cao chất lượng chuyên môn cho các toà án đào tạo,
xây dựng đội ngũ cán bộ phải bảo đảm đủ trình độ, số lượng với yêu cầu là xác
định rõ từng vị trí việc làm của mỗi cán bộ. Hiện nay, thực trạng ngành tòa án cho
thấy trình độ, năng lực trong giải quyết án tranh chấp KDTM của TAND cấp quận,
huyện vẫn còn hạn chế. Tỷ lệ các vụ án bị kháng cáo, kháng nghị và bị cấp phúc
thẩm sửa, hủy trong KDTM cao hơn các án dân sự, hình sự, hành chính. Nguyên
nhân của những tồn tại, hạn chế về chuyên môn, năng lực, phẩm chất của các cán
bộ, thẩm phán là do chưa được đào tạo nhiều về nghiệp vụ giải quyết án tranh chấp

18


KDTM.
Mặt khác, các thẩm phán cũng thiếu chuyên nghiệp trong lĩnh vực này. Lấy
ví dụ tại TAND huyện Yên Khánh hiện có tổng biên chế khoảng hơn 11 cán bộ,
thẩm phán song số thẩm phán chuyên trách giải quyết án KDTM và hiểu biết sâu
về lĩnh vực này là rất ít (chỉ một người). Tuy nhiên, vấn đề lo ngại không chỉ dừng
ở việc thiếu số lượng và vấn đề về trình độ, năng lực chuyên môn của đội ngũ thẩm
phán mà còn năng lực về ngoại ngữ và kiến thức pháp luật quốc tế còn nhiều hạn
chế cũng đang được đặt ra trước yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của cải cách tư
pháp và hội nhập quốc tế do trình độ, năng lực của đội ngũ thẩm phán trong lĩnh
vực này còn khó khăn, trong khi đó thực tế đã bắt đầu phát sinh nhiều loại vụ án
phức tạp có yếu tố nước ngoài.
Song song với vấn đề về năng lực của đội ngũ thẩm phán thì sự tham gia
của hội thẩm nhân dân trong các vụ án KDTM theo quy định hiện hành và trên
thực tế chỉ mang tính hình thức. Cụ thể theo quy định tại điều 53 BLTTDS, hội
đồng xét xử cấp sơ thẩm gồm có một thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân, trong
trường hợp đặc biệt có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm nhân dân. Khi thực
hiện quyền xét xử, hội thẩm nhân dân có thực quyền ngang với thẩm phán, luôn
tham gia xét xử cùng với thẩm phán. Tuy nhiên, trên thực tế, vị trí của các hội
thẩm nhân dân khi tham gia xét xử không đảm bảo được yêu cầu đề ra và không
đạt hiệu quả. Việc tham gia xét xử của hội thẩm nhân dân chỉ mang tính chất hình
thức, các hội thẩm nhân dân tham gia tố tụng thường ít tham gia vào hoạt động tố
tụng, thậm chí là những người thiếu kiến thức pháp luật và kinh doanh do họ là
những người hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau. Hơn nữa, thực tế xét xử cho
thấy hội thẩm nhân dân khi tham gia xét xử chỉ lướt qua hồ sơ vụ án chứ không
nghiên cứu sâu sắc nội dung tranh chấp, do đó họ không hề có quan điểm hay
đánh giá hoặc nhận định về vụ án. Các quy định của BLTTDS không nêu rõ thẩm
quyền của hội thẩm nhân dân và không tạo điều kiện hay tiêu chuẩn cho hội thẩm
nhân dân dẫn đến hiệu quả công việc mà hội thẩm nhân dân mang lại không được
lợi ích cho quá trình giải quyết tranh chấp cả về lợi ích xã hội cũng như lợi ích

19


trong việc xét xử.
Ngoài những yếu tố tác động trực tiếp đến hoạt động giải quyết tranh chấp
KDTM nêu trên, còn có các yếu tố gián tiếp tác động đến các hoạt động giải quyết
tranh chấp KDTM của tòa án, tạo ra môi trường lành mạnh để quá trình giải quyết
tranh chấp KDTM diễn ra được thuận lợi hay là khó khăn. Cụ thể như:
- Từ sự phát triển của nền kinh tế: Trường hợp nền kinh tế kém phát triển và
mang tính tự cung, quan hệ hợp đồng dường như không tồn tại thì hoạt động giải
quyết tranh chấp KDTM không khác biệt so với các hoạt động giải quyết tranh
chấp dân sự thông thường, khi đó cơ chế giải quyết tranh chấp KDTM không có
sự khác biệt, đặc thù. Do đó, phát triển nền kinh tế chính là cơ hội, tạo ra sự đa
dạng và sang tạo trong kinh doanh, có nhiều loại tranh chấp KDTM thì hoạt động
giải quyết tranh chấp KDTM mới trở nên sáng tạo, đặc thù, tách biệt với các loại
tranh chấp dân sự thông thường.
- Quan điểm về vấn đề tranh chấp và giải quyết tranh chấp KDTM từ những
Doanh nghiệp: Đây là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giải
quyết tranh chấp KDTM bằng con đường tòa án. Việc lựa chọn hay không lựa
chọn giải quyết tranh chấp KDTM bằng tòa án chịu sự ảnh hưởng từ cách nhìn
nhận của giới Doanh nhân về vấn đề này. Do đó, phương thức giải quyết tranh
chấp KDTM bằng tòa án chỉ trở nên phổ biến khi các Doanh nghiệp tin tưởng và
lựa chọn.
1.4 Kinh nghiệm quốc tế về giải quyết tranh chấp bằng tòa án và bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam
1.4.1 Giải quyết tranh chấp bằng tòa án ở một số quốc gia trên thế giới.
Hầu hết các nước trên thế giới cũng áp dụng cơ chế tòa án để giải quyết các
tranh chấp KDTM và không tách biệt tranh chấp dân sự. Theo đó, toà án dân sự có
chức năng giải quyết cả tranh chấp về dân sự và các tranh chấp KDTM. Tuy nhiên,
cũng có một số quốc gia tổ chức các tòa án chuyên trách để giải quyết các loại án
tranh chấp KDTM, điển hình như:
Ở một số quốc gia như Pháp, Đức, Anh, có toà thương mại chuyên biệt để
20


giải quyết các tranh chấp KDTM đối với các chủ thể là thương gia, hoạt động kinh
doanh thương mại vì mục tiêu lợi nhuận. Tuy nhiên, tổ chức, thẩm quyền và thủ
tục tố tụng của mỗi nước có sự khác nhau tuỳ theo hệ thống pháp luật của mỗi
nước. Ví dụ ở nước Đức, toà án thương mại được thành lập nhằm xét xử sơ thẩm
đối với các tranh chấp liên quan đến một hành vi thương mại theo quy định của Bộ
luật thương mại Đức. Toà thương mại nằm trong toà án tỉnh hoặc không thuộc toà
án tỉnh mà ở một nơi cơ quan tư pháp bang xét thấy có yêu cầu. Thành phần xét xử
vụ án kinh tế gồm 1 Thẩm phán chuyên nghiệp làm chủ toạ và 2 Hội thẩm. Các hội
thẩm do phòng thương mại và công nghiệp bổ nhiệm cho từng nhiệm kỳ 3 năm và
có thể được tái bổ nhiệm. Hội thẩm phải từ 30 tuổi trở lên, là thương gia hoặc
thành viên Hội đồng quản trị của công ty cổ phần hoặc thành viên Ban quản lý của
công ty TNHH được đăng ký trong bản danh sách thương mại. Các hội thẩm của
tòa án thương mại ngang quyền với thẩm phán chuyên nghiệp trong hoạt động xét
xử, được hưởng thù lao và các chi phí ăn ở đi lại trong thời gian xét xử. Ở Pháp,
toà án thương mại được tổ chức độc lập ở cấp tỉnh. Ở những tỉnh ít có nhu cầu, ít
tranh chấp thì không có toà án thương mại mà toà án dân sự sẽ xét xử luôn các
tranh chấp thương mại (nếu có). Thẩm phán của toà án thương mại được lựa chọn
trong giới kinh doanh có kiến thức và uy tín trong lĩnh vực này. Nhìn chung, thủ
tục tố tụng của Toà án thương mại ở các nước này cũng linh hoạt mềm dẻo và
nhanh chóng đáp ứng yêu cầu của hoạt động kinh doanh.
Có thể thấy ở một số quốc gia trên thế giới nhất là ở các nước Anh, Đức thì
vai trò của các Thẩm phán và Luật sư được đánh giá rất cao, Thẩm phán vừa là
người sáng tạo ra luật pháp (người ta thường gọi Common law là hệ thống pháp
luật được tạo nên bởi các Thẩm phán judge – made law),vừa là người giải thích và
áp dụng luật pháp, kiểm soát các thủ tục tố tụng. Thẩm phán được lựa chọn từ một
tổ chức gồm các Luật sư thực hành, có kinh nghiệm thực tế. Những luật sư thực
hành được phân cấp thành nhiều bậc và Thẩm phán chỉ được lựa chọn từ những
Luật sư thực hành cấp cao hơn, giỏi và giàu kinh nghiệm (thường phải có từ 10
năm kinh nghiệm trở lên). Tố tụng tòa án được xem là tố tụng dành riêng cho các

21


Luật sư, các Luật sư này rất được coi trọng. Khi tham gia tố tụng tại tòa án, các
Luật sư thay các bên tham gia vào thủ tục tố tụng cùng tranh tụng với nhau và
Thẩm phán chỉ có vai trò là người trung gian phân xử, không tham gia vào quá
trình tranh tụng nhưng lại là người đưa ra phán xét cho vụ án tranh chấp KDTM.
Họ phân xử căn cứ trên chứng cứ và sự tranh tụng tại tòa án. Đây là ưu điểm của
quốc tế khi họ lựa chọn tòa án hầu như chỉ là cơ quan phân xử dựa trên nhưng tài
liệu thực tế và tranh luận trước Hội đồng xét xử, tòa án rất ít khi phải trực tiếp thu
thập chứng cứ và tìm hiểu chân tướng sự thật. Đây là ưu điểm làm nổi bật công tác
xét xử thông qua chế định tòa án tại các quốc gia phát triển mà Việt Nam cần phải
học tập.
Ở Singapore, giải quyết các tranh chấp KDTM được thực hiện thông qua cơ
chế trọng tài thuộc về Trung tâm trọng tài quốc tế của Singapore (viết tắt là SIAC Singapore International Arbitration Centre). Quá trình giải quyết được tuân theo
quy tắc trọng tài dựa trên luật mẫu do Ủy ban luật thương mại quốc tế của Liên
hợp quốc (UNCITRAL) ban hành và được luật pháp Singapore thừa nhận (Luật
trọng tài quốc tế của Singapore). Việc lựa chọn Trung tâm trọng tài quốc tế của
Singapore để giải quyết tranh chấp hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện đối với các
bên liên quan và thường được quy định trong điều khoản về giải quyết tranh chấp
của hợp đồng.
1.4.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Hiện nay, số vụ tranh chấp KDTM được các bên lựa chọn khởi kiện đến toà
án giải quyết ngày càng tăng. Trong số các vụ việc tranh chấp thì tranh chấp về
hợp đồng mua bán hàng hoá chiếm tỷ lệ cao nhất, khoảng gần 50%; tiếp đến là các
hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng với các tổ chức kinh tế và các hợp đồng dịch vụ
khác.
Các tranh chấp liên quan đến các loại hợp đồng này thường là tranh chấp về
mua bán hàng hoá không thanh toán nghĩa vụ đúng hạn, hoặc giao hàng không
đúng thời gian, chủng loại…Tranh chấp hợp đồng vay tín dụng giữa ngân hàng với
các tổ chức kinh tế cũng rất đa dạng, thường liên quan đến tài sản thế chấp, bảo
22


lãnh như các tài sản thế chấp chưa đủ thủ tục giấy tờ sở hữu, hoặc các bất động sản
còn đang làm thủ tục để sang tên sở hữu thì xảy ra tranh chấp hoặc vay đến hạn
nhưng chưa thanh toán…
Một vấn đề lớn rất quan trọng mà các nhà doanh nghiệp thường quan tâm
đó là hiệu quả của các việc giải quyết các tranh chấp kinh tế, giải quyết càng chậm
thì càng có lợi cho bên chiếm dụng vốn, các nhà doanh nghiệp thường phải dùng
vốn vay để kinh doanh, đến thời hạn không đủ trả được khoản nợ thì bị nhiều chế
tài quanh đồng vốn đó như lãi suất, lãi suất quá hạn, phạt…Kể cả khi thắng kiện
hoàn toàn cũng không thể bù đắp nổi các thiệt hại phát sinh đó, chưa nói tới đồng
vốn đó đã quay được mấy vòng để sinh lời. Tuy nhiên trên thực tế thời hạn giải
quyết mỗi vụ án tranh chấp KDTM thường kéo dài, chưa kể có những vụ kéo dài
trong nhiều năm từ khâu sơ thẩm, phúc thẩm đến giám đốc thẩm, chưa nói đến việc
đi lại để cung cấp tài liệu, chứng cứ và nhiều thủ tục khác…
Ngoài ra, số lượng tranh chấp KDTM ở tòa án ngày càng nhiều, tạo ra gánh
nặng cho các cấp tòa án phải thụ lý giải quyết cùng lúc nhiều loại việc, trong khi
đó, trình độ và số lượng Thẩm phán chuyên trách giải quyết án KDTM thực tế rất
hạn chế. Điều này dẫn đến chất lượng giải quyết án gặp nhiều hạn chế, nhiều khi
các Thẩm phán giải quyết án vội vàng, lúng túng để đẩy bớt án tồn, án quá hạn làm
ảnh hưởng đến chỉ tiêu công tác của họ. Chính vì vậy, trong công tác xây dựng cơ
chế giải quyết tranh chấp KDTM chung của Việt Nam, rất cần thiết đồng thời đổi
mới cơ chế thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM bằng tòa án nhưng cũng cần nâng
cao, tạo điều kiện để người dân hiểu biết đối với các chế định khác từ đó san xẻ bớt
gánh nặng của tòa án trong giải quyết tranh chấp KDTM cho các thiết chế phi
chính phủ khác như TTTM, cơ quan hòa giải chuyên nghiệp để vừa tiết kiệm thời
gian, của cải cho cả hệ thống tư pháp lẫn các chủ thể có tranh chấp, chú trọng đến
dung hòa lợi ích của các bên thông qua hòa giải, hàn gắn quan hệ giữa các chủ thể
kinh doanh, hài hòa lợi ích xã hội đồng thời để nâng cao hiệu quả giải quyết tranh
chấp KDTM của tòa án.
Thiết lập tòa án chuyên trách giải quyết tranh chấp KDTM trong hệ thống
23


tòa án. Xây dựng cơ cấu tổ chức của các tòa chuyên trách này theo khu vực và theo
từng vụ việc, đương sự có thể lựa chọn tòa án xét xử tranh chấp KDTM của họ mà
không cứng nhắc theo cấp hành chính, hay địa bàn, lãnh thổ như hiện nay. Các
quy định của Luật tố tụng cần tạo điều kiện để các tòa chuyên trách này hoạt động
linh hoạt hơn, không bị phụ thuộc và có thể giải quyết nhanh chóng các loại án
theo nhu cầu và theo dịch vụ, đảm bảo chất lượng, hiệu quả và vẫn mang tính
nghiêm minh của cơ quan đại diện quyền lực nhà nước.
Ngoài ra, để đảm bảo chất lượng xét xử, cần coi trọng chất lượng, kiến thức
về kinh doanh thương mại của người tiến hành tố tụng, đặc biệt cần nâng cao chất
lượng của Hội đồng xét xử đặc biệt là cơ chế HTND trong tình trạng thực tế hiện
nay khi vai trò của HTND khá mờ nhạt và mang tính hình thức trong phiên tòa sơ
thẩm. Do đó, cần bổ sung đội ngũ HTND hiểu biết về KDTM, có thể chọn HTND
từ những thương gia giàu kinh nghiệm, hiểu biết về quá trình kinh doanh, vv...
Nhìn chung, các thủ tục về giải quyết tranh chấp KDTM theo quy định của
BLTTDS còn nhiều rườm rà, kéo dài thời gian tố tụng, khiến cho các doanh
nghiệp không thực sự an tâm khi đưa tranh chấp đến toà án để yêu cầu giải quyết.
So với các thiết chế giải quyết tranh chấp KDTM khác cũng như với cơ quan Tòa
án nước ngoài thì giải quyết tranh chấp KDTM bằng Tòa án Việt Nam vẫn còn
nhiều yếu điểm. Chính vì vậy, cần có những nghiên cứu, đánh giá sâu sắc và lựa
chọn có chọn lọc để có thể thiết lập nên một thiết chế Tòa án hoàn chỉnh, có đường
lối, thủ tục đơn giản, nhanh chóng nhưng vẫn chặt chẽ là nơi vững tâm để các
doanh nghiệp lựa chọn khi có tranh chấp xảy ra.

Kết luận chương 1
Sự phát triển của nền kinh tế cùng lúc với quá trình hội nhập của đất nước
tạo ra muôn mặt của xã hội doanh nhân vì vậy, tranh chấp trong hoạt động KDTM
thường xuyên xảy ra là điều không thể tránh khỏi và đương nhiên việc giải quyết
tranh chấp là tất yếu và cần thiết. Tuy nhiên, việc lựa chọn phương thức nào để
giải quyết tranh chấp KDTM lại hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của các bên tranh
chấp, do các bên tự lựa chọn. Mỗi phương thức giải quyết tranh chấp đều có những
24


ưu và nhược điểm khác nhau nên việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp
nào là tối ưu sẽ được các bên cân nhắc và áp dụng. Không thể phủ nhận rằng giải
quyết tranh chấp KDTM bằng Tòa án là con đường có nhiều ưu điểm. Tuy nhiên,
giải quyết tranh chấp KDTM bằng tòa án phụ thuộc rất nhiều yếu tố, các doanh
nghiệp thường ít lựa chọn con đường này bởi lẽ các quy trình giải quyết của tòa án
tuân thủ chặt chẽ theo khuôn mẫu được pháp luật quy định, rập khuôn, cứng nhắc,
thời gian, chi phí cao. Hơn nữa, còn có các yếu tố khác ảnh hưởng đến quá trình
xét xử đã được phân tích ở chương 1 cùng với thực trạng pháp lý và thực tiễn áp
dụng pháp luật tại đơn vị được tác giả cập nhật thêm ở chương 2 dưới đâysẽ làm
rõ hơn các nguyên nhân khiến doanh nghiệp hiện đại hiện nay ít chọn tòa án để
giải quyết tranh chấp KDTM. Từ đó, có những phương hướng để thay đổi, hoàn
thiện phương thức giải quyết có nhiều ưu điểm này, đưa nó trở thành phương thức
giải quyết phổ biến hơn trên thực tế./.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×