Tải bản đầy đủ

Phân tích cơ sở của việc dạy học vần thiết kế một giáo án dạy học vần theo sách giáo khoa hiện hành

- Phân tích cơ sở của việc dạy học vần
-Thiết kế một giáo án dạy học vần theo sách giáo
khoa hiện hành


- Phân tích cơ sở của việc dạy học vần
- Mục tiêu, nhiệm vụ của dạy học Học vần
- Mục tiêu của dạy học Học vần
Mục tiêu, nhiệm vụ dạy học chi phối việc lựa chọn, sắp xếp
các nội dung dạy học vào việc phối hợp sử dụng các phương pháp,
biện pháp dạy học. Mục tiêu, nhiệm vụ dạy học của môn Tiếng
Việt được cụ thể hoá thành mục tiêu, nhiệm vụ dạy học của các
phân môn.
Cụ thể hóa mục tiêu của môn Tiếng Việt, dạy học Học vần có
những mục tiêu chủ yếu sau:
 Rèn các kĩ năng đọc, nghe, nói, viết cho học sinh lớp 1:
Môn Tiếng Việt có mục tiêu quan trọng là rèn cho học sinh bốn kĩ
năng lời nói: đọc, viết, nghe, nói. Quá trình đọc, viết chữ phải
thông qua âm, do vậy giữa chữ và âm có một mối quan hệ chặt
chẽ. Vì chữ viết tiếng Việt là chữ ghi âm (về cơ bản viết thế nào,
đọc thế ấy) cho nên ở lớp 1 phải kết hợp cả hai mục tiêu cơ bản là

dạy chữ và dạy âm: dạy chữ trên cơ sở dạy âm, dạy âm để dạy chữ.
Tuy nhiên, với phần lớn trẻ em người Việt học tiếng Việt thì vấn đề
cơ bản đầu tiên là học cách dùng kí hiệu (chữ viết) để mã hoá ngôn
ngữ âm thanh với hệ thống âm tiết mà các em đã sử dụng khá
thành thạo trước khi đến trường; biết nhận đủ và nhớ hệ thống kí


hiệu đó. Hơn nữa, chữ viết được coi là phương tiện ưu thế nhất
trong giao tiếp. Bởi vậy, nội dung và chương trình, sách giáo khoa
cũng như phương pháp dạy học tiếng Việt lớp 1 phải thoả mãn yêu
cầu bằng cách nhanh nhất giúp học sinh làm quen với hệ thống tín
hiệu mới là chữ viết để các em có thể mau chóng sử dụng hệ thống
tín hiệu này một cách hiệu quả trong giao tiếp, học tập. Thông qua
các nhiệm vụ học tập cụ thể, các bài Học vần cần tạo điều kiện cho
học sinh luôn được tham gia vào tình hướng nói năng gần gũi với
giao tiếp hằng ngày. Các em có thể tập đọc đơn vị nhỏ nhất là âm
tới các đơn vị lớn hơn như vần, tiếng, từ, câu, bài; các em có thể
tập viết các nét chữ và chữ cái, sau đó là các chữ ghi âm, vần,
tiếng, từ ngữ; các em cũng có thể tập nghe, nói gắn với những chủ
đề thường gặp hay tập nghe và kể ở mức độ đơn giản những câu
chuyện ngắn gọn, có tình tiết không phức tạp và dễ nhớ,...
 Cùng với tập viết, Học vần cần phải hướng dẫn học sinh
biết cách sử dụng chữ viết trong học tập và giao tiếp. Khi biết đọc,
biết viết, học sinh có thể cảm nhận được hiện thực cuộc sống một
cách đầy đủ và sâu sắc hơn, có thể diễn đạt một cáh rõ ràng nhận
thức, tình cảm của mình, các em có điều kiện nghe thầy cô giảng
trên lớp, sử dụng sách giáo khoa, sách tham khảo,... từ đó có điều
kiện học tập các môn khác trong chương trình.
 Thông qua dạy chữ gắn với các kĩ năng lời nói, phân môn
Học vần còn có một số mục tiêu khác như: phát triển vốn từ vựng
cho học sinh, tập cho các em nói viết đúng các mẫu câu ngắn; bồi


dưỡng lòng ham thích thơ văn, mở rộng vốn hiểu biết về tự nhiên
vã xã hội; giáo dục đạo đức, nuôi dưỡng tình cảm, tâm hồn các
em,...
 Bên cạnh đó, các bài Học vần hướng học sinh tới những
nhận thức và ý thức mới mẻ, những kĩ năng sống tuy đơn giản
những hết sức quan trọng.
- Nhiệm vụ của dạy học Học vần


Phân môn Học vần có những nhiệm vụ sau:
 Rèn kĩ năng đọc - viết cho học sinh lớp 1
Nhiệm vụ đặc thù, quan trọng nhất của dạy Học vần là giúp
cho học sinh lớp 1 chiếm lĩnh một công cụ mới là "chữ viết"; thực
hiện quá trình giải mã âm - chữ hay còn gọi là dạy đọc - viết sơ bộ,
dạy đọc - viết giải đoạn đầu. Đây cũng chính là nhiệm vụ đầu tiên
của trường học, nhiệm vụ dạy học sinh " biết chữ". Giờ Học vần
giúp học sinh đọc được các đơn vị ngôn ngữ từ nhỏ nhất là âm đến
các đơn vị lơn hơn như tiếng, từ đến cậu, đoạn ứng dụng. Giờ Học
vần giups học sinh tập viết các chữ cái, tổ hợp chữ cái ghi âm rồi
đến các chữ ghi vần, tiếng, từ, cụm từ.
 Rèn kĩ năng nghe - nói cho học sinh lớp 1
Bên cạnh việc dạy kĩ năng đọc - viết, trong giờ Học vần, các
kĩ năng nghe nói đã có ở học sinh trước tuổi học vẫn được phát
triển trong môi trường học tập. Trong chương trình dạy Học vần,
nhiệm vụ rèn kĩ năng nghe - nói được thể hiện rõ ở từng bài học và


chúng được phối hợp chặt chẽ với kĩ năng đọc - viết. Thông qua
những nhiệm vụ học tập cụ thể, các bài Học vần vẫn luôn tạo điều
kiện cho học sinh tham gia vào các tình huống nói năng gần gũi
với hoạt động giao tiếp hằng ngày của các em. Học sinh có thể tập
nghe nói gắn với những chủ đề thường gặp trong cuộc sống hay tập
nghe và kể ở mức độ đơn giản những câu chuyện ngắn gọn, có tình
tiết không phức tạp và dễ nhớ... Cũng như vậy, vốn từ ngữ của các
em được mở rộng và nhiều mẫu câu được hình thành tạo điều kiện
cho các em phát triển kĩ năng đọc - viết, nghe - nói ở giai đoạn sau.
 Bên cạnh việc rèn các kĩ năng tiếng Việt cho học sinh, phân
môn Học vần còn bồi dưỡng lòng ham thích thơ văn, mở rộng vốn
hiểu biết về tự nhiên xã hội và giáo dục đạo đức, tình cảm, tâm hồn
cho các em.
- Cơ sở khoa học của dạy học Học vần
Việc dạy học Học vần bị quy định bởi đặc điểm của học
sinh lớp 1, đặc điểm của tiếng Việt. Chính vì vậy, việc dạy Học vần
phải tính đến đầy đủ những đặc điểm này: đặc điểm tâm, sinh lí;
đặc điểm ngôn ngữ và mối quan hệ giữa hai hoạt động đọc - viết
của học sinh; chức năng của ngôn ngữ; đặc điểm loại hình tiếng
Việt, mối quan hệ giữa âm và chữ.
-Đặc điểm tâm, sinh lí, đặc điểm ngôn ngữ của trẻ 6-7 tuổi đối
với việc dạy học Học vần


 Đặc điểm tâm, sinh lí của học sinh lớp 1 và việc dạy học
Học vần
 Theo các nhà khoa học, bộ não của trẻ 6-7 tuổi đã có khối
lượng bằng 90% khối lượng bộ não người lớn. Điều này cho phép
các em tham gia vào một loại hoạt động mới có ý thức, đó là hoạt
động hoạt tập. Tuy nhiên, khả năng tập trung chú ý của học sinh ở
độ tuổi này chưa cao, tư duy cụ thể là chủ yếu, nhận thức thiên về
trực quan, khả năng tổng hợp và khái quát hóa còn nhiều hạn chế.
Do vậy, cần chú ý tới yêu cầu trực quan, vừa sức khi dạy Học vần.
Cần thay đổi linh hoạt hoặc xen kẽ khoảng thời gian giải lao vài ba
phút giữa tiết học ( hát, chơi trò chơi học tập...) để phát huy tính
tích cực, giúp học sinh cảm thấy việc học nhẹ nhàng và thú vị.
Cách làm này cũng giúp học sinh nhanh chóng vượt qua những bỡ
ngỡ, lo âu buổi đầu đi học khi chuyển hoạt động chủ yếu từ vui
chơi sang học tập.
 Ở giai đoạn 6-7 tuổi, học sinh đã đủ khả năng điều khiển
các bộ phận cơ thể như đầu, cổ, mắt, cổ tay và cánh tay. Các em
cũng đã đủ khả năng nhận biết các yếu tố không gian (phải, trái,
trên, dưới), có thể phân tích cấu tạo chữ và nhận biết quy trình viết
chữ. Vì vậy, khi vào lớp 1, học sinh đã đủ điều kiện cần thiết để tập
viết. Tuy nhiên, do ý thức về không gian chưa đầy đủ, các em chỉ
quan tâm tới tổng thể mà chưa thật sự chú ý tới quy trình, hoặc
nhầm lẫn về chiều hướng các nét chữ, vị trí các chữ cái... Vì vậy,


khi dạy tập viết, cần chú ý hướng dẫn học sinh nhận biết cấu tạo
chữ và quy trình viết chữ.
 Đặc điểm ngôn ngữ của học sinh giai đoạn đầu lớp 1 và
việc dạy học Học vần
 Những ngày đầu lớp 1, vốn sống và kĩ năng sử dụng tiếng
Việt của học sinh không đồng đều. Để giúp học sinh học tiếng Việt
một cách thuận lợi trong những ngày đầu tới trường, giáo viên nên
tìm hiểu sơ bộ về đặc điểm ngôn ngữ của các em, từ đó có hướng
dẫn các em học nghe, nói, đọc, viết một cách hiệu quả.
 Nhìn chung, dựa vào kĩ năng sử dụng tiếng Việt, có thể chia
học sinh lớp 1 thành 2 nhóm: (1) những học sinh học tiếng Việt là
tiếng mẹ đẻ - ngôn ngữ thứ nhất, và (2) những học sinh học tiếng
Việt là ngôn ngữ thứ hai (phần lớn trong số này là học sinh người
dân tộc ít người, đã được làm quen với tiếng Việt ở trường mầm
non).
 Với học sinh học tiếng Việt là ngôn ngữ thứ nhất, cần tận
dụng những kinh nghiệm lời nói của các em vào việc học đọc, viết.
Một điều dễ thấy là khí đến trường, hầu hết học sinh trong nhóm
này sử dụng tiếng Việt khá thành thạo để nghe, nói nhưng chưa
biết đọc, viết. Do vậy, cần ưu tiên giúp học sinh làm quen với âm
và chữ cái, cố gắng bằng con đường ngắn nhất giúp các em biết
đọc, viết tiếng Việt: cần hướng dẫn các em tập đọc, viết trên cơ sở
những kĩ năng nghe đọc đã có của các em. Cần chú ý rằng, nếu
kinh nghiệm lời nói của những học sinh này không phù hợp với


tiếng Việt chuẩn mực, thì những kinh nghiệm đó có thể tác động
tiêu cực đến kết quả học tiếng Việt của các em. Ví dụ, những cách
phát âm không chuẩn mực của từng phương ngữ có thể ảnh hưởng
đến việc luyện phát âm của học sinh. Do vậy, giáo viên cần chú ý
giúp học sinh sớm giảm bớt lỗi, đồng thời hạn chế những tác động
tiêu cực của kinh nghiệm lời nói không chuẩn mực đối với kết quả
học tiếng Việt của các em.
 Với học sinh học tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai, do vốn
tiếng Việt còn ít ỏi, các em gặp rất nhiều khó khăn khi học tiếng
Việt. Trong trường hợp này giáo viên cần đối chiếu tiếng Việt với
tiếng mẹ đẻ của các em, tìm điểm tương đồng về ngữ âm, từ vựng,
ngữ pháp giữa hai ngôn ngữ để tận dụng những ưu điểm do sự gần
gũi, hạn chế khó khăn do sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ gây ra.
Việc dạy tiếng Việt cho những học sinh này sẽ hiệu quả hơn nếu
giáo viên có thể sử dụng tiếng mẹ đẻ cảu học sinh hoặc nhờ sự trợ
giúp của học sinh hay những người trong cộng đồng biết cả hai thứ
tiếng.
 Khi giải thích từ ngữ cho học sinh dân tộc, cần trực quan
hóa nghĩa của từ. Sử dụng tiếng mẹ đẻ của học sinh, sử dụng tiếng
mẹ đẻ của học sinh, phối hợp sử dụng tiếng Việt cũng là những
cách giúp học sinh hiểu nghĩa từ một cách hiệu quả.
 Đi học lớp 1, học sinh chuyển từ hoạt động chủ đạo là vui
chơi sang hoạt động chủ đạo là học tập. Sự thay đổi này tác động
không nhỏ đến tâm lí của trẻ. Sự thay đổi này có tác động không


nhỏ tới tâm lí của trẻ. Có những em rụt rè, lo âu; có em thì lại hào
hứng, hồi hộp, phấn chấn,... Sự phấn chấn trong những ngày đầu
khiến đứa trẻ hào hứng, tự tin hơn trong học tập. Sự e dè, lo âu
trong những ngày này khiến các em nhút nhát, thiếu tự tin, thậm
chí còn hoang mang. Điều này làm cho thời gian làm quen với môi
trường học tập mới bị kéo dài, ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ đến
kết quả học tập của các em. Hiểu tâm lí của học sinh, giáo viên cần
kịp thời khích lệ học sinh khi thành công, động viên khi các em
gặp khó khắ, tạo cơ hội cho các em tham gia trò chơi học tập, tạo
điều kiện cho các em mạnh dạn, tự tin, có tâm thế học tập tốt nhất
ngay từ những ngày đầu đến trường. Hiểu đặc điểm tư duy, nhận
thức của học sinh, giáo viên nên tìm cách cụ thể hóa các nhiệm vụ
học tập của học sinh: trực quan hóa nghĩa của từ và nội dung của
câu hoặc bài học bằng hình ảnh (kết hợp giải thích bằng lời), kết
hợp tách ghép - tách vần với thao tác của tay (có thể sử dụng các
đồ dùng học tập)... Cách này giúp học sinh cảm thấy việc học trở
nên đơn giản và thú vị. Bên cạnh đó, những trò chơi học tập,
những khoảng thời gian nghỉ giải lao ngắn giữa tiết học với những
tiết mục văn nghê đơn giản khiến học sinh cảm thấy việc học hấp
dẫn và nhẹ nhàng hơn.
-Chức năng của ngôn ngữ và đặc điểm của tiếng Việt đối
với việc dạy học Học vần
 Do ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất và
là phương tiện tư duy của loài người nên việc dạy học Học vần


cần tuân thủ theo nguyên tắc phát triển lời nói và nguyên tắc
phát triển tư duy. Sự tuân thủ này được thể hiện ở các yêu cầu
chính sau:
Việc lựa chọn và sắp xếp nội dung dạy học phải lấy giao tiếp
làm đích. Chẳng hạn, các bài được sắp xếp theo trật tự từ dễ đến
khó, từ đơn giản đến phức tạp ( Ví dụ, các bài trong 31 bài đầu đều
là các bài về làm quen chữ cái, dấu thanh và bài dạy học về vần có
một âm. Từ bài 32 mới dạy các vần có nhiều âm: Vần có ba âm
dạy sau vần có hai âm; các chữ ghi âm có cấu tạo phức tạp dạy sau
các chữ có cấu tạo đơn giản...). Với những trường hợp một âm có
nhiều cách viết ( ví dụ, c/k/qu, yêu/iêu,...), hoặc một chữ thể hiện
nhiều âm ( ví dụ, chữ cái g trong các tiếng gà, gì), phải lựa chọn
cách tiếp cận sao cho có lợi nhất cho việc hình thành kĩ năng đọc,
viết của học sinh.
Phải tổ chức tốt hoạt động nói năng cho học sinh để dạy học
tiếng Việt, sử dụng giao tiếp như một phương pháp dạy học chủ
đạo ở tiểu học. Quán triệt tinh thần này, trong chương trình Học
vần, từ bài đầu tiên đến bài cuối cùng, các bài học đều được biên
soạn theo hướng tích cực hóa hoạt động của học sinh. Giáo viên
cũng cần tổ chức giờ học sao cho học sinh được thực hành nhiều
nhất để rèn luyện bốn kĩ năng đọc, nghe, nói, viết. Nội dung bài
học phải xây dựng sao cho học sinh được tham gia vào hoạt động
giao tiếp gần gũi với cuộc sống của các em, để các em được luyện
tập một cách tự nhiên và vừa sức.


Phải chú ý rèn luyện các thao tác tư duy và bồi dưỡng các
năng lực, phẩm chất tư duy cho học sinh như so sánh, đối chiếu,
phân tích, tổng hợp... Ví dụ, trong chương trình Học vần, các bài
dạy âm - vần mới có nội dung tổng hợp các âm thành vần, vần với
âm đầu và thanh điệu thành tiếng và nội dung phân tích tiếng thành
âm, vần, thanh, phân tích vần thành các âm...Các thao tác so sánh,
tìm kiếm điểm tương đồng, khác biệt giữa các âm, vần, tiếng, chữ
cũng làm cho năng lực và phẩm chất tư duy của học sinh phát
triển...
Phải làm cho học sinh thông hiểu ý nghĩa của các đơn vị
ngôn ngữ, nắm được nội dung cần nói, viết và tạo điều kiện để các
em thể hiện những vấn đề đó bằng phương tiện ngôn ngữ. Trong
chương trình Học vần, không phải mọi từ đều quen thuộc với tất cả
các đối tượng học sinh. Ví như học sinh miền Nam có thể không
hiểu nghĩa của từ phá cỗ, học sinh thành phố không hiểu biết nhiều
về chim ngói và ruộng bậc thang... Giáo viên phải dùng biện pháp
thích hợp để giúp học sinh hiểu nội dung của những từ ngữ này thì
các em mới có thể hoàn thành tốt các nhiệm vụ học tập. Các bài
nói theo chủ đề phải có nội dung là những vấn đề gần gũi với học
sinh; hệ thống câu hỏi của giáo viên cũng cần dễ hiểu và phù hợp
với đối tượng. Có như vậy, việc luyện nói của học sinh mới đạt kết
quả như mong muốn. Việc nhận xét ưu, nhược điểm trong bài nói,


bài viết của bản thân và của các bạn cũng góp phần nâng cao năng
lực, phẩm chất tư duy cho các em.
 Đặc điểm ngữ âm và đặc điểm chữ viết của tiếng Việt
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, những đặc
điểm cảu loại hình này có ảnh hưởng đến việc lựa chọn nội dung
và phương pháp dạy học Học vần.
 Về ngữ âm, âm tiết tiếng Việt là ngôn ngữ có nhiều thanh
điệu, các âm tiết được nói rời, viết dời, rất dễ nhận diện. Mặt khác,
ranh giới âm tiết tiếng Việt trùng với danh giới hình vị, do vậy, hầu
hết các âm tiết tiếng Việt đều có nghĩa. Chính vì điều này, tiếng
( có nghĩa) được chọn làm đơn vị cơ bản để dạy học sinh học đọc,
viết trong phân môn Học vần. Với cách lựa chọn này, ngay từ bài
học đầu tiên, học sinh đã được tiếp cận với một tiếng tối giản, là
nguyên liệu tạo nên các từ đơn và từ phức trong tiếng Việt. Cũng vì
vậy, học sinh chỉ học ít tiếng nhưng lại biết được nhiều từ chức
những tiếng mà các em đã biết.
 Về cấu tạo, âm tiết tiếng Việt là một tổ hợp âm thanh có tổ
chức chặt chẽ, các yếu tố trong âm tiết kết hợp với nhau theo từng
mức độ lỏng chặt khác nhau. Phụ âm đầu, vần và thanh kết hợp
lỏng, các bộ phận trong vần kết hợp với nhau một cách chặt chẽ.
Vần có vai trò đặc biệt quan trọng trong âm tiết. Đây là cơ sở của
cách đánh vần theo quy trình lập vần ( a-mờ-am) sau đó ghép âm
đầu và thanh điệu với vần để tạo thành tiếng ( lờ-am-lam-huyềnlàm).


 Chữ viết tiếng Việt là chữ ghi âm. Nguyễn tắc cơ bản của
kiểu chữ này là nguyễn tắc ngữ âm học- đảm bảo sự tương ứng 1-1
giữu âm và chữ: một âm chỉ ghi bằng một chữ và một chữ chỉ có
một cách phát âm. Ngoài ra, về mặt chữ viết, các âm tiết tiếng Việt
đều nói, viết rời, có cấu tạo đơn giản nên việc đánh vần không
phức tạp lắm.
 Tuy nhiên, khi tập đọc, viết trong giờ Học vần, học sinh có
thể gặp một số khó khăn sau:
 Sự thể hiện trên chữ viết của các âm trong tiếng Việt có một
số bất hợp lí như: một âm có nhiều các viết ( âm /k/ viết bằng chữ
cái k,c,q, âm /ie/ viết bằng các tổ hợp chữ cái iê,yê, ia, ya,... Điều
này khiến học sinh có thể gặp khó khăn khi viết vì có những từ đọc
giống nhau nhưng viết khác nhau ( như iêu/yêu), hoặc đọc nhầm
các chữ ( như gì đọc thành ghì). Do vậy, khi dạy học vần, phải
đồng thời chú ý hướng dẫn đọc với đối chiếu âm và chữ để học
sinh đọc và viết đúng.
 Chữ viết tiếng Việt phân biệt theo hệ thống ngữ âm "
chuẩn" những cách nói, đọc của học sinh lại thể hiện theo phương
ngữ hoặc ảnh hưởng tiếng mẹ đẻ ( với học sinh học tiếng Việt là
ngôn ngữ thứ hai). Cách nói, đọc này có thể ảnh hưởng đến việc
luyện đọc, viết của học sinh. Vì vậy, cần đối chiếu cách phát âm
( lệch chuẩn) của học sinh với cách phát âm "chuẩn" và với chữ
viết để hướng dẫn các em đọc và viết đúng.
 Cơ chế của việc đọc - viết


 Trong giao tiếp bằng ngôn từ, người phát thông tin cần
dùng ngôn ngữ để thể hiện một ý nào đó thành lời; còn người tiếp
nhận lại rút ở trong lời nói mà mình tiếp nhận được các ý để biết
người phát muốn gửi thông tin nào tới minhg hay tới mọi người.
 Để chuyển ý thành lời, người ta sử dụng một bộ mã chung
của xã hội là ngôn ngữ, lựa chọn các kết hợp các yếu tố của mã đó
thành lời cụ thể. Hoạt động dùng mã để lồng ý, tạo lời ( nói hoặc
viết) như thế gọi là mã hóa. Ngược lại, khi chuyển lời thành ý,
người tiếp nhận ( nghe hoặc đọc) phải rút ra nội dung chứa đựng
bên trong lời nói. Hoạt động đó chính là giải mã.
 Ngôn ngữ nói là loại mã biểu thị dưới dạng hệ thống tín
hiệu âm thanh; khi chuyển thành ngôn ngữ viết thì chữ viết lại thay
thế ngôn ngữ âm thanh, làm thành hệ thống tín hiệu của tín hiệu.
Chữ viết là một loại mã mới truyền đạt mã ngôn ngữ âm thanh. Có
thể nói, chữ viết là mã của mã; ngôn ngữ âm thanh là mã bậc một (
mã 1), còn chữ viết là mã bậc hai ( mã 2).
 Hai loại mã này có quan hệ mật thiết với hoạt động đọc và
viết. Có thể hiểu, viết là quá trình chuyển từ mã 1 thành mã 2 (mã
hóa), còn đọc là quá trình chuyển từ mã 2 thành mã 1 ( giải mã).
Trước một văn bản viết ( sử dụng mã 2), người đọc phải chuyển
thành lời, lúc đó thực hiện giải mã bậc hai trước, sau đó, từ lời mã
rút ra ý, tức là giải mã bậc một. Có thể hình dung quy trình viết và
đọc như sau:
 Quy trình viết:
Ý  ( mã hóa 1)  Lời nói  ( mã hóa 2)  Văn bản viết


 Quy trình đọc:
Văn bản  giải mã 2  Lời nói  giải mã 1  Ý
 Một trong những mục đích của Học vần là trang bị cho học
sinh bộ mã 2 (chữ viết), kĩ năng chuyển mã từ mã 1 sang mã 2 và
ngược lại, từ mã 2 sang mã 1. Cho nên trong quá trình dạy viết và
dạy đọc, trọng tâm dồn chú ý các khâu có liên quan đến mã 2, tức
là viết và đọc. Cho nên, khi dạy không thể tách tập đọc (đánh vần)
với tập viết.
 Do chữ viết tiếng Việt là chữ ghi âm, giữa chữ viết và âm
đọc có sự tương ứng nhất định nên thương tiếng Việt được đọc thế
nào viết thế ấy. Vì vậy, nên hướng dẫn học sinh luyện đọc trong
mối quan hệ với luyện viết: Luyện đọc đúng để học sinh viết đúng
và luyện viết đúng để hỗ trợ hình thành kĩ năng đọc đúng.
 Với những trường hợp một âm, có nhiều biểu hiện khác
nhau trên chữ viết hoặc một chữ cái biểu hiện nhiều âm, cần có
cách " hóa giải" những khó khăn trong việc học đọc, học viết của
học sinh do sự không tương ứng 1-1 giữa âm và chữu. Ví dụ:
 Ở những bài đầu, có thể coi mỗi biểu hiện đó như một âm
để học sinh có thể tập đánh vần thế nào viết thế ấy ( ví dụ, đánh
vần cờ-a-ca, ca-ê-kê-hỏi-kể, quờ-a-qua-hỏi-quả); khi học lên lớp
trên học sinh sẽ làm quen dần với bản chất ngữ âm của những
trường hợp này.
 Cung cấp cho học sinh những quy tắc chính tả sơ giản, như:
trước i,e,ê chỉ viết ngh mà không viết ng...


 Cho học sinh làm quen với hình thức và ý nghĩa của từ
trong ngữ cảnh.
 Cho học sinh luyện đọc, viết nhiều để hình thành kĩ năng
đọc viết từ thói quen.
Chú ý tới đặc điểm phát âm của học sinh địa phương để xác
định trọng tâm dạy phát âm và đối chiếu âm đọc với hình thức chữ
viết cũng là điều cần thiết.
Câu 2: Thiết kế một giáo án dạy học vần theo sách giáo khoa
hiện hành
Học vần
Bài 39: in – un(Tiết 1)
I. MỤC TIÊU
Sau khi học xong bài này, HS đạt được những yêu cầu sau:
1. Kiến thức:
- Học sinh nhận biết được vần in- un và từ đèn pin, con giun.
2. Kỹ năng
- Đọc, viết đúng vần in- un , đọc được các từ đèn pin, con giun.
3. Thái độ
- Học sinh hứng thú, tích cực tham gia các hoạt nhóm và hoạt động
học tập.


II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
Góp phần phát triển cho học sinh những năng lực sau:
- Năng lực ngôn ngữ
- Năng lực thẩm mỹ
- Năng lực giao tiếp hợp tác
III. ĐỒ DÙNG VÀ PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC:
1. Giáo viên:
- Máy chiếu, máy tính, slide.
- Sách giáo khoa.
2. Học sinh:
- SGK, vở luyện viết, bảng con.
III. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC
Thờ Hoạt động của giáo viên

Hoạt động của học

i

sinh

gian
1

1. Ổn định tổ chức


2. Khởi động:
2'

a) Đọc
- GV gọi học sinh đọc từ khóa. Phân - 1 HS đọc trơn vần
tích tiếng bất kì.

en, ên.

- GV gọi HS đọc từ ứng dụng và

- 1 HS đọc từ: áo len,

phân tích một từ bất kì do GV chọn.
Gọi 1 HS nhận xét bài của bạn
- GV gọi 1 số HS đọc câu ứng dụng.

mũi tên, khen ngợi,
nền nhà. HS phân tích
tiếng len, nền.

Tìm tiếng chứa vần en

- HS nhận xét

- Gọi 1 HS nhận xét bài của bạn.

- ô HS đọc trơn nối
tiếp.

- HS nhận xét
2'

b) Viết bảng con
- Chia lớp thành 2 bên:
Tổ 1 và 2 viết cho cô từ áo len
Tổ 3 và 4 viết cho cô từ nền nhà


- Cô mời cả lớp quan sát và nhận

- 1 hoặc 2 HS nhận

xét bài viết trên bảng của cô ( chú ý

xét.

những bảng sai)
- GV nhận xét phần kiểm tra bài cũ
và yêu cầu hs chuẩn bị cho bài mới.

- HS cất bảng và học
bài mới

30'

3. Bài mới
- GV giới thiệu 2 vần học ngày hôm
nay : au, âu
a) Vần in, tiếng pin và từ đèn pin.
(Vần in)
-Các con nhìn lên màn hình, cô có
vần mới thứ nhất vần in . Bạn nào

- 1 HS: chữ ghi âm i

giỏi có thể giúp cô phân tích vần

đứng trước, chữ ghi n

in?

đứng sau.

- Gv gọi 1 hs nhận xét câu trả lời
của bạn.

- 1 HS đánh vần. i nờ

- Cô mời 1 bạn đánh vần giúp cô.

in

- Dãy bạn … đánh vần cho cô. (Cả

- 1 dãy đánh vần, sau

lớp).


- Dãy bạn… đọc trơn vần. (Cả lớp)

đó cả lớp đánh vần
đồng thanh

- Cô mời cả lớp lấy cho cô vần in.
( Cả lớp giơ bảng sau khi lấy xong

- 1 dãy đọc vần, cả lớp
đọc đồng thanh

vần)
- Lấy 1 bảng bất kì. Gọi 1 HS nhận
xét xem bạn lấy đúng chưa

- 1 HS nhận xét

(Tiếng pin)
- Cô có vần in, cô muốn có tiếng pin
thì cô phải làm thế nào?
- 1 HS trả lời
(Muốn có tiếng pin, ta
lấy chữ ghi âm p đứng
- Gọi 1 HS nhận xét câu trả lời của
bạn

trước vần in)
- 1 HS nhận xét bài
của bạn.

- Mời cả lớp ghép tiếng pin
- GV lấy một số bảng, gọi các bạn

- HS ghép tiếng.


đối chiếu bài mình và nhận xét bài

- 1 HS nhận xét.

bạn
(Nếu HS sai cho HS sửa và gọi HS
khác nhận xét bài vừa sửa của bạn).
- Từ cách ghép trên, cô cũng có
tiếng pin giống các con.
- Ai giúp cô đánh vần. Cô mời dãy
của bạn … ( cả lớp)
- Dãy bạn …

- 1 dãy đánh vầu: Pờ
in pin. (Cả lớp).
- 1 dãy đọc: pin. (Cả

(Từ Đèn pin)

lớp).

- Cả lớp quan sát tranh và cho cô
biết bức tranh vẽ gì? GV gọi 1 hoặc
2 HS
- Đây là hình ảnh chiếc đèn pin. Và

- 1 hoặc 2 HS trả lời

từ đèn pin là từ mới thứ nhất của cô.
Phân tích cho cô từ đèn pin. GV gọi
1 HS trả lời
- Đọc giúp cô phần bài thứ nhất.

- 1 HS trả lời: Từ đèn
pin có tiếng đèn đứng
trước, tiếng pin đứng


GV gọi 1 HS

sau.

- GV gọi 1 HS khác đọc.

- 1 HS đọc bài: in, pin,
đèn pin.
- 1 HS khác đọc phần

- GV hỏi để củng cố :

bài thứ nhất. Phân
tích tiếng pin.

+ Vần mới thứ nhất cô có là vần gì?
+ Tiếng mới thứ nhất là tiếng gì?
- HS trả lời
+ Từ mới thứ nhất là từ gì?

b) Vần un, tiếng giun và từ con
giun.
(Vần un)
- Cô có vần mới thứ hai là vần un.
Phân tích cho cô vần un? GV gọi 1
HS

- 1 HS trả lời: Vần un
gồm có chữ ghi âm u
đứng trước, chữ ghi
âm n đứng sau


- Đánh vần giúp cô. Mời dãy của … - 1 dãy đánh vần: u nờ
un. (Cả lớp)
- Cô mời dãy của …(đọc trơn)

- 1 dãy đọc vần: un.
(Cả lớp)

- Cả lớp lấy cho cô vần un. GV
quan sát nếu có HS ghép sai.
(Tiếng giun)
- Có vần un, muốn có tiếng giun thì

- Cả lớp ghép tiếng

cô phải làm thế nào nhỉ? Cả lớp suy cầu.
nghĩ và ghép cho cô tiếng giun nào.
- Cả lớp giơ bảng, GV lấy một số
bảng mời các bạn nhận xét.
- Hỏi 1 bạn: Con đã ghép ntn?

- 1 vài HS nhận xét

- GV yêu cầu những HS đã ghép sai - 1 HS trả lời: chữ ghi
sửa lại (nếu có) và giơ bảng những

âm gi đứng trước vần

bạn đã sửa để cho các bạn khác

un.

nhận xét

- 1 HS nhận xét.


- Cô mời dãy bạn … đánh vần giúp
cô.
- Cô mời dãy bạn … ( đọc trơn
tiếng)

- 1dãy: gi un giun. (Cả
lớp)
- 1 dãy: cầu. (Cả lớp)

(Từ Con giun)
- Các con hãy cùng quan sát tranh
và cho cô biết bức tranh vẽ gì?
(Vẽ hình một con giun màu nâu)

- 1 HS trả lời.

-Con giun là từ mới thứ hai cô có.
Bạn nào phân tích giúp cô từ con
giun nào?
- Mời 1 bạn đọc giúp cô phần bài
thứ hai nào? Cô mời dãy của bạn…
- Mời cả lớp đọc đồng thanh phần
bài thứ hai: un, giun, con giun.

- HS trả lời: tiếng con
đứng trước, tiếng
giun đứng sau.
- HS đọc: un, giun, con
giun

* Tiểu kết : 2 vần mới vừa học, 2
tiếng mới vừa học, 2 từ mới vừa
học?

- 1 dãy: un, giun, con
giun (Cả lớp).


- 2 vần mới vừa học:
- GV gọi 2 hoặc 3 Hs đọc lại toàn
bài, sau đó cả lớp đọc đồng thanh

au, âu. 2 tiếng: cau,
cầu. 2 từ mới: cây
cau, cái cầu.
- 2, 3 HS đọc lại toàn
bài. Cả lớp đọc đồng
thanh.

c) Từ ứng dụng
- Vần in không chỉ có trong từ đèn
pin và vần un không chỉ có trong từ
con giun mà còn có ở trong nhiều
tiếng, nhiều từ khác nữa.
- GV giới thiệu các từ ứng dụng
cùng hình ảnh nếu có: nhà in, xin
lỗi, mưa phùn, vun xới
+GV gọi HS tìm tiếng có chứa vần
vừa học.
- Tiếng có chứa vần in,
+ GV gọi HS đánh vần các tiếng
gạch chân.

un: in, xin, phùn, vun.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×