Tải bản đầy đủ

Tổ chức quản lý hợp tác xã theo luật hợp tác xã năm 2012 từ thực tiễn thực hiện tại huyện thường tín, thành phố hà nội

LÊ NGỌC LÂM

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬT KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

TỔ CHỨC QUẢN LÝ HỢP TÁC XÃ THEO LUẬT
HỢP TÁC XÃ NĂM 2012 TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2015 - 2017

LÊ NGỌC LÂM

HÀ NỘI – 2017



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
TỔ CHỨC QUẢN LÝ HỢP TÁC XÃ THEO LUẬT
HỢP TÁC XÃ NĂM 2012 TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LÊ NGỌC LÂM
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ VÂN ANH
HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan rằng, luận văn thạc sĩ “Tổ chức quản lý hợp tác xã theo
Luật Hợp tác xã năm 2012 từ thực tiễn thực hiện tại huyện Thường Tín, thành
phố Hà Nội”là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Những số liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực được chỉ rõ
nguồn trích dẫn. Kết quả nghiên cứu này chưa được công bố trong bất kỳ
công trình nghiên cứu nào từ trước đến nay.

Hà Nội, ngày 07 tháng 01 năm 2018
Học viên thực hiện

Lê Ngọc Lâm


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, đóng
góp ý kiến của các thầy giáo, cô giáo, cơ quan, đơn vị, gia đình và bạn bè.
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, cán bộ, giảng viên khoa Sau đại
học, Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt
quá trình học tập và nghiên cứu luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học
Luật Hà Nội, Ủy ban nhân dân và các phòng chuyên môn của huyện Thường
Tín, thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi khai thác và tiếp cận nguồn tư
liệu để nghiên cứu luận văn.
Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với Phó Giáo sư,
Tiến sĩ Nguyễn Thị Vân Anh – Phó Trưởng khoa Sau đại học, Đại học Luật


Hà Nội đã trực tiếp và tận tình hướng dẫn tôi tìm ra hướng nghiên cứu, tiếp
cận thực tế, xử lý và phân tích số liệu, giải quyết vấn đề… Nhờ đó, tôi có thể
hoàn thành luận văn của mình.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và bạn bè, đồng nghiệp
đã luôn tạo điều kiện, quan tâm, giúp đỡ, động viên trong suốt quá trình học
tập và hoàn thành luận văn.
Hà Nội, ngày 07 tháng 01 năm 2018
Học viên thực hiện

Lê Ngọc Lâm


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC
QUẢN LÝ HỢP TÁC XÃ THEO LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2012 ........................ 7
1.1. Một số vấn đề lý luận về tổ chức quản lý hợp tác xã ................................. 7
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm hợp tác xã .............................................................. 7
1.1.2. Vai trò của kinh tế hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường .................... 14
1.1.3. Khái niệm và đặc điểm tổ chức quản lý hợp tác xã ............................... 16
1.2. Pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã theo Luật hợp tác xã năm 2012 ..... 18
1.2.1. Pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã…………………………………………
1.2.2. Một số chế định cơ bản về tổ chức quản lý hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã
2012……………………………………………………………………………………..

CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG TỔ CHỨC QUẢN LÝ HỢP TÁC XÃTHEO LUẬT HỢP
TÁC XÃ 2012TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN,THÀNH PHỐ HÀ NỘI.. ...................... 33
2.1. Khái quát về các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Thường
Tín, thành phố Hà Nội ..................................................................................... 33
2.1.1. Điều kiện tự nhiên ................................................................................ 33
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội...................................................................... 36
2.1.3. Đánh giá về các điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội tác động đến với hoạt động
của Hợp tác xã và tổ chức quản lý Hợp tác xã ở huyện Thường Tín. ........................ 38
2.2. Thực trạng tổ chức quản lý của các Hợp tác xã theo Luật hợp tác xã
năm 2012 ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội ........................................ 42
2.2.1. Quá trình triển khai thực hiện Luật hợp tác xã 2012 ở huyện Thường Tín ... 42
2.2.2. Thực trạng thực thi các quy định của Luật hợp tác xã 2012 vềĐại hội
thành viên ....................................................................................................... 45
2.2.3. Thực trạng thực thi các quy định của Luật hợp tác xã 2012 về Hội đồng
quản trị ........................................................................................................... 51


2.2.4. Thực trạng thực thi các quy định của Luật hợp tác xã 2012 về Giám đốc
(Tổng Giám đốc) ............................................................................................ 56
2.2.5. Thực trạng thực thi các quy định của Luật hợp tác xã 2012 về Ban Kiểm
soát hoặc kiểm soát viên ................................................................................. 60
2.3. Đánh giá những hạn chế, khó khăn và nguyên nhân trong việc thựcthi
quy định của Luật hợp tác xã về tổ chức quản lý hợp tác xã tại huyện
Thường Tín - Thành phố Hà Nội .................................................................... 62
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
TỔ CHỨC QUẢN LÝ HỢP TÁC XÃ VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC THI
LUẬT HỢP TÁC XÃ TẠI HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ..... 67
3.1. Phương hướng nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật vềtổ chức quản lý
hợp tác xã ......................................................................................................... 67
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức và quản lý hợp tác xã .......... 69
3.2.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về Đại hội thành viên ......................... 69
3.2.2. Hoàn thiện các quy định pháp luật về Hội đồng quản trị ........................... 71
3.2.3. Hoàn thiện các quy định pháp luật về Giám đốc (Tổng giám đốc) ............ 72
3.2.4. Hoàn thiện các quy định pháp luật về Ban Kiểm soát (Kiểm soát viên) ..... 73
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về tổ chức quản lý hợp
tác xã ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội .............................................. 73
KẾT LUẬN ....................................................................................................................... 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................. 80


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu 2.1. Bản đồ hành chính huyện Thường Tín ........................................................ 34
Bảng 2.2. Phân loại đất theo mục đích sử dụng năm 2016 ........................................ 35
Bảng 2.3. Số lượng và các loại hình hợp tác xã trong các năm 2014 – 2016 ......... 44
Bảng 2.4. Thống kê việc thực thi Luật hợp tác xã năm 2012 đến tháng 12/2016 .. 45
Bảng 2.5. Tổng hợp về Hợp tác xã huyện Thường Tín năm 2016 ........................... 46
Bảng 2.6. Thống kê số lượng và trình độ giám đốc hợp tác xã huyện Thường Tín
năm 2016............................................................................................................................ 57



PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Những thành tựu to lớn của hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới do
Đảng khởi xướng đã ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội ở
nước ta. Hơn một thập kỷ trở lại đây, trong khi, “kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể là
nền tảng của nền kinh tế quốc dân” đang bộc lộ sự bất cập và kém hiệu quả thì
thành phần kinh tế tư nhân đang vươn lên mạnh mẽ, trở thành một động lực quan
trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, “vai trò chủ
đạo” của thành phần kinh tế nhà nước, nhất là sự hiệu quả và đóng góp vào nền kinh
tế quốc dân của thành phần kinh tế tập thể cần được xem xét, đánh giá một cách
khách quan, khoa học.
Kinh tế tập thể với nòng cốt là hợp tác xã góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo
việc làm cho xã viên và người lao động. Tuy nhiên, tỷ lệ đóng góp của kinh tế tập
thể vào GDP giảm sút liên tục. Theo báo cáo Tổng kết thi hành Luật Hợp tác xã
2003 của Chính phủ, năm 2010, trong khi, kinh tế tư nhân đóng góp 11,54%; khu
vực có vốn đầu tư nước ngoài: 18,72%; kinh tế cá thể: 30,78%; kinh tế nhà nước:
33,74% thì kinh tế tập thể chỉ đạt 5,22%. Tính đến hết năm 2011, cả nước có
khoảng 19.500 hợp tác xã (bao gồm cả hợp tác xã không hoạt động). Số lượng
việc làm do khu vực kinh tế tập thể tạo ra giảm sút đáng kể: từ hơn 1,4 triệu việc
làm thường xuyên năm 2006 xuống còn hơn 1 triệu việc làm năm 2010. Thu nhập
bình quân một lao động làm việc thường xuyên của hợp tác xã rất thấp, năm 2011
đạt khoảng 15,99 triệu đồng (1,333 triệu đồng/tháng) [6, tr.2-3]. Có thể nói, đây là
một sự suy giảm đáng báo động của thành phần kinh tế tập thể, hoạt động của các
hợp tác xã đang bị thách thức to lớn trước sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng
của nền kinh tế nước ta.
Trước yêu cầu cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nhất là
cơ cấu lại ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, Luật Hợp tác xã
2012 đã được ban hành và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2013. Đây là cơ
sở pháp lý quan trọng, tạo môi trường thuận lợi cho việc tổ chức và hoạt động

1


của các hợp tác xã kiểu mới. Tuy nhiên qua 03 năm thi hành, do nhiều nguyên
nhân chủ quan, khách quan việc áp dụng và thực hiện Luật Hợp tác xã 2012 còn
nhiều bất cập. Do đó, ngay cả khi Luật Hợp tác xã 2012 đã được ban hành, vấn
đề đổi mới tổ chức quản lý hợp tác xã theo Luật vẫn là vấn đề cấp bách và thiết
thực, bởi vì sự thi hành pháp luật còn quan trọng hơn là sự tạo ra nó.
Thường Tín là một huyện ngoại thành phía nam của Thủ đô Hà Nội, đang
ở giai đoạn đầu của quá trình đô thị hóa, cơ cấu kinh tế đang chuyển đổi mạnh
mẽ, đặc biệt trong lĩnh vực nông nghiệp, mà ở đó nổi bật là vai trò của các hợp
tác xã nông nghiệp. Do đó, việc tổ chức quản lý hợp tác xã theo Luật hợp tác xã
2012 ở Thường Tín không chỉ là câu chuyện về thực thi pháp luật mà còn là vấn
đề then chốt, quyết định đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong
những năm tiếp theo. Vì vậy, tôi đã chọn đề tài: “Tổ chức quản lý Hợp tác xã theo
Luật Hợp tác xã năm 2012 từ thực tiễn thực hiện tại huyện Thường Tín, thành phố
Hà Nội” làm luận văn thạc sỹ của mình. Luận văn góp phần đánh giá việc thực thi
Luật hợp tác xã năm 2012 ở một địa phương cụ thể; đưa ra một số giải pháp hoàn
thiện pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã và nâng cao hiệu quả thực thi pháp
luật về hợp tác xã tại huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hợp tác xã đã xuất hiện và tồn tại ở Việt Nam hơn nửa thế kỷ, thực tế cho
thấy, hợp tác xã hàm chứa và phản ánh các vấn đề về lịch sử - chính trị - kinh tế. Do
đó, đã trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, với cách tiếp cận khác
nhau. Việc nghiên cứu hợp tác xã dưới góc độ pháp lý đặt ra nhiều vấn đề bức xúc
và cấp thiết nhằm giải quyết cả về lý luận và thực tiễn với tổ chức hợp tác xã trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong lĩnh vực chuyên ngành, trước đây đã có một số đề tài nghiên cứu ở
cấp độ khác nhau về Luật hợp tác xã năm 1996, Luật hợp tác xã năm 2003. Tuy
nhiên, về Luật hợp tác xã 2012 thì các đề tài nghiên cứu còn chưa nhiều, kể cả dưới
góc độ các chuyên đề khoa học hay các bài nghiên cứu trên báo, tạp chí. Có thể kể
đến một số luận văn sau:

2


- Hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối hợp tác xã ở Việt Nam hiện
nay, Luận văn thạc sĩ của Doãn Thị Vân Anh (2014) chuyên ngành Luật Kinh tế,
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Những vấn đề pháp lý về đổi mới tổ chức và quản lý hợp tác xã, Luận án
tiến sĩ của Trần Thị Thơ (2001), chuyên ngành Luật Kinh tế, Đại học Luật Hà Nội.
- Địa vị pháp lý của các cơ quan quản lý trong hợp tác xã ở Việt Nam –
Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ của Đặng Thị Thùy Vân (2014),
chuyên ngành Luật Kinh tế, Đại học Luật Hà Nội.
- Những điểm mới của Luật hợp tác xã 2012, Luận văn thạc sĩ của Nguyễn
Thị Hải Yến (2014), chuyên ngành Luật Kinh tế, Đại học Luật Hà Nội.
- Bình luận những điểm mới của Luật hợp tác xã năm 2012, Khóa luận tốt
nghiệp của Nông Thị Hoàng Yến (2015), ngành Luật Kinh tế, Đại học Luật Hà Nội.
Bên cạnh những luận văn cao học, khóa luận tốt nghiệp đại học là những bài
nghiên cứu nổi bật đăng trên các tạp chí chuyên ngành, có thể điểm một số nghiên
cứu sau:
- Hoàn thiện các quy định Luật hợp tác xã năm 2012 – Trần Ngọc Dũng, Tạp
chí Nhà nước và pháp luật, số 01/2016, trang 42 – 50.
- Bản chất và thuộc tính của hợp tác xã theo Luật hợp tác xã năm 2012 –
Nguyễn Viết Tý, Tạp chí Luật học, số 06/2016, trang 67 – 73.
Tình hình nghiên cứu nêu trên cho thấy:
- Do Luật hợp tác xã 2012 được ban hành và thực thi chưa lâu nên các công
trình nghiên cứu, bài nghiên cứu chuyên sâu về Luật hợp tác xã 2012 còn rất ít.
- Các công trình nghiên cứu về Luật hợp tác 2012 chỉ mới đề cập đến một số
khía cạnh mang tính lý luận chung, chưa có các công trình nghiên cứu đi sâu về các
chế định cụ thể như tổ chức quản lý hợp tác xã và việc triển khai thực hiện luật
trong thực tiễn tại một địa phương, đơn vị cụ thể.
Do đó, việc nghiên cứu triển khai thực hiện Luật hợp tác xã 2012 về chế định
tổ chức quản lý trong thực tiễn cần phải được tiếp cận và nghiên cứu sâu sắc hơn.
Đây là một trong những đề tài tiên phong trong việc nghiên cứu vấn đề này.
3


3. Mục đích và nhiệm vụ của Đề tài
* Mục đích
Làm sáng rõ về mặt lý luận một cách có hệ thống và toàn diện những quy
định pháp lý về tổ chức quản lý hợp tác xã và thực tiễn thực thi chế định này, để
từ đó góp phần giải quyết các vướng mắc liên quan đến việc thực hiện chế định
tổ chức quản lý hợp tác xã theo Luật hợp tác xã năm 2012.
* Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của hợp tác xã ở Việt Nam,
chỉ ra những đặc điểm nổi bật của hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường.
Nghiên cứu có hệ thống về chế định tổ chức quản lý hợp tác xã theo luật hợp tác
xã năm 2012.
- Nghiên cứu, đánh giá việc thực thi pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác
xã trên địa bàn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội; trên cơ sở những vướng
mắc, bất cập nảy sinh trong việc thực thi, đề xuất phương hướng và giải pháp
nhằm tiếp tục hoàn thiện chế định về tổ chức quản lý hợp tác xã theo luật hợp tác
xã 2012 nói riêng và pháp luật về hợp tác xã nói chung.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những quy định về tổ chức quản lý
hợp tác xã trong Luật hợp tác xã 2012 và các văn bản liên quan;đồng thời,
nghiên cứu, làm rõ quá trình thực thi các quy định này trong thực tiễn.
- Thông qua việc tìm hiểu quá trình thực thi pháp luật về tổ chức quản lý
hợp tác xã ở huyện Thường Tín, Hà Nội từ 01/7/2013 đến 01/7/2016, tác giả chỉ
ra những hạn chế, mâu thuẫn, bất cập giữa quy định pháp luật và thực tiễn áp
dụng. Qua đó, đưa ra phương hướng, giải pháp để hoàn thiện và thực thi pháp
luật về tổ chức quản lý hợp tác xã trong thời gian tới.

4


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà
nước ta về phát triển kinh tế xã hội, về xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng như trong quá trình xây dựng và phát triển thành
phần kinh tế tập thể.
Các phương pháp được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu trong đề tài bao gồm
các phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp nghiên cứu khoa
học pháp lý nói riêng cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích, diễn giải được sử dụng khi nghiên cứu những vấn
đề khái quát về hợp tác xã.
- Phương pháp đánh giá, bình luận, so sánh, đối chiếu, khảo sát được sử dụng
khi nghiên cứu, đánh giá thực trạng thực thi pháp luật tổ chức quản lý hợp tác xã ở
huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.
- Phương pháp tổng hợp, bình luận… được sử dụng khi đề xuất phương
hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác
xã và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hợp tác xã tại huyện Thường Tín,
thành phố Hà Nội.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Đề tài
* Về lý luận: Đề tài làm sáng tỏ quá trình hình thành, phát triển của hợp tác

xã ở Việt Nam và nghiên cứu có hệ thống về chế định tổ chức quản lý hợp tác xã
theo luật hợp tác xã năm 2012.
* Về thực tiễn: Đề tài góp phần vào việc đánh giá, tổng kết tình hình thực
hiện LuậtHợp tác xã 2012 hơn 04 năm qua; nêu lên những tồn tại, vướng mắc về
mặt tổ chức quản lý hợp tác xã; qua đó đề xuất các khuyến nghị nhằm tiếp tục
hoàn thiện pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã ở Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm
3 chương:
5


Chương 1: Những vấn đề pháp lý về tổ chức quản lý hợp tác xã theo Luật
hợp tác xã 2012
Chương 2: Thực trạng tổ chức quản lý hợp tác xã theo Luật hợp tác xã 2012
tại huyện Thường Tín – thành phố Hà Nội
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức quản lý hợp tác xã và
nâng cao hiệu quả thực thi luật hợp tác xã tại huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.

6


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC
QUẢN LÝ HỢP TÁC XÃ THEO LUẬT HỢP TÁC XÃ NĂM 2012
1.1. Một số vấn đề lý luận về tổ chức quản lý hợp tác xã
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm hợp tác xã
Hợp tác xã (tiếng Anh là Cooperative) là tổ chức kinh tế mang tính xã hội và
nhân văn sâu sắc. Hợp tác xã xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1844 tại nước Anh, khi
chủ nghĩa tư bản bước vào cuộc cách mạng kỹ nghệ, sự cạnh tranh trong sản xuất
kinh doanh đã diễn ra mạnh mẽ. Khi ấy, 28 người thợ dệt ở thị trấn Rochdale đã góp
tiền để lập nên một cửa hàng cung cấp bột mì, bơ đường và một số sản phẩm khác
cho các thành viên với giá rẻ hơn, chất lượng tốt hơn các cửa hàng của tư nhân. Đây
là mô hình hợp tác xã đầu tiên trên thế giới. Cùng thời gian này, ở Đức, cũng đã
xuất hiện các mô hình hợp tác xã được tổ chức theo các nguyên tắc như: tự do gia
nhập, quản lý dân chủ, thực hiện “một người – một phiếu”, góp tỷ suất lợi nhuận và
chia lợi tức tỷ lệ với hoạt động doanh số, đào tạo và giáo dục xã viên. Đến tháng 8
năm 1895, Liên minh Hợp tác xã quốc tế (ICA) được thành lập tại London, Vương
Quốc Anh.
Hình thành cách đây gần hai thế kỷ ở châu Âu, đến nay, hợp tác xã đã phát
triển hầu khắp ở các nước trên thế giới, có những đóng góp to lớn vào sự tăng
trưởng kinh tế, tạo ra sự ổn định, công bằng xã hội. Mặc dù, thực tiễn điều chỉnh
pháp luật đối với hợp tác xã luôn gắn liền với hệ thống pháp luật và các chủ thể
kinh doanh, song hợp tác xã luôn có những đặc điểm khác biệt với các hình thức tổ
chức kinh doanh thông thường. Lý luận và kinh nghiệm quốc tế về hợp tác xã cho
thấy, theo quan điểm phổ biến trên thế giới, hợp tác xã được hiểu là một thiết chế
kinh tế - xã hội, với những đặc điểm đặc thù, không hoàn toàn mang bản chất của
doanh nghiệp kinh doanh thuần túy. Tùy từng quan điểm, nhận thức và cách tiếp

7


cận khác nhau mà mỗi tổ chức quốc tế, các quốc gia đưa ra các khái niệm về hợp
tác xã.
Trong khuyến cáo của tổ chức lao động quốc tế (ILO) và định nghĩa về hợp
tác xã được coi là có giá trị nhất trên thế giới của Liên minh Hợp tác xã quốc tế
(ICA) trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm phát triển hợp tác xã hơn gần 200 năm qua
thì “Hợp tác xã là hiệp hội hay là tổ chức tự chủ của các cá nhân liên kết với nhau
một cách tự nguyện đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng chung về kinh tế, xã hội và
văn hóa thông qua một doanh nghiệp được sở hữu chung và được kiểm soát một
cách có dân chủ”. Ở một số quốc gia trên thế giới khái niệm hợp tác xã đã được
luật hóa. Tại điều 1, Luật Hợp tác xã của Cộng hòa Liên bang Đức năm 1989 định
nghĩa: “Hợp tác xã là các hiệp hội không hạn chế về số lượng thành viên, mục đích
khuyến khích thành viên hành nghề hoặc làm kinh tế dựa vào doanh nghiệp tập
thể”. Tại điều 3, Luật Hợp tác xãcủa Inđônêxia năm 1967 quy định: “Hợp tác xã ở
Inđônêxia là tổ chức kinh tế của nhân dân, mang đặc tính xã hội, có thành viên là
các cá nhân hoặc các tập thể hợp pháp, tự nguyện xây dựng nên một thực thể kinh
tế, với nghĩa đồng lòng phấn đấu trên cơ sở giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau”. Luật hợp
tác xã của Thái Lan thì Hợp tác xã được định nghĩa: “Là một nhóm người cùng tiến
hành các công việc chung nhằm giúp đỡ lẫn nhau và đã đăng ký theo Luật này
(điều 4). Theo đạo Luật này, có hai dạng hợp tác xã: hợp tác xã trách nhiệm hữu
hạn và hợp tác xã trách nhiệm vô hạn (điều 7) [25, tr.6-7].
Ở Việt Nam, hợp tác xã ra đời muộn hơn so với nhiều nước trên thế giới
nhưng đã phát huy được vai trò là một tổ chức kinh tế quan trọng. Trong cuốn
Đường Kách mệnh (năm 1927), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến hợp tác xã,
Người giải thích: “Tục ngữ An Nam có những câu “Nhóm lại thành giàu, chia ra
thành khó” và “Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Lý
luận hợp tác xã đều nằm ở trong những điều ấy”. Người cũng đưa ra nhận thức,
quan điểm cụ thể về hợp tác xã: “Hợp tác xã là góp gạo thổi cơm chung, cho khỏi
hao của, tốn công, lại có nhiều phần vui vẻ”. Đến năm 1946, Người cho rằng “Hợp
tác xã là hợp vốn, hợp sức với nhau. Vốn nhiều, sức mạnh thì khó nhọc ít mà lợi ích

8


nhiều”[25, tr.4-5].Tháng 3/1948, tổ chức hợp tác xã đầu tiên ra đời ở Thái Nguyên,
đó là Hợp tác xã thủy tinh Dân Chủ.
Sau khi cách mạng dân tộc dân chủ thành công, miền Bắc được giải phóng,
Đảng và Nhà nước đã coi trọng xây dựng và phát triển hợp tác xã trong các ngành
kinh tế, xác định kinh tế hợp tác cùng với kinh tế nhà nước dần trở thành nền tảng
của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Trong giai đoạn cả nước kháng chiến chống Mỹ
cứu nước, kinh tế hợp tác xã đã phát huy vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc
dân, tạo ra “sức người, sức của” chi viện cho miền Nam, góp phần giải phóng miền
Nam, thống nhất đất nước.
Hòa bình lập lại, cả nước thống nhất cùng đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội,
các hợp tác xã tiếp tục phát triển và có nhiều thay đổi, nhất là khi Việt Nam bước
vào thời kỳ hội nhập quốc tế, chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền
kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Khái niệm hợp tác xã được luật hóa
để phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế.
Tại điều 1, Luật Hợp tác xã 2003 quy định: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế
tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi chung là xã viên) có
nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật
này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp
nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Hợp tác
xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ,tự chịu
trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích luỹ và
các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật”[25, tr.7].Quan
điểm này về hợp tác xã ở Việt Nam cũng tương đối thống nhất, phù hợp với quan
điểm của các nước trên thế giới.
Theo Luật Hợp tác xã 2012, khái niệm hợp tác xã đã được thay đổi như
sau:"Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít
nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt
động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành

9


viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý
hợp tác xã[25, tr.7].
Như vậy, xét cho cùng hạt nhân của bản chất hợp tác xã được thể hiện thông
qua 03 đặc điểm: Tính tự nguyện, thành lập trên cơ sở nhu cầu, nguyện vọng chung
và tính chất đối nhân sâu sắc.
(1) Thành viên thành lập và tham gia hợp tác xã trên tinh thần tự nguyện:
Xuất phát từ định nghĩa mang tính phổ biến trên thế giới và đã được tổ chức lao
động quốc tế (ILO) và Liên minh hợp tác xã quốc tế khuyến cáo chính thức thì
nguyên tắc đầu tiên để lập ra hợp tác xã là “tham gia tự nguyện”. Có nghĩa là việc
gia nhập hay rút khỏi hợp tác xã phải xuất phát từ nguyện vọng của cá nhân thành
viên; người tham gia hợp tác xã không bị bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào ép buộc
tham gia hoặc bị buộc phải ra khỏi hợp tác xã. Điều này lý giải cho việc khi các
thành viên đã tham gia hợp tác xã là sẵn sàng, tự nguyện chấp nhận các nghĩa vụ,
trách nhiệm bản thân đồng thời họ cũng không có sự phân biệt chủng tộc, giới tính,
tôn giáo; bên cạnh đó, nếu xét thấy hợp tác xã không mang lại lợi ích cho mình
cũng có quyền ra khỏi hợp tác xã theo quy định. Nguyên tắc này xuất phát từ một
thực tế khách quan: nếu bị bắt buộc phải làm việc trong các hợp tác xã và tập đoàn
sản xuất, các thành viên sẽ không có hứng thú, không “chung lưng đấu cật”, không
đồng lòng vì hoạt động của hợp tác xã, thái độ làm việc không tích cực, làm chống
đối và do vậy hậu quả tất yếu sẽ xảy ra là hoạt động của hợp tác xã bị đình trệ, yếu
kém, nghèo nàn, thậm chí là bị giải thể.
(2) Hợp tác xã thành lập trên cơ sở nhu cầu và nguyện vọng chung: Thông
qua hợp tác xã, thành viên được đáp ứng nhu cầu với chi phí rẻ, chất lượng tốt và
đảm bảo tin cậy; phương án sản xuất, kinh doanh của hợp tác xã là phương án tổ
chức hoạt động đã được bàn bạc dân chủ và đưa vào điều lệ; hợp tác xã đăng ký
kinh doanh những ngành nghề tạo ra sản phẩm dịch vụ đáp ứng nhu cầu chung của
thành viên chứ không phải ngành nghề đáp ứng vì nhu cầu thị trường.
Mặc dù hợp tác xã được thành lập trên cơ sở đáp ứng nhu cầu và nguyện
vọng chung của các thành viên, nhằm phục vụ chính những người đã sáng lập nên

10


nó nhưng điều đó không có nghĩa rằng hợp tác xã là tổ chức từ thiện, lại càng không
phải là tổ chức xã hội. Nếu như tổ chức từ thiện đáp ứng nhu cầu chung của thành
viên dưới hình thức trợ cấp; nếu như tổ chức xã hội được thành lập ra nhằm bảo vệ
quyền lợi chung của thành viên, mang tính chất hội, hiệp hội; thì hợp tác xã lại là tổ
chức kinh tế đặc biệt thúc đẩy hợp tác nhằm đáp ứng một cách hiệu quả nhu cầu
trong hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội của thành viên. Nét đặc trưng này cũng đã
được khắc họa trong tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã “Hợp tác xã khác với hội
buôn, vì hội buôn lợi riêng, hợp tác xã lợi chung. Hợp tác xã tuy là giúp đỡ nhau
nhưng không giống các hội từ thiện, vì các hội ấy có tiêu đi mà không làm ra và
giúp đỡ bất kỳ ai nhưng có ý bố thí. Hợp tác xã tiêu đi có làm ra, chỉ giúp người
trong hội, nhưng giúp một cách bình đẳng, một cách “kách mệnh”, ai cũng giúp mà
ai cũng bị giúp” [26, tr.7].
Theo Người, thì trước hết, hợp tác xã được lập ra vì lợi ích chung, vì nguyện
vọng chung, hoạt động cũng dựa trên nguyên tắc đó; đồng thời, các xã viên giúp đỡ
lẫn nhau trong hoạt động sản xuất nhưng giúp đỡ ở đây không có nghĩa là “bố thí”,
là cho không mà phải có sự lao động, ai cũng được giúp như nhau, công bằng.
Nếu hợp tác xã rời rạc, thiếu sự hợp tác, thiếu sự liên kết, hoạt động không
đúng với mục tiêu đích thực thì vấn đề tiêu vong là tất yếu. Vì vậy, chúng chỉ thực
sự là hợp tác xã đúng nghĩa khi có sự liên kết với nhau trên cơ sở đáp ứng lợi ích
chung của các thành viên hợp tác xã. Nói tóm lại, nhu cầu và nguyện vọng chung
chính là yếu tố hàng đầu, gắn kết giữa các cá nhân, tổ chức lại với nhau thành hợp
tác xã, quyết định sự ra đời và tồn vong của tổ chức này.
(3) Hợp tác xã có tính chất đối nhân: Các tổ chức kinh tế thường được chia
thành hai loại, đó là tổ chức mang tính đối nhân và tổ chức mang tính đối vốn. Tổ
chức kinh tế đối vốn là các tổ chức thành lập dựa trên cơ sở liên kết về vốn, không
quan tâm đến yếu tố nhân thân của người góp vốn. Còn đối với tổ chức kinh tế đối
nhân là những tổ chức được thành lập dựa trên sự liên kết chặt chẽ bởi độ tin cậy về
nhân thân của các thành viên tham gia, sự góp vốn là yếu tố thứ yếu.

11


Doanh nghiệp giống như hợp tác xã, về bản chất cũng là một phương thức
liên minh của những cá nhân nhằm mục đích thực hiện những mục tiêu kinh doanh
cụ thể. Tuy nhiên, những loại hình doanh nghiệp điển hình được tổ chức và hoạt
động trên nguyên tắc đối vốn (trừ công ty hợp danh); trong khi đó, nguyên tắc hoạt
động cơ bản của hợp tác xã lại là đối nhân, quyền lực và lợi ích của các thành viên
không phụ thuộc vào mức độ góp vốn mà phụ thuộc vào mức độ tham gia sử dụng
dịch vụ của hợp tác xã. Tính đối nhân của hợp tác xã được thể hiện ở chỗ: thành
viên vừa là chủ sở hữu, là người quản lý hợp tác xã; đồng thời cũng là người hưởng
lợi (là khách hàng của hợp tác xã).
Như vậy, so với Luật Hợp tác xã năm 2003 thì Luật hợp tác xã năm 2012 đã
làm rõ được bản chất của hợp tác xã là một tổ chức kinh tế thuộc thành phần kinh tế
tập thể, thành lập trên tinh thần tự nguyện, nhằm lợi ích chung của các thành
viên. Luật hợp tác xã năm 2012 đã bỏ quy định “Hợp tác xã hoạt động như một loại
hình doanh nghiệp”.
Từ định nghĩa về hợp tác xã tại điều 3, Luật hợp tác xã 2012, có thể đưa ra
một số đặc điểm của hợp tác xã như sau:
Trước hết, hợp tác xã là một tổ chức kinh tế cơ bản và quan trọng nhất của
thành phần kinh tế tập thể. Đặc trưng của hợp tác xã là hình thức sở hữu tập thể về
tư liệu sản xuất và dựa trên sở hữu của các thành viên hợp tác xã, từ đó mà phát sinh
các quan hệ sản xuất và quan hệ phân phối tương ứng.
Thứ hai, hợp tác xã mang tính xã hội sâu sắc. Tính xã hội của hợp tác xã thể
hiện trong toàn bộ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của mình. Trong một thị trường
có tính cạnh tranh và đẩy mạnh sự phát triển, hợp tác xã chính là tổ chức tạo điều
kiện tốt nhất cho những người lao động, những người sản xuất nhỏ và vừa tham gia
lao động sản xuất, xóa bớt gánh nặng về thất nghiệp. Tham gia hợp tác xã, người
lao động còn được nâng cao tinh thần một cách đáng kể bởi tính tương trợ và giúp
đỡ lẫn nhau trong tổ chức này.
Thứ ba, hợp tác xã là một tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân. Tại điều 74,
Bộ luật dân sự 2015 quy định, một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ

12


các điều kiện sau đây: Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có
liên quan; có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này; có tài sản
độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của
mình;nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập. Đối chiếu với
quy định tại Luật hợp tác xã 2012 thì hợp tác xã có đầy đủ điều kiện để trở thành
một pháp nhân. Hợp tác xã được thành lập hợp pháp theo quy định của pháp luật và
có đăng ký kinh doanh; hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do ít nhất 07 thành viên
thành lập, hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh; có cơ
cấu tổ chức khá chặt chẽ, có tài sản, tự chịu trách nhiệm với tài sản của mình; trong
các quan hệ pháp luật, hợp tác xã nhân danh chính mình và độc lập tham gia các
quan hệ đó.
Thứ tư, về tổ chức quản lý, các hợp tác xã hoạt động theo nguyên tắc tự chủ,
tự chịu trách nhiệm. Nguyên tắc này được quy định tại khoản 4, điều 7 Luật Hợp tác
xã 2012. Hợp tác xã lấy lợi ích kinh tế là chính, bao gồm lợi ích của các thành viên
và lợi ích của tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích xã hội của các thành viên hợp tác
xã. Mối quan hệ giữa các thành viên hợp tác xã với hợp tác xã dựa trên vị trí tương
đối độc lập nhưng gắn bó sâu sắc. Hợp tác xã luôn tôn trọng quyền độc lập, tự chủ
kinh tế của thành viên. Sự hình thành và phát triển của hợp tác xã không phá vỡ tính
độc lập, tự chủ về kinh tế của mỗi thành viên. Khi thành viên là một hộ gia đình hay
thậm chí là một tổ chức, pháp nhân để trở thành thành viên hợp tác xã sẽ thực hiện
những quy định trong điều lệ hợp tác xã và hợp tác xã không có bất cứ sự can thiệp
nào ngoài những quy định trong điều lệ của mình.
Thứ năm, thu nhập của hợp tác xã được phân phối theo mức độ sử dụng sản
phẩm dịch vụ của thành viên hoặc theo công sức đóng góp của thành viên đối với
hợp tác xã.
Hiện nay, theo quy định của Luật Hợp tác xã 2012, hợp tác xã có nhiều đặc
điểm khác biệt so với các loại hình doanh nghiệp được thành lập theo Luật doanh
nghiệp. Sự khác biệt đó không chỉ nói lên bản chất của hợp tác xã mà còn khẳng
định vị trí, ưu thế, vai trò của hợp tác xã trong nền kinh tế nói chung. Đó là một

13


hình thức tổ chức kinh tế thu hút đông đảo người lao động, phát huy sức mạnh
tương trợ nhau, rất cần thiết trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa ở nước ta hiện nay.
1.1.2. Vai trò của kinh tế hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường
Trong thời kỳ bao cấp, kinh tế tập thể cùng với kinh tế quốc doanh (sau gọi
là kinh tế nhà nước) là 2 thành phần cơ bản trong nền kinh tế quốc dân. Từ Đại hội
VI đến nay, Đảng quyết định chuyển từ cơ chế kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thừa nhận nền kinh tế gồm nhiều thành phần
kinh tế. Cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, chúng ta từng bước thừa nhận
kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu
tư nước ngoài…Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh
tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực
quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp
tác và cạnh tranh theo pháp luật” [18].
Hiện nay, kinh tế tập thể không phải là khu vực chính để tạo ra nhiều lợi
nhuận và tăng trưởng kinh tế, nhưng là khu vực có vai trò, vị trí quan trọng trong
việc giải quyết việc làm, đảm bảo đời sống cho đông đảo người lao động, tạo sự ổn
định về chính trị, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội. Mô
hình tổ chức quản lý hoạt động của hợp tác xã đã đem lại hiệu quả thiết thực hơn
cho thành viên nhất là những người lao động yếu thế như thiếu vốn, thiếu kinh
nghiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh…Lợi ích mà hợp tác xã mang lại
không chỉ có mặt kinh tế mà còn có mặt chính trị, xã hội.
- Thứ nhất, vai trò của kinh tế hợp tác xã trong nền kinh tế thị trường: Đối
với nền kinh tế, thành viên hợp tác xã đóng vai trò kép vừa là chủ sở hữu vừa là
người sử dụng dịch vụ, tạo ra hai kênh tăng trưởng, một mặt góp phần nâng cao
hiệu quả hoạt động kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh của các thành viên trong hoạt
động sản xuất kinh doanh riêng của mình, nhờ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả

14


hoạt động kinh tế của mỗi thành viên; mặt khác, từ hoạt động của mình, hợp tác xã
tạo ra sự tăng trưởng cho riêng mình.
Theo tổng hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, toàn quốc có 19.216 hợp tác xã,
thu hút trên 6 triệu thành viên tham gia. Từ sau khi Luật Hợp tác xã năm 2012 có
hiệu lực tới giữa năm 2016 thì cả nước tăng thêm 165 hợp tác xã (0,9%) nhưng số
thành viên giảm hơn 286.000 và số lao động giảm hơn 200.000 người. Doanh thu
bình quân của một hợp tác xã đạt hơn 3,4 tỷ đồng, tăng 23,1% so với năm 2013,
trong đó doanh thu bình quân của hợp tác xã với thành viên cũng tăng từ 1,7 tỷ
đồng lên 2,1 tỷ đồng. Lãi bình quân của một hợp tác xã tăng từ 194,5 triệu đồng lên
225,6 triệu đồng. Thu nhập bình quân của lao động tăng tới 35%, hiện ở mức 35,2
triệu đồng [10].
- Thứ hai, đối với nền chính trị, hợp tác xã về bản chất là một tổ chức kinh tế
nhưng lại mang ý nghĩa chính trị nhất định, bởi lẽ hợp tác xã đã góp phần làm lan
tỏa tinh thần “dân chủ” trong xã hội. Góp phần nâng cao vị thế xã hội của người lao
động trong các hợp tác xã với tư cách không chỉ là người lao động làm thuê mà còn
là người làm chủ cơ sở, từ đó góp phần làm hài hòa mối quan hệ giữa giới chủ và
người lao động, giữa tư bản và lao động, làm giảm bớt sự cạnh tranh thị trường
khắc nghiệt, không cần thiết giữa các thành viên hợp tác xã.
- Thứ ba, đối với văn hóa – xã hội, với tính chất là tổ chức kinh tế - xã hội,
hợp tác xã đã tham gia tích cực vào việc giải quyết các vấn đề xã hội như: Góp phần
giúp nhiều hộ thoát nghèo, ổn định đời sống, giảm bớt cách biệt xã hội, nâng cao
đời sống vật chất cũng như tinh thần cho những vùng khó khăn, vùng dân tộc thiểu
số.
Việc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã còn góp phần phát huy, lan tỏa các
giá trị tốt đẹp ra toàn xã hội như: Đề cao sự trung thực, cởi mở, nâng cao trách
nhiệm xã hội của từng thành viên hợp tác xã cũng như cộng đồng, hướng con người
đến các giá trị cao đẹp như sự đoàn kết, tương thân tương ái, dân chủ… Đây chính
là những giá trị văn hóa mà hợp tác xã đem lại và cũng là điểm nổi bật để phân biệt

15


hợp tác xã với các tổ chức kinh tế khác trong nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa.
1.1.3. Khái niệm và đặc điểm tổ chức quản lý hợp tác xã
Hợp tác xã đã ra đời ở Việt Nam gần 70 năm, các công trình nghiên cứu về
hợp tác xã khá đa dạng và phong phú. Tuy nhiên, việc nghiên cứu để đưa ra các
khái niệm, phạm trù về hợp tác xã nói chung và tổ chức quản lý hợp tác xã nói riêng
còn chưa đầy đủ và thống nhất. Do đó, trong khuôn khổ luận văn này, căn cứ quy
định về tổ chức quản lý trong Luật hợp tác 2012, sẽ tiếp cận vấn đề tổ chức quản lý
hợp tác xã theo hướng phân tích từng khái niệm về “tổ chức”,“quản lý” để đi đến
nhận thức chung về vấn đề tổ chức quản lý hợp tác xã.
“Quản lý” là sự tác động có định hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý
nhằm duy trì hoạt động của các hệ thống, sử dụng tốt nhất mọi tiềm năng có sẵn,
các cơ hội để đưa hệ thống đi đến mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của thị
trường. “Tổ chức” là sự liên kết những cá nhân, những quá trình, những hoạt động
trong hệ thống nhằm thực hiện mục đích đề ra của hệ thống dựa trên cơ sở các
nguyên tắc và nguyên tắc của quản trị quy định. Như vậy, “tổ chức quản lý” là sự
thiết lập và vận hành hệ thống cơ quan quản lý điều hành, dựa trên cơ sở các
nguyên tắc quản trị, nhằm thực hiện mục đích đề ra của hệ thống [26].
Đối với hợp tác xã, việc tổ chức quản lý cũng có nhiều điểm khác biệt so với
các hình thức tổ chức kinh doanh khác nhưng suy đến cùng là sự thiết lập và vận
hành hệ thống cơ quan quản lý điều hành của hợp tác xã, dựa trên các nguyên tắc tổ
chức và hoạt động của hợp tác xã đã được luật hóa, nhằm thực hiện hiệu quả các
mục tiêu sản xuất kinh doanh và mang đến lợi ích cho các thành viên.
Từ nhận thức chung trên, có thể nêu ra một số đặc điểm của tổ chức quản lý
hợp tác xã như sau:
Thứ nhất, tổ chức quản lý hợp tác xã được xây dựng căn cứ trên các nguyên
tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã. Trong khoa học pháp lý, bất cứ hệ thống
pháp luật nào cũng được xây dựng trên cơ sở những tư tưởng chỉ đạo nhất định.
Trong hệ thống pháp luật, những tư tưởng chỉ đạo đó xuyên suốt quá trình lập pháp

16


cũng như quá trình thi hành và bảo vệ pháp luật. Để có sự thống nhất trong quá
trình này, cần có những nguyên lý chỉ đạo chung mang tính bắt buộc, những nguyên
lý chỉ đạo này được coi là những nguyên tắc cơ bản của pháp luật. Hệ thống pháp
luật về hợp tác xã cũng tuân theo những nguyên tắc cơ bản nhất định. Những
nguyên tắc này gọi là các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hợp tác xã và là cơ
sở cho việc tổ chức quản lý hợp tác xã.
Điều 7 Luật Hợp tác xã 2012 quy định cụ thể 7 nguyên tắc tổ chức, hoạt
động của hợp tác xã, bao gồm:
+ Cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi hợp
tác xã.
+ Hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã kết nạp rộng rãi thành viên, hợp tác xã
thành viên.
+ Thành viêncó quyền bình đẳng, biểu quyết ngang nhau không phụ thuộc
vốn góp trong việc quyết định tổ chức, quản lý và hoạt động của hợp tác xã; được
cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, chính xác về hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài
chính, phân phối thu nhập và những nội dung khác theo quy định của điều lệ.
+ Hợp tác xã tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp
luật.
+ Thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã có
trách nhiệm thực hiện cam kết theo hợp đồng dịch vụ và theo quy định của điều lệ.
Thu nhập của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được phân phối chủ yếu theo mức độ
sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành viênhoặc theo công sức lao động đóng góp
của thành viên đối với hợp tác xã tạo việc làm.
+ Hợp tác xãquan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng cho thành viên, cán bộ
quản lý, người lao động trong hợp tác xãvà thông tin về bản chất, lợi ích của hợp tác
xã.
+ Hợp tác xãchăm lo phát triển bền vững cộng đồng thành viên và hợp tác
với nhau nhằm phát triển phong trào hợp tác xã trên quy mô địa phương, vùng, quốc
gia và quốc tế.

17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×