Tải bản đầy đủ

LUẬN văn CHO VAY TIEU DÙNG TECHCOMBANK ĐANG làm FINAL v1

MỤC LỤC


LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, tự do hóa
thương mại và mở cửa nền kinh tế, để nền kinh tế thị trường tự do và đặc biệt là
kể từ khi chúng ta đã gia nhập WTO và sắp tới sẽ là TPP. Điều này làm thay đổi
môi trường kinh doanh của Việt Nam nó vừa là những thách thức cũng vừa là cơ
hội để doanh nghiệp phát triển. Để tồn tại và phát triển trong một môi trường đầy
thách thức như vậy, đòi hỏi doanh nghiệp phải tìm ra những giải pháp phù hợp.
Là một trong những ngân hàng cổ phần hàng đầu Việt Nam , ngân hàng
Kĩ Thương đang hướng tới trở thành ngân hàng bán lẻ thành công nhất. Chính vì
vậy việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng là rất cần thiết trong giai đoạn
hiện nay khi mà sự cạnh tranh của các ngân hàng diễn ra gay gắt.
Quá trình thực tập ở Ngân hàng Techcombank chi nhánh Khâm Thiên là
cơ hội quý báu giúp em liên hệ những kiến thức đã học ở trường với thực tế, từ
có có cái nhìn thực tế hơn về hoạt động đầu tư cũng như các hoạt động khác của
ngân hàng. Sau quá trình thực tập ở đây em đã có những hiểu biết khái quát về
Chi nhánh ngân hàng và từ đó hoàn thành một bản báo cáo thực tập tổng hợp.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này đồng thời em muốn đóng
góp cho hoạt động của ngân hàng Kỹ Thương Việt Nam nên em đã chọn đề tài : “

Giải pháp tăng cường hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng thương
mại cổ phần Kĩ Thương Việt Nam ”
Ngoài phần mở đầu và kết luận thì bài viết của em có 3 phần :
Chương 1: Tổng quan vè hoạt động cho vay tiêu dung tại ngân hàng
thương mại
Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng Kĩ
Thương Việt Nam
Chương 3: Giải pháp hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng Kĩ
Thương Việt Nam

2


CHƯƠNG1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN KỸ THƯƠNG VIỆT NAM

1.1. Khái quát về hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Kỹ thương.
1.1.1. Khái niệm cho vay
Cho vay là phương thức tài trợ có tính truyền thống của nghề Ngân
hàng. Hình thức biểu hiện cụ thể là: Ngân hàng chuyển tiền trực tiếp cho
khách hàng sử dụng theo yêu cầu hoặc mục đích tiêu dùng của khách hàng
khi khách hàng đáp ứng được các yêu cầu của Ngân hàng đặt ra.
1.1.2. Đặc điểm
Ngân hàng đáp ứng cho tất cả các khách hàng sử dụng vốn nhưng
khách hàng phải đáp ứng được các điều kiện của Ngân hàng đặt ra.
Qui mô của các hợp đồng cho vay từ nhỏ đến lớn, với nhu cầu vay
nhỏ đến các dự án lớn mức rủi ro cao hay thấp, mức thu hồi vốn như thế
nào, tài sản thế chấp và uy tín của khách hàng ra sao sẽ ảnh hưởng đến mức
lãi suất ngân hàng qui định cụ thể. Ngoài ra với thời gian sử dụng vốn khác
nhau thì lãi suất cũng sẽ khác nhau.
1.1.3. Vai trò của hoạt động cho vay của Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Kỹ thương.
a. Đối với ngân hàng
Cho vay là hoạt động chính của Ngân hàng, đây là hoạt động mang
lại lợi nhuận cho Ngân hàng.
Cho vay của Ngân hàng lớn mà mức dư nợ thấp chứng tỏ Ngân hàng
làm ăn có hiệu quả, uy tín của Ngân hàng rất lớn. Cho vay của Ngân hàng
càng ngày chứng tỏ nhiều người đã biết đến Ngân hàng. Như vậy vấn đề
huy động vốn, hoặc huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong dân cư gửi vào


ngân hàng nhiều hơn. Từ đó tạo điều kiện mở rộng mạng lưới của Ngân

3


hàng nhờ đó ngày càng phát triển và sẽ càng ngày càng đa dạng hóa các
hình thức cho vay từ đó mà nâng cao thu nhập cho ngân hàng.
b. Đối với khách hàng.
Nhờ có Ngân hàng cho vay mà khách hàng sẽ có thể thực hiện được
những dự định, dự án của mình. Do vậy mang lại lợi nhuận cho khách hàng
hay giải quyết được các vấn đề mà khách hàng gặp phải trong vấn đề đột
xuất, cấp bách.
Tuy vật khách hàng cần phải tính toán đến khả năng chi trả để việc
chi tiêu sẽ hợp lý.
c. Đối với nền kinh tế
Cho vay của Ngân hàng sẽ làm cho khách hàng thực hiện được các
dự án của mình, như vậy rất tốt trong việc thúc đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ
hàng hóa, tạo thêm cây ăn việc làm cho xã hội tạo khả năng lưu thông vốn
nhanh, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển và tăng trưởng.
1.1.4. Các hình thức cho vay của NHTM.
Phân loại cho vay là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm
dựa trên một số tiêu thức nhất định. Việc phân loại cho vay có cơ sở khoa
học là tiền đề để thiết lập các quy trình cho vay thích hợp và nâng cao hiệu
quả quản trị rủi ro tín dụng. Phân loại cho vay dựa vào các căn cứ sau đây:
a. Theo thời hạn cho vay
Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn dưới 12 tháng và
được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và
các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.
Cho vay trung hạn: Là các khoản vay có thời hạn từ một năm đến
năm năm. Cho vay trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài
sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất
kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi
vốn nhanh. Bên cạnh đầu tư cho tài sản cố định, cho vay trugn hạn còn là

4


nguồn hình thức vốn lưu động thường xuyên của các doanh nghiệp, đặc
biệt là những doanh nghiệp mới thành lập.
Cho vay dài hạn: là loại cho vay có thời hạn trên năm năm. Đây là
loại hình được cung cấp để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà
ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp
mới.
b. Theo mục đích vay
Cho vay kinh doanh: là loại tín dụng cấp cho các nhà doanh nghiệp,
các chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu động hàng hóa.
Cho vay tiêu dùng: là loại cho vay để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của
các cá nhân như mua sắm nhà cửa, xe cộ…
c. Cho vay đối với người tiêu dùng
Cho vay tiêu dùng được bắt đầu từ các hãng bán lẻ do nhu cầu đẩy
mạnh tiêu thụ hàng hoá, hình thức cho vay tiêu dùng của các hãng là bán
trả góp.
Cơ sở cho vay tiêu dùng
Nhu cầu vay tiêu dùng gia tăng mạnh mẽ gắn liền với nhu cầu về
hàng tiêu dùng lâu bền như nhà, xe, đồ gỗ sang trọng, nhu cầu du lịch…
Đối với lực lượng khách hàng rộng lớn.
Nhiều hãng lớn tự tài trợ chủ yếu bằng phát hành cổ phiếu và trái
phiếu. Nhiều công ty tài chính cạnh tranh với ngân hàng trong cho vay làm
thị phần cho vay các doanh nghiệp của ngân hàng bị giảm sút buộc ngân
hàng phải mở rộng thị trường cho vay tiêu dùng để gia tăng thu nhập.
Người tiêu dùng có thu nhập đều đặn để trả nợ ngân hàng một số
trường hợp người tiêu dùng có thu nhập khá hoặc cao, thu nhập tương đối
ổn định. Vay tiêu dùng giúp họ nâng cao mức sống, tìm kiếm công việc có
mức thu nhập cao hơn.

5


d. Theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng.
- Cho vay không có bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản cầm
cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào
uy tín của bản thân khách hàng đó. Đối với những khách hàng tốt, trung
thực trong kinh doanh, có khả tài chính mạnh, quản trị hiệu quả thì ngân
hàng có thể cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân kỹ thuật mà không
cần một nguồn thu nợ bổ sung thứ hai.
- Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm
như thế chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của người thứ ba. Sự
bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ
sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
e. Theo đối tượng tham gia quy trình cho vay
- Cho vay trực tiếp: Ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu
cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
- Cho vay gián tiếp: là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung
gian. Ngân hàng cho vay qua các tổ, đội, hội, nhóm như nhó sản xuất, Hội
nông dân, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ… Các tổ chức này thường liên
kết các thành viên theo một mục đích riêng, song chủ yếu đều hỗ trợ lẫn
nhau, bảo vệ quyền lợi cho mỗ thành viên.
Ngân hàng có thể chuyển một vài khâu của hoạt động cho vay sang
các tổ chức trung gian như thu nợ, phát tiền vay… Tổ chức trung gian cũng
có thể đứng ra bảo đảm cho các thành viên vay, hoặc các thành viên trong
nhóm bảo lãnh cho một thành viên vay. Điều này rất thuận tiện khi người
vay không có hoặc không đủ tài sản thế chấp.
Ngân hàng cũng có thể cho vay thông qua người bán lẻ các sản phẩm
đầu vào của quá trình sản xuất. Việc cho vay theo cách này sẽ hạn chế
người vay sử dụng tiền sai mục đích.

6


f. Theo phương thức cho vay
Cho vay từng lần: Cho vay từng lần là hình thức cho vay tương đối
phổ biến của ngân hàng đối với các khách hàng không có nhu cầu vay
thường xuyên, không có điều kiện để được cấp hạn mức thấu chi. Một số
khách hàng sử dụng vốn chủ sở hữu và tín dụng thương mại là chủ yếu, chỉ
khi có nhu cầu thời vụ, hay mở rộng sản xuất đặc biệt mới vay ngân hàng,
tức là vốn từ ngân hàng chỉ tham gia vào một số giai đoạn nhất định của
chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Cho vay theo hạn mức: Đây là nghiệp vụ tín dụng theo đó ngân hàng
thỏa thuận cấp cho khách hàng hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng có thể
tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ. Đó là số dư tối đa tại thời điểm tính.
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất kinh doanh,
nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách hàng. Trong kỳ khách hàng có
thể vay trả nhiều lần, song dư nợ không được vượt quá hạn mức tín dụng.
Một số trường hợp ngân hàng quy định hạn mức cuối kỳ. Dư nợ trong kỳ
có thể lớn hơn hạn mức. Tuy nhiên đến cuối kỳ, khách hàng phải trả nợ để
giảm dư nợ sao cho dư nợ cuối kỳ không được vượt quá hạn mức.
Cho vay thấu chi: là nghiệp vụ cho vay qua đó ngân hàng cho phép
người vay được chi trội trên số dư tiền gửi thanh toán của mình đến một
giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác định. Giới hạn này được
gọi là hạn mức thấu chi.
1.2. Tổng quan về hoạt động cho vay tiêu dùng tại ngân hàng
1.2.1 Khái niệm cho vay tiêu dùng
a. Hoạt động cho vay tại ngân hàng Thương mại
Hoạt động cho vay là một trong những hoạt động quan trọng nhất của ngân
hàng thương mại. Nó đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn cần thiết của khách
hàng. Khi trong nền kinh tế có những chủ thể thiếu tiền , cần vốn cho hoạt động
sản xuất thì họ sẽ dùng biện pháp là vay mượn để đáp ứng nhu cầu đó. Có 2 hình

7


thức vay mượn đó là : vay mượn hàng hóa và vay mượn tiền. Người ta gọi đó là
hoạt động tín dụng.
Theo quy định của luật tín dụng năm 2004 cho rằng : “ hoạt động tín dụng
là việc tổ chức tín dụng sử dụng nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động để cấp tín
dụng cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời hạn đã
thỏa thuận”
Trên thực tế hoạt động tín dụng là quyền chuyển nhượng vốn từ ngân hàng
cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định.
Đối tượng cho vay của ngân hàng bao gồm các hộ gia đình,các cá thể và
các đơn vị kinh doanh trong nền kinh tế. Trước đây ngân hàng thường cho vay
đối với các doanh nghiệp cần vốn để sản xuất kinh doanh. Đây là nguồn thu chủ
yếu của ngân hàng. Ngày nay khi đời sống ngay càng nâng cao, hoạt động cho
vay của ngân hàng không chỉ chú trọng đến cho vay doanh nghiệp nữa mà họ còn
cho ra đời hình thức cho vay tiêu dùng. Các ngân hàng nhận thức rõ đây là hoạt
động kinh doanh mới mẻ, và có doanh thu lớn.
b. Hoạt động cho vay tiêu dùng
Hoạt động cho vay tiêu dùng là hình thức ngân hàng tài trợ gián tiếp hoặc
trực tiếp cho khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khách hàng
Hoạt động cho vay tiêu dùng ngày càng trở nên phổ biến rộng rãi trong đời sống
hiện nay. Nó đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của khách hàng như mua nhà , mua
ô tô, đi du hoc…
Tuy nhiên trong giai đoạn hiện nay thì hoạt động cho vay tiêu dùng vẫn đang
chiếm một phần nhỏ doanh thu thu được của ngân hàng. Chính vì vậy mà các
ngân hàng luôn tìm cách mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng
mình. Như vậy “Mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng đó là một trong các biện
pháp mà ngân hàng sử dụng để tăng doanh thu và thị phần của ngân hàng”
1.2.2. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng
a. Khách hàng của cho vay tiêu dùng chủ yếu là các cá nhân.

8


Họ có nhu cầu về tài chính và các nhu cầu đó là khác nhau. Nhu cầu của
khách hàng phụ thuộc về thu nhập của họ. Những người có thu nhập thấp thì nhu
cầu vay tiêu dùng thấp nhưng số lượng lần vay của họ thường nhiều . Những
khách hàng có thu nhập trung bình thì họ có xu hướng vay tiêu dùng tăng do họ
có ý muốn vay để mua hàng hơn là dùng tiền gửi tiết kiệm của bản thân và gia
đình.
b. Mục đích sử dụng

Nhu cầu tiêu dùng của người dân là vô hạn, nó bao gồm cả nhu cầu đơn
giản đến những nhu cầu phức tạp của con người. Các nhu cầu đó cũng được biểu
hiện cụ thể qua các mục đích khác nhau như: mua nhà , mua ô tô, hay đáp ứng
nhu cầu kinh doanh của cá nhân và hộ gia đình.
Điều kiện cho vay:
Những cá nhân được phép vay vốn là những người có đủ năng lực pháp lý
thuộc nhiều nghành nghề khác nhau trong xã hội.
Có mục đích sử dụng vốn hợp lý
Có khả năng tài chính đảm bảo
Thực hiện các quy định về đảm bảo tiền vay theo quy định của chính phủ
và hướng dẫn của ngân hàng Nhà nước.
c. Chi phí cho vay tiêu dùng :

Chi phí này thường rất lớn. Nó bao gồm chi phí về thu thập thông tin
khách hàng, chi phí về lập và soạn thảo hợp đồng tín dụng và các chi phí để quản
lý nguồn vay. Đặc biệt phải kể đến khoản chi phí quản lý hồ sơ cho khách hàng.
Tại ngân hàng khách hàng đến vay vốn rất nhiều cho nên hồ sơ phải được quản
lý chặt chẽ, tránh mất mát.
d. Lãi suất:

Hầu hết các khách hàng đều quan tâm đến lãi suất của ngân hàng. Lãi suất
này thường ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của họ sau khi đã trả lãi cho ngân
hàng. Lãi suất cũng là yếu tố để khách hàng lựa chọn và sử dụng dịch vụ của
ngân hàng và cũng là yếu tố cạnh tranh hàng đầu giữa các ngân hàng với nhau.
9


e. Giá trị khoản vay thường nhỏ nhưng số lượng khoản cho vay lại lớn

Đây là đặc điểm khác biệt của cho vay tiêu dùng cá nhân so với các hình thức
cho vay khác. Số lượng khách hàng đến vay vốn thường rất lớn nhưng các khoản
vay này thường khoảng mấy trăm triệu. Điều này cũng dễ hiểu bởi vì khách hàng
đến vay vốn là họ chỉ bổ sung vào khoản vay của mình đáp ứng nhu cầu của
mình
f.

Các khoản vay thường là trung và dài hạn
Vì khách hàng cho vay thường là mua nhà ,mua ô tô ..cho nên thời hạn trả
lại gốc và lãi cho ngân hàng thường bị kéo dài. Khách hàng trả nợ chủ yếu dựa
vào thu nhập của bản thân cho nên nếu trong thời gian ngắn sẽ không thể thanh
toán cho ngân hàng được.
1.2.3. Sự cần thiết của hoạt động cho vay tiêu dùng
a. Đối với khách hàng

Sự tăng trưởng của nền kinh tế đã khiến cho mức sống của người dân
tăng lên, nhu cầu của cá cá nhân về sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng ngày
càng gia tăng và tinh tế hơn. Thói quen tích lũy dần thay bằng một hành vi tiêu
dùng mới người dân quen dần với các sản phẩm tín dụng của ngân hàng để tạo
lập một cuộc sống tiện nghi ngay bằng nguồn vốn hỗ trợ của ngân hàng. Đối với
dân cư, đặc biệt là thế hệ trẻ và người thu nhập thấp, họ không thể tiết kiệm
nhanh để tiền mua nhà, mua ôtô và các đồ dùng gia đình khác. Cho vay tiêu dùng
giúp họ có được một cuộc sống ổn định ngay từ khi còn trẻ , bằng việc mua trả
góp những gì cần thiết cho cuộc sống, tạo cho họ động lực to lớn để làm việc, tiết
kiệm, nuôi dưỡng con cái.
Ngoài ra cho vay tiêu dùng đã góp phần tận dụng khai thác mọi tiềm năng của
khách hàng. Cho vay tiêu dùng nhằm hỗ trợ các cá nhân, hộ gia đình muốn phát
triển kinh doanh có điều kiện thực hiện dễ dàng hơn. Sức lao động được giải
phóng kết hợp với tư liệu sản xuất của từng hộ gia đình sẽ đóng góp ngày càng
nhiều hơn, phong phú cho hoạt động kinh doanh của nền kinh tế. Mặt khác cho
vay tiêu dùng thúc đẩy gia tăng bán hàng của những người bán lẻ kích thích sản
xuất trong nước phát triển. Đây là thị trường rộng lớn khi mà khách hàng mua
10


sắm trước và trả nợ sau. Do vậy ngân hàng cũng thu lại được những khoản lợi
nhuận .
b. Đối với ngân hàng

Ngày nay nhu cầu của người dân về vay vốn tại ngân hàng ngày càng tăng
do đó hoạt động tín dụng của ngân hàng rất phát triển. Tuy nhiên cùng với sự
tăng trưởng đó là rủi ro về tín dụng, điều mà các ngân hàng lo lắng và tìm mọi
biện pháp để hạn chế nó. Do đó các ngân hàng luôn tìm cách đa dạng hóa khách
hàng, đa dạng hóa sản phâm nhằm phân tán rủi ro tín dụng.
- Bên cạnh đó tăng hoạt động cho vay tiêu dùng cũng là hình thức quảng bá
hình ảnh của ngân hàng trên thị trường. Từ đó nâng cao vị thế cạnh tranh của
ngân hàng và tăng kết quả hoạt động kinh doanh.
c. Đối với nền kinh tế:

Mức tiêu dùng phản ánh kỳ vọng về thu nhập tương lai của người dân. Nó
là động lực, là cầu chi trả về hàng hóa, dịch vụ cho sản xuất kinh doanh. Ngay cả
các nhu cầu tiêu dùng cơ bản của người dân cũng liên quan mật thiết và không
thể tách rời thu nhập kỳ vọng đó. Cho nên đây cũng là động lực kích thích sản
xuất phát triển. Vì vậy cho vay tiêu dùng được coi là một yếu tố quan trọng để
đánh giá sự phát triển của nền kinh tế .
Đồng thời nhu cầu về vốn tăng lên làm cho người dân có nhiều việc làm
hơn. Từ đó làm giảm tình trạng thất nghiệp và góp phần giải quyết những vấn đề
xã hội nan giải hiện nay.
1.2.4 Phân lọai cho vay tiêu dùng
a. Dựa vào tài sản đảm bảo
Cho vay có tài sản đảm bảo: Đây là các khoản cho vay được bảo đảm bởi
các tài sản thế chấp. Thông thường các khoản cho vay có thế chấp chịu mức lãi
thấp hơn so với các hình thức cho vay khác bởi vì giá trị của chính tài sản thế
chấp đã phần nào giảm bớt rủi ro đối với người cho vay. Đây là hình thức cho
vay dựa trên nguyên tắc các khoản tín dụng của ngân hàng đều phải có tài khoản
đảm bảo. Đây là hình thức cho vay phổ biến nhất hiện nay. Tuy nhiên ngân hàng
chỉ chấp nhận tài sản đảm bảo mà trong trường hợp ngân hàng không thu hồi
11


được vốn từ khách hàng thì ngân hàng có thể bán để thu hồi vốn từ tài sản đã thế
chấp. Thường thì các khoản cho vay có thế chấp là các khoản nợ dài hạn thanh
toán định kì tương tự như việc mua trả góp. Ngân hàng thường cho vay trên cơ
sở là người vay sẽ phải trả một khoản tiền cố định hàng tháng từ thu nhập hoặc
kinh doanh trong khoảng thời gian từ 10 đến 20 năm, tuỳ từng điều kiện cụ thể.
Khách hàng phải cam kết với ngân hàng ttrong điều kiện thỏa thuận. Trong
khoảng thời gian này, tiền gốc của khoản vay sẽ được trả dần. Các sản phẩm thế
chấp của ngân hàng có thể sử dụng các tài sản là nhà, đất, tài sản cố định, các
quyền đối với tài sản và các tài sản khác thuộc sở hữu khách hàng hoặc tài sản
của người bảo lãnh.
Cho vay không có tài sản đảm bảo hay còn gọi là vay tín chấp: Hình thức
vay này không cần phải cầm cố hay thế chấp mà nó dựa vào uy tín của bản thân
khách hàng là chính. Bởi vì cho vay theo hình thức này mức độ rủi ro là rất lớn.
Khi cho vay theo hình thức này thì ngân hàng cần phải xem rõ khách hàng đó có
khả năng trả được khoản vay cho ngân hàng hay không. Vay tín chấp thì ngân
hàng dựa duy nhất vào xếp hạng tín dụng của khách hàng. Hiện nay các ngân
hàng hầu hết đã triển khai hệ thống chấm điểm khách hàng để hạn chế rủi ro
trong cho vay. Và như vậy, hình thức vay này thường khó thực hiện hơn là các
khoản vay bảo đảm. Một khoản vay tín chấp thường có chi phí thấp và có ít rủi ro
hơn đối với người vay, nhưng đối với ngân hàng thì ngược lại. Khi một khoản
vay tín chấp được chấp nhận, nó lại không phải căn cứ vào điểm số tín dụngmà
chuyên viên tín dụng đánh giá. Các ngân hàng hiện nay thường cho vay tín chấp
bằng các trừ tiền lương của khách hàng định kì qua tài khoản của khách hàng.
b. Dựa vào thời hạn cho vay
Cho vay ngắn hạn: Đây là hình thức cho vay phổ biến trong hệ thống ngân
hàng hiện nay. Thời gian cho vay thường là dưới 1năm. Tuy nhiên khoản vay
này thường có lãi suất cao và nó chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động tín dụng của
ngân hàng. Thông thường các khoản vay này được đảm bảo bằng các khoản phải
thu và các loại hàng hóa tồn kho,tiền lương…
Cho vay trung và dài hạn:Hình thức cho vay này thường mang lãi suất cao
bởi vì khoản vay này chịu mức rủi ro cao hơn so với các khoản mục cho vay
12


ngắn hạn khác. Thông thường hình thức cho vay này thì tài sản đảm bảo là các tài
sản cố định hoặc là các loại tài sản có giá trị lớn phù hợp với khoản vay. Khả
năng khách hàng không chịu thanh toán trong rủi ro thanh toán là rất cao.Vì vậy
cán bộ tín dụng cần phải thường xuyên theo dõi hoạt động của các khoản vay
này.
c. Dựa vào phương thức cho vay.
Cho vay tiêu dùng trực tiếp:
Vay thấu chi: là nghiệp vụ cho phép khách hàng được chi vượt trội số dư tiền gửi
thanh toán của cá nhân đến một giới hạn nhất định và trong khoảng thời gian xác
định. Nghiệp vụ này đòi hỏi khách hàng chỉ phải trả số lãi mà khách hàng sủ
dụng theo thỏa thuận kí trước giữ ngân hàng và khách hàng.
Vay thấu chi thường được sử dụng khách hàng cần tiền gấp. Lãi suất thấu
chi khá cao và tính theo ngày, nên khi nhận một khoản vay thấu chi tuy được chi
tiêu thoải mái nhưng khách hàng cũng phải tính đến khả năng trả nợ. Hiện nay
hạn mức cho vay thấu chi của ngân hàng rất lớn.Đặc điểm của vay thấu chi bao
gồm :


được thực hiện trên tài khoản vãng lai



chủ yếu nhằm mục đích cho vay đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng nảy sinh cần thiết
của khách hàng



Ngân hàng tuy vào chính sách tín dụng của mình mà cấp hạn mức thấu chi cho
khách hàng.



lãi suất thấu chi rất cao, gấp 1,5 lần lãi suất vay thông thường
Cho vay trả theo định kì: : là phương thức cho vay mà khách hàng trả
trực tiếp cho ngân hàng , mỗi lần trả theo quy định trong hợp đồng.
Cho vay gián tiếp:Là hoạt động cho vay của ngân hàng thông qua các
phiếu bán hàng từ những người kinh doanh nhỏ lẻ và đây chính là tài trợ bán trả
góp của các ngân hàng .Việc cho vay gián tiếp này sẽ ít tốn kém hơn so với các
hình thức xét duyệt trực tiếp.

13


Khách hàng nhận vay vốn

Ngân hàng
Người thanh toán nợ



Có 3 hình thức cho vay gián tiếp :



Tài trợ truy đòi toàn bộ



Tài trợ miễn truy đòi



Tài trợ có mua lại
d. Căn cứ vào phương pháp hoàn trả
Cho vay trả góp: Là hình thức cho vay mà khách hàng phải trả cả gốc và lãi
theo định kì. Cho vay trả là hình thức cho vay rất hiệu quả , nó giúp cho gia đình
có thu nhập thấp có thể cải thiện cuộc sống, sửa chữa nhà ở, sửa xe cơ giới, làm
kinh tế hộ gia đình, thanh toán học phí, đi du lịch, chữa bệnh, ma chay, cưới hỏi, .
. Hình thức cho vay trả góp được rất nhiều khách hàng lựa chọn vì tính thiết thực
của nó.
Cho vay phi trả góp: Là loại vay thanh toán 1 lần theo đúng kì hạn đã thỏa
thuận giữa ngân hàng và khách hàng
e. Căn cứ vào mục đích sử dụng:
Cho vay mua nhà:Là hình thức cho vay mà khách hàng vay vốn nhằm mục
đích mua nhà để ở. Loại hình này thường là cho vay trả góp thành nhiều năm,
cho vay để chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua nhà, căn hộ tại các dự án,
khu đô thị; nguồn trả nợ chủ yếu là từ lương, hoạt động kinh doanh và thu nhập
khác.
14


Cho vay mua ô tô: Đáp ứng nhu cầu đi lại của khách hàng. Đây là một
trong những hình thức tài trợ hấp dẫn của ngân hàng hiện nay, đáp ứng nhu cầu
ngày càng cao của khách hàng.
Cho vay kinh doanh: Khi khách hàng có nhu cầu kinh doanh thì ngân hàng
sẽ tạo điều kiện cho khách hàng tiếp cận nguồn vốn.Tuy nhiên khách hàng cần
phải thực hiện đúng các cam kết với ngân hàng, sử dụng vốn đúng mục đích
Cho vay du học :Đáp ứng nhu cầu mở rộng kiến thức của cá nhân ngân
hàng luôn tạo điều kiên cho khách hàng có nhu cầu đi du học.
f. Dựa vào sản phẩm cho vay
o Cho vay theo món
o Cho vay theo hạn mức tín dụng
o Cho vay theo hạn mức thấu chi

1.2.5. Các chỉ tiêu phản ánh việc mở rộng cho vay tiêu dùng
Chỉ tiêu định lượng
Khách hàng vay tiêu dùng chủ yếu là các cá nhân và số lượng sẽ thay đổi
theo từng năm khác nhau. Các chỉ tiêu đánh giá
 Mức độ tăng số lượng khách hàng vay tiêu dùng tại ngân hàng: Chỉ tiêu này cũng

phản ánh hiệu quả cho vay tiêu dùng tại ngân hàng. Nếu số lượng khách hàng
ngày càng tăng thì hoạt động cho vay tiêu dùng ngày càng mở rộng
Ksl = Sn - Sn-1
Sn: số lượng khách hàng vay tiêu dùng năm nay
Sn-1: số lượng khách hàng vay tiêu dùng năm trước của ngân hàng
 Tỷ lệ tăng trưởng của khách hàng cho vay tiêu dùng

Tsl =

*100%

Ksl: số lượng khách hàng vay tiêu dùng tăng hàng năm của ngân hàng
Sn-1: số lượng khách hàng vay tiêu dùng năm trước của ngân hàng
15


Chỉ số này phản ánh tốc độ tăng về quy mô của khách hàng của năm nay so với
năm trước
Nếu tỷ lệ này tăng chứng tỏ xu hướng khách hàng tăng hơn so với năm ngoái
Tỷ trọng số lượng khách hàng cho vay tiêu dùng



T=

*100%

S: tổng số lượng khách hàng vay vốn tại ngân hàng
S1 : số khách hàng cho vay tiêu dùng tại ngân hàng
Nếu tỷ số này tăng thì tức là ngân hàng đã mở rộng cho vay tiêu dùng
Nếu tỷ số này giảm thì hoặc ngân hàng đã thu hẹp cho vay tiêu dùng tại
ngân hàng
Mở rộng doanh số cho vay



Doanh số cho vay là số tiền mà ngân hàng giải ngân cho khách hàng trong 1 thời
gian nhất định.
Chỉ tiêu đánh giá
Mở rộng doanh số cho vay tiêu dùng
Qds= DSn - DSn-1
Qds: Mức tăng doanh số cho vay tiêu dùng tại ngân hàng
DSn:Doanh số cho vay tiêu dùng tại ngân hàng đối với năm thứ n
DSn-1:Doanh số cho vay tiêu dùng tại ngân hàng đối với năm n-1
Tỷ lệ tăng doanh số cho vay tiêu dùng hàng năm



TLds=

*100%

Qds: Mức tăng doanh số cho vay tiêu dùng tại ngân hàng
DSn-1:Doanh số cho vay tiêu dùng tại ngân hàng đối với năm n-1
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ tăng doanh số cho vay tiêu dùng của năm
nay so với năm trước là bao nhiêu.
16


Tỷ trọng của doanh số cho vay tiêu dùng đối với dư nợ tín dụng của



ngân hàng

Tds=

*100%

DStd: doanh số cho vay tiêu dùng của ngân hàng
DS: doanh số cho vay của hoạt động tín dụng của ngân hàng
Chỉ tiêu này cho biết doanh số cho vay tiêu dùng chiếm bao nhiêu phần
trăm trong tổng doanh số cho vay của ngân hàng. So sánh với các năm trước thì
thấy được sự thay đổi kết cấu doanh số cho vay
Tỷ trọng cho vay tiêu dùng trên tổng dư nợ tín dụng



Chỉ tiêu này giúp ngân hàng xác định được khoản cho vay tiêu dùng chiếm
bao nhiêu phần trăm trong dư nợ chung của ngân hàng. Nếu tỷ lệ này cao thì cho
vay tiêu dùng của ngân hàng ngày càng tăng. Nếu mà thấp thì cho vay tiêu dùng
không hiệu quả và ngân hàng cần đưa ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả cho
vay tiêu dùng.
Ngoài ra còn một số chỉ tiêu như : Tỷ trọng thu lãi từ cho vay tiêu dùng trên
tổng thu lãi toàn ngân hàng, tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ…


Chỉ tiêu định tính
Đánh giá của khách hàng về dịch vụ cho vay tiêu dùng của ngân hàng:



Để đánh giá chỉ tiêu này thì ngân hàng thu thập thông tin từ khách hàng qua các
phiếu câu hỏi.Các câu hỏi có thể được hỏi đối với khách hàng như: Mức độ hài
lòng về dịch vụ, hài lòng về nhân viên… Từ đó tổng hợp lại các ý kiến của
khách hàng và đưa ra các chiến lược phát triển của ngân hàng
 Thương hiệu của ngân hàng:

Chỉ tiêu này đánh giá mức độ hiểu biết của khách hàng về các hoạt động của
ngân hàng. Ngân hàng phải điều tra xem khách hàng biết đến ngân hàng của
mình như thế nào. Một khi thương hiệu của ngân hàng được định vị trong tâm trí
của khách hàng thì khách hàng sẽ tìm đến ngân hàng khi có nhu cầu. Đây là điều
17


rất cần thiết từ đó đưa ra các chiến lược marketing phù hợp cho các sản phẩm cho
vay tiêu dùng
1.2.6. Các nhân tố ảnh hưởng hoạt động cho vay tiêu dùng
a. Các nhân tố khách quan
 Môi trường kinh tế

Môi trường kinh tế ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động cho vay tiêu dùng của
cá nhân và hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Môi trường có thuận lợi thì thì
hoạt động kinh doanh của ngân hàng mới tốt, nguồn vốn huy động được sẽ gia
tăng . Môi trường kinh tế khủng hoảng như lạm phát, suy thoái … sẽ làm giảm
dư nợ tín dụng cho vay tiêu dùng. Chẳng hạn như trong thời kì bao cấp hoạt động
cho vay tiêu dùng gần như không tồn tại thì trong nền kinh tế thị trường hiện
nay,cơ chế thay đổi thì hoạt động này trở nên rất quan trong đối với người dân.
 Môi trường chính trị pháp luật

Bao gồm vấn đề điều hành của Chính phủ, hệ thống pháp luật và các thông tư
chỉ thị hướng dẫn cách tổ chức hoạt động. Những diễn biến của các yếu tố này
ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến hoạt động của ngân hàng và quyết định tiêu
dùng của khách hàng. Không những thế, kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng thì
các ngân hàng chịu ảnh hưởng chặt chẽ của các quy định khác của nhà nước. Các
quy định đó thường xuyên thay đổi chính vì vậy mà ngân hàng phải theo dõi để
thay đổi chiến lược kinh doanh cho hợp lý.
Môi trường văn hóa



Con người sống trong bất kì xã hội nào thì đều mang trong mình những giá
trị văn hóa riêng. Bản sắc văn hòa là khác nhau do những giá trị chuẩn mực khác
nhau. Thông qua những giá trị chuẩn mực này nó ảnh hưởng đến hành vi ra quyết
định của khách hàng. Từ đó dẫn đến nhu cầu cho vay tiêu dùng của khách hàng
tại ngân hàng
Văn hóa có thể ảnh hưởng đến đạo đức của người đi vay. Như vậy có thể
làm giảm hoăc tăng rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tại ngân hàng

18


Văn hóa cũng ảnh hưởng đến quy mô của hoạt động cho vay tiêu dùng. Khi
trình độ văn hóa của người dân tăng lên thì nhu cầu cải thiện mức sống cũng tăng
lên. Người dân có thể tiếp cận dễ dàng hơn với các dịch vụ ngân hàng. Điều này
dẫn đến nhu cầu vay vốn của khách hàng tăng.
Văn hóa cũng ảnh hưởng đến lối sống , tâm lý thói quen sử dụng dịch vụ
của các ngân hàng.
 Môi trường công nghệ

Khoa học kỹ thuật mang đến cho đời sống của con người nhiều biến đổi
không ngừng. Tốc độ tiến bộ khoa học công nghệ quá nhanh làm cho thời gian kể
từ khi sản phẩm ra đời đến khi sản phẩm rút khỏi thị trường rất ngắn. Và ứng
dụng công nghệ vào hoạt động ngân hàng khiến cho khách hàng có nhiều hơn sự
lựa chọn sản phẩm và các dịch vụ trở nên an toàn hơn.
Những phát minh khoa học đã làm cho các sản phẩm dịch vụ được hoàn
thiện. Như vậy ngân hàng sẽ cung cấp các dịch vụ tốt hơn cho ngưới sử dụng
Những biến đổi không ngừng của khoa học công nghệ đòi hỏi các chuyên
gia ngân hàng phải tư vấn với ban lãnh đạo để kịp thời ứng dụng vào các dịch vụ
của khách hàng
Bên cạnh đó khách hàng cũng cần phải cập nhập thông tin hòa nhập với
ngân hàng để thuận tiện cho việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng
b. Các nhân tố chủ quan
Đối với ngân hàng
 Trình độ của cán bộ nhân viên

Nhân tố con người là yếu tố quyết định trong mọi hoạt động cơ bản của
hoạt động ngân hàng. Cán bộ phải có trình độ, năng lực và có khả năng phân tích
nhìn nhận sự việc một cách thấu đáo. Do đó đòi hỏi ngân hàng phải đào tạo đội
ngũ nhân viên năng động nhiệt tình để nâng cao vị thế cạnh tranh và đáp ứng nhu
cầu ngày càng cao của khách hàng
 Uy tín của ngân hàng trên thị trường

19


Đây là nhân tố rất quan trọng bởi vì nhân tố này nó quyết định hành vi lựa chọn
sản phẩm dịch vụ của ngân hàng. Nếu ngân hàng không được khách hàng tin
tưởng thì khách hàng sẽ không đến với ngân hàng mà sẽ lựa chọ một ngân hàng
khác. Do đó ngân hàng cần phải sử dụng các biện pháp để nâng cao uy tín của
mình trên thị trường.
 Hoạt động Marketing ngân hàng

Marketing ngân hàng được xem là một ứng dụng các quy luật của
marketing vào hoạt động của một lĩnh vực dịch vụ có tính đặc thù hướng.Nó
giúp ngân hàng tìm hiểu nhu cầu của khách hàng về dịch vụ tài chính, cách thức
khách hàng lựa chọn, quyết định và sử dụng các sản phẩm do các ngân hàng
cung cấp. Những năm vừa qua, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng cũng
nhờ đó mà đã có những chuyển biến sâu sắc. Quy mô kinh doanh ngày càng mở
rộng cả về số lượng lẫn phạm vi, các loại hình kinh doanh đa dạng và phong phú
hơn, chất lượng các sản phẩm cũng càng ngày càng được nâng cao . Từ đó, cho
thấy việc tiếp thị các sản phẩm dịch vụ ngân hàng là rất cần thiết. Nếu không có
Marketing thì hoạt động của ngân hàng sẽ bị trì trệ rất nhiều và dần dần mất tính
cạnh tranh trên thị trường. Vì thế các chiến lược Mareting của ngân hàng đã được
các ngân hàng quan tâm chú trọng đến nhiều hơn nhưng hiệu quả của hoạt động
này

đem

lại

chưa

tương

xứng

với

tiềm

năng

hiện

có.

Trong giai đoạn hiện nay, cạnh tranh giữa các ngân hàng không chỉ còn ở lãi suất,
chất lượng dịch vụ mà thương hiệu ngân hàng cũng là một yếu tố sống còn không
kém phần quan trọng. Ngân hàng cần dựa vào hoạt động Marketing để xây dựng
thương hiệu của mình thành thương hiệu mạnh
Các biện pháp ngân hàng thường xuyên sử dụng là :
- tổ chức các hoạt động khuyến mãi,ưu đãi
- Thường xuyên tổ chức hoạt động PR
Đánh giá khách hàng qua các chỉ tiêu :
a. Hệ số sử dụng sản phẩm cho vay tiêu dùng của ngân hàng = tổng

sản phẩm dịch vụ ngân hàng/ tổng số khách hàng vay vốn của
ngân hàng
20


Tỷ lệ thâm nhập của khách hàng = tổng số khách hàng của ngân hàng /tổng dân
số
- Nghiên cứu hành vi tiêu dùng của khách hàng
Điều này là rất quan trọng đối với hoạt động cho vay của ngân hàng. Có như vậy
thì ngân hàng mới biết được các quá trình ra quyết định tiêu dùng của khách hàng
 Quy mô vốn của ngân hàng

Quy mô vốn phản ánh khả năng cung cấp vốn cho khách hàng. Một ngân hàng có
quy mô lớn họ có thể dễ dàng đáp ứng nhu cầu vốn cho khách hàng. Và đa dạng
hóa các sản phẩm dịch vụ của mình. Hạn mức tín dụng cho các sản phẩm đó
cũng tăng lên, khả năng thu hút khách hàng lớn hơn so với các ngân hàng khác.
 Cơ sở vật chất

Đây là yếu tố tâm lý quan trọng khi khách hàng tìm đến với ngân hàng.
Do đó ngân hàng cần phải xây dựng cơ sở hạ tầng hiện đại và gây ấn tượng với
khách hàng trong giai đoạn các ngân hàng nước ngoài gia nhập vào thị trường
Việt Nam .
Chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động mở rộng cho vay
tiêu dùng tại ngân hàng thương mại, nó là đường lối chung cho hoạt động của cả
ngân hàng. Chính sách tín dung bao gồm:
+ Giới hạn tín dụng: Được xác định trên nhu cầu vay vốn của ngân hàng
nhưng không được vượt quá hạn mức quy định của ngân hàng
Ngoài ra còn có giới hạn cho vay theo tài sản đảm bảo. Căn cứ vào tài sản
đảm bảo và giá trị tài sản đảm bảo ngân hàng sẽ xác định giới hạn cho vay tố đa
so với tài sản đảm bảo theo quy định của ngân hàng
Giới hạn về khả năng cho vay của ngân hàng dựa vào thời điểm hiện tại
cho vay
+ Kì hạn tín dụng: được ngân hàng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với
chu kì sản xuất kinh doanh của khách hàng, khả năng trả nợ của khách hàng và
nguồn vốn của ngân hàng
21


Giá cả tín dụng: Căn cứ vào chính sách cho vay tiền của ngân hàng và hoặc
các chính sách khuyến mãi khác. Cụ thể các yếu tố cần xem xét là:


Mức độ và khả năng rủi ro của ngân hàng



Chi phí huy động vốn



Chi phí hoạt động



Lãi suất cho vay của ngân hàng cạnh tranh



Phí thu từ dịch vụ cấp tín dụng
Chính sách tín dụng đóng vai trò quan trọng bởi vì nó sẽ giúp cán bộ và
nhân viên tín dụng xác định được phương hướng hoạt động của ngân hàng
 Đối thủ cạnhtranh

Như chúng ta đã biết nếu để mở rộng hoạt động tín dụng của ngân hàng thì ngân
hàng nghiên cứu về khách hàng là chưa đủ. Ngày nay hệ thống ngân hàng trong
cả nước đã phát triển mạnh, cạnh tranh ngày càng gay gắt thì việc tìm hiểu về
đối thủ cạnh tranh là vấn đề không thể bỏ qua. Bộ phận marketing của ngân hàng
phải phân tích các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và cạnh tranh trực tiếp với ngân
hàng của mình.Từ đó mới đưa ra các chính sách hợp lý.
Đối với khách hàng
 Cơ sở khách hàng

Nghiên cứu nhu cầu của khách hàng
Ngân hàng phải xác định được nhu cầu của khách hàng từ đó đưa ra chính sách
tín dụng cho phù hợp với tình hình thực tế. Ngân hàng cũng phải tạo lập mối
quan hệ mật thiết với khách hàng tạo dựng cơ sở để mở rộng hoạt động tín dụng
cho ngân hàng. Bên cạnh đó còn phải quan tâm đến khả năng trả nợ của khách
hàng để hoạt động tín dụng diễn ra dễ dàng, giảm nợ xấu trong ngân hàng. Ngân
hàng cần phải tiến hành sau:
- Phân loại khách hàng và lựa chọn khách hàng mục tiêu
- Đẩy mạnh công tác khách hàng trong cán bộ nhân viên
1.2.7. Kinh nghiệm cho vay tiêu dùng của một số Ngân hàng tại Việt Nam
22


a .Hoạt động cho vay tiêu dùng tại một số nước
Hoạt động cho vay tiêu dùng tại Trung Quốc:
Dịch vụ tín dụng tiêu dùng càng ngày càng trở nên phổ biến và được
khuyến khích phát triển tại các NHTM Trung Quốc. Các nhà quản lý ngân
hàng Trung Quốc đã nhận thấy cho vay tiêu dùng chính là “tương lai” của
các NHTM và họ phải tập trung các nguồn lực của mình nhiều hơn cho lĩnh
vực này.
Ngay từ cuối những năm 1990, Ngân hàng Kiến thết Trung Quốc
(CCB) đã dẫn đầu về phát triển lĩnh vực này: vào năm 1999, thời hạn cho
vay có thế chấp được kéo dài từ 20 năm lên 30 năm; giá trị của khoản vay
cũng được nâng từ mức 70% lên 80% giá trị tài sản thế chấp. Đồng thời, từ
cuối năm 1999, CCB bắt đầu chấp thuận các khoản cho vay do các cá nhân
đứng ra bảo lãnh, bãi bỏ yêu cầu người đi vay cần phải được người chủ lao
động của mình đứng ra bảo đảm cho khoản vay. CCB còn có một kế hoạch
đầy tham vọng là sử dụng các phương tiện kỹ thuật, công nghệ sẵn có của
mình để phát triển hình thức dịch vụ ngân hàng Internet và đưa ra một số
sản phẩm dịch vụ ngân hàng điện tử bán lẻ.
Ngân hàng phát triển Thượng Hải - Phú Đông cũng là một trong số các
ngân hàng ở Trung Quốc sớm có dịch vụ tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh.
Ngân hàng này đã hợp tác với các công ty chuyên kinh doanh bất động sản
để đơn giản hóa các thủ tục về tài sản thế chấp và giảm số lần mà người vay
phải đến giao dịch với một chi nhánh ngân hàng từ 20 lần xuống còn có 3
lần. Từ tháng 8/1999, Ngân hàng Phát triển Thượng Hải - Phú Đông đã phối
hợp với các công ty du lịch lữ hành để đưa ra các khoản cho vay du lịch và
kể từ thời điểm đó đã có 13 cặp vợ chồng nhận được các khoản vay để đi du
lịch tuần trăng mật. Ngân hàng này cũng đã kéo dài thời hạn của các khoản
vay dành cho đào tạo đại học từ 2 năm lên 4 năm và thành lập một quỹ đặc
biệt dành cho các bậc cha mẹ vay vốn do muốn gửi con cái vào các trường
học tư nhân đắt tiền. Để thực hiện được các kế hoạch này, Ngân hàng Phát
23


triển Thượng Hải - Phú Đông đã tăng gấp đôi số nhân viên marketing cho
lĩnh vực tín dụng tiêu dùng, chiếm tới 20% tổng quỹ lương.
Nhìn chung, vì các khoản cho vay tiêu dùng vẫn còn khá mới mẻ với cả
người tiêu dùng và hệ thống ngân hàng ở Trung Quốc nên hậu quả của vấn
đề rủi ro chưa thể hiện đầy đủ, chưa lường hết được. Hầu hết các khoản cho
vay tiêu dùng là các khoản vay trung và dài hạn, với thời hạn từ 10-30 năm,
nên khả năng trả nợ phụ thuộc rất nhiều vào tình trạng gia đình, sức khỏe và
công việc của người đi vay. Một số ngân hàng không có đầy đủ đánh giá về
rủi ro tiềm năng cũng như kinh nghiệm để ngăn chặn những rủi ro biết
trước. Thêm vào đó, kể từ năm 2003, hoạt động cho vay của khu vực ngân
hàng đã kích thích lạm phát gia tăng và nạn đầu tư ư quá mức trong các khu
vực khác nhau đã trở thành mối lo ngại hàng đầu của Chính phủ giữa lúc
bao trùm tâm lý lo sợ tình trạng kinh tế bùng nổ kiểu bong bóng. Do vậy,
PBOC vừa tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, vừa kiểm soát các ngân hàng và hoạt
động cho vay quá mức đối với khu vực bất động sản. Theo các quy định mới
có hiệu lực từ ngày 1/3/2004, ủy ban Giám sát ngân hàng Trung Quốc
(CBRC) yêu cầu tất cả các NHTM nước này đều phải đáp ứng tỷ lệ an toàn
vốn 8% kể từ ngày 1/1/2007, trong đó khoản tiền cho khu vực bất động sản
vay chưa trả sẽ không được phép chiếm hơn 30% tổng dư nợ vay chưa trả
của 1 ngân hàng. Các biện pháp này nhằm góp phần hỗ trợ giảm tỷ lệ lạm
phát xuống còn 3 - 4% trong năm 2004 của Chính phủ Trung Quốc.
Thách thức lớn nhất hiện nay đối với các NHTM Trung Quốc là khả
năng cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài trên lĩnh vực cho vay tiêu
dùng: HSBC, Citibank, Standard Chartered ... đang nổi lên là những đối thủ
cạnh tranh rất mạnh. Các ngân hàng trong nước của Trung Quốc có thể để
lĩnh vực tín dụng tiêu dùng rơi vào tay các đối thủ cạnh tranh nước ngoài
nếu họ không ngay lập tức củng cố lĩnh vực dịch vụ này. Tăng trưởng kinh
tế mạnh của Trung Quốc trong những năm qua đã làm tăng nhu cầu về tín
dụng tiêu dùng nhưng các dịch vụ liên quan của các ngân hàng trong nước
vẫn bị bỏ trễ phía sau. Trong khi đó, những ngân hàng nước ngoài vừa hiện
24


đại lại vừa có rất nhiều kinh nghiệm, chẳng hạn như Citibank đã phát hành
100 triệu thẻ tín dụng trên khắp thế giới và có những hệ thống đánh giá độ
tín nhiệm tín dụng của khách hàng đã được kiểm nghiệm. Với kinh nghiệm
dày dạn và hệ thống giao dịch hiện đại, các ngân hàng nước ngoài có ưu thế
mạnh hơn hẳn các đối tác Trung Quốc trong lĩnh vực kinh doanh thẻ tín
dụng, mặc dù số lượng các đại lý của họ ở Trung Quốc còn nhỏ. Nếu các
ngân hàng này đưa ra những loại thẻ đáp ứng được nhu cầu của các khách
hàng giàu có, đưa ra các hạn mức tín dụng cao hơn cho sinh viên thì sẽ vượt
xa các ngân hàng Trung Quốc về dư nợ tín dụng. Bên cạnh thẻ tín dụng, họ
còn dự kiến tiến hành các hoạt động thuộc các lĩnh vực khác của tín dụng
tiêu dùng như triển khai các khoản cho vay mua nhà trả chậm. Các dịch vụ
này có rất nhiều triển vọng do lượng dân số khổng lồ của Trung Quốc. Theo
đánh giá của các nhà phân tích, các ngân hàng lớn của nước ngoài sẽ không
xây dựng các chi nhánh trên toàn quốc và cũng không nhằm vào thị trường
cho vay mua nhà trả chậm đối với các khách hàng trung lưu. Khi tiếp cận
vào thị trường khách hàng bán lẻ, các ngân hàng nước ngoài sẽ lôi kéo các
khách hàng giàu có với các dịch vụ có mức phí cao nhưng lại đáp ứng được
các nhu cầu ở mức cao hơn, chẳng hạn như các sản phẩm đầu tư ư, quản lý
quỹ. Theo các nhà tư vấn, cách tốt nhất là lĩnh vực tiêu dùng cần phải được
tách riêng thành những bộ phận có thể tự kinh doanh, tự quản lý và hạch
toán lỗ lãi một cách độc lập với các hoạt động kinh doanh ngân hàng khác.
Hoạt động cho vay tiêu dùng tại các NHTM Châu Âu
Tại châu Âu, tín dụng tiêu dùng ra đời muộn hơn các loại hình tín dụng
khác. Nó đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày một lớn của người dân tại các
quốc gia phát triển. Cho đến nay, tín dụng tiêu dùng đã trở thành một hình
thức tín dụng phổ biến tại châu Âu. Cùng với các loại tín dụng khác, tín
dụng tiêu dùng làm hoàn thiện, làm phong phú môi trường tín dụng, hướng
tới “bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng”.
(1) Đối tượng, hình thức, giá trị và thời hạn của khoản cho vay tiêu
dùng
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×