Tải bản đầy đủ

Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại ở việt nam

TRN LAN HNG

B GIO DC V O TO
VIN I HC M H NI

LUN VN THC S
CHUYấN NGNH: LUT KINH T

LUT KINH T

GIảI QUYếT TRANH CHấP THƯƠNG MạI
BằNG TRọNG TàI THƯƠNG MạI ở VIệT
NAM

TRN LAN HNG

2015 - 2017

H NI - 2017



B GIO DC V O TO
VIN I HC M H NI

LUN VN THC S

GIảI QUYếT TRANH CHấP THƯƠNG MạI
BằNG TRọNG TàI THƯƠNG MạI ở VIệT
NAM
TRN LAN HNG
Chuyờn ngnh : Lut kinh t
Mó s

: 60 38 01 07

Ngi hng dn khoa hc: TS. DNG QUNH HOA


HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các
số liệu, ví dụ, trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy, trung thực.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Lan Hương


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, học viên đã nhận được sự giúp đỡ tận tình
của các thầy, cô giáo và sự quan tâm giúp đỡ của các cơ quan, các đồng nghiệp
và gia đình. Nhân dịp này học viên xin được bày tỏ lòng biết ơn tới các tổ chức
và các cá nhân dưới đây:
- Học viên xin chân thành biết ơn Ban Giám hiệu nhà trường; Ban Chủ
nhiệm khoa Sau đại học - Viện Đại học Mở Hà Nội.
- Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Cô giáo Tiến sĩ Dương Quỳnh Hoa.
- Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Bộ, Cục Thống kê - Bộ Tư Pháp.
- Xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc; Lãnh đạo Phòng đào tạo Học
viện Tư pháp - Bộ Tư pháp.


- Xin cảm ơn đến các thầy cô giáo, anh chị em đồng nghiệp và gia đình
đã giúp tôi hoàn thành luận văn này..
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Lan Hương


MỤC LỤC
Trang
1

MỞ ĐẦU

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIẢI QUYẾT TRANH

7

CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

1.1.

Khái niệm giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài

7

thương mại
1.1.1. Khái niệm tranh chấp thương mại

7

1.1.2. Khái niệm giải quyết tranh chấp thương mại

9

1.2.

Khái niệm, đặc điểm của Trọng tài thương mại

11

1.2.1. Khái niệm Trọng tài thương mại

11

1.2.2. Đặc điểm của Trọng tài thương mại

12

1.3.

Các hình thức Trọng tài thương mại

14

1.4.

Ưu điểm của Trọng tài thương mại trong giải quyết tranh chấp

16

thương mại
1.5.

Nội dung pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng

20

Trọng tài thương mại
1.5.1

Khung pháp lý hình thành phương thức giải quyết tranh chấp

20

thương mại bằng Trọng tài thương mại
1.5.2. Khung pháp lý áp dụng để giải quyết nội dụng tranh chấp

21

thương mại bằng trọng tài
1.6

Các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết tranh chấp thương mại

21

bằng Trọng tài thương mại
1.6.1

Hệ thống quy phạm pháp luật

21

1.6.2

Chất lượng đội ngũ trọng tài viên

22

1.6.3. Mối quan hệ phối hợp giữa trọng tài và Tòa án

23

1.6.4. Trình độ, ý thức pháp luật của chủ thể tranh chấp thương mại

24


Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP

26

LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI BẰNG
TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

2.1.

Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng

26

Trọng tài thương mại ở Việt Nam
2.1.1. Quá trình phát triển của pháp luật về giải quyết tranh chấp

26

thương mại bằng Trọng tài thương mại ở Việt Nam
2.1.2. Giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại

36

theo Luật Trọng tài thương mại năm 2010
2.2.

Thực tiễn áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại

40

bằng Trọng tài thương mại ở Việt Nam
2.2.1. Một số kết quả đạt được trong giải quyết tranh chấp thương mại

40

bằng Trọng tài thương mại
2.2.2. Một số tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

44

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ

51

NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG
MẠI BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM

3.1.

Phương hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết

51

tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại ở Việt Nam
3.2.

Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết

53

tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại ở Việt Nam
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng

53

Trọng tài thương mại ở Việt Nam
3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp thương mại

56

bằng Trọng tài thương mại ở Việt Nam
KẾT LUẬN

65

TÀI LIỆU THAM KHẢO

67


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong đời sống xã hội, pháp luật là cơ sở, khung pháp lý cho các cá
nhân, tổ chức thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia các
quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh. Tuy nhiên, trong thực tế không phải
mọi cá nhân, tổ chức đều tuân thủ pháp luật mà vẫn có nhiều trường hợp cá
nhân, tổ chức vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cá
nhân, tổ chức khác làm phát sinh tranh chấp phải giải quyết bằng các thiết chế có
thẩm quyền. Các tranh chấp có thể phát sinh trong nhiều lĩnh vực khác nhau
(như: tranh chấp dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, tài chính, bảo
hiểm…) và tùy thuộc vào tính chất của tranh chấp mà pháp luật quy định cơ chế
giải quyết tranh chấp tương ứng. Riêng đối với hoạt động thương mại, do tính
chất của hoạt động này không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn ở phạm vi
quốc tế nên các tranh chấp thương mại phát sinh được giải quyết theo nhiều
phương thức khác nhau tùy thuộc vào pháp luật của mỗi quốc gia và những cam
kết, thông lệ quốc tế, trong đó có các phương thức cơ bản như: thương lượng,
hòa giải, tòa án hay Trọng tài thương mại.
Ở Việt Nam, trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường và hội nhập
quốc tế, cùng với sự phát triển, mở rộng giao lưu thương mại thì các tranh chấp
trong lĩnh vực này cũng tất yếu phát sinh và ngày càng đa dạng, phức tạp. Bởi
vậy, cùng với sự phát triển của các tổ chức trọng tài trên thế giới, các tổ chức
trọng tài ở nước ta đã được hình thành và từng bước phát triển lớn mạnh nhằm
đáp ứng nhu cầu giải quyết tranh chấp thương mại một cách linh hoạt, nhanh
chóng, nhất là từ khi nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế
thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Thực tế cũng cho thấy rằng cơ chế giải
quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài trong những năm qua ở nước ta đã
đạt được những kết quả tích cực, cụ thể như: thể chế về Trọng tài thương mại

1


không ngừng được hoàn thiện; số lượng các tranh chấp thương mại được đưa ra
giải quyết tại các Trung tâm trọng tài tăng lên; nhiều vụ việc tranh chấp có yếu
tố nước ngoài đã được giải quyết nhanh chóng, minh bạch… Tuy nhiên, Trọng
tài thương mại là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp thương
mại mới hình thành và phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta, do đó, hiểu biết và nhận thức của các cá nhân, cơ quan, tổ
chức, đặc biệt là cộng đồng doanh nghiệp về phương thức giải quyết bằng Trọng
tài thương mại vẫn còn hạn chế; Trọng tài thương mại chưa trở thành một hình
thức giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án được ưa chuộng, thậm chí là chưa có
niềm tin vào vai trò của trọng tài và khả năng thực thi các phán quyết của trọng
tài trong thực tế… Nguyên nhân của thực tế trên là thể chế về tổ chức, hoạt động
trọng tài mặc dù đã từng bước được hoàn thiện nhưng chưa đồng bộ, thống nhất
với các quy định pháp luật có liên quan; chưa có cơ chế hữu hiệu để giám sát
việc hủy phán quyết trọng tài của cơ quan tòa án… Vì vậy, làm thế nào để phát
huy được tính ưu việt của cơ chế giải quyết tranh chấp bằng trọng tài trong giải
quyết các tranh chấp thương mại để giảm gánh nặng xét xử cho Tòa án hiện nay
đang là vấn đề quan tâm của các cơ quan có thẩm quyền và các chủ thể trong
hoạt động thương mại. Từ đó, tác giả chọn đề tài "Giải quyết tranh chấp thương
mại bằng Trọng tài thương mại ở Việt Nam" có ý nghĩa cấp thiết cả về mặt lý
luận và thực tiễn, góp phần hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả giải quyết
tranh chấp thương mại ở nước ta hiện nay.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương
mại đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố ở các góc độ khác nhau. Có
thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau đây:
- "Giải quyết tranh chấp công ty theo thủ tục tư pháp - Những vấn đề lý
luận và thực tiễn" của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh, Luận văn thạc sĩ Luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội (2006).

2


- Sự hỗ trợ của cơ quan Tư pháp đối với hoạt động của Trọng tài thương
mại" của tác giả Nguyễn Thị Yến, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học
Luật Hà Nội (2005).
- "Hoàn thiện pháp luật về Trọng tài thương mại của Việt Nam trong
điều kiện hội nhập quốc tế" của tác giả Nguyễn Đình Thơ, Luận án tiến sĩ Luật
học, Trường Đại học Luật Hà Nội (2007).
- "Giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế bằng trọng tài ở Việt Nam
trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế" của tác giả Trần Minh Ngọc, Luận án
tiến sĩ Luật học (2009).
- "Thực trạng về tổ chức và hoạt động trọng tài ở Việt Nam và định
hướng phát triển" của tác giả Nguyễn Thị Minh đăng trên Tạp chí Dân chủ và
pháp luật, số chuyên đề Pháp luật về Trọng tài thương mại (2010), tr. 84.
- "Pháp luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp
nước ngoài bằng trọng tài ở Việt Nam" của tác giả Phan Hồng Nguyên, Luận
văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2012).
- "Pháp luật về thi hành phán quyết Trọng tài thương mại ở Việt Nam Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn" của tác giả Phan Thiết Hải, Luận văn thạc
sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội (2014).
- "Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài: Thực tiễn tại Việt
Nam" của tác giả Trần Thị Lan Hương đăng trên Tạp chí Tài chính, số 4 (2014).
- "Giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức trọng tài ở Việt
Nam thời gian qua" của tác giả Phan Hồng Nguyên đăng trên Tạp chí Dân chủ
và pháp luật (http://tcdcpl.moj.gov.vn).
Ngoài ra, một số công trình, bài viết nêu trên còn có những công trình
nghiên cứu được đăng trên các tạp chí, các trang web… có liên quan đến giải
quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài. Tuy nhiên, trên cơ sở các kết quả
nghiên cứu đã có, việc nghiên cứu đề tài này sẽ nhận diện, đánh giá tương đối
toàn diện việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại ở cả
góc độ thể chế và thực tiễn với những đặc thù ở nước ta để từ đó đưa ra các giải

3


pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp thương mại
bằng cơ chế trọng tài ở nước ta hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận
về giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại; đánh giá thực
trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về giải quyết tranh chấp thương
mại bằng Trọng tài thương mại ở Việt Nam và đề xuất phương hướng, giải pháp
hoàn thiện pháp luật và bảo đảm hiệu quả giải quyết tranh chấp thương mại bằng
Trọng tài thương mại ở nước ta.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có một số nhiệm vụ sau:
- Phân tích để làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về quyết tranh chấp
thương mại bằng Trọng tài thương mại, bao gồm các vấn đề như: khái niệm,
đặc điểm, vai trò của Trọng tài thương mại trong việc giải quyết các tranh
chấp; ưu thế của Trọng tài thương mại so với các phương thức giải quyết
tranh chấp khác.
- Nghiên cứu lịch sử phát triển của pháp luật về giải quyết tranh chấp
thương mại bằng trọng tài ở nước ta.
- Đánh giá đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật
về giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại ở Việt Nam.
- Xác định các phương hướng và đề ra một số giải pháp hoàn thiện pháp
luật, nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương
mại ở Việt Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là pháp luật giải quyết tranh chấp
thương mại bằng Trọng tài thương mại ở Việt Nam.

4


4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn thạc sĩ Luật học, tác giả tập trung nghiên
cứu thực trạng giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại ở
Việt Nam theo Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và các văn bản hướng dẫn
thi hành.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương
pháp nghiên cứu truyền thống là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử. Đồng thời, luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ
bản như: hệ thống hóa, phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê, tổng kết thực tiễn.
Cụ thể như:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng xuyên suốt trong các
chương, mục của luận văn để phân tích, khái quát các vấn đề lý luận cũng như
đánh giá thực trạng, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại ở Việt Nam.
- Phương pháp lịch sử được sử dụng chủ yếu trong chương 2 của luận
văn để nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển pháp luật về giải quyết tranh
chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại ở Việt Nam và những yêu cầu hoàn
thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại.
- Phương pháp so sánh được luận văn sử dụng ở chương 1 và chương 2
để so sánh việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại qua
các dấu mốc lập pháp quan trọng ở nước ta (Pháp lệnh Trọng tài thương mại
năm 2003 với Luật Trọng tài thương mại năm 2010...) cũng như pháp luật trọng
tài của các nước.
- Phương pháp thống kê được sử dụng trong chương 2 khi đánh giá thực
trạng thi hành pháp luật Trọng tài thương mại thông qua các vụ việc tranh chấp
thương mại được giải quyết bằng Trọng tài thương mại; số lượng trọng tài viên...

5


- Phương pháp khái quát hóa được sử dụng trong chương 3 nhằm đề xuất
giải pháp hoàn thiện pháp luật về giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng
tài thương mại ở Việt Nam.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về giải quyết tranh chấp thương
mại bằng Trọng tài thương mại
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về giải
quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại ở Việt Nam
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại ở Việt Nam.

6


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
VỀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
BẰNG TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài
thương mại
1.1.1. Khái niệm tranh chấp thương mại
Tranh chấp thương mại hay tranh chấp trong kinh doanh là thuật ngữ
quen thuộc trong đời sống kinh tế- xã hội ở các nước trên thế giới và diễn ra
thường xuyên trong hoạt động thương mại, nhất là trong điều kiện phát triển nền
kinh tế thị trường. Tranh chấp thương mại có thể phát sinh trong hoạt động đầu
tư, kinh doanh giữa các chủ thể; giữa các quốc gia trong việc thực hiện điều ước
quốc tế song phương và đa phương và giữa các quốc gia với các tổ chức kinh tế
quốc tế.
Ở Việt Nam, khái niệm tranh chấp thương mại có thể được hiểu khác
nhau tùy thuộc vào từng giai đoạn nhất định. Khái niệm tranh chấp thương mại
lần đầu tiên được đề cập trong Luật Thương mại năm 1997, theo đó tại Điều 238
quy định: "Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng trong hoạt động thương mại"; đồng
thời, Luật Thương mại năm 1997 cũng quy định hoạt động thương mại là việc
thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc
mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến
thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh
tế - xã hội.
Tiếp đó, Pháp lệnh Trọng tài thương mại năm 2003 đã đưa ra khái niệm
hoạt động thương mại với phạm vi rộng hơn so với Luật Thương mại năm 1997,
theo đó hoạt động thương mại là "việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương

7


mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây
dựng; tư vấn; kỹ thuật; li-xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng bảo hiểm; thăm dò,
khai thác; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển,
đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật".
Vì vậy, nội hàm tranh chấp thương mại đã được mở rộng và tiếp cận gần hơn với
chuẩn mực chung của pháp luật quốc tế, tạo cơ sở cho việc bảo đảm sự bình
đẳng giữa các chủ thể tham gia giải quyết tranh chấp và công nhận thi hành phán
quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam. Đến Luật Thương mại năm 2005,
quan niệm về tranh chấp thương mại tiếp tục được mở rộng (hoạt động thương
mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng
dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác)
và phù hợp hơn đối với khái niệm kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp năm
2014, Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
(trước đây là Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004), đó là tranh chấp phát sinh hoặc
có liên quan đến hoạt động thương mại. Từ đó, có thể khái niệm: Tranh chấp
thương mại là sự xung đột về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình
thực hiện các hoạt động thương mại hoặc liên quan đến hoạt động thương mại.
Với khái niệm nêu trên, có thể nhận diện một số đặc điểm của tranh chấp
thương mại là: chủ thể tranh chấp là thương nhân (tổ chức kinh tế được thành
lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và
có đăng ký kinh doanh) và tổ chức, cá nhân hoạt động có liên quan đến thương
mại; nội dung tranh chấp luôn là những mâu thuẫn về lợi ích kinh tế, tài sản (bởi
vì mục đích của hoạt động kinh doanh là sinh lời và đối tượng đầu tư và mong
nhận được sau quá trình đầu tư đều là tài sản) và đối tượng tranh chấp thường
gắn với tài sản có giá trị lớn (vì đối tượng của hợp đồng thương mại là các hàng
hóa là động sản, bất động sản gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh vì mục đích
lợi nhuận).

8


1.1.2. Khái niệm giải quyết tranh chấp thương mại
Với khái niệm tranh chấp thương mại nêu trên có thể thấy rằng tranh
chấp thương mại là hệ quả tất yếu trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và đối
tượng tranh chấp thường có giá trị lớn, ảnh hưởng nhiều đến hoạt động sản xuất
kinh doanh, vì vậy các bên liên quan luôn mong muốn giải quyết kịp thời, hiệu
quả bằng phương thức, cơ chế phù hợp nhằm bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích
hợp pháp của mình. Về bản chất, giải quyết tranh chấp thương mại chính là việc
lựa chọn hình thức, biện pháp thích hợp để giải quyết bất đồng, xung đột lợi ích
giữa các bên, tạo lập lại sự cân bằng về mặt lợi ích hiện có hoặc tương lai mà các
bên có thể chấp nhận được.
Để giải quyết tranh chấp thương mại, các quốc gia đều quy định thể chế
phù hợp tùy thuộc vào điều kiện cụ thể trong từng giai đoạn nhất định, theo đó
có bốn hình thức có tính phổ quát được các quốc gia thừa nhận là thương lượng,
hòa giải, trọng tài và tòa án. Xuất phát từ quyền tự do kinh doanh, trong đó bao
hàm quyền tự do lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp, các bên tranh chấp
có quyền lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp phù hợp nhất cho mình.
Thực tiễn đã hình thành bốn phương thức giải quyết tranh chấp đó là: thương
lượng, hòa giải, Trọng tài và Tòa án.
Thương lượng là phương thức giải quyết tranh chấp do chính các bên
(hoặc đại diện của các bên) tự giải quyết tranh chấp mà không cần đến vai trò
của trung gian của người khác. Theo phương thức này, các bên tranh chấp sẽ
cùng nhau thể hiện chính kiến, quan điểm và thống nhất biện pháp chấm dứt
tranh chấp phát sinh thứ ba. có sự tham gia của để cùng tìm ra và đi đến những
thỏa thuận thống nhất bằng những giải pháp phù hợp với tất cả các bên nhằm
chấm dứt những tranh chấp trong hoạt động kinh doanh. Đây là phương thức
được khuyến khích các bên lựa chọn vì không bị ràng buộc hay phải mất thời
gian, chi phí tuân thủ các thủ tục pháp lý, đồng thời vẫn giữ được bí mật trong
kinh doanh của các bên liên quan, tuy nhiên, phương thức này đòi hỏi các bên

9


phải thực sự hợp tác, thiện chí và có kiến thức pháp lý, kiến thức chuyên môn
phù hợp trong lĩnh vực thương mại có tranh chấp.
Hòa giải là phương thức giải quyết tranh chấp của bên thứ ba độc lập
trong quá trình thương lượng giữa hai bên tranh chấp, theo đó bên thứ ba có vai
trò trung gian để thúc đẩy các bên lựa chọn giải pháp thích hợp để giải quyết
xung đột, bất đồng và chấm dứt tranh chấp phát sinh. Theo phương thức này, các
bên sẽ tự nguyện lựa chọn bên thứ ba có vai trò trung gian, không có lợi ích
xung đột với các bên tranh chấp và có khả năng (trình độ chuyên môn, kinh
nghiệm) để đưa ra bình luận, đánh giá và khuyến nghị các bên lựa chọn biện
pháp giải quyết tranh chấp phù hợp.
Trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp theo đó các bên sẽ lựa chọn
một Trọng tài viên (hoặc Hội đồng Trọng tài) với tư cách là bên thứ ba độc lập
được các bên thỏa thuận lựa chọn để đưa ra phán quyết giải quyết xung đột, mâu
thuẫn giữa có hiệu lực bắt buộc đối với các bên. Điểm khác biệt giữa trọng tài và
hòa giải là khi đã lựa chọn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì các bên đã
chấp nhận Trọng tài viên (hoặc Hội đồng Trọng tài) là người trung gian đưa ra
phán quyết, tức là biện pháp giải quyết tranh chấp mang tính chung thẩm, "bắt
buộc", còn đối với hình thức hòa giải thì người trung gian chỉ đưa ra biện pháp
giải quyết tranh chấp mang tính "khuyến nghị".
Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp nói chung, tranh chấp
thương mại nói riêng, theo đó Thẩm phán (hoặc Hội đồng xét xử) nhân danh
quyền lực nhà nước giải quyết tranh chấp theo quy định pháp luật và ra phán
quyết (bản án, quyết định) có giá trị thi hành đối với các bên liên quan bằng sức
mạnh cưỡng chế của nhà nước.
Các phương thức nêu trên là sự lựa chọn cho các bên để giải quyết tranh
chấp thương mại phát sinh và tùy thuộc vào tính chất tranh chấp, điều kiện kinh
tế, chính trị, xã hội và văn hóa kinh doanh của mỗi nước thì tính ưu tiên của việc
lựa chọn mỗi phương thức có sự khác nhau. Từ đó có thể khái niệm: Giải quyết

10


tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại là việc các bên tranh chấp
thống nhất lựa chọn Trọng tài viên (hay Hội đồng trọng tài) để đưa ra phán
quyết có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên.
1.2. Khái niệm, đặc điểm của Trọng tài thương mại
1.2.1. Khái niệm Trọng tài thương mại
Ở tất cả các nước trên thế giới, trọng tài hay Trọng tài thương mại là một
cơ chế giải quyết tranh chấp độc lập và ngày càng được sử dụng rộng rãi trong
thực tiễn xét xử quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực quan hệ kinh tế quốc tế và
được đề cập, tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau. Có quan điểm cho rằng "Trọng
tài là cơ chế giải quyết bất đồng giữa các bên thông qua một người thứ ba do
chính các bên lựa chọn trên cơ sở tôn trọng luật pháp". Có quan điểm cho rằng
"Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp, theo đó các bên giao cho một cá
nhân (Trọng tài viên) có thẩm quyền giải quyết tranh chấp phát sinh giữa họ với
nhau". Quan điểm khác cho rằng "Trọng tài là tòa án tư, do ý chí của đôi bên
tranh chấp. Nó cũng xét xử như tòa án nhà nước"…
Tuy có nhiều quan điểm khác nhau nhưng theo nghĩa chung nhất như đã
đề cập ở trên, có thể khái niệm: Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết
tranh chấp do các bên lựa chọn trên cơ sở pháp luật. Với quan điểm như vậy có
thể thấy rằng trọng tài do các bên có thể tự thỏa thuận lựa chọn hoặc tự lập ra hội
đồng trọng tài để giải quyết vụ tranh chấp; về bản chất, trọng tài là việc ra quyết
định có giá trị pháp lý bắt buộc đối với các bên đã lựa chọn trọng tài. Hay nói
cách khác, để có cơ sở đưa tranh chấp thương mại ra giải quyết bằng phương
thức trọng tài, các bên phải có thỏa thuận về trọng tài- sự thống nhất của các bên
về việc lựa chọn Trọng tài viên (hoặc Hội đồng trọng tài) để giải quyết tranh
chấp đã hoặc có thể phát sinh trong quá trình thực hiện các thỏa thuận, cam kết
trong hoạt động thương mại dưới hình thức hợp đồng hay không phải là hợp
đồng. Thỏa thuận trọng tài có thể được thể hiện dưới hình thức một điều khoản
của hợp đồng hoặc một thỏa thuận bằng một văn bản độc lập.

11


1.2.2. Đặc điểm của Trọng tài thương mại
Từ quan niệm trên, có thể nhận diện một số đặc trưng của Trọng tài là:
- Trọng tài thương mại là sự tham gia của bên thứ ba - Trọng tài viên
(hoặc Hội đồng trọng tài) để giải quyết tranh chấp theo trình tự tố tụng trọng tài
và đưa ra phán quyết có giá trị đối với các bên tranh chấp. Điều này có nghĩa là
Trọng tài thương mại có vai trò là một cơ quan tài phán độc lập do các bên lựa
chọn để giải quyết tranh chấp thương mại phát sinh. Kết thúc quá trình giải quyết
tranh chấp hay quá trình tố tụng trọng tài thì Trọng tài thương mại phải đưa ra
phán quyết để chấm dứt tranh chấp, theo đó xác định rõ quyền và nghĩa vụ hợp
pháp của các bên.
- Tôn trọng sự tự định đoạt của các bên: Phương thức trọng tài bảo đảm
quyền tự định đoạt của các đương sự cao hơn so với phương thức Tòa án, thể
hiện cơ bản là các đương sự trong tố tụng trọng tài có quyền lựa chọn trọng tài
viên, địa điểm giải quyết tranh chấp, quy tắc tố tụng, luật áp dụng đối với tranh
chấp. Bởi vậy, trọng tài là một loại hình giải quyết tranh chấp phi nhà nước (tổ
chức xã hội nghề nghiệp), hoạt động theo pháp luật và quy chế trọng tài. Chính
do đặc tính tự định đoạt của đương sự nên Trọng tài là một thiết chế dân chủ
trong giải quyết tranh chấp thương mại, hình thức này không chỉ góp phần tạo ra
một đời sống dân chủ và tự do trong tư pháp mà còn là cơ chế chia sẻ nhiệm vụ
với nhà nước trong việc xóa bỏ các bất đồng trong xă hội, thể hiện cụ thể ở việc
giải quyết các tranh chấp thương mại.
- Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và bắt buộc đối với các
bên. Với phương thức trọng tài, khi các bên thống nhất lựa chọn phương thức
này để giải quyết tranh chấp thương mại phát sinh thì cũng có nghĩa là chấp nhận
sự ràng buộc nghĩa vụ đối với phán quyết của trọng tài, thừa nhận tính "chung
thẩm" của phán quyết đó. Đây là sự khác biệt quan trọng của việc giải quyết tranh
chấp bằng trọng tài và tòa án, vì khi phán quyết của trọng tài có tính chung thẩm
thì phán quyết đó không bị kháng cáo, kháng nghị các bên không có quyền kháng

12


cáo (phán quyết của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị). Tính chung thẩm của
phán quyết trọng tài xuất là một thông lệ quốc tế về giải quyết tranh chấp thương
mại bằng trọng tài, bởi nó xuất phát từ sự đồng thuận ý chí của các bên khi lựa
chọn giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài; khi lựa chọn trọng tài đồng
nghĩa với việc các bên thừa nhận nghĩa vụ phải thực hiện phán quyết trọng tài.
- Phán quyết của trọng tài không nhân danh quyền lực nhà nước. Khi các
bên lựa chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp thì có nghĩa là các bên tự ràng
buộc quyền, nghĩa vụ cũng như sự tin cậy của mình vào phán quyết của trọng tài.
Mặc dù trọng tài cũng có quyền tài phán như tòa án, nhưng phán quyết của tòa
án nhân danh nhà nước, bị ràng buộc vào các trình tự, thủ tục pháp lý chuẩn mực
về giải quyết tranh chấp do pháp luật quy định, còn tính tài phán của trọng tài
dựa trên sự thỏa thuận của các bên, kể cả thỏa thuận về các trình tự giải quyết
tranh chấp của tổ chức trọng tài do các trọng tài viên thành lập với nghĩa là hệ
quả của việc đã lựa chọn trọng tài trước đó.
- Giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài là sự kết hợp giữa hai
yếu tố thỏa thuận và tài phán. Thực tế giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài
thương mại cho thấy rằng thỏa thuận của các bên là cơ sở cho việc đưa ra phán
quyết trọng tài; không thể có phán quyết trọng tài tách rời yếu tố thỏa thuận của
các bên tranh chấp. Vì vậy, về nguyên tắc, thẩm quyền của trọng tài không bị
giới hạn bởi pháp luật; các đương sự có thể lựa chọn bất kỳ lúc nào, bất kỳ trọng
tài vụ việc hoặc trọng tài quy chế nào trên thế giới để giải quyết tranh chấp. Tuy
nhiên, một khi đã được thỏa thuận thì phán quyết của trọng tài có tính chất tài
phán và bắt buộc các bên phải tuân thủ.
- Việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng Trọng tài thương mại
không thể thoát ly sự hỗ trợ của Tòa án.
Pháp luật của các nước nói chung, trong đó có Việt Nam nói riêng, đều
quy định cơ chế hỗ trợ từ phía Tòa án đối với tổ chức và hoạt động của trọng tài.
Điển hình nhất là cơ chế công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài,

13


nhất là đối với phán quyết của trọng tài nước ngoài (ở Việt Nam, phán quyết của
trọng tài Việt Nam đương nhiên có hiệu lực thi hành). Ngoài ra, Tòa án còn có
thể hỗ trợ trọng tài ở các nội dung khác, như quyết định áp dụng biện pháp khẩn
cấp tạm thời, kê biên tài sản, bảo toàn chứng cứ, cấm hoặc buộc đương sự thực
hiện một số hành vi nhất định...
1.3. Các hình thức Trọng tài thương mại
Hoạt động thương mại là động lực cho phát triển kinh tế không chỉ ở
phạm vi quốc gia mà còn ở phạm vi quốc tế, đặc biệt là quá trình tăng cường sự
hội nhập kinh tế quốc tế. Quá trình này cũng đồng nghĩa với việc thúc đẩy sự
phát triển của cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài, vì vậy để
hài hòa sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia và pháp luật, thông lệ quốc tế, mỗi
quốc gia đều có hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về giải quyết
tranh chấp thương mại bằng hình thức trọng tài. Việc giải quyết tranh chấp
thương mại bằng Trọng tài thương mại tồn tại dưới hai hình thức cơ bản là: trọng
tài vụ việc (trọng tài ad-hoc) và trọng tài thường trực (trọng tài quy chế).
Một là, trọng tài vụ việc (ad-hoc).
Trọng tài vụ việc (ad-hoc) là hình thức trọng tài do các bên tranh chấp
thỏa thuận thành lập để giải quyết vụ việc cụ thể và sau khi tranh chấp được giải
quyết xong thì tự giải thể. Hình thức trọng tài này có một số đặc điểm là:
- Không lệ thuộc vào bất kỳ quy tắc xét xử nào. Điều này có nghĩa là các
bên tự thỏa thuận về việc xác lập quy chế tố tụng trọng tài như: về tổ chức hội
đồng trọng tài; trình tự, thủ tục tố tụng trọng tài phù hợp với tính chất của từng
vụ việc tranh chấp. Các bên không bị ràng buộc vào bất cứ quy chế pháp lý tố
tụng nào ngoài việc thống nhất được một thủ tục đảm bảo nguyên tắc khách quan
trong giải quyết tranh chấp.
- Hình thức trọng tài này không có trụ sở cố định và tùy thuộc vào sự lựa
chọn trọng tài viên của các bên (mỗi vụ việc tranh chấp có thể được giải quyết
bằng một trọng tài viên khác nhau). Điều này có nghĩa là, quyền lựa chọn trọng

14


tài viên của các bên đương sự hoặc của người thứ ba không bị giới hạn vào một
danh sách có sẵn như ở hình thức trọng tài thường trực.
- Tính chất tố tụng của trọng tài ad-hoc thường đơn giản, ít tốn kém thời
gian và chi phí giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, hình thức này chỉ phù hợp với
các tranh chấp thương mại có giá trị không quá lớn; các bên tranh chấp có kinh
nghiệm, hiểu biết về pháp luật thương mại và có thiện chí giải quyết tranh chấp
(do hình thức trọng tài này không có quy tắc tố tụng riêng).
Hai là, trọng tài thường trực.
Trọng tài thường trực là hình thức trọng tài có tổ chức được thành lập để
hoạt động một cách thường xuyên, có trụ sở, điều lệ và có quy tắc xét xử riêng.
Điểm khác biệt quan trọng của hình thức trọng tài này so với trọng tài ad-hoc là
việc lựa chọn trọng tài viên chỉ trong danh sách trọng tài viên của trung tâm
trọng tài được lựa chọn để giải quyết tranh chấp thương mại, đặc biệt việc lựa
chọn trọng tài viên sẽ hạn chế hơn khi số lượng trọng tài viên rất ít.
Đối với hình thức này, tùy theo quy tắc trọng tài mà các bên có thể lựa
chọn Hội đồng trọng tài để giải quyết tranh chấp gồm có một trọng tài viên duy
nhất được chọn trong số trọng tài viên của trung tâm trọng tài hoặc có thể là ba
trọng tài (mỗi bên chọn ra một trọng tài viên và hai người này sẽ chọn một trọng
tài thứ ba làm Chủ tịch hội đồng trọng tài).
Đặc điểm quan trọng của hình thức trọng tài này thể hiện ở tính "thường
trực", bởi vậy quy tắc tố tụng của hình thức trọng tài này được quy định chặt
chẽ, được công bố công khai. Về nguyên tắc, khi đã chấp nhận lựa chọn trọng tài
thường trực giải quyết tranh chấp thì có nghĩa là các bên đương sự buộc phải
tuân theo các quy chế tài phán của từng trung tâm trọng tài, cho dù những quy
chế đó là phức tạp, khó hiểu hay không phù hợp với thông lệ chung. Tuy nhiên,
trên thực tế, quy chế tài phán của hình thức trọng tài thường trực rất linh hoạt,
phù hợp với khả năng đáp ứng đòi hỏi các nhà kinh doanh trong việc giải quyết
tranh chấp để từ đó thu hút được được khách hàng. Lợi thế lớn nhất của hình

15


thức trọng tài này là luôn có sẵn các bộ quy tắc tố tụng trọng tài để các bên lựa
chọn, thỏa thuận và không mất thời gian để đưa ra các quy tắc tài phán mới, vì
vậy qua sự lựa chọn quy tắc tài phán, bên tranh chấp có thể dự liệu được những
thuận lợi, bất lợi cho mình khi trọng tài thực hiện việc giải quyết tranh chấp
thương mại phát sinh. Do đó, trên thực tế hình thức trọng tài này thường được
thành lập các tổ chức, các hiệp hội, các phòng thương mại và công nghiệp ở các
nước thành lập để phục vụ cho nhu cầu giải quyết tranh chấp thương mại phát
sinh trong phạm vi hoạt động của các thành viên của hiệp hội, ví dụ như: Trọng
tài La-Hay; Tòa trọng tài quốc tế của Phòng thương mại quốc tế Paris (ICC); Tòa
trọng tài quốc tế London (LCIA); Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ (AAA); Trung tâm
trọng tài kinh tế Trung Quốc (CIETAC); Trung tâm trọng tài quốc tế Hồng Kông
(HKIAC); Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC)…
1.4. Ưu điểm của Trọng tài thương mại trong giải quyết tranh chấp
thương mại
Như đã nêu ở trên, tranh chấp thương mại phát sinh chủ yếu giữa các chủ
thể trong hoạt động thương mại ở cả phạm vi quốc gia và quốc tế, đồng thời giá
trị tranh chấp thường rất lớn nên khi có tranh chấp xảy ra thì việc lựa chọn Trọng
tài thương mại để giải quyết tranh chấp có một số ưu điểm hơn so với các
phương thức giải quyết khác ở một số điểm sau đây:
Thứ nhất, khi các tranh chấp phát sinh trong các hoạt động thương mại,
các bên có thể thương lượng, hòa giải với nhau để giải quyết vụ việc nhưng khi
hai bên không thể tự hòa giải được thì các bên có thể lựa chọn giải quyết bằng
tòa án hoặc Trọng tài thương mại. Việc lựa chọn Trọng tài thương mại để giải
quyết tranh chấp thương mại sẽ giúp cho các bên nhanh chóng giải quyết được
tranh chấp do thủ tục giải quyết không trải qua các trình tự, thủ tục tốn kém thời
gian; phán quyết của Trọng tài thương mại có giá trị chung thẩm và có hiệu lực
thi hành ngay nên đáp ứng yêu cầu khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của các
bên. Đặc biệt là đối với các tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài, các bên

16


thường lựa chọn Trọng tài thương mại bởi nếu chọn tòa án quốc gia của một
trong hai bên tranh chấp thì bên còn lại sẽ có tâm lý cho rằng thẩm phán sẽ thiên
vị cho bên tranh chấp có quốc tịch nước mình; hoặc nếu lựa chọn tòa án ở nước
thứ ba thì các bên sẽ rất khó khăn trong việc tiếp cận, tuân thủ các thủ tục tố tụng
của nước thứ ba đó. Vì vậy, việc lựa chọn Trọng tài thương mại trong những
trường hợp này là giải pháp tối ưu, nhất là các tranh chấp thương mại có yếu tố
nước ngoài.
Thứ hai, cơ chế giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại tôn
trọng ý chí tự nguyện và thỏa thuận của các bên. Việc tôn trọng ý chí của các
bên thể hiện trước hết ở chính việc lựa chọn phương thức trọng tài để giải quyết
tranh chấp. Tiếp đó, khi đã thống nhất lựa chọn trọng tài thì các bên có quyền
bình đẳng trong việc lựa chọn, thống nhất trọng tài viên để giải quyết tranh chấp
(điều này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc lựa chọn các trọng tài viên có trình
độ chuyên môn cao và có kinh nghiệm trong các lĩnh vực của hoạt động thương
mại vốn đa dạng, phức tạp và có tính liên quốc gia như hàng hải, sở hữu trí tuệ,
bảo hiểm, đầu tư…); thỏa thuận về việc chọn quy chế tài phán trọng tài (trọng tài
thường trực hay trọng tài ad-hoc); hạn chế thấp nhất chi phí thời gian và tài
chính do thủ tục trọng tài áp dụng cho các tranh chấp trong hoạt động thương
mại thường đơn giản hơn và các bên có thể chủ động về thời gian, địa điểm giải
quyết tranh chấp; được lựa chọn việc giải quyết tranh chấp bằng một trọng tài
viên hay hội đồng trọng tài. Điều này khác với giải quyết tranh chấp bởi tòa án,
bởi các bên không thể tự thỏa thuận về lựa chọn tòa án hay thẩm phán giải quyết.
Thứ ba, giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại có tính ràng
buộc các bên về mặt pháp lý. So với giải quyết tranh chấp bằng hòa giải và
thương lượng thì giải quyết tranh chấp bằng trọng tài hữu hiệu hơn so với hòa
giải hay thương lượng, bởi vì hòa giải hay thương lượng chỉ mang tính chất
khuyến nghị chứ không có tính ràng buộc mặt pháp lý như phán quyết trọng tài
đối với các bên tranh chấp. Đặc biệt là, các phán quyết của Trọng tài thương mại

17


được đảm bảo hiệu lực như bản án, quyết định của Tòa án được thi hành tại nước
sở tại hoặc được công nhận và cho thi hành theo Công ước New York về việc
công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài.
Thứ tư, nguyên tắc giữ bí mật trong giải quyết tranh chấp thương mại.
Đặc trưng của tranh chấp thương mại liên quan đến những thông tin, số liệu,
thương hiệu, bí quyết công nghệ… của các bên nên việc lựa chọn giải quyết
tranh chấp thương mại bằng trọng tài sẽ giúp cho các bên giữ được những bí mật
này nhằm những thiệt hại có thể xảy ra do thông tin bí mật bị tiết lộ, rò rỉ. Sự bí
mật trong giải quyết tranh chấp thương mại bằng hình thức trọng tài còn thể hiện
ở chỗ các việc tiến hành các buổi họp của trọng tài được giữ kín, chỉ có trọng tài
viên và hai bên có mặt, thậm chí quyết định của trọng tài chỉ được công bố công
khai nếu các bên đồng ý. Điều này trái ngược với việc giải quyết tranh chấp
thương mại bằng tòa án, bởi nguyên tắc quan trọng nhất của giải quyết tranh
chấp bằng tòa án là xét xử công khai, bởi vậy việc công khai các chứng cứ, tình
tiết tại tòa án khi một bên khởi kiện để xét xử công khai sẽ rất bất lợi cho các
bên, đặc biệt là uy tín, thương hiệu kinh doanh, nhất là đối với các doanh nghiệp
có uy tín, có cổ phần đã niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán. Đặc biệt là
trong tố tụng trọng tài, mọi tình tiết và kết quả đều không được công bố công
khai nếu không được sự chấp thuận của các bên. Pháp luật không quy định các
phiên họp của trọng tài với các bên tranh chấp phải công khai và điều này cũng
tương tự như các phán quyết trọng tài được giữ bí mật theo yêu cầu của các bên,
trừ khi các bên có yêu cầu.
Thứ năm, việc giải quyết tranh chấp thương mại bằng hình thức trọng tài
đảm bảo sự độc lập của các trọng tài viên. Về nguyên tắc, việc giải quyết tranh
chấp thương mại bằng trọng tài hay tòa án đều phải bảo đảm độc lập của Trọng
tài viên (hội đồng trọng tài) hoặc Hội đồng xét xử. Tuy nhiên, điểm khác của giải
quyết tranh chấp bằng Trọng tài thương mại so với tòa án là không ai có quyền
can thiệp vào hoạt động của các trọng tài viên; trong trường hợp việc giải quyết

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×