Tải bản đầy đủ

Luật áp dụng trong việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài thương mại theo pháp luật việt nam

TRẦN THỊ MINH HẬU

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
LUẬT KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

LUẬT ÁP DỤNG TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH
CHẤP THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ BẰNG TRỌNG TÀI
THƢƠNG MẠI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

TRẦN THỊ MINH HẬU
2015 - 2017

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
LUẬT ÁP DỤNG TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ BẰNG TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM

TRẦN THỊ MINH HẬU
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60.38.01.07
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN TRUNG TÍN

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không
trùng lặp với các đề tài khác./.

Tác giả luận văn

Trần Thị Minh Hậu


LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài, được sự giúp đỡ tận tình và sự tạo
điều kiện của các tập thể và cá nhân, tôi đã hoàn thành Luận văn thạc sỹ, chuyên
ngành Luật kinh tế. Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các giảng viên
đã trang bị kiến thức cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Viện Đại học
mở Hà Nội, cảm ơn khoa Đào tạo Sau đại học, Viện Đại học mở Hà Nội đã tạo điều
kiện giúp đỡ trong thời gian qua. Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới PGS.TS Nguyễn Trung Tín - người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ và chỉ
dẫn tận tình để tác giả hoàn thành luận văn này.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, đơn vị công tác, các đồng
nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành tốt luận văn
của mình.
Luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tác giả rất mong nhận được


sự đóng góp ý kiến của các Thầy, Cô để hoàn thiện hơn nữa trong quá trình vận
dụng kiến thức đã học vào thực tiễn công tác của bản thân.
Xin trân trọng cảm ơn./.
Tác giả luận văn

Trần Thị Minh Hậu


MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU........................................................................................................1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ LUẬT ÁP DỤNG TRONG VIỆC GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ BẰNG TRỌNG TÀI
THƢƠNG MẠI .....................................................................................................5
1.1. Khái niệm tranh chấp thương mại quốc tế và trọng tài thương mại
quốc tế ...........................................................................................................5
1.1.1. Khái niệm tranh chấp thương mại quốc tế ..........................................5
1.1.2. Khái niệm trọng tài thương mại quốc tế ..............................................6
1.2. Các trường hợp luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp thương mại
quốc tế bằng trọng tài ..................................................................................7
1.2.1. Luật áp dụng cho nội dung tranh chấp trong giải quyết tranh chấp
thương mại quốc tế bằng trọng tài ............................................................7
1.2.2. Luật áp dụng cho thỏa thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp
thương mại quốc tế bằng trọng tài ..........................................................12
1.2.3. Luật áp dụng cho tố tụng trọng tài trong giải quyết tranh chấp
thương mại quốc tế bằng trọng tài ..........................................................18
1.3. Một số kinh nghiệm quốc tế về giải quyết các tranh chấp thương mại
quốc tế liên quan đến luật áp dụng...........................................................22
1.3.1. Trường hợp áp dụng luật quốc gia đối với tranh chấp khi hai bên ký
kết hợp đồng mua bán hàng hoá không chọn luật áp dụng .....................22
1.3.2. Trường hợp áp dụng các quy định của Công ước Viên năm 1980 với
tính chất là các tập quán thương mại quốc tế khi các bên ký kết không
lựa chọn luật áp dụng ..............................................................................25


Chƣơng 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM QUY ĐỊNH VỀ
LUẬT ÁP DỤNG TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG
MẠI QUỐC TẾ BẰNG TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI .................................31
2.1. Môi trường pháp lý trong nước .............................................................31
2.1.1. Luật Trọng tài thương mại và các văn bản hướng dẫn .....................31
2.1.2. Vai trò của các điều ước quốc tế liên quan hoạt động trọng tài tại
Việt Nam ..................................................................................................33
2.1.3. Một số hạn chế khi áp dụng pháp luật trọng tài vào thực tế giải quyết
tranh chấp ................................................................................................34
2.2. Pháp luật Việt Nam về luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp
thương mại quốc tế bằng trọng tài ...........................................................35
2.2.1. Về luật áp dụng cho nội dung tranh chấp ..........................................35
2.2.2. Về luật áp dụng cho thỏa thuận trọng tài ..........................................42
2.2.3. Về luật áp dụng cho tố tụng trọng tài ................................................48
2.3. Tình hình giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế tại Trung tâm
Trọng tài Thương mại Quốc tế Việt Nam (VIAC) ..................................53
Chƣơng 3: HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ LUẬT
ÁP DỤNG TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI
QUỐC TẾ BẰNG TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI ...........................................62
3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về
luật áp dụng trong giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế bằng
trọng tài thương mại ..................................................................................62
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về luật áp dụng
trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài ...........63
3.2.1. Đối với luật áp dụng cho nội dung vụ tranh chấp .............................63


3.2.2. Đối với luật áp dụng cho thỏa thuận trọng tài ..................................65
3.2.3. Đối với luật áp dụng cho tố tụng trọng tài ........................................67
3.2.4. Một số giải pháp khác ........................................................................68
KẾT LUẬN ..........................................................................................................72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..........................................................75


DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

Tên đầy đủ

STT

Viết tắt

1

Bộ luật Dân sự năm 2015

2

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

3

Công ước New York về Công nhận và thi hành các Công ước New York

4

BLDS 2015
Bộ luật TTDS 2015

quyết định trọng tài nước ngoài năm 1958

1958

Công ước Viên 1980 của Liên hợp quốc về Hợp

CISG

đồng mua bán hàng hóa quốc tế
5

Luật Mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế của Ủy

Luật Mẫu

ban Liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế năm

UNCITRAL

1985
6

Luật Trọng tài thương mại năm 2010

7

Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Luật TTTM 2010
VIAC


DANH MỤC HÌNH VẼ, BẢNG BIỂU

* Hình vẽ
Hình 2.1: Số vụ tranh chấp giải quyết tại VIAC từ 1993 đến 2016 .........................54
Hình 2.2: Số lượng vụ tranh chấp thụ lý tại VIAC Hà Nội và VIAC thành phố Hồ
Chí Minh từ 2014 đến 2016 .............................................................................54
Hình 2.3: Quốc tịch các bên tranh chấp năm 2016 ..................................................56
Hình 2.4: Tính chất tranh chấp .................................................................................57
Hình 2.5: Tỷ lệ tranh chấp trong nước và tranh chấp quốc tế qua các năm .............58
Hình 2.6: Lĩnh vực giải quyết tranh chấp.................................................................58
* Bảng biểu
Bảng 2.1: Quốc tịch các bên tranh chấp ...................................................................55
Bảng 2.2: Thống kê tính chất tranh chấp..................................................................56
Bảng 2.3: Thống kê các lĩnh vực tranh chấp ............................................................58


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, thực hiện chủ trương, ch nh sách nhất quán của Đảng
và Nhà nước ta về hội nhập kinh tế quốc tế, tiến trình hội nhập của Việt Nam đã đạt
được những kết quả vững chắc, góp phần quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước. Song từ khi Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế,
các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại trở thành hiện
tượng phổ biến. Với quá trình hội nhập sâu rộng như hiện nay, các tranh chấp
thương mại quốc tế sẽ ngày càng nhiều và phức tạp, xu hướng của các bên là tìm
kiếm cho mình một phương thức giải quyết tranh chấp sao cho có hiệu quả nhất,
bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, đảm bảo cho các quan hệ kinh
tế được ổn định, thông suốt và phát triển. Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế
bằng trọng tài đang là hình thức tối ưu để giải quyết các xung đột thương mại mà
các bên không tự giải quyết được.
Trọng tài thương mại quốc tế là phương thức giải quyết tranh chấp còn khá
mới mẻ, chưa thực sự thu hút sự chú ý của xã hội. Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam
quy định về luật áp dụng trong việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng
trọng tài thương mại là một vấn đề có ảnh hưởng lớn đến quá trình trọng tài cũng
như hiệu lực của phán quyết trọng tài, song nó vẫn chưa được quan tâm đúng mức.
Các quy định liên quan đến vấn đề này còn mang tính chất chung chung, chưa rõ
ràng. Thực tiễn chỉ ra không t quy định của pháp luật nước ta trong lĩnh vực này
chưa phù hợp với thực tiễn, chưa tương th ch với pháp luật và tập quán trọng tài
quốc tế. Năng lực giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế của các trung tâm trọng
tài ở Việt Nam còn ở mức độ hạn chế, chưa tạo được uy tín vững chắc đối với các
doanh nghiệp trong và ngoài nước. Việc để tồn tại những lỗ hổng trong pháp luật về
trọng tài của Việt Nam sẽ là trở ngại lớn khi các doanh nghiệp lựa chọn trọng tài là
phương thức giải quyết tranh chấp. Làm thế nào để sáng tỏ những lợi thế trong giải
quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài thương mại và tận dụng hiệu

1


quả hoạt động này tại Việt Nam đang là vấn đề đặt ra. Xuất phát từ thực tế nêu trên,
tác giả lựa chọn đề tài “Luật áp dụng trong việc giải quyết tranh chấp thương mại
quốc tế bằng trọng tài thương mại theo pháp luật Việt Nam” làm đề tài nghiên
cứu của mình. Việc nghiên cứu pháp luật Việt Nam về giải quyết tranh chấp thương
mại quốc tế bằng trọng tài thương mại sẽ kết hợp với việc tìm hiểu các quy định
tương tự trong pháp luật của một số quốc gia trên thế giới. Từ đó đề xuất một số
giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật Việt Nam về luật áp dụng trong
việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài thương mại trong thời
gian tới.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Các vấn đề về luật áp dụng trong việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc
tế bằng trọng tài đã được đề cập ở một số công trình nghiên cứu khoa học cũng như
bài đăng trên tạp chí của các tác giả, trong đó có Luận án Tiến sỹ Luật học “Hoàn
thiện pháp luật về trọng tài thương mại của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc
tế” của Nguyễn Đình Thơ năm 2007; Luận án Tiến sỹ Luật học của Trần Minh
Ngọc về “Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài ở Việt Nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” năm 2009; ấn phẩm“Một số vấn đề về
quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện hành” của Bùi Ngọc Cường do
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hồ Ch Minh phát hành năm 2004. Nhiều bài viết
phân tích về vấn đề này như bài viết “Luật áp dụng đối với nội dung tranh chấp từ
hợp đồng trong trọng tài thương mại quốc tế” của Tiến sỹ Trần Minh Ngọc trên
Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 1 năm 2009, các bài viết của Nguyễn Trung Tín
như: “Về công nhận và thi hành quyết định của trọng tài theo Công ước New York
1958” đăng trên Tạp ch Nhà nước và pháp luật số 5 năm 2002, “Cải cách tư pháp
trong lĩnh vực quan hệ tố tụng dân sự có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam” đăng trên
tạp ch Nhà nước và pháp luật số 7 năm 2003, “Tương trợ tư pháp quốc tế” đăng
trên Tạp ch Nhà nước và pháp luật số 5 năm 2008. Các công trình này đã nghiên
cứu về luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế, song chưa thực
sự rõ ràng và toàn diện, chưa có công trình nào nghiên cứu sâu và tổng thể về luật

2


áp dụng trong việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài thương
mại, nhằm nêu ra những bất cập của pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về
trọng tài thương mại nói riêng dẫn đến hạn chế khả năng tiếp cận phương thức giải
quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài thương mại. Vì vậy, đây là vấn
đề còn mới trong khoa học pháp lý Việt Nam, cần phải nghiên cứu giải quyết, đặc
biệt trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập vào nền kinh tế thế giới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đ ch làm rõ thêm về mặt lý luận luật áp dụng trong việc giải quyết tranh
chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài thương mại.
Để đạt mục đ ch trên luận văn đặt ra việc thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Phân tích những vấn đề lý luận chung về luật áp dụng trong việc giải quyết
tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài thương mại.
- Đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam quy định về giải quyết tranh chấp
thương mại quốc tế bằng trọng tài thương mại.
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về luật áp dụng
trong việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài thương mại.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của luận văn là các quan hệ về luật áp dụng trong việc giải quyết
tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài.
Phạm vi của luận văn là các quan hệ về luật áp dụng trong việc giải quyết
tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài qua việc phân tích thực trạng pháp
luật Việt Nam về vấn đề này.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp
luật, quán triệt đường lối, chủ trương, ch nh sách của Đảng và Nhà nước ta về hoàn

3


thiện hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Các phương
pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: Phương pháp phân t ch và tổng hợp; phương pháp
so sánh; phương pháp diễn giải, phương pháp quy nạp; phương pháp thu thập thông
tin để giải quyết vấn đề đặt ra.
6. Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Luận văn đã góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về luật áp
dụng trong việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài; phân tích,
đánh giá các quy định về luật áp dụng trong việc giải quyết tranh chấp thương mại
quốc tế bằng trọng tài theo pháp luật Việt Nam và có sự so sánh, đối chiếu với các
quy định pháp luật tương tự của một số quốc gia trên thế giới để tìm ra những điểm
bất cập, còn thiếu hụt trong các quy định pháp luật trọng tài ở nước ta. Qua đó đã
đưa ra được một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về luật áp dụng
trong giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài thương mại, nâng cao
hiệu quả của phương thức trọng tài thương mại quốc tế ở nước ta.
7. Bố cục của luận văn
Luận văn được xây dựng với kết cấu gồm 3 phần: Mở đầu, nội dung và kết
luận. Phần nội dung bao gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận chung về luật áp dụng trong việc giải quyết
tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài thương mại.
Chương 2. Thực trạng pháp luật Việt Nam quy định về giải quyết tranh chấp
thương mại quốc tế bằng trọng tài thương mại.
Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về luật áp dụng
trong việc giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài thương mại.

4


Chƣơng 1
TỔNG QUAN VỀ LUẬT ÁP DỤNG TRONG VIỆC GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI QUỐC TẾ BẰNG
TRỌNG TÀI THƢƠNG MẠI
1.1. Khái niệm tranh chấp thƣơng mại quốc tế và trọng tài thƣơng mại quốc tế
1.1.1. Khái niệm tranh chấp thương mại quốc tế
Tranh chấp thương mại hay tranh chấp kinh doanh là thuật ngữ quen thuộc
trong đời sống kinh tế xã hội ở các nước trên thế giới. Khái niệm này được sử dụng
rộng rãi và phổ biến ở nước ta trong những năm gần đây.
Theo Giáo trình Luật Thương mại Quốc tế của Đại học Quốc gia Hà Nội
“Tranh chấp trong hoạt động thương mại là những mâu thuẫn, bất đồng giữa các
bên tham gia quan hệ thương mại mà chủ yếu là liên quan đến việc thực hiện (hoặc
không thực hiện) các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng”[11, tr.581].
Trong Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ 2000, khái niệm tranh chấp
thương mại được nêu rõ tại khoản 4, Điều 9, Chương I: “Tranh chấp thương mại là
tranh chấp phát sinh giữa các bên trong một giao dịch thương mại”. Tìm hiểu thêm
các quy định tại Chương II, III và IV, có thể khái quát tranh chấp trong thương mại
theo Hiệp định như sau:
Tranh chấp bao gồm tất cả những bất đồng từ các hoạt động thương mại
(thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại liên quan tới đầu tư, thương
mại liên quan tới sở hữu trí tuệ), những khiếu nại, khiếu kiện về các hành vi xâm
phạm các quyền tự do thương mại, đầu tư, quyền sở hữu trí tuệ được các bên bảo hộ
theo Hiệp định. Chủ thể của tranh chấp gồm các công dân, công ty, cơ quan nhà
nước có thẩm quyền và bản thân Chính phủ, các cơ quan phi Chính phủ thực hiện
các chức năng theo ủy quyền của cơ quan Chính phủ trong hoạt động giải thích và
thi hành pháp luật để thực hiện Hiệp định[11, tr.584].

5


Ở Việt Nam hiện nay, theo Luật Trọng tài thương mại năm 2010 (Luật TTTM
2010), tại khoản 4, Điều 3 quy định: “Tranh chấp có yếu tố nước ngoài là tranh
chấp phát sinh trong quan hệ thương mại, quan hệ pháp luật khác có yếu tố nước
ngoài được quy định tại Bộ luật Dân sự”.
Như vậy có thể hiểu, tranh chấp thương mại quốc tế là những mâu thuẫn, xung
đột về lợi ích giữa các chủ thể (thương nhân) tham gia vào các giao dịch thương mại
quốc tế. Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài ở Việt Nam có
nghĩa là giải quyết tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài giữa các cá nhân, tổ
chức kinh doanh bằng phương thức trọng tài phi Chính phủ (Trọng tài thương mại)
theo pháp luật Việt Nam hiện hành.
1.1.2. Khái niệm trọng tài thương mại quốc tế
Trong khoa học pháp lý có nhiều cách hiểu khác nhau về trọng tài thương mại
quốc tế. Quan điểm phổ biến trên thế giới hiện nay về trọng tài thương mại quốc tế
là quan điểm được thể hiện trong Luật Mẫu về Trọng tài Thương mại Quốc tế của
Ủy ban Liên hợp quốc về Luật Thương mại quốc tế năm 1985 (Luật Mẫu
UNCITRAL).
Theo Luật Mẫu UNCITRAL, khoản 3, Điều 1 quy định: Trọng tài là quốc tế
nếu các bên tham gia thỏa thuận trọng tài, tại thời điểm ký kết thỏa thuận trọng tài
đó, có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau, hoặc một trong những địa điểm mà
các bên có trụ sở kinh doanh sau đây được đặt ở ngoài quốc gia: Nơi tiến hành trọng
tài nếu được xác định trong hoặc theo thỏa thuận trọng tài; nơi mà phần chủ yếu của
các nghĩa vụ trong quan hệ thương mại được thực hiện hoặc nơi mà nội dung tranh
chấp có quan hệ mật thiết nhất; các bên đã thỏa thuận rõ rằng vấn đề chủ yếu của
thỏa thuận trọng tài liên quan đến nhiều nước. Khoản 4, Điều 1 còn quy định: Cũng
là trọng tài quốc tế nếu một bên có nhiều trụ sở kinh doanh thì trụ sở kinh doanh sẽ
là nơi có quan hệ chặt chẽ nhất với thỏa thuận trọng tài; nếu một bên không có trụ
sở kinh doanh thì nơi cư trú thường xuyên sẽ được dẫn chiếu tới.

6


Như vậy, trong Luật Mẫu UNCITRAL, sự khác nhau về quốc tịch của các bên
không phải là yếu tố của trọng tài. Trong khi đó, các yếu tố nước ngoài (quốc tế)
được hiểu là nơi kinh doanh của một trong các bên, nơi đặt trọng tài, nơi có hành vi
thương mại chủ yếu liên quan thỏa thuận.
Pháp luật Việt Nam đã đưa ra khái niệm trọng tài nước ngoài tại khoản 11,
Điều 3 Luật TTTM 2010: “Trọng tài nước ngoài là Trọng tài được thành lập theo
quy định của pháp luật trọng tài nước ngoài do các bên thỏa thuận lựa chọn để tiến
hành giải quyết tranh chấp ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt
Nam”.
Có thể hiểu, trọng tài thương mại quốc tế là một phương thức giải quyết tranh
chấp mà sự bắt đầu của nó dựa trên sự thỏa thuận của các bên tham gia tranh chấp
nhằm giải quyết các tranh chấp thương mại có yếu tố quốc tế (hay yếu tố nước
ngoài) giữa các thương nhân với nhau bởi một hội đồng trọng tài gồm một hoặc
nhiều trọng tài viên trên cơ sở trình tự thủ tục do các bên tranh chấp thỏa thuận
chọn ra.
1.2. Các trƣờng hợp luật áp dụng trong giải quyết tranh chấp thƣơng mại quốc
tế bằng trọng tài
1.2.1. Luật áp dụng cho nội dung tranh chấp trong giải quyết tranh chấp thương
mại quốc tế bằng trọng tài
Trong trọng tài thương mại quốc tế, vấn đề luật áp dụng đối với nội dung tranh
chấp là rất quan trọng bởi phán quyết trọng tài ngoài việc dựa trên ch nh những điều
khoản của hợp đồng còn phải căn cứ vào những quy định của luật nội dung điều
chỉnh các tranh chấp. Nội dung tranh chấp ch nh là quyền và nghĩa vụ của các bên
bị xâm hại trong quá trình thực hiện các giao dịch thương mại quốc tế. Luật áp dụng
cho nội dung tranh chấp (hay thường được biết đến là luật nội dung, “luật điều
chỉnh” của hợp đồng) xác định quyền và nghĩa vụ của các bên, quy định việc giải
th ch và hiệu lực của hợp đồng, cách thức thực hiện và hệ quả của việc vi phạm hợp
đồng[31, tr.113]. Khi luật áp dụng không được quy định trong hợp đồng thì không

7


chỉ làm phức tạp thêm việc giải quyết tranh chấp, mà đôi khi còn có thể dẫn đến
phát sinh tranh chấp mới về luật áp dụng. Ngay khi xảy ra bất kỳ sự kiện nào mà
không được quy định trong các điều khoản hợp đồng, hoặc khi các điều khoản hợp
đồng cần được giải th ch, những thiếu sót trong hợp đồng cần phải được bổ sung
nhằm xác định phạm vi nghĩa vụ của các bên trên cơ sở luật áp dụng. Khi tranh
chấp được đưa ra hội đồng trọng tài, các bên trước tiên sẽ phải thuyết phục hội đồng
trọng tài về luật mà họ coi là luật áp dụng, trước khi họ có thể bắt đầu tranh luận nội
dung vụ việc. Về mặt lý luận cũng như thực tiễn, luật áp dụng cho nội dung tranh
chấp được xác định trên cơ sở sau:
1.2.1.1. Hội đồng trọng tài và luật do các bên lựa chọn
Nếu các bên đã thỏa thuận được luật áp dụng cho hợp đồng, hội đồng trọng tài
bắt buộc phải công nhận. Tuy nhiên, hội đồng trọng tài vẫn phải xem xét liệu có
giới hạn nào đối với việc áp dụng luật đó không. Vấn đề về năng lực, hoặc quyền
được hành động của một bên thường được quyết định bởi luật áp dụng cho địa vị
của thực thể đó (dù là pháp nhân hay thể nhân), chứ không phải bởi luật áp dụng
cho hợp đồng.
Khiếu nại đòi bồi thường thiệt hại sẽ được giải quyết theo luật áp dụng cho
hợp đồng, đặc biệt nếu thiệt hại phát sinh trong khi thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên,
không phải lúc nào cũng như vậy vì trọng tài viên cũng có thể áp dụng lex loci
delicti, đó là luật của nơi xảy ra tổn thất hoặc thiệt hại. Hơn nữa, hội đồng trọng tài
có thể quyết định phạm vi áp dụng của luật áp dụng bị giới hạn bởi sự can thiệp
ch nh sách công bắt buộc của một hệ thống pháp luật khác liên quan tới hợp
đồng[41].
1.2.1.2. Thẩm quyền của nhà trung gian hòa giải
Nếu các bên đã trao thẩm quyền của một nhà trung gian hòa giải cho hội đồng
trọng tài, thì có nghĩa là hội đồng trọng tài khi áp dụng một luật cụ thể có thể không
cần áp dụng nghiêm ngặt luật đó, nếu hội đồng trọng tài thấy rằng việc áp dụng
nghiêm ngặt luật đó dẫn đến kết quả không công bằng. Thẩm quyền này, dù không

8


được chấp nhận rộng rãi ở tất cả các nền văn hóa pháp lý, cũng có thể trao cho các
trọng tài viên quyền quyết định trên cơ sở công bằng và không cần thiết xác định
luật áp dụng. Hội đồng trọng tài thậm ch sẽ được miễn ban hành quyết định trọng
tài, nếu luật điều chỉnh tố tụng trọng tài cho phép điều đó. Tuy nhiên, những nhà
trung gian hòa giải dù thế nào cũng phải tôn trọng các quy tắc trật tự công cộng
(ordre public) khi tiến hành tố tụng trọng tài và ban hành quyết định. Tóm lại, các
trọng tài viên có thể quyết định như những nhà trung gian hòa giải nếu các bên trao
thẩm quyền này một cách rõ ràng cho họ[39, tr.122-123].
1.2.1.3. Xác định luật áp dụng cho nội dung vụ tranh chấp, nếu không được các bên
quy định
Nếu các bên không quy định luật áp dụng, ch nh hội đồng trọng tài sẽ xác định
các quy tắc áp dụng cho nội dung vụ tranh chấp. Bởi không giống như một thẩm
phán của một tòa án quốc gia, một trọng tài viên quốc tế không làm việc tại một cơ
quan có thẩm quyền quốc gia nơi tiến hành trọng tài, nên trọng tài viên không tuân
theo lex fori (luật của nơi xét xử). Vì vậy, trọng tài viên không có nghĩa vụ áp dụng
luật thực chất của nước nơi diễn ra tố tụng trọng tài, nếu các bên không quy định áp
dụng luật thực chất này cho tranh chấp. Trọng tài viên cũng không phải áp dụng quy
tắc xung đột luật của nơi tiến hành trọng tài[4]. Các quyết định trọng tài đã được
công bố cho thấy rõ ràng các trọng tài viên quốc tế đã sử dụng rất nhiều phương
pháp để xác định quy tắc luật áp dụng. Đa số các trọng tài viên xác định quy tắc luật
áp dụng bằng cách sử dụng một trong ba phương pháp dưới đây:
- Áp dụng quy tắc xung đột luật của các nước có mối quan hệ với vụ tranh
chấp được đưa ra trọng tài
Theo nguyên tắc này, hội đồng trọng tài xem xét quy tắc xung đột luật của
từng hệ thống pháp luật liên quan tới tranh chấp (quy tắc xung đột luật của các quốc
gia của các bên, của các nước nơi hợp đồng được ký kết hoặc thực hiện…). Theo
đó, hội đồng trọng tài sẽ tự xây dựng quy tắc xung đột dựa vào việc xem xét các yếu
tố quan trọng của hợp đồng, từ đó xác định xem hợp đồng có mối liên hệ gần gũi

9


với quốc gia nào. Các yếu tố quan trọng của hợp đồng mà trọng tài xem xét rất đa
dạng, như trụ sở thương mại, nơi giao kết hợp đồng, nơi cư trú của các bên tham gia
hợp đồng... Tùy theo từng vụ việc cụ thể, trọng tài sẽ sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp
các yếu tố với nhau, từ đó tìm ra luật quốc gia có quan hệ gần gũi nhất với hợp đồng
để sử dụng điều chỉnh nội dung hợp đồng. Ưu điểm của phương pháp này là t nh
đến khả năng dự đoán phương thức giải quyết. Tuy nhiên, phương pháp này sẽ
không hiệu quả trong trường hợp việc áp dụng các quy tắc xung đột luật khác nhau
không đưa đến sự lựa chọn một luật duy nhất[35].
- Dựa trên những nguyên tắc chung của luật tư pháp quốc tế
Phương pháp này sử dụng một số nguyên tắc chung hoặc được chấp nhận phổ
biến được rút ra từ những bộ quy tắc xung đột luật quan trọng nhất. Nguyên tắc
thường được các trọng tài viên sử dụng là nguyên tắc “trọng tâm” và “mối liên hệ
mật thiết nhất”. Mặc dù việc tham khảo các bộ quy tắc xung đột luật khác nhau có
thể có sức thuyết phục, phương pháp này mang lại hiệu quả rất thấp. Các nguyên tắc
nêu trên không phải lúc nào cũng trùng khớp với các quy tắc xung đột luật đang
được xem xét. Điều này có thể giải th ch tại sao để thúc đẩy sự lựa chọn của mình,
một số hội đồng trọng tài dựa vào những công ước quốc tế như: Công ước về Luật
Áp dụng cho Nghĩa vụ Hợp đồng (Rome, 1980); Công ước về Luật Áp dụng cho
Mua bán Hàng hóa quốc tế (La Hay ngày 15 tháng 6 năm 1955); hoặc Công ước về
Luật Áp dụng cho các Hợp đồng Mua bán Hàng hóa quốc tế (La Hay ngày 22 tháng
12 năm 1986)[39, tr.124]
- Phương pháp trực tiếp
Phương pháp trực tiếp nghĩa là hội đồng trọng tài trực tiếp tiến hành giải quyết
tranh chấp mà trước tiên không nêu vấn đề về các quy tắc xung đột luật áp dụng.
Theo phương pháp này, hội đồng trọng tài xác định nhân tố liên hệ mà hội đồng
thấy có t nh quyết định hoặc quan trọng giữa hợp đồng và luật mà hội đồng quyết
định áp dụng. Nhân tố này có thể liên quan tới nơi thực hiện đặc trưng, trọng tâm
của hợp đồng, nơi thực hiện hợp đồng, nơi cư trú của người bán.v.v... Tuy nhiên,

10


phương pháp này có thể gây tranh cãi, nếu tranh chấp liên quan tới hiệu lực của hợp
đồng hoặc các vấn đề về thời hiệu.
1.2.1.4. Áp dụng luật phi quốc gia cho nội dung vụ tranh chấp
Trong rất nhiều vụ, quyết định của hội đồng trọng tài không chỉ căn cứ vào
luật của một quốc gia duy nhất mà còn căn cứ vào tập quán thương mại hoặc “thực
tiễn” hoặc “các nguyên tắc chung của luật”, hoặc thậm ch vào lex mercatoria (theo
cách hiểu được chấp nhận phổ biến thì lex mercatori là hệ thống tập hợp các nguyên
tắc chung của luật, luật thống nhất về thương mại quốc tế, các quy tắc và thực tiễn
đã phát triển trong cộng đồng kinh doanh quốc tế, v dụ như nguyên tắc trung thực,
nguyên tắc thiện ch , nguyên tắc cam kết tận tâm thực thi điều ước quốc tế...). Và
hội đồng trọng tài đã làm như vậy trong trường hợp họ có thẩm quyền xét xử của
một nhà trung gian hòa giải và cả trong trường hợp họ không có thẩm quyền đó.
- Tập quán thương mại hoặc “thực tiễn”
Một số công ước quốc tế, Luật Mẫu UNCITRAL và nhiều quy tắc tố tụng
trọng tài quy định các trọng tài viên sẽ xem xét cả thực tiễn thương mại, ngay cả khi
áp dụng luật quốc gia. Việc tham khảo thực tiễn thương mại có thể bổ sung những
thiếu sót trong luật áp dụng, bởi các tập quán trong thế giới thương mại quốc tế có
thể phát triển nhanh hơn luật. Tuy nhiên, trọng tài viên không thể không tuân theo
luật do các bên chọn với lý do họ đang xem xét các thực tiễn thương mại.
Nếu các bên không chọn được luật áp dụng, thì các trọng tài viên đôi khi chỉ
dựa vào các thực tiễn thương mại để làm cơ sở pháp lý cho quyết định của họ. Nếu
làm như vậy, các trọng tài viên sẽ phải dựa vào các công ước quốc tế và/hoặc quy
tắc tố tụng trọng tài quy định rằng trong mọi trường hợp, các trọng tài viên có thể,
hoặc sẽ, được dựa vào thực tiễn thương mại.
- Lex mercatoria và nguyên tắc chung của luật
Tập quán thương mại được đề cập tới trong cả các công ước quốc tế và các
quy tắc tố tụng trọng tài. Nhưng tập quán thương mại không phải là lex mercatoria

11


hay các nguyên tắc chung của luật. Hai khái niệm này thường được coi đồng nghĩa
với nhau.
Trong luật án lệ trọng tài, rất t quyết định trọng tài chỉ dựa trên lex mercatoria
mà không áp dụng bất kỳ hệ thống pháp luật quốc gia nào. Đối với một số quyết
định dạng này, có thể nộp đơn đề nghị hủy quyết định trọng tài lên các tòa án quốc
gia. Các tòa án của Anh và Pháp đã bác những đơn đề nghị đó và cho rằng một
trọng tài viên có thể ra các quyết định dựa trên các nguyên tắc của luật điều chỉnh
quan hệ hợp đồng được quốc tế chấp nhận hoặc lex mercatoria. Luật án lệ đó cũng
như luật án lệ trọng tài cho thấy các bên có thể đưa tranh chấp ra xét xử theo lex
mercatoria chứ không phải theo luật quốc gia cụ thể. Quan điểm này được ủng hộ
trong “các quy tắc của luật” thể hiện Luật Mẫu UNCITRAL (Điều 28)[16] và trong
luật trọng tài của nhiều quốc gia cũng như nhiều quy tắc tố tụng trọng tài.
Xác định luật áp dụng cho nội dung vụ tranh chấp là vấn đề quan trọng, ảnh
hưởng lớn đến quyền và nghĩa vụ của các bên chủ thể. Quyền lựa chọn luật nội
dung đã được trao cho các bên. Nhưng nếu họ không sử dụng thì hội đồng trọng tài
sẽ làm việc đó và pháp luật do hội đồng trọng tài lựa chọn có thể khác hẳn với dự
t nh của các bên, đồng thời làm thay đổi kết quả của vụ việc. Đây cũng là một quy
trình tốn kém cả về thời gian và tiền bạc, trong khi sẽ đơn giản hơn nhiều nếu việc
này được thực hiện bởi các bên[39, tr.25].
1.2.2. Luật áp dụng cho thỏa thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương
mại quốc tế bằng trọng tài
Trọng tài không có thẩm quyền đương nhiên mà chỉ được giải quyết tranh
chấp khi các bên có quyền và nghĩa vụ liên quan thỏa thuận chỉ định. Khi các bên
thiết lập một thỏa thuận trọng tài thì nghĩa là họ đã trao thẩm quyền giải quyết tranh
chấp cho trọng tài và tòa án không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đó trừ khi
thỏa thuận trọng tài vô hiệu hoặc bị hủy bỏ bởi ch nh các bên. Như vậy, thẩm quyền
của trọng tài được xác lập trên cơ sở thỏa thuận trọng tài.

12


Luật Mẫu UNCITRAL định nghĩa thỏa thuận trọng tài tại khoản 1, Điều 7 như
sau: “1. “Thỏa thuận trọng tài” là thỏa thuận mà các bên đưa ra trọng tài mọi
hoặc các tranh chấp nhất định phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên về quan
hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng.
Thoả thuận trọng tài có thể dưới hình thức điều khoản trọng tài trong hợp đồng
hoặc dưới hình thức thoả thuận riêng”[16]. Hay Công ước về Trọng tài thương mại
Châu Âu năm 1961 (Công ước Geneva 1961) có đưa ra định nghĩa tương tự: “Thỏa
thuận trọng tài là một điều khoản trọng tài trong hợp đồng hoặc thỏa thuận trọng
tài, hợp đồng hoặc thoả thuận trọng tài được ký kết giữa các bên, hoặc được trao
đổi qua thư từ, điện tín, hoặc các hình thức liên lạc bằng điện toán khác, và trong
mối quan hệ giữa các quốc gia mà pháp luật không yêu cầu rằng một thoả thuận
trọng tài phải được lập thành văn bản, bất kỳ thỏa thuận trọng tài nào cũng phải
được ký kết theo đúng hình thức mà luật các nước này quy định”[7].
Như vậy, thỏa thuận trọng tài là sự thống nhất ý chí của các bên về việc giải
quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng bằng phương thức
trọng tài. Thỏa thuận này có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp và có
thể dưới hình thức một điều khoản trong hợp đồng hoặc một thỏa thuận trọng tài
riêng biệt.
1.2.2.1. Vấn đề hiệu lực của thỏa thuận trọng tài
Để một thỏa thuận trọng tài phát huy tác dụng thì trước tiên nó phải có hiệu
lực. Vấn đề ở đây là có hiệu lực về mặt nào? Và theo luật nào? Thuật ngữ “thỏa
thuận trọng tài” có thể đề cập tới hai loại thỏa thuận: Điều khoản trọng tài, được
đưa vào hợp đồng ký kết giữa các bên; và thỏa thuận đưa tranh chấp ra trọng tài giải
quyết, các bên có thể lập vào thời điểm tranh chấp phát sinh và trong trường hợp
các bên không quy định điều khoản trọng tài trong hợp đồng.
Hiệu lực của một thỏa thuận trọng tài rất quan trọng. Nhìn chung, các nguyên
tắc pháp lý được áp dụng để xác định hiệu lực của thỏa thuận trọng tài là những
nguyên tắc được sử dụng để xác định hiệu lực của một hợp đồng thương mại thông

13


thường, bởi thực tế thỏa thuận trọng tài thường dưới dạng một điều khoản trọng tài
và là một phần của hợp đồng thương mại. Thông thường, điều khoản trọng tài
thường được điều chỉnh bởi ch nh luật điều chỉnh những điều khoản còn lại của hợp
đồng và hiệu lực của điều khoản trọng tài sẽ được xem xét theo luật đó. Tuy nhiên,
có thể (mặc dù không phổ biến) điều khoản trọng tài được điều chỉnh bởi một luật
trong khi phần còn lại của hợp đồng được điều chỉnh bởi một luật khác.
Có một số đặc trưng riêng phân biệt thỏa thuận trọng tài với các loại thỏa
thuận khác. Những đặc trưng này liên quan tới năng lực, khả năng giải quyết bằng
trọng tài, hình thức và luật áp dụng. Khả năng giải quyết bằng trọng tài và năng lực
là hai đặc trưng ch nh của trọng tài có thể gây tranh cãi về hiệu lực của một thỏa
thuận trọng tài. Các yêu cầu về khả năng giải quyết bằng trọng tài và năng lực phải
được tuân thủ để thỏa thuận trọng tài có hiệu lực. Tuy nhiên, các đặc trưng này
được điều chỉnh bởi các luật áp dụng khác nhau. Vấn đề năng lực được xác định
theo luật “áp dụng cho một bên” trong khi vấn đề khả năng giải quyết bằng trọng tài
có thể xác định theo luật khác, kể cả “luật của nước nơi thi hành quyết định trọng
tài”.
- Phát sinh vấn đề “hiệu lực của điều khoản trọng tài” khi bắt đầu trọng tài
Vấn đề hiệu lực của một thỏa thuận trọng tài thường được một trong các bên
đề cập vào một giai đoạn nào đó trong quá trình tố tụng trọng tài. Khi bắt đầu tố
tụng trọng tài, một bên có thể yêu cầu khước từ đưa tranh chấp ra trọng tài giải
quyết với lý do thỏa thuận đó không có hiệu lực. Thông thường, bên bị đơn trong tố
tụng trọng tài sẽ là bên đưa ra khước từ. Sự khước từ có thể đưa ra hội đồng trọng
tài hoặc một tòa án có thẩm quyền.
Nếu các bên đã quy định trong hợp đồng sẽ giải quyết tranh chấp bằng trọng
tài quy chế, thì theo các quy tắc áp dụng cho tố tụng trọng tài, tổ chức trọng tài quy
chế có thể quyết định xem liệu có chấp thuận bắt đầu trọng tài trên cơ sở điều khoản
trọng tài trong hợp đồng không. Nói chung, quyết định này mang t nh chất hành
chính. Nếu một tổ chức trọng tài quy chế quyết định không bắt đầu trọng tài với lý

14


do không có điều khoản trọng tài hoặc điều khoản không đề cập tới tổ chức trọng tài
quy chế, bên không thỏa mãn có thể kiện ra một tòa án quốc gia tại nơi tổ chức
trọng tài quy chế có trụ sở.
Nếu hội đồng trọng tài quyết định là hợp đồng trong đó có điều khoản trọng
tài vô hiệu theo luật áp dụng, quyết định này không có nghĩa là điều khoản trọng tài
trong hợp đồng cũng vô hiệu. Nguyên tắc này, được coi như “t nh tách biệt” của các
điều khoản trọng tài và được công nhận rộng rãi trong luật trọng tài của nhiều quốc
gia.
- Phát sinh vấn đề “hiệu lực của điều khoản trọng tài” khi kết thúc trọng tài
Khi kết thúc tố tụng trọng tài, mọi vấn đề về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài
thường phát sinh trong bối cảnh: Bên thua kiện kiện ra tòa án quốc gia nhằm khước
từ quyết định và hủy quyết định; hoặc kiện chống lại việc công nhận và thi hành
quyết định trọng tài. Đặc biệt, bên thua kiện trong trọng tài sẽ cố gắng không thừa
nhận hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, trong khi bên thắng kiện sẽ cố gắng duy trì.
Nếu các bên không chọn luật áp dụng cho thỏa thuận trọng tài - trường hợp
thông thường - hiệu lực của thỏa thuận có thể phải xác định theo luật hợp đồng,
hoặc theo luật của nơi tiến hành trọng tài, hoặc luật của nơi thi hành quyết định
trọng tài. Cho dù một hội đồng trọng tài quyết định thỏa thuận trọng tài có hiệu lực
theo luật hợp đồng, vấn đề hiệu lực có thể bị tòa án quốc gia thẩm tra. Việc này sẽ
được tiến hành vào giai đoạn thi hành quyết định trọng tài theo luật của nơi thi hành
quyết định trọng tài. Hơn nữa, nếu một tòa án quốc gia ở nơi tiến hành trọng tài
nhận được đơn đề nghị hủy quyết định trọng tài sẽ thẩm tra hiệu lực của thỏa thuận
trọng tài theo luật của nơi tiến hành trọng tài[39, tr.129-130].
1.2.2.2. Khả năng giải quyết bằng trọng tài
Khả năng giải quyết bằng trọng tài được đáp ứng nghĩa là đối tượng tranh
chấp phải có thể giải quyết bằng trọng tài. Nếu đối tượng tranh chấp không thể giải
quyết bằng trọng tài, thỏa thuận trọng tài sẽ không có hiệu lực. Các quy tắc xác định
khả năng giải quyết bằng trọng tài có thể khác nhau giữa các nước, giữa các hệ

15


thống pháp luật. Các trọng tài viên nên xem xét sự khác biệt này khi quyết định một
vấn đề liên quan tới khả năng giải quyết bằng trọng tài[36].
Thực tế, khái niệm khả năng giải quyết bằng trọng tài là một sự giới hạn của
trật tự công cộng đối với phạm vi của phương pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng
tài. Theo trật tự công cộng của mình, mỗi quốc gia có thể quyết định vấn đề nào có
thể giải quyết bằng trọng tài. Tuy nhiên, vì phải xem xét cả trật tự công cộng của
nước nơi thi hành hoặc công nhận quyết định trọng tài - và vì đây có thể là bất cứ
nước nào trên thế giới nơi bên thua kiện có tài sản - các trọng tài viên thường phải
tập trung vào các vấn đề mà hầu hết các quốc gia cho rằng không thể giải quyết
bằng trọng tài. Đây thường là các tranh chấp về luật cạnh tranh và các vấn đề mất
lòng tin, quan hệ hôn nhân, phá sản và một số quyền sở hữu tr tuệ. Tuy nhiên, luật
án lệ trọng tài và học thuyết luật ở Châu Âu và Hoa Kỳ bắt đầu công nhận rằng
những vấn đề về luật cạnh tranh phát sinh từ hợp đồng quốc tế có thể giải quyết
bằng trọng tài - mặc dù có một số hạn chế nhất định.
Công ước New York về Công nhận và thi hành các quyết định trọng tài nước
ngoài năm 1958 (Công ước New York 1958) quy định tại Điều 12 là việc công nhận
và thi hành một quyết định trọng tài cũng có thể bị từ chối nếu cơ quan có thẩm
quyền tại quốc gia nơi được yêu cầu công nhận và thi hành cho rằng: Đối tượng của
vụ tranh chấp không thể giải quyết được bằng trọng tài theo luật của nước đó…
Hơn nữa, một quyết định trọng tài có thể bị bác nếu quyết định về một đối tượng
không thể giải quyết bằng trọng tài. Đơn đề nghị hủy quyết định trọng tài có thể dựa
trên lý do không có khả năng giải quyết bằng trọng tài, như quy định trong luật của
nhiều quốc gia và Điều 34(2) của Luật Mẫu UNCITRAL: Quyết định trọng tài có
thể bị hủy bởi tòa án được quy định tại Điều 6 nếu: tòa án nhận thấy, đối tượng của
tranh chấp không thể giải quyết bằng trọng tài theo luật của Quốc gia này;...[39,
tr.131].
1.2.2.3. Về năng lực, hình thức thỏa thuận trọng tài

16


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×