Tải bản đầy đủ

TRIẾT HỌC TRONG CHÍNH TRỊ HỌC

TRIẾT HỌC TRONG CHÍNH TRỊ HỌC

Vị trí của chính trị học trong các khoa học và triết học
Politics: chính trị trong ngôn ngữ phương tây ngày nay bắt
nguồn từ chữ Hy Lạp. Polis = thành quốc. (Thành Quốc Athens, –
một thành quốc đã trải qua đủ loại chính thể). Thuật ngữ “Chính
trị” có lẽ được nhắc đến lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại bởi
Aristotle - một triết gia Hi Lạp cổ đại. Chính trị học là khoa học
nghiên cứu về chính trị như một chỉnh thể nhằm nhận thức và vận
dụng những quy luật và tính quy luật của chính trị trong đời sống
xã hội, đặc biệt, là quy luật về giành, giữ, thực thi quyền lực chính
trị, quyền lực nhà nước.
Chính trị học là một bộ môn khoa học thuộc lĩnh vực khoa
học xã hội và nhân văn. Trong đó, chính trị học có mối quan hệ
với rất nhiều bộ môn khoa học khác như: triết học – chính trị, kinh
tế - chính trị, xã hội học – chính trị,… Chính trị học hay khoa học
chính trị (các nghiên cứu về chính trị) là ngành học thuật nghiên
cứu về chế độ chính trị, hành vi chính trị; miêu tả và phân tích các
hệ thống chính trị và các ứng xử chính trị; nghiên cứu về việc
giành quyền lực và sử dụng quyền lực. Các lĩnh vực của khoa học
chính trị bao gồm: lý thuyết chính trị, triết học chính trị (tìm kiếm

các nhân tố cơ bản cho chính trị), giáo dục công dân, các hệ thống


chính trị của các quốc gia, phân tích chính trị, phát triển chính trị,
quan hệ quốc tế, chính sách ngoại giao, quân sự và pháp luật.
Chính trị học có vị trí và vai trò quan trọng đối với sự phát
triển của khoa học nói chung và Triết học nói riêng. Chính trị học
cung cấp những tri thức, những cứ liệu chính trị làm cơ sở cho sự
khái quát triết học. Đồng thời là phương tiện để các nhà triết học thể
hiện quan điểm tư tưởng của mình. Đồng thời nó giúp cho Triết học
và các khoa học tăng cường tính logic, hệ thống chặt chẽ.
Ngược lại các bộ môn khoa học khác giúp cụ thể hóa hơn
những quy luật, những mối quan hệ giữa các sự vật hiện tượng,
nhờ đó giúp cho Chính trị học không rơi vào quan điểm siêu hình
trừu tượng.
Khái quát về triết học và chính trị học
Triết học
Khái niệm
Triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của con
người về thế giới; về vị trí và vai trò của con người trong thế giới
ấy.
Triết học Mác- Lênin nghiên cứu những quy luật vận động,
phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; xây dựng thế
giới quan và phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa
học và thực tiễn cách mạng.


Đối tượng nghiên cứu
Theo Ph.Angghen: “Triết học là khoa học về các quy luật
chung nhất của sự vận động và phát triển của thế giới; từ tự nhiên,
xã hội và cả tư duy” (ph.Angghen – “Chống Đuy rinh”).
Như vậy có thể coi đối tượng của Triết học là tự nhiên, xã
hội và tư duy của con người: nhưng Triết học không phải là khoa
học tự nhiên, khoa học về xã hội, khoa học về tư duy (logic học)
mà là khoa học chung nhất, nó coi thế giới là “một chỉnh thể
thống nhất” các mặt trên.
Vai trò của triết học trong đời sống xã hội
Vai trò của triết học trong đời sống xã hội được thể hiện qua
chức năng của triết học. Triết học có nhiều chức năng như: chức
năng nhận thức, chức năng đánh giá, chức năng giáo dục…Nhưng


quan trọng nhất là chức năng thế giới quan và chức năng phương
pháp luận.
Vai trò thế giới quan của triết học
Tồn tại trong mối quan hệ với thế giới xung quanh, dù
muốn hay không con người cũng phải nhận thức thế giới và nhận
thức bản thân mình. Những tri thức này cùng với niềm tin vào nó
dần dần hình thành nên thế giới quan.
Thế giới quan là nhân tố định hướng cho quá trình hoạt
động sống của con người. Thế giới quan như một “thấu kính” qua


đó con người xác định mục đích, ý nghĩa cuộc sống và lựa chọn
cách thức đạt mục đích đó.
Trình độ phát triển của thế giới quan là tiêu chí quan trọng
về sự trưởng thành của mỗi cá nhân cũng như mỗi cộng đồng nhất
định.
Triết học ra đời với tư cách là hạt nhân lý luận của thế giới
quan, làm cho thế giới quan phát triển như một quá trình tự giác
dựa trên sự tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tri thức do các khoa
học đưa lại. Đó là chức năng thế giới quan của triết học.
Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là cơ sở lý luận
của hai thế giới quan cơ bản đối lập nhau. Chính vì vậy chúng
đóng vai trò là nền tảng thế giới quan của các hệ tư tưởng đối lập.
Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy
tâm trong triết học biểu hiện bằng cách này hay cách khác cuộc
đấu tranh giữa những giai cấp, những lực lượng xã hội đối lập
nhau.
Do vậy:
+ Thế giới quan đúng đắn là tiền đề để xác lập nhân sinh
quan tích cực giúp cho con người sáng tạo trong hoạt động.
+ Thế giới quan sai lầm làm cho con người sống thụ động
hoặc sai lệch trong hoạt động.


+ Việc nghiên cứu triết học giúp ta định hướng hoàn thiện
thế giới quan.
Vai trò phương pháp luận của triết học
Phương pháp luận là lý luận về phương pháp; là hệ thống
quan điểm có tính nguyên tắc chỉ đạo việc tìm tòi, xây dựng, lựa
chọn và vận dụng các phương pháp.
Triết học thực hiện chức năng phương pháp luận chung nhất
+ Tri thức triết học là hệ thống tri thức chung nhất về thế
giới và vai trò con người trong thế giới, nghiên cứu các qui luật
chung nhất chi phối cả tự nhiên, xã hội và tư duy.
+ Mỗi luận điểm triết học đồng thời là một nguyên tắc trong
việc xác định phương pháp, là lý luận về phương pháp.
Việc nghiên cứu triết học giúp ta có được phương pháp luận
chung nhất, trở nên năng động sáng tạo trong hoạt động phù hợp
với xu thế phát triển chung.

Chính trị học
Sự ra đời
Khi xã hội phân chia thành giai cấp và tổ chức thành nhà
nước thì chính trị ra đời. Các quan hệ chính trị ngày càng có tác


động mạnh mẽ tới đời sống của mọi thành viên trong xã hội. Do
tác động mạnh mẽ của chính trị nên nó ngày càng đòi hỏi phải
được nghiên cứu một cách sâu sắc hơn. Từ đó, Chính trị học ra
đời.
- Khái niệm chính trị, chính trị học
Chính trị: là quan hệ giữa các giai cấp, các quốc gia, các
dân tộc, các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ và thực thi
quyền lực nhà nước.
Theo nghĩa tổng quát nhất, Chính trị học là khoa học
nghiên cứu lĩnh vực chính trị, khoa học về chính trị nhằm làm
sáng tỏ những quy luật, tính quy luật chung nhất của đời sống
chính trị - xã hội, cùng những thủ thuật chính trị để hiện thực hóa
những quy luật, tính quy luật đó trong xã hội có giai cấp được tổ
chức thành nhà nước. Theo nghĩa hẹp, Chính trị học là khoa học
nghiên cứu về quan hệ giữa các giai cấp, các quốc gia, các dân
tộc, các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ và thực thi quyền
lực nhà nước.
- Đối tượng nghiên cứu của chính trị học
Chính trị học là một môn khoa học, lấy lĩnh vực chính trị –
lĩnh vực được tạo bởi những quan hệ và những hoạt động của các
chủ thể chính trị thích ứng với thiết kế chính trị xác định – làm đối
tượng nghiên cứu.


Đối tượng nghiên cứu của chính trị học là những tính quy
luật, quy luật chung nhất của đời sống chính trị của xã hội, những
cơ chế tác động, cơ chế vận dụng, những phương thức, những thủ
thuật, những công nghệ chính trị để hiện thực hóa những quy luật,
tính quy luật.
Để khái quát nên thành những quy luật, tính quy luật chung
nhất của đời sống chính trị, Chính trị học đi sâu nghiên cứu các
hình thức hoạt động xã hội đặc biệt có liên quan đến nhà nước
như:
Hoạt động xác định mục tiêu chính trị trước mắt, mục tiêu
triển vọng dưới dạng khả năng và hiện thực, cũng như những con
đường giải quyết các mục tiêu đó có tính đến tương quan lực
lượng xã hội, khả năng xã hội ở giai đoạn phát triển tương ứng
của nó.
Hoạt động tìm kiếm, thực thi các phương pháp, phương
tiện, những thủ thuật, những hình thức tổ chức có hiệu quả đạt
mục tiêu đã đề ra.
Việc lựa chọn, tổ chức, sắp xếp những cán bộ thích hợp
nhằm hiện thực hóa có hiệu quả mục tiêu.
Đồng thời với việc nghiên cứu các hoạt động của các chủ
thể, chính trị học còn nghiên cứu các quan hệ giữa các chủ thể
chính trị như quan hệ giai cấp, quan hệ giữa các chủ thể trong hệ
thống tổ chức quyền lực, quan hệ giữa các dân tộc để hình thành


lý luận chính trị về vấn đề dân tộc trong sự vận dụng vào điều
kiện cụ thể ở mỗi quốc gia, dân tộc, quan hệ giữa các quốc gia để
hình thành học thuyết về chính trị quốc tế trong xu hướng quốc tế
hóa hiện nay.
- Chức năng của chính trị học
Chính trị học có chức năng: phát hiện, dự báo những quy
luật, tính quy luật cơ bản nhất của đời sống chính trị trong phạm
vi mỗi quốc gia cũng như quốc tế, hình thành hệ thống tri thức có
tính lý luận, có căn cứ khoa học và thực tiễn về tổ chức chính trị
cũng như cơ chế vận dụng những quy luật, tính quy luật, lí luận về
công nghệ chính trị, nghệ thuật tổ chức và thực thi quyển lực
chính trị để phục vụ sự nghiệp xây dựng chế độ chính trị tiến bộ.
Mối quan hệ giữa triết học và chính trị học
- Vai trò của triết học đối với chính trị học
Triết học trang bị nền tảng thế giới quan và phương pháp
luận cho các khoa học xã hội và nhân văn.
Triết học xác lập chỗ đứng và góc nhìn thế giới quan cho
các khoa học xã hội và nhân văn.
Triết học giúp các nhà nghiên cứu định hướng giá trị, định
hướng lẽ sống, lựa chọn các phạm trù, các nguyên tắc, các phương
pháp phù hợp với bộ môn ngiên cứu của mình.


Mặc dù đối tượng nghiên cứu của Triết học và Chính trị học
là khác nhau, nhưng suy cho cùng cả 2 đều hướng đến con người.
Chính trị học trực tiếp nghiên cứu vấn đề quan hệ giữa các giai
cấp, dân tộc, quốc gia, các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ,
sử dụng quyền lực nhà nước. Chính trị học bao giờ cũng mang
tính giai cấp, phục vụ lợi ích cho một giai cấp nhất định. Triết học
trang bị thế giới quan và phương pháp luận cho Chính trị học.
Triết học ảnh hưởng đến Chính trị học trong mọi giai đoạn phát
triển của nó.
-Tư tưởng chính trị thời cổ đại
Phương Đông cổ đại:
Đạo gia
Người sáng lập: Lão Tử. ông là một trong những nhà tư
tưởng vĩ đại nhất của Trung Hoa cổ đại, người sáng lập môn phái
Đạo gia. Ông sống cùng thời với Khổng Tử, sách của ông mang
tên ông sau đó còn có tên là Đạo Đức Kinh. Nội dung sách luận
về đạo đức, đường lối xử thế và lí thuyết chính trị.
Về mặt chính trị - xã hội
+ Toàn bộ quan điểm chính trị của Lão Tử hình thành trên
cơ sở thế giới quan về đạo.


+ Đạo gia chủ trương đường lối trị quốc theo đạo “vô vi”,
chống lại chủ trương “hữu vi” cùng mọi chuẩn mực đạo đức và
thể chế pháp luật, vì coi đó là sự áp đặt, cưỡng chế, can thiệp vào
bản tính tự nhiên của con người. Tư tưởng “vô vi” chủ trương
thực hiện triệt để chính sách ngu dân. Xã hội lý tưởng của Lão Tử
là chế độ dựa trên sự bình đẳng của tất cả mọi người. Ông chú
trọng xóa bỏ mọi sự ràng buộc của con người bởi các quy phạm
đạo đức pháp luật để trả lại cho con người bản lĩnh tự nhiên vốn
có của nó.
+ Mẫu hình xã hội lý tưởng của Lão Tử là “nước nhỏ, dân
ít, tuy có thuyền mà không cần dùng đến, tuy có vũ khí mà không
cần bày ra, không cần chữ viết, chỉ cần buộc dây làm dấu là được,
xã hội như vậy là dân ăn thấy ngon, mặc thấy đẹp, sống yên ổn và
vui với phong tục của mình”.
Nho gia
Nho gia lấy Ngũ kinh và Tứ thư làm nền tảng tư tưởng dạy
đạo làm người và dạy giai cấp thống trị lấy đức cai trị nhân.
Những nhà tư tưởng nổi bật của Nho gia là Khổng Tử, Mạnh Tử
và Tuân Tử thời kì Xuân Thu – Chiến Quốc, Đổng Trọng Thư,
Vương Sung thời Hán, Trình Chu, Thiệu Ung thời Hán.
Khổng Tử (551-479TCN)


Khổng Tử họ Khổng, tên Khâu, tự là Trọng Ni, người nước
Lỗ thuộc vùng phía nam tỉnh Sơn Đông của Trung Quốc ngày nay.
Ông có ra làm quan ở nước Lỗ, đến năm 51 tuổi được giữ chức vụ
cao, nhưng sau đó không được trọng dụng. Ông từ quan cùng một
số môn đồ đi đến nhiều nước vận động chư hầu thực hiện tư tưởng
cải tạo chính trị và xã hội theo đường lối của ông. Qua nhiều năm
vất vả ở nhiều nơi, nhưng không thành đạt, ông bèn quay về nước
Lỗ và mất ở đó.
Tư tưởng chính trị được thể hiện trong các tác phẩm Kinh
Thi, Kinh Thư, Kinh Dịch, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu và Luận ngữ.
Cốt lõi của học thuyết chính trị của ông là nhân – lễ - chính danh.
Đường lối xây dựng đất nước: Để xây dựng quốc gia thái
bình thịnh trị phải chăm lo ba việc lớn:
+ Túc thực: sản xuất nhiều của cải
+ Túc binh: quốc phòng hùng hậu
+ Thành tín: giữ lòng tin với dân sao cho dân tin, dân phục.
Trong ba yếu tố đó, ông xếp “thành tín” quan trọng nhất sau
đó đến “túc thực”, cuối cùng là “túc binh”.
Mạnh Tử (372- 289TCN)
Mạnh Tử tức Mạnh Kha, sinh ở nước Châu, là học trò tử tư
(cháu nội Khổng Tử). Ông được coi là người kế thừa chính thống


và phát triển sáng tạo tư tưởng chính trị của Khổng Tử, xây dựng
học thuyết nhân chính. Ông sống vào thời Chiến Quốc, chế độ
Tông pháp nhà Chu sụp đổ, chiến tranh liên miên, nhân dân đói
khổ vì chính trị bạo ngược.
Ông chia xã hội thành hai hạng người: quân tử và tiểu nhân
nhưng xác định rõ ràng hơn. Quân tử là người lao tâm, tiểu nhân là
người lao lực – là người bị cai trị. Nhưng dù quân tử hay tiểu nhân,
bản tính con người đều là thiện vì ai cũng có cái tâm. Như vậy,
đường lối chính trị của ông là lấy nhân nghĩa làm gốc.
Phải tôn trọng dân- Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi
khinh; phải chăm lo cho đời sống của nhân dân làm cho nhân dân
có hằng sản mới có hằng tâm.
Ông đồng nhất mệnh trời với ý dân.
Mặc gia
Người sáng lập ra trào lưu tư tưởng Mặc gia là Mặc Tử.
Ông tên thật là Mặc Địch, người nước Lỗ, sinh vào cuối thời
Xuân Thu.
Hạt nhân trong tư tưởng của Mặc Tử là thuyết kiêm ái. Ông
cho rằng nếu mọi người trong thiên hạ thương yêu nhau, giữa các
nước không tấn công nhau, giữa nhà này và nhà khác không có
chuyện rắc rối thì giặc giã, trộm cắp không có, vua – tôi, cha –
con đều có thể trên dưới thương yêu lẫn nhau, và như vậy thì cả
thiên hạ đều ổn định.


Ông phản đối các cuộc chiến tranh xâm lược vì những cuộc
chiến tranh ấy tàn hại muôn đời, làm kiệt quệ của cải của trăm họ
trong thiên hạ.
Trong việc tổ chức bộ máy nhà nước ông đề cao người có
đạo đức (thượng hiền).
Pháp gia
Tư tưởng Pháp trị vốn đã có từ thời Xuân Thu với những
đại biểu nổi tiếng như Quản Trọng, Tử Sản. Người kế thừa và phát
triển tạo nên một học thuyết hoàn chỉnh là Hàn Phi Tử. Học
thuyết của ông phản ánh tư tưởng tiến bộ của tầng lớp địa chủ
kiêm thương nhân có xu hướng tập quyền.
Tư tưởng Pháp trị của Hàn Phi Tử là tổng hợp giữa pháp,
thế và thuật, tạo nên một phương pháp cai trị.
+ Pháp là những điều luật, là tiêu chuẩn, là căn cứ khách
quan để định rõ công tội, danh phận, phải trái.
+ Thế là địa vị, quyền uy, thế lực của người đứng đầu.
+ Thuật là phương pháp, là thủ thuật, là cách thức mưu lược
điều khiển người, là phương pháp điều hành.
Phương Tây cổ đại:
Platon (427- 347 TCN)


Platon là nhà triết học thiên tài, đồng thời còn là nhà chính
trị xuất sắc. Ông sáng lập ra chủ nghĩa duy tâm trong triết học, đã
từng công khai biện hộ cho nhà nước phản động phi dân chủ. Ông
đại biểu cho giai cấp quý tộc chủ nô.
Ông quan niệm: Chính trị là sự thống nhất của trí tuệ, chính
trị là nghệ thuật cai trị tối cao hoặc chính trị là nghệ thuật cai trị
những con người với sự bằng lòng của họ.
Quan niệm về nhà nước lí tưởng: Nhà nước – đó là hình ảnh
của thế giới tinh thần siêu phàm được phản ánh qua cuộc sống
trần tục.
Arixtot (384 – 322 TCN)
Arixtot là một tập đại thành của văn minh Hi Lạp cổ đại.
Ông là học trò của Platon. Học thuyết chính trị của ông được thể
hiện tập trung trong hai cuốn sách “Chính trị Aten” và “Hiến pháp
Aten”.
Theo Arixtot, nhà nước xuất hiện tự nhiên, được hình thành
do lịch sử. Nhà nước, quyền lực nhà nước như là kết quả của sự
thỏa thuận giữa mọi người với nhau dựa trên ý chí của họ. Sứ
mạng của nhà nước là lãnh đạo tập thể các công dân, quan tâm tới
các quyền chung của công dân. Điều đó lại chính là bản chất và
chức năng của pháp luật. Vì thế Arixtot rất coi trọng pháp luật.


Theo ông pháp luật là quy tắc khách quan có tính chính trực, vô
tư, xuất phát từ quyền lực và phù hợp với các mục đích quốc gia.
- Tư tưởng chính trị thời trung cổ
Các tư tưởng chính trị thời bấy giờ đa số xoay quanh vấn đề
nhà thờ, giáo hội, sức mạnh của Chúa đối với nhà nước và nhân
dân.
S.Ôguýtxtanh (354 – 430)
Ông là nhà tư tưởng khởi thủy của Thiên Chúa giáo. Ông là
giám mục ở Hip Pôn – Bắc Phi. Tư tưởng chính trị của ông được
phản ánh trong tác phẩm “Thành bang của Thượng đế”.
Trong tư tưởng chính trị của mình, ông luôn cố chứng minh
cho sự bất diệt và trường tồn của chế độ nô lệ. Theo ông, chế độ
nô lệ là do Chúa sinh ra, sự giàu nghèo là do ý Chúa, chống lại
chế độ nô lệ là chống lại Chúa.
Tomat Đacanh (1225 – 1274)
Ông là nhà thần học đạo Thiên Chúa, nhà triết học uyên bác
thời trung cổ. Mười tám cuốn sách trong tuyển tập của ông họp lại
như một bộ bách khoa toàn thư đặc sắc của hệ tư tưởng chính trị
chính thống của chế độ phong kiến Tây Âu.
Ông cho rằng, con người là động vật chính trị. Để phát triển
và hoàn thiện, đời sống của họ phải có an ninh, trật tự, pháp lí.


Ông quyết liệt chống lại sự bình đẳng xã hội,bảo vệ sự phân
chia đẳng cấp. Ông cho rằng quyền lực tối cao là Thượng đế.
- Tư tưởng chính trị thời cận đại
Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời trong lòng xã
hội phong kiến và cùng với nó là một giai cấp tư sản không ngừng
lớn mạnh. Để tiếp tục phát triển kinh tế và phát huy sức mạnh của
mình, giai cấp tư sản cần một chế độ chính trị mới thích ứng với
nó. Chính vì vậy từ thế kỉ XVI nhiều học thuyết chính trị của giai
cấp tư sản đã ra đời. Những học thuyết chính trị đó một mặt đòi
cho giai cấp tư sản được tham gia và nắm chính quyền, mặt khác
lại hạn chế quyền tự do dân chủ của quần chúng nhân dân.
G. Lốcco (1632 – 1704)
Ông vốn là thư kí cho Viện nguyên lão Anh. Những tư
tưởng chính trị trong tác phẩm “Sự luận giải về chính quyền”
khiến tên tuổi của Lôcco – người cha của chủ nghĩa tự do, vĩnh
viễn không thể xóa mờ trong lịch sử tư tưởng nhân loại. Ông được
Ăngghen gọi là “đứa con của sự thỏa hiệp giai cấp”.
Ông quan niệm, tự do – giá trị chủ đạo của chính trị, của
pháp quyền tự nhiên. Theo ông luật tự nhiên là bắt buộc vì nó là
tự do. Tự do đã trở thành giá trị chủ đạo trong luận giải và thiết kế
những thể chế chính trị hợp lý.


Về khả năng đảo chính quốc gia, nếu chính phủ vi phạm các
quyền tự nhiên của con người thì ông ta sẽ bị tước bỏ quyền lực
và nhân dân sẽ xác lập một chính phủ mới.
S.L. Môngtexkio (1689 – 1755)
Ông là nhà tư tưởng chính trị xuất sắc người Pháp, ông học
luật, nghiên cứu luật và từng là Chủ tịch Nghị viện Booc đô, Viện
sĩ Viện Hàn lâm khoa học Pháp khi mới 38 tuổi. Ông cùng với
Vônte đã mở đầu phong trào giải phóng tư tưởng vĩ đại. Nhưng
nhìn chung tư tưởng chính trị của ông đầy mầu thuẫn và có
khuynh hướng thỏa hiệp.
Ông cho rằng nhà nước xuất hiện ở một trình độ phát triển
nhất định của xã hội loài người, là sản phẩm muộn hơn của sự
phát triển lịch sử. Ông cũng xây dựng học thuyết phân quyền với
mục đích tạo dựng những thể chế chính trị bảo đảm tự do cho các
công dân là quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
G.G. Rútxo (1712 – 1778)
Là nhà tư tưởng vĩ đại người Pháp. Ông đã có cống hiến to
lớn vào việc phát triển các học thuyết chính trị. Các quan điểm
chính trị của Rutxo cấp tiến hơn nhiều so với Vonte và
Mongtexkio.
Rútxo là người đầu tiên nhìn thấy sự khác biệt giữa xã hội
công dân nảy sinh cùng với chế độ tư hữu với nhà nước được thiết


lập sau đó trên cơ sở khế ước xã hội giữa những người trong xã
hội với nhau. Từ đó mục đích của ông – của tư tưởng chính trị
Rútxo là cứu lấy tự do, tìm những biện pháp hạn chế bất công xã
hội. Đồng thời ông cũng phân biệt rõ quyền lập pháp và hành
pháp.
Phơriđrich Hêghen (1770-1831)
Hêghen là một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất nước
Đức thời kì trước Mác, là nhà triết học duy tâm, là nhà tư tưởng
chính trị bảo thủ.
Quan điểm chính trị pháp quyền được thể hiện trong tác
phẩm “Nhà nước pháp quyền”. Theo ông, con người là một thực
thể xã hội và đạo đức là hình thái ý thức và là các mối quan hệ xã
hội nhất định.
Hêghen gọi xã hội công dân là hệ thống các mối quan hệ
đời sống vật chất của xã hội tư bản chủ nghĩa. Ông cũng thấy
được mâu thuẫn trong xã hội này, song coi đó là một hiện tượng
hợp lý.
- Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về chính trị
Theo các nhà kinh điển mác xít, tư tưởng chính trị cốt lõi
nhất chính là giải phóng con người, mà muốn giải phóng con
người thì phải giải quyết vấn đề giai cấp, phải giành lấy các nguồn
lực chính trị, đó là con đường giải phóng một cách khoa học.


Một là, Chính trị là lợi ích, là quan hệ lợi ích, là đấu tranh
giai cấp trước hết vì lợi ích giai cấp: Chính trị xuất hiện cùng với
sự ra đời của giai cấp và Nhà nước. Hoạt động chính trị chính là
hoạt động thực tiễn của các giai cấp - vì lợi ích giai cấp.
Hai là, Cái căn bản nhất cuả chính trị là việc tổ chức quyền
lực nhà nước, là sự tham gia vào công việc Nhà nước, là định
hướng cho nhà nước, xác định hình thức, nội dung, nhiệm vụ của
Nhà nước.
Ba là, Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế. Đồng
thời, chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh
tế.
Bốn là, Chính trị là lĩnh vực phức tạp, nhạy cảm nhất, liên
quan tới vận mệnh hàng triệu người. Giải quyết những vấn đề
chính trị vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật.
- Ý nghĩa của việc nghiên cứu vai trò triết học trong
chính trị học
Nghiên cứu triết học trong chính trị học là công cụ nhận
thức, hiểu biết, khám phá và sáng tạo các quan hệ chính trị trong
đời sống và trong nghệ thuật một cách đúng đắn.
Định hướng cho các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan
đến Chính trị. Theo quan điểm triết học mácxít, chính trị và triết
học đều là những hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội.


Mặt khác, tồn tại xã hội hay thực tiễn xã hội luôn vận động biến
đổi, do đó chính trị cần thay đổi và không ngừng tìm tòi nghiên
cứu giải quyết các vấn đề mới. Những vấn đề này sẽ là những
mảng trống để khoa học nghiên cứu và giải đáp, định hướng cho
việc nghiên cứu chính trị.
Nghiên cứu chính trị dưới góc độ triết học, dựa trên quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin sẽ là kim chỉ nam để mỗi người
trong học tập, lao dộng, công tác hướng tới sự tự do và giải phóng
con người.
Nó có khả năng định hướng đúng đắn cho mọi người trong
hoạt động chính trị, từ đó có cái nhìn đúng đắn khoa học về hiện
thực khách quan
Giúp chúng ta bảo vệ, củng cố và phát triển bản sắc dân tộc.
Trong đời sống chính trị hiện nay ở nước ta có sự đan xen giữa
các quan hệ chính trị tiên tiến và quan hệ chính trị lạc hậu.
- Vai trò của chính trị học đối với triết học
Chính trị học là một khoa học riêng biệt, cung cấp những tri
thức, những cứ liệu trên phương diện chính trị, làm cơ sở cho sự
khái quát triết học.
Bởi lẽ triết học là hệ thống tri thức lý luận chung nhất của
con người về thế giới, về bản thân con người, về cuộc sống và vị
trí của con người trong thế giới đó.


Có thể coi chính trị là tài liệu bổ sung làm phong phú hơn
tri thức triết học. Những tri thức chính trị (chủ yếu nghiên cứu
trong lịch sử), đã là minh chứng, là tri thức bổ trợ phong phú thêm
cho những quy luật, phạm trù trong triết học. Chính trị học chính
là triết học của đời sống thực tiễn.
Chính trị học đồng thời cũng là 1 trong những phương tiện
để các nhà triết học thể hiện tư tưởng triết học của mình. Đa số
các nhà chính trị học xuất sắc đồng thời cũng là nhà triết học lỗi
lạc.
Các nhà triết học đã khai thác sâu sắc các tư tưởng chính trị
– xã hội qua các hiện tượng của cuộc sống hàng ngày và từ đó
khái quát thông qua những phạm trù và qua những tư tưởng của
mình.
Chính trị học thu hút các nhà triết học đi sâu nghiên cứu
những vấn đề thực tiễn cuộc sống con người và xã hội loài người
như vấn đề nguồn gốc, bản chất của nhà nước, quyền lực chính trị,
những nguyên tắc tổ chức và hoạt động của thể chế chính trị…
Những vấn đề mà chính trị học đặt ra đã thu hút các nhà
triết học đi sâu nghiên cứu phần ý thức của con người hơn là
nghiên cứu những vấn đề bản nguyên của thế giới.
Hướng những nhà triết học đi sâu vào nghiên cứu từng hiện
tượng cụ thể nảy sinh trong đời sống xã hội của con người hơn là


đi sâu vào những vấn đề mang tính trừu tượng. Ví dụ như những
vấn đề pháp chế và quyền lực hiện nay.
Chính trị học có những tác động lớn đến sự phát triển về
phương pháp biện chứng của triết học.
Chính trị học đã cung cấp những tri thức cần thiết cho triết
học, từ đó giúp triết học khái quát hóa thành những quy luật
chung nhất trong đời sống xã hội. Thấy được triết học phổ biến ở
mọi nơi trong cuộc sống xã hội và sự tác động qua lại biện chứng
giữa cuộc sống nói chung và chính trị nói riêng đối với triết học
và ngược lại.
- Giá trị và ý nghĩa của việc nghiên cứu mối quan hệ
biện chứng giữa triết học và chính trị học
Thứ nhất, sẽ giúp con người xây dựng nên những học
thuyết mang tính định hướng cho sự phát triển xã hội một cách ổn
định và bền vững.
Thứ hai, giúp cho Đảng và Nhà nước, các cấp lãnh đạo bồi
dưỡng kiến thức thế giới quan và phương pháp luận trong việc
giải quyết những vấn đề chính trị hiệu quả.
Thứ ba, con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội vì
vậy nghiên cứu mối quan hệ giữa triết học và chính trị học sẽ giúp
cho con người vận dụng những quy luật trong triết học để giải


quyết những vấn đề phức tạp trong mối quan hệ giữa cá nhân và
tập thể, cộng đồng.
Quan niệm về “quyền lực chính trị”, “động lực chính
trị”, “thể chế chính trị” và ý nghĩa triết học của nó.
Quyền lực chính trị
Quyền lực là vấn đề được loài người nhận biết và nghiên
cứu từ rất sớm. Ngay từ thời cổ đại – Arixtot đã xem quyền lực
không phải là cái vốn có của mọi vật có cảm giác mà còn của giới
tự nhiên vô cơ. Đến thời kì trung cổ, các nhà thần học coi quyền
lực thượng đế đứng trên tất cả. Các nhà bách khoa thời kì Phục
hưng đã đặt vấn đề xác lập quyền lực tư sản. Ngày nay, theo một
số nhà chính trị Mỹ như K. Đantra cho rằng quyền lực là cái mà ai
nắm được nó thì buộc được người khác phải phục tùng. Nhưng xét
cho đến cùng thì ngày nay ta định nghĩa được quyền lực như sau:
“Quyền lực là năng lực làm thay đổi hành vi của người khác (hoặc
nhóm người) bất kể sự kháng cự.
Quyền lực chính trị là bước phát triển cao của quyền lực xã
hội. Nếu như trong xã hội, quyền lực xã hội biểu hiện rất đa dạng,
phong phú như quyền lực gia đình, quyền lực kinh tế, quyền lực
tôn giáo, thì quyền lực chính trị chiếm vai trò trung tâm. Vấn đề
quyền lực chính trị đã được các học giả xưa nay nghiên cứu.


Thời cổ đại Aristos là người đầu tiên đề xuất tư tưởng tam
quyền phân lập với việc chia quyền lực chính trị thành các quyền
lập

pháp,

hành

pháp



xét

xử.

Thời trung cổ, Ôguytxanh đã luận giải về nguồn gốc và bản
chất của quyền lực chính trị, trong đó ông khẳng định "Quyền lực
là sở hữu chung của cả cộng đồng xã hội". Ngược lại với quan
điểm của Ôguytxanh, Tômát ĐaCanh - nhà Thần học Kitô giáo
cho rằng "quyền lực tối cao thuộc về thượng đế".
Thời kỳ cận đại, nổi lên với rất nhiều tư tưởng tiến bộ, các
nhà tư tưởng như LốcCơ, Môngtetxkiơ, Rutxô đều bàn đến khía
cạnh nguồn gốc, bản chất của quyền lực chính trị.
Ở Phương Đông, quyền lực chính trị được các nhà triết học
Trung Quốc như Khổng tử, Mặc tử, Hàn Phi Tử... tuyệt đối hoá và
xem là sức mạnh tối cao của vua – với tư cách là “thiên mệnh”tức nhận quyền lực từ trời.
Tuy vậy, ở mỗi học giả lại có cách thức đề xuất việc sử
dụng quyền lực đó khác nhau. Khổng tử, đề xuất việc sử dụng
quyền lực theo thuyết Chính danh. Mặc tử đề nghị sử dụng quyền
lực chính trị trên tinh thần tương thân, hữu ái. Hàn Phi tử đề
xướng con đường cụ thể hoá quyền lực thành pháp trị. C.Mác và
Ph.Ăngghen trong quá trình nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn
để xây dựng học thuyết đấu tranh cách mạng của giai cấp công


nhân đã chỉ rõ bản chất của quyền lực chính trị nói chung, quyền
lực chính trị của giai cấp công nhân nói riêng và con đường biện
pháp để giai cấp công nhân xác lập quyền lực chính trị của mình.
Những tư tưởng này được C.Mác và Ph.Ăngghen phản ánh
một cách rõ ràng, khúc chiết trong tác phẩm “Tuyên ngôn của
Đảng cộng sản”. Theo các ông “quyền lực chính trị theo đúng
nghĩa của nó, là bạo lực có tổ chức của một giai cấp để trấn áp
một giai cấp khác”. Mà mục đích cuối cùng của sự trấn áp ở đây
là để giành và giữ địa vị thống trị về kinh tế. Điểm lại, ta có thể
thấy, quyền lực chính trị có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, là quyền lực xã hội nhằm để giải quyết lợi ích
giai cấp, lợi ích quốc gia, nhân loại;
Thứ hai, là khả năng áp đặt và thực thi các giải pháp phân
bổ giá trị có lợi cho một giai cấp;
Thứ ba, là sức mạnh bạo lực có tổ chức của một giai cấp để
trấn áp giai cấp khác".
Từ đó, ta có thể định nghĩa "Quyền lực chính trị là quyền
được sử dụng sức mạnh chính trị cho mục đích chính trị. Quyền
lực chính trị là quyền lực của mọi giai cấp, mọi chủ thể trong hoạt
động chính trị vì mỗi lực lượng chính trị đều có khả năng ảnh
hưởng ở mức độ nhất định đến mục tiêu chính trị chung của toàn
xã hội. Nói cách khác, quyền lực chính trị là quyền lực tiềm năng
còn quyền lực nhà nước là quyền lực thực tế.”


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×