Tải bản đầy đủ

Hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại từ thực tiễn tòa án thành phố hải phòng

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
----------------------

LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN
TÒA ÁN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

NGUYỄN HOÀNG HẢI

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã ngành: 60 38 01 07

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN PHƯƠNG THẢO

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết

quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và
trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các
nghĩa vụ tài chính theo quy định của Viện Đại học Mở Hà Nội.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người cam đoan

Nguyễn Hoàng Hải


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm luận văn với những kiến thức đã được học, tham khảo
tài liệu và tình hình thực tế, cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn TS
Nguyễn Như Quỳnh, sự giúp đỡ, chỉ bảo của các thầy giáo, cô giáo tại Viện Đại
học Mở Hà Nội và các bạn bè đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành luận văn của mình.
Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tới thầy/cô giáo TS Trần Phương Thảo là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng
dẫn cho tôi cả chuyên môn và phương pháp nghiên cứu và chỉ bảo cho tôi nhiều
kinh nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo Viện Đại học Mở Hà Nội và
bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình hoàn
thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện
tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn.
Học viên

Nguyễn Hoàng Hải


MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT
LỜI NÓI ĐẦU ...............................................................................................1
CHƯƠNG 1; MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI TRONG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN .................7
1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của hòa giải tranh chấp thương
mại tại tòa án .............................................................................................7
1.1.1. Khái niệm ......................................................................................7


1.1.2. Đặc điểm .....................................................................................13
1.1.3. Ý nghĩa........................................................................................15
1.2. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển quy định về hòa giải
trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam ..............................................18
1.2.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989 .........................................18
1.2.2. Giai đoạn từ năm 1989 đến năm 2004 .........................................21
1.2.3. Giai đoan từ năm 2005 đến năm 2011 .........................................22
1.2.4 Giai đoạn từ năm 2011 đến nay ....................................................22
1.3. Hòa giải theo quy định của pháp luật một số nước trên thế giới ...24
1.3.1. Hòa giải theo pháp luật tố tụng dân sự Pháp ................................24
1.3.2. Hòa giải theo pháp luật tố tụng dân sự Nhật Bản .........................26
1.3.3. Hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự Trung Quốc ...................27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1............................................................................28


CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT
NAM HIỆN HÀNH VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI
TÒA ÁN ......................................................................................................29
2.1. Nguyên tắc tiến hành hòa giải vụ án thương mại ...........................30
2.1.1. Việc hòa giải tranh chấp thương mại của tòa án phải đảm bảo tôn
trọng sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không dùng vũ lực hoặc
đe dọa dùng vũ lực, bắt buộc các đương sự phải thỏa thuận không phù
hợp với ý chí của mình. .........................................................................30
2.1.2. Nội dung thỏa thuận không được vi phạm điều cấm của pháp luật,
trái với đạo đức xã hội...........................................................................32
2.2. Phạm vi hòa giải tranh chấp thương mại........................................33
2.2.1. Những vụ án không được hòa giải ...............................................33
2.2.2. Những vụ án thương mại không tiến hành hòa giải được.............36
2.2.3. Những vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn .......................39
2.3. Nội dung hòa giải tranh chấp thương mại ......................................40
2.4. Thành phần tiến hành và tham gia hòa giải tranh chấp thương mại ...40
2.4.1. Các chủ thể tiến hành hòa giải .....................................................40
2.4.2. Chủ thể tham gia hòa giải tranh chấp thương mại ........................41
2.5. Thủ tục hòa giải tranh chấp thương mại ........................................43
2.5.1. Chuẩn bị phiên hòa giải ...............................................................43
2.5.2. Tiến hành phiên hòa giải .............................................................43
2.5.3. Tòa án ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự 46
2.5.4. Giải quyết trường hợp hòa giải không thành hoặc không tiến hành
hòa giải được.........................................................................................47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2............................................................................48


CHƯƠNG 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI
TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP
NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HÒA GIẢI TRONG GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN .........................50
3.1. Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật tố tụng dân sự về hòa
giải tranh chấp thương mại tại tòa án....................................................50
3.1.1. Những kết quả đạt được ..............................................................50
3.1.2. Một số bất cập, hạn chế còn tồn tại ..............................................53
3.1.3. Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại .....................................54
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hòa giải trong giải quyết
tranh chấp thương mại tại tòa án...........................................................59
3.2.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về hòa giải tranh chấp thương mại
tại tòa án ...............................................................................................59
3.2.2. Các giải pháp khác ......................................................................61
KẾT LUẬN .................................................................................................66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................67


DANH MỤC VIẾT TẮT

STT

Ký hiệu

Nguyên nghĩa

1

BLDS

2

BLTTDS

3

LĐĐ

4

QSDĐ

: Quyền sử dụng đất

5

TAND

: Tòa án nhân dân

6

TANDTC

7

UBND

: Bộ luật dân sự
: Bộ luật tố tụng dân sự
: Luật đất đai

: Tòa án nhân dân tối cao
: Ủy ban nhân dân


LỜI NÓI ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay với nền kinh tế nhiều thành phần được quản lý theo cơ chế thị
trường, các nhà kinh doanh có nhiều mối quan hệ kinh tế, thương mại với
nhau. Khi thực hiện các mối quan hệ đó, các nhà kinh doanh thường hợp tác
chặt chẽ, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau để cùng tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, vì
nhiều lý do chủ quan và khách quan khác nhau, giữa các nhà kinh doanh cũng
có khi phát sinh mâu thuẫn về quyền lợi và tranh chấp về kinh tế, thương mại.
Nhà nước, xã hội, nhất là các doanh nghiệp luôn luôn có một nh cầu bức thiết
là phải giải quyết tranh chấp thương mại một cách nhanh chóng, thuận lợi, có
hiệu quả và không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không nhiều đến quá trình hoạt
động kinh doanh của mình. Từ nhu cầu của thực tiễn đó đã hình thành nhiều
phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại, như: tự thương lượng,
hòa giải, giải quyết theo thủ tục trọng tài, giải quyết theo thủ tục tư pháp.
Trong các phương thức này thì phương thức giải quyết tranh chấp bằng hòa
giải (hòa giải ngoài tố tụng cũng như hòa giải trong tố tụng) có nhiều ưu điểm
và được áp dụng phổ biến trên thế giới.
Ngày 25 tháng 11 năm 2015 Quốc hội khóa 13 đã ban hành BLTTDS
năm 2015 với những quy định đầy đủ và hoàn thiện hơn, trong đó chế định
hòa giải được sửa đổi, bổ sung để trở thành một phương thức hữu hiệu khi
thực hiện hòa giải trong giải quyết các tranh chấp thương mại. Bên cạnh đó,
với tầm nhìn của Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ
Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, nhà nước ta đã xác
định: “Khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương
lượng, hòa giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải
quyết đó”.

1


Chế định hòa giải có ý nghĩa nhiều mặt, vì nó không những góp phần
bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự đang có tranh chấp
thương mại, của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến tranh chấp
thương mại, mà còn bảo đảm cả lợi ích của Nhà nước và của xã hội. Hòa giải
thành có tác dụng làm cho các bên tranh chấp thương mại tự nguyện, tự giác
thi hành quyết định công nhận sự thỏa thuận của họ, tránh việc phải sử dụng
những biện pháp cưỡng chế của Nhà nước trong quá trình thi hành án dân sự,
đồng thời làm cho việc giải quyết tranh chấp thương mại không phải xử đi xử
lại nhiều lần, giảm bớt tốn kém về nhiều mặt của các bên. Kết quả của việc
tổng kết, đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật giải quyết tranh chấp thương
mại cho thấy hầu hết các Tòa Kinh tế từ khi được thành lập đến nay đã cô
gắng hoạt động một cách có hiệu quả. Tòa án ở các địa phương đã vận dụng
rộng rãi phương thức hòa giải vụ án dân sự nói chung, hòa giải các tranh chấp
thương mại nói riêng, từ đó giảm đáng kể số vụ tranh chấp phải đưa ra xét xử.
Tuy vậy, trong quá trình hòa giải tranh chấp thương mại, Tòa án ở
một số địa phương còn mắc phải những sai sót đáng tiếc về nội dung và
hình thức hòa giải. Do đó, một số quyết định công nhận hòa giải thành của
một số Tòa án đã bị Tòa án cấp trên hoặc Viện kiểm sát cấp trên kháng
nghị và bị sửa đổi hoặc bị hủy. Điều đó ảnh hưởng xấu đến việc bảo đảm
các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự cũng như làm giảm uy tín
của các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự. Với những thực tế trên thì việc
nghiên cứu một cách tổng quát, toàn diện về mặt lý luận cũng như thực tiễn
về hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án nhằm nâng
cao hiệu quả của công tác giải quyết các tranh chấp kinh tế, thương mại
không những mang tính thời sự đối với ngành Tòa án mà còn đáp ứng
những đòi hỏi cấp thiết của đời sống kinh tế - xã hội, góp phần hoàn thiện
hệ thống pháp luật tố tụng của Tòa án ở Việt Nam.

2


Nhận thức được vấn đề trên, em đã chọn đề tài: “Hòa giải trong giải
quyết tranh chấp thương mại từ thực tiễn tòa án thành phố Hải Phòng” là
đề tài tốt nghiệp thạc sĩ của mình. Qua quá trình nghiên cứu, em mong muốn
tìm hiểu sâu sắc hơn những quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam,
đặc biệt là những quy định mới trong BLTTDS năm 2015 về hòa giải trong
giải quyết tranh chấp thương mại, trên cơ sở đó tìm hiểu thực tiễn áp dụng các
quy định này, nhận định được những kết quả đạt được cũng như hạn chế, bất
cập, mạnh dạn đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện và những kiến nghị
khác nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động hòa giải tranh chấp thương mại.
2.Tình hình nghiên cứu đề tài
Hòa giải trong tố tụng dân sự nói chung và hòa giải trong giải quyết
tranh chấp thương mại nói riêng là vấn đề khá hấp dẫn đối với các nhà nghiên
cứu khoa học pháp lý. Đây không chỉ là một đề tài có tính pháp lý mà nó còn
là một đề tài có tính xã hội rất cao. Tuy có nhiều công trình nghiên cứu có
liên quan đến vấn đề này nhưng hầu như các nhà nghiên cứu mới chỉ nghiên
cứu về hòa giải vụ án dân sự nói chung chứ chưa nhiều nhà nghiên cứu đề cập
chuyên sâu đến hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án.
Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến ở đây là:
- Giáo trình Luật Kinh tế (2000) của Trường Đại học Luật Hà Nội;
- Giáo trình Luật Kinh tế Việt Nam (2001) của Khoa Luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội.
- Đề tài "Các phương pháp giải quyết tranh chấp kinh tế ở Việt Nam"
thuộc Dự án VIE/94/003 của Bộ Tư pháp;
- Một số luận văn tốt nghiệp bậc cử nhân hay luận văn tốt nghiệp thạc
sĩ của một số tác giả thực hiện trong thời gian gần đây mặc dù nghiên cứu về
hoạt động hòa giải vụ án dân sự nói chung chứ không nghiên cứu sâu về hoạt

3


động hòa giải tranh chấp thương mại nói riêng nhưng việc nghiên cứu được
tiến hành trên cơ sở các quy định của BLTTDS mới 2015 nên cũng có ý nghĩa
tham khảo như tác giả Đỗ Thị Bình năm 2016 nghiên cứu về “Hòa giải vụ án
dân sự và thực tiễn thực hiện”, tác giả Nguyễn Văn Đạt năm 2016 nghiên cứu
về “Thủ tục công nhận kết quả hòa giải thành ngoài tòa án trong tố tụng dân
sự, tác giả Ngô Thị Hà năm 2016 nghiên cứu về “Vấn đề công nhận sự thỏa
thuận của đương sự trong tố tụng dân sự”, tác giả Nguyễn Thị Huệ năm 2017
nghiên cứu về “Vấn đề hòa giải trong tố tụng dân sự Việt Nam” .
Nhìn chung các công trình nêu trên chủ yếu tiếp cận vấn đề hòa giải nói
chung hay hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án nói riêng
từ góc độ luật thực định nên chưa nghiên cứu chế định này một cách toàn diện,
đầy đủ và có hệ thống trên cơ sở giải quyết thực tiễn. Các công trình đó cũng
chưa có những đề xuất, kiến nghị một cách tổng thể, đầy đủ và cụ thể về việc
hoàn thiện chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự ở Việt Nam. Vì vậy,
vấn đề đặt ra là cần phải nghiên cứu chế định hòa giải trong thủ tục giải quyết
các tranh chấp thương mại tại Tòa án một cách toàn diện, đầy đủ, có hệ thống
cả về lý luận và thực tiễn, nhằm nâng cao hiệu quả của việc hòa giải, tránh để
xảy ra những sai lầm, thiếu sót trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế,
thương mại tại Tòa án và làm phong phú thêm lý luận về giải quyết tranh chấp
kinh tế tại Tòa án nói chung. Với mục tiêu nghiên cứu đó, việc thực hiện đề tài
này sẽ cố gắng tập trung vào những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể về hòa giải
trong giải quyết tranh chấp thương mại.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại có thể được nghiên
cứu dưới góc độ là một thủ tục tố tụng dân sự, một hoạt động tố tụng dân sự,
một chế định của pháp luật tố tụng dân sự. Trong phạm vi nghiên cứu của
luận văn tốt nghiệp, em xin nghiên cứu hòa giải tranh chấp thương mại chủ
4


yếu dưới góc độ là một chế định của pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn
thực hiện chế định này tại Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn trên được thực hiện với mục đích:
- Nhận diện được tranh chấp thương mại trong thực tiễn, hòa giải tranh
chấp thương mại trên thực tiễn, lý giải được tại sao cần phải hòa giải tranh
chấp thương mại, ý nghĩa của của hòa giải tranh chấp thương mại, làm rõ bản
chất của thủ tục hòa giải trong quá trình giải quyết các tranh chấp thương mại,
luận giải những cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng và hoàn thiện
pháp luật về hòa giải trong giải quyết các tranh chấp kinh tế, thương mại ở
nước ta.
- Nắm được một cách có hệ thống các quy định về hòa giải trong giải
quyết tranh chấp thương mại cũng như thực tiễn áp dụng các quy định này tại
các Tòa án nhân dân nói chung và tại tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng
nói riêng.
- Đề xuất được kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động hòa
giải tranh chấp thương mại tại tòa án
Để đạt được mục đích trên, luận án có những nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu để đưa ra khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của hòa giải tranh
chấp thương mại tại tòa án.
- Nêu và phân tích các quy định của pháp luật hiện hành về hòa giải
trong giải quyết các tranh chấp thương mại, đặc biệt là phân tích, làm sáng tỏ
các quy định mới của BLTTDS năm 2015 về hòa giải vụ việc dân sự nói
chung, hòa giải tranh chấp thương mại nói riêng, từ đó chỉ ra những điểm còn
bất cập, chưa hợp lý trong quy định của BLTTDS 2015.

5


- Nêu thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về hòa giải trong
giải quyết các tranh chấp thương mại đã thực hiện tại Tòa án nói chung, tại
tòa án thành phố Hải phòng nói riêng, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị
nhằm hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong việc giải quyết các tranh chấp
thương mại tại Tòa án.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở sử dụng phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lênin về phép duy vật biện chứng, tư tưởng Hồ Chí Minh về
nhà nước và pháp luật. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để
thực hiện đề tài gồm phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp, phương
pháp đối chiếu, so sánh, phương pháp thống kê, hệ thống hóa,...
6. Những đóng góp của luận văn
Luận văn sẽ góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về
hòa giải tranh chấp thương mại theo quy định của pháp luật hiện hành. Đồng
thời, luận văn cũng đề xuất những kiến nghị về hoàn thiện quy định của pháp
luật về hòa giải tranh chấp thương mại theo quy định của pháp luật.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài lời nói đầu và kết luận, luận văn được chia làm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hòa giải trong giải quyết tranh
chấp thương mại tại tòa án.
Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành
về hòa giải tranh chấp thương mại tại tòa án.
Chương 3: Thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành và
một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hòa giải trong giải quyết tranh
chấp thương mại tại tòa án Thành phố Hải Phòng.

6


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI TRONG GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TẠI TÒA ÁN

1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của hòa giải tranh chấp thương mại
tại tòa án
1.1.1. Khái niệm
Với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các quan hệ kinh doanh,
thương mại nhằm tìm kiếm lợi nhuận, sinh lời nảy sinh ngày càng đa dạng.
Xung đột về lợi ích từ các quan hệ kinh doanh, thương mại cũng từ đó ngày
càng nhiều và phức tạp. Có thể nói tranh chấp kinh doanh, thương mại là hệ
quả tất yếu của hoạt động kinh doanh, thương mại, là hiện tượng phổ biến và
thường xuyên diễn ra trong hoạt động của nền kinh tế thị trường. Trong hoạt
động kinh doanh, thương mại, các bên vừa hợp tác đồng thời vừa cạnh tranh
nhau để đạt được những lợi ích đề ra, vì thế việc phát sinh những mâu thuẫn,
bất đồng trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên là điều tất
yếu. Trong thời gian gần đây, thuật ngữ tranh chấp kinh doanh, thương mại
hay gọi ngắn gọn là tranh chấp thương mại đang dần thay thế thuật ngữ tranh
chấp kinh tế - một khái niệm quen thuộc của cơ chế kế hoạch hóa trước đây
tại Việt Nam.
Thuật ngữ "tranh chấp" nói chung được hiểu là sự bất đồng, mâu thuẫn
về quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên liên quan. Những bất đồng,
mâu thuẫn này phát sinh từ những quan hệ xã hội do ngành luật nào điều
chỉnh thì được gọi theo ngành luật đó và như vậy tranh chấp thương mại là
những xung đột, mâu thuẫn từ các quan hệ thương mại. Thuật ngữ “tranh
chấp thương mại” thì từ trước đến nay có thể có nhiều cách hiểu khác nhau,
tuy nhiên giữa chúng đều có một điểm tương đồng là tranh chấp thương mại
7


là những bất đồng, xung đột về lợi ích giữa các bên chủ thể trong quá trình
thực hiện các hoạt động thương mại.
So với các tranh chấp khác như tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình,
lao động thì tranh chấp thương mại có những đặc điểm khá khác biệt như
tranh chấp về thương mại phát sinh trực tiếp từ các quan hệ kinh doanh,
thương mại và luôn gắn liền với mục đích sinh lời. Chủ thể của các tranh chấp
thương mại là các chủ thể kinh doanh với nhau trong quan hệ kinh doanh,
thương mại khi họ tiến hành các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi như mua
bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối, đại diện, ký gửi, thuê và cho thuê,
đầu tư tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chuyển giao công nghệ… Căn cứ phát
sinh tranh chấp thương mại giữa các chủ thể này là hành vi vi phạm hợp đồng
thương mại hoặc vi phạm pháp luật thương mại. Các bên trong tranh chấp
thương mại thường là chủ thể kinh doanh có tư cách thương nhân có đăng ký
kinh doanh hoặc có tư cách của nhà kinh doanh. Thương nhân là chủ thể chủ
yếu của tranh chấp thương mại, ngoài ra trong những trường hợp nhất định,
các cá nhân, tổ chức khác (không phải là thương nhân) cũng có thể là chủ thể
của tranh chấp thương mại khi trong các giao dịch bên không có mục đích
sinh lợi chọn áp dụng luật thương mại. Khi có tranh chấp xảy ra thì việc giải
quyết tranh chấp thương mại là do các bên tranh chấp tự định đoạt. Tranh
chấp thương mại là tranh chấp mang yếu tố vật chất, thường có giá trị lớn và
mục đích của các bên tham gia tranh chấp đều hướng tới việc tìm kiếm lợi
nhuận. So với các tranh chấp khác, tranh chấp kinh doanh, thương mại thường
có mức độ gay gắt, tính chất phức tạp hơn, thậm chí tranh chấp thương mại
không được giải quyết kịp thời sẽ dẫn đến những tổn thất về mặt kinh tế
không chỉ cho các bên tranh chấp mà còn gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển
của nền kinh tế quốc gia. Tranh chấp thương mại rất đa dạng, bao gồm tranh
chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức

8


có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp về
quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau
và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên
công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty,
thành viên công ty, tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty;
tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn
hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ
phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập,
hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công
ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty.
Vì tranh chấp thương mại thường khá gay gắt và liên quan đến lợi ích
kinh tế không nhỏ, gắn liền với cơ hội thương mại nên đòi hỏi phải có những
phương thức giải quyết tranh chấp này một cách phù hợp và có có hiệu quả.
Yêu cầu đầu tiên của phương thức giải quyết tranh chấp thương mại là phải
giải quyết một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất, trên cơ sở tôn trọng quyền
thỏa thuận, định đoạt của mỗi bên. Một phương thức giải quyết tranh chấp
linh hoạt, thuận lợi, nhanh chóng, chính xác cùng với những đảm bảo về
quyền tự định đoạt, dân chủ và bình đẳng của các bên tranh chấp luôn là mục
tiêu hướng đến không chỉ của các bên tranh chấp mà còn là mục tiêu của cơ
quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Một phương thức giải
quyết tranh chấp thương mại hiệu quả còn có ý nghĩa góp phần đảm bảo
quyền và nghĩa vụ của các bên cũng như sự phát triển lành mạnh của nền kinh
tế thị trường hiện nay.
Tranh chấp thương mại có thể được giải quyết bằng nhiều phương thức
khác nhau như các bên tự thỏa thuận, hòa giải thông qua bên thứ ba, giải
quyết tại trọng tại thương mại hoặc giải quyết tại Tòa án. Mỗi phương thưc
giải quyết đều có những ưu điểm riêng song thực tiễn cho thấy phương thức

9


giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án được một hoặc các bên tranh
chấp lựa chọn, áp dụng ngày càng nhiều. So với các phương thức giải quyết
khác, phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án
có những đặc điểm riêng như là hình thức giải quyết thông qua hoạt động của
cơ quan tài phán có thẩm quyền của nhà nước, được nhân danh quyền lực nhà
nước để đưa ra các phán quyết buộc các bên phải chấp hành, phán quyết đó
được bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước. Việc giải quyết các
tranh chấp thương mại tại tòa án phải tuân theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ
do pháp luật quy định và đặc biệt là phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản
của pháp luật tố tụng dân sự. Trình tự các thủ tục giải quyết tranh chấp
thương mại tại tòa án cũng bao gồm các bước trong quy trình giải quyết vụ án
dân sự nói chung, tức là cũng bao gồm các bước khởi kiện, thụ lý, chuẩn bị
xét xử, hòa giải trước khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, xét xử sơ thẩm…
Trong các thủ tục cần phải được tiến hành này thì hòa giải tranh chấp thương
mại do tòa án tiến hành trước khi đưa vụ án ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm là
thủ tục bắt buộc phải thực hiện với hầu hết các vụ án kinh doanh, thương mại.
Hòa giải tranh chấp thương mại nói riêng hay hòa giải vụ án dân sự
trong tố tụng dân sự nói chung có thể nhìn nhận dưới hai góc độ: Một là, hòa
giải là một chế định pháp lý, hai là, hòa giải là hoạt động tố tụng do Tòa án
tiến hành. Theo đó, hòa giải vừa là một nguyên tắc cơ bản của việc giải quyết
vụ án thương mại theo thủ tục tố tụng dân sự, vừa là chế định quan trọng của
pháp luật tố tụng dân sự. Để tìm hiểu hòa giải vụ án dân sự trong tố tụng dân
sự nói chung để trên cơ sở đó hiểu về hòa giải tranh chấp thương mại trong tố
tụng dân sự nói riêng thì trước tiên ta tìm hiểu về thuật ngữ “hòa giải”.
Theo từ điển Tiếng Việt: “Hòa giải là thuyết phục các bên đồng ý
chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa” [21 tr.430], còn theo Từ
điển Luật học: "Hòa giải là sự can thiệp, sự làm trung gian hòa giải, hành vi

10


của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục
hoặc dàn xếp hoặc giải quyết tranh chấp giữa họ. Việc giải quyết tranh chấp
được thực hiện thông qua người trung gian hòa giải”.
Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất thì hòa giải là một phương thức
giải quyết tranh chấp giữa các bên thông qua sự tác động, giúp đỡ của chủ thể
thứ ba đóng vai trò trung gian để các bên tranh chấp tự nguyện chấm dứt
tranh chấp bằng thỏa thuận. Hòa giải khác với tự thỏa thuận ở chỗ nếu tự thỏa
thuận chỉ có hai bên tranh chấp thương lượng, thỏa thuận với nhau về việc
chấm dứt mâu thuẫn, tranh chấp thì hòa giải phải có ba bên trong đó có bên
thứ ba đứng ra làm trung gian giúp đỡ hai bên tranh chấp thỏa thuận với nhau.
Trên cơ sở hiểu chung nhất về hòa giải như vậy thì hòa giải tranh chấp thương
mại sẽ được hiểu là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại trong
đó bên thứ ba làm trung gian giúp đỡ hai bên tranh chấp thương mại tự
nguyện thỏa thuận về việc chấm dứt tranh chấp thương mại.
Trong quy trình tố tụng dân sự giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án
nhân dân, hòa giải là một thủ tục trong các hoạt động tố tụng tại tòa. Hòa giải
tranh chấp thương mại do Tòa án tiến hành, cụ thể hơn là do Thẩm phán được
Chánh án phân công phụ trách giải quyết vụ án tiến hành để giúp các bên đương
sự giải quyết tranh chấp thương mại. Hoạt động hòa giải này phải được tiến hành
phù hợp với nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết và tự thỏa thuận của các bên
đương sự trong giao lưu. Hòa giải tranh chấp thương mại do Thẩm phán tiến
hành nhưng vẫn trên cơ sở quyền tự định đoạt của các bên tranh chấp thương
mại khi tham gia tố tụng dân sự tại tòa án. Hòa giải tranh chấp thương mại là
một nguyên tắc của việc giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án đã được ghi
nhận tại Điều 10 của BLTTDS năm 2015: “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa
giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải
quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”.

11


Tranh chấp thương mại khi được mang đến tòa án yêu cầu tòa án giải
quyết thì sẽ trở thành vụ án thương mại nên trong việc hòa giải vụ án dân sự
nói chung, hòa giải vụ án thương mại nói riêng, Tòa án đóng vai trò là trung
gian hòa giải, giúp đỡ các bên đương sự thỏa thuận giải quyết vụ án thương
mại. Điều này có nghĩa, hòa giải trước hết vẫn là sự tự nguyện thỏa thuận và
thương lượng giữa các đương sự về việc giải quyết vụ án thương mại nhưng
có sự giúp đỡ của Tòa án (cụ thể là Thẩm phán) nhằm hướng sự thỏa thuận và
thương lượng giữa các đương sự đúng pháp luật. Trong quá trình giải quyết
vụ án thương mại tại tòa án, hòa giải là một thủ tục đặc trưng và mang tính
bắt buộc trước khi mở phiên tòa sơ thẩm đối với hầu hết các vụ án thương
mại, trừ những vụ án vụ án mà pháp luật quy định không được hòa giải hoặc
không tiến hành hòa giải được. Khi tiến hành hòa giải vụ án thương mại, Tòa
án thực hiện theo một trình tự và thủ tục nhất định, Tòa án giải thích pháp luật
giúp các bên hiểu rõ quyền, nghĩa vụ của mình trong quan hệ tranh chấp nhằm
mục đích hướng các đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về giải quyết
tranh chấp giữa họ. Như vậy: Dưới góc độ là một hoạt động tố tụng, hòa giải
tranh chấp thương mại là hoạt động do Tòa án tiến hành nhằm giúp đỡ các
bên đương sự hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, hưởng dẫn, động viên các
đương sự tự nguyện thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án thương mại
và đi đến kết quả giải quyết vụ án một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất.
Dưới góc độ pháp lý, hòa giải được nhìn nhận là một chế định pháp
luật, bao gồm tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội
phát sinh trong quá trình tòa án hòa giải vụ ánthương mại. Theo chế định này,
hòa giải là một nguyên tắc, một thủ tục bắt buộc trong quy trình giải quyết vụ
án thương mại do Tòa án tiến hành giúp đỡ các đương sự tự nguyện thỏa
thuận với nhau về việc giải quyết vụ án phù hợp với quy định của pháp luật và
đạo đức xã hội. Các vấn đề liên quan đến hòa giải được pháp luật tố tụng dân

12


sự quy định bao gồm: Nguyên tắc hòa giải, chủ thể hòa giải, phạm vi hòa giải
và thủ tục tiến hành hòa giải.
1.1.2. Đặc điểm
Trên cơ sở những đặc điểm của hòa giải vụ án dân sự nói chung, hòa
giải tranh chấp thương mại tại tòa án, hay nói cách khác là hòa giải vụ án
thương mại nói riêng thể hiện những đặc điểm sau:
- Hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án là phương
thức hòa giải trong tố tụng dân sự, do vậy hòa giải tranh chấp thương mại
cũng là một hoạt động tố tụng được tiến hành theo trình tự thủ tục do pháp
luật tố tụng dân sự quy định
Trên cơ sở pháp luật tố tụng dân sự quy định thì tại khoản 1 Điều 205
BLTTDS năm 2015 ghi: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Tòa
án tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết
vụ án, trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải
được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được
giải quyết theo thủ tục rút gọn”. Hòa giải là một hoạt động mà Tòa án phải
tiến hành trong quá trình giải quyết vụ án thương mại. Ở bất kỳ thời điểm nào,
giai đoạn tố tụng nào, Tòa án cũng có trách nhiệm khuyến khích các đương sự
thỏa thuận, điều đó thể hiện ở:
Thứ nhất, việc hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án thương
mại là một thủ tục tố tụng bắt buộc do Tòa án tiến hành trừ trường hợp không
tiến hành hòa giải được hoặc vụ án không được hòa giải. Trước khi mở phiên
tòa xét xử sơ thẩm vụ án thương mại mà không hòa giải là vi phạm nghiêm
trọng thủ tục tố tụng dân sự.
Thứ hai, pháp luật khuyến khích các đương sự tự thỏa thuận ở các giai
đoạn tiếp theo. Tòa án khuyến khích các đương sự thỏa thuận trong các giai

13


đoạn tố tụng khác bằng việc luôn công nhận sự thỏa thuận của các đương sự ở
bất kỳ thời điểm nào, nếu những thỏa thuận đó là tự nguyện, không vi phạm
điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội. Ngoài ra, việc khuyến khích hòa
giải này còn thể hiện rất rõ ràng trong phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm. Tại
phiên tòa sơ thẩm, nếu các đương sự tự thỏa thuận được với nhau, Tòa án ra
quyết định công nhận sự thỏa thuận, quyết định này có hiệu lực pháp luật
ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục
phúc thẩm và chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn
cứ cho rằng sự thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép
hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội. Tại phiên tòa phúc thẩm,
nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Tòa
án ra bản án sửa đổi bản án sơ thẩm theo hướng công nhận sự thỏa thuận của
các đương sự. Sở dĩ, Tòa án không bắt buộc phải tiến hành phiên hòa giải ở
các giai đoạn tố tụng tiếp theo để tránh việc lạm dụng hòa giải để kéo dài thời
gian giải quyết vụ án trong khi vụ án không có khả năng hòa giải thành.
- Trong hòa giải tranh chấp thương mại tại tòa án thì tòa án chỉ là chủ
thể trung gian tiến hành hòa giải, không phải là một chủ thể có quyền thỏa
thuận với các đương sự về việc giải quyết vụ án
Khác với các loại hòa giải khác (như hòa giải tại cơ sở do Hòa giải
viên cơ sở tiến hành, hòa giải tiền tố tụng tại Ủy ban nhân dân do Ủy ban
nhân dân tiến hành), hòa giải trong tố tụng dân sự nói chung, hòa giải vụ án
thương mại nói riêng do Tòa án là cơ quan duy nhất tiến hành. Tòa án tiến
hành hòa giải với vai trò chủ thể trung gian giúp đỡ các bên tranh chấp
thương mại trong suốt quá trình giải quyết vụ việc để các bên đạt được thỏa
thuận, đồng thời đảm bảo tính pháp lý của hòa giải. Tòa án có nhiệm vụ tổ
chức cho các bên đương sự gặp nhau để thương lượng, thỏa thuận về quyền
lợi của họ. Khi hòa giải, Tòa án phải giải thích pháp luật liên quan đến các

14


quan hệ tranh chấp, chính sách nhà nước, định hướng và khuyến khích các
đương sự hòa giải đảm bảo đúng quy định pháp luật.
- Kết quả của hòa giải tranh chấp thương mại tại tòa án là sự thỏa
thuận của các bên tranh chấp thương mại về việc giải quyết các vấn đề của
vụ án thương mại.
Các đương sự là các bên trong tranh chấp thương mại thỏa thuận với
nhau về việc giải quyết tranh chấp thương mại trên tinh thần tự nguyện, trung
thực, không bị bất kỳ một sự cưỡng ép hay can thiệp nào khác. Chỉ đương sự
là các bên trong tranh chấp thương mại mới có quyền quyết định về việc giải
quyết quyền và lợi ích của họ trong quá trình hòa giải. Có thể nói đây là điểm
đặc thù nhất của hòa giải tại Tòa án và cũng là điểm khác biệt giữa hòa giải và
xét xử vì khi xét xử, Tòa án ra phán quyết buộc các đương sự phải tuân thủ
nghiêm chỉnh. Như vậy, nếu không đảm bảo nguyên tắc các bên tự thỏa thuận
và quyết định về việc hòa giải vụ việc của mình, mà có bên bị nhầm lẫn, đe
dọa, cưỡng ép thỏa thuận, tức là hoạt động hòa giải tại tòa án đã bị vi phạm
nghiêm trọng thủ tục tố tụng, sẽ là căn cứ để bị Viện kiểm sát kháng nghị đề
nghị hủy quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
1.1.3. Ý nghĩa
Hòa giải trong tố tụng dân sự nói chung, hòa giải trong giải quyết tranh
chấp thương mại nói riêng không chỉ có ý nghĩa đối với Tòa án, với các bên
đang có tranh chấp mà còn có ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế, xã hội.
Đối với Tòa án
Trong trường hợp hòa giải thành vụ án thương mại, Tòa án sẽ giảm bớt
được nhiều thời gian, công sức cho việc giải quyết vụ án thương mại, đồng
thời giúp giải quyết nhanh chóng có hiệu quả vụ án thương mại. Bởi, giải
quyết vụ án thương mại là một quá trình kéo dài qua các thủ tục tố tụng nối

15


tiếp nhau theo quy định của BLTTDS 2015. Mỗi thủ tục tố tụng được quy
định một thời hạn riêng nhất định và phải trải qua một thời gian người tiến
hành tố tụng, người tham gia tố tụng mới có thể hoàn thành. Hòa giải là một
thủ tục tố tụng dân sự nằm trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án
thương mại. Nếu hòa giải thành, Tòa án sẽ giảm bớt được nhiều thời gian,
công sức cho việc giải quyết vụ án. Đặc biệt, nếu hòa giải thành trong thời
gian chuẩn bị xét xử thì Tòa án sẽ không phải mở phiên tòa sơ thẩm và không
phải tiến hành các thủ tục xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm tiếp
theo. Mặt khác, nếu làm tốt công tác hòa giải thì không chỉ số lượng xét xử
của Tòa án cấp sơ thẩm giảm xuống mà số lượng ở Tòa án cấp phúc thẩm
cũng giảm một cách rõ rệt từ đó giảm bớt gánh nặng xét xử và nâng cao hiệu
quả xét xử. Điều này không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà còn có ý nghĩa
rất quan trọng trong việc tăng cường uy tín của cơ quan xét xử nói riêng cũng
như cơ quan nhà nước nói chung.
Ngay cả trong trường hợp hòa giải vụ án thương mại không thành, việc
tiến hành hòa giải vụ án thưpưng mại cũng sẽ giúp Tòa án có điều kiện tìm
hiểu sâu hơn nội dung tranh chấp, hiểu biết rõ hơn tâm tư, nguyện vọng cũng
như các vướng mắc của các đương sự để từ đó có thể xác định phương hướng
giải quyết vụ án thương mại được đúng đắn hơn khi đưa vụ án ra xét xử. Qua
đó, đảm bảo bản án, quyết định của Tòa án được ban hành và thi hành nhanh
chóng, có hiệu quả.
Đối với các đương sự
Hòa giải vụ án thương mại sẽ đảm bảo tối đa quyền tự định đoạt của
các bên trong tranh chấp thương mại, đồng thời giúp tiết kiệm thời gian, công
sức, tiền bạc và góp phần giữ mối quan hệ tốt đẹp giữa các bên.
Có thể hiểu, hòa giải tranh chấp thương mại bắt nguồn từ sự giao lưu
dân sự theo nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết và tự thỏa thuận của các bên
16


đương sự. Hòa giải thể hiện quyền tự định đoạt của các bên khi tham gia tố
tụng dân sự. Việc BLTTDS 2015 quy định hòa giải là một trong những
nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự và quy định Tòa án có trách nhiệm tiến
hành hòa giải, tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về
việc giải quyết vụ án thương mại là nhằm bảo đảm tối đa quyền tự định đoạt
của đương sự trong quá trình giải quyết. Tòa án với vai trò là trung gian hòa
giải không can thiệp vào nội dung giải quyết vụ án của các đương sự. Các
đương sự tự quyết định toàn bộ các vấn đề của vụ án thương mại.
Cũng như đối với Tòa án, hòa giải thành sẽ giúp các đương sự tránh
phải kéo dài vụ việc qua các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, tái thẩm hoặc
giám đốc thẩm từ đó tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc cho các bên tranh
chấp thương mại. Ngay cả với trường hợp hòa giải không thành, thì việc các
bên cùng ngồi lại bày tỏ ý chí của mình, cùng thương lượng sẽ giúp các
đương sự hiểu rõ nguyên nhân, chi tiết vụ việc, để làm căn cứ giải quyết cho
các giai đoạn tố tụng tiếp theo.
Ngoài ra, hòa giải giúp các đương sự hiểu biết và thông cảm với nhau,
góp phần khôi phục lại tình đoàn kết, mối quan hệ tốt đẹp giữa họ, giúp họ
giải quyết tranh chấp với tinh thần cởi mở, giảm bớt mâu thuẫn, ngăn ngừa
phát sinh tội phạm có nguồn gốc từ tranh chấp.
Đối với kinh tế - xã hội
Thông qua hòa giải, nhiều tranh chấp thương mại đã được giải quyết mà
tòa án không cần phải mở phiên tòa xét xử. Trong trường hợp hòa giải không
thành thì cũng giúp các bên đương sự là các bên trong tranh chấp thương mại
hiểu rõ hơn về nguyên nhân dẫn đến tranh chấp và giúp kiềm chế mâu thuẫn.
Như vậy, hòa giải góp phần vào việc giữ gìn an ninh trật tự, công bằng xã hội,
làm cho mối quan hệ xã hội phát triển không phải bằng mệnh lệnh mà bằng giáo
dục thuyết phục và sự cảm thông của các thành viên trong xã hội.
17


Mặt khác, hòa giải làm cho sự hiểu biết chính sách pháp luật của các
đương sự nói riêng và của người dân nói chung được nâng cao. Qua đó, góp
phần tăng cường ý thức pháp luật trong nhân dân.
1.2. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển quy định về hòa giải
trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam
Là một bộ phận quan trọng, đặc trưng của pháp luật tố tụng dân sự, chế
định hòa giải được hình thành trên cơ sở kinh tế - xã hội của từng giai đoạn
lịch sử và chịu tác động sâu sắc của các yếu tố kinh tế, chính tộ, văn hóa xã
hội đương thời. Quá trình hình thành và phát triển của chế định hòa giải trong
tố tụng dân sự mang tính liên tục, kế thừa và phát triển nhằm đáp ứng với yêu
cầu của cuộc sống hiện đại. Chế định hòa giải đã xuất hiện trong hệ thống cổ
luật Việt Nam từ thời Lý - Trần - Lê... Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn, em
xin chỉ tập trung nghiên cứu chế định hòa giải trong pháp luật tố tụng dân sự
Việt Nam giai đoạn từ những năm 1945 đến nay.
1.2.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989
Trong thời kỳ này, chúng ta chưa thể xây dựng ngay được các văn bản
pháp luật mới nên sắc lệnh ngày 10/10/1945 quy định: Cho đến khi xây dựng
được bộ luật mới thì những luật lệ cũ vẫn tạm thời được sử dụng nếu không trái
với nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể cộng hòa. Như vậy,
trong giai đoạn này, vấn đề hòa giải vẫn được áp dụng theo các quy định của chế
độ cũ. Văn bản pháp luật đầu tiên quy định về hòa giải là sắc lệnh số 13 ngày
21/1/1946 về tổ chức Tòa án, trong đó quy định “Ban Tư pháp xã có quyền hòa
giải tất cả các việc kiện dân sự và thương mại Nếu hòa giải được Ban tư pháp
xã có thể lập biên bản hòa giải có các ủy viên và những đương sự ký”.
Điều 4 Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 quy định biên bản hòa giải
thành chỉ có hiệu lực từ chứng thư. Tại điều 12 sắc lệnh số 51/SL quy định

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×