Tải bản đầy đủ

Skkn áp dụng các phương pháp mới trong dạy học vật lý 9

Áp dụng các phương pháp mới trong dạy học vật lý 9 – Người thực hiện: Nguyễn Công Nam
===============================================================================

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài.
Trong những năm qua, trước sự phát triển như vũ bão của khoa học, giáo
dục nước nhà đã có nhiều cố gắng trong việc tự hoàn thiện mình bằng những
giải pháp như tiến hành cải cách giáo dục, đổi mới chương trình giáo dục phổ
thông... nhằm đủ sức đáp ứng nhiệm vụ nhân dân giao phó: trồng người đáp ứng
giai đoạn cách mạng mới.
Trong thời gian qua, dẫu có nhiều nổ lực như thế, nhưng nhìn chung giáo
dục của ta vẫn chưa ngang tầm với nhiệm vụ cách mạng mới: đào tạo con người
toàn diện phục vụ sự nghiệp CNH – HĐH của đất nước. Hay nói cách khác GDĐT phải bằng mọi cách đáp ứng mục tiêu mà Đảng ta đề ra: nâng cao dân trí,
đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
Tuy vậy, chất lượng giáo dục hiện nay nói chung là thấp, chưa đáp ứng
được mục tiêu mà Đảng ta đã chỉ ra. Nguyên nhân dẫn đến chất lượng không
được như mong muốn như thế có nhiều. Song vấn đề mấu chốt hiện nay vẫn là
Phương pháp dạy học.
Vấn đề phát huy tính tích cực học tập của học sinh đã được đặt ra trong
ngành giáo dục từ lâu, cao điểm là từ năm 2001. Thế nhưng cho đến nay ở một
số giáo viên sự chuyển biến về phương pháp dạy học chưa được là bao chủ yếu

vẫn là thông báo kiến thức định sẵn, cách học thụ động sách vở, vẫn là “Thầy
đọc – trò chép”, giáo viên quyết định toàn bộ quá trình dạy học. Học sinh thụ
động tiếp thu, ghi nhớ, nhắc lại, rập khuôn. Lối dạy đó có thể làm cho học sinh
có thể bắt trước, có thể đạt kết quả cao trong các kỳ thi kiểm tra kiến thức,
nhưng lại tỏ ra yếu kém khi phải hoạt động sáng tạo, khi phải giải quyết những
vấn đề mới của thực tiễn.
Nếu cứ tiếp tục dạy và học thụ động như thế, giáo dục không thể đáp ứng
được yêu cầu mới của xã hội. Sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất
nước, sự thách thức trước nguy cơ tụt hậu đang đòi hỏi đổi mới giáo dục, trong
đó có sự đổi mới căn bản về phương pháp dạy học.
Trang - 1 -


Áp dụng các phương pháp mới trong dạy học vật lý 9 – Người thực hiện: Nguyễn Công Nam
===============================================================================

Để góp phần giải quyết vấn đề trên tôi đã mạnh dạn sưu tầm tài liệu về
các phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học Vật lí 9 nói riêng,
cộng với quá trình giảng dạy và được sự giúp đỡ của đồng nghiệp đã giúp tôi
viết thành đề tài này.
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
a) Mục tiêu nghiên cứu.
Đề tài tìm và chọn ra một số phương pháp dạy học cơ bản, phù hợp đặc
trưng của bộ môn Vật lí THCS nói chung và bộ môn Vật lí 9 nói riêng, trong đó
có sự kết hợp với các phương pháp khác, qua đó giúp bản thân tôi có cơ sở và
định hướng tốt và vững hơn khi dạy học Vật lí 9. Áp dụng đề tài này thường
xuyên sẽ tạo cho học sinh có thói quen học tập tích cực, tự giác, chủ động sáng
tạo trong hoạt động nhận thức, giúp các em hứng thú hơn khi học Vật lí, bước
đầu làm quen với bộ môn Vật lí thực nghiệm.
Ngoài ra tôi hy vọng đề tài còn là tài liệu tham khảo cho việc dạy Vật lí của
giáo viên các trường THCS trên địa bàn huyện.
b) Nhiệm vụ của đề tài.
Qua đề tài ‘‘Áp dụng các phương pháp mới trong dạy học Vật lí 9’’ làm
cho học sinh hiểu được:
* Về kiến thức:
+ Học sinh rút ra được các kiến thức quan trọng qua các bài học trong sách
giáo khoa, các kết luận từ các kết quả thực nghiệm.
+ Có kiến thức nhận biết được tên các dụng cụ thí nghiệm, cách lắp ráp thí
nghiệm và công dụng của từng dụng cụ thí nghiệm.
+ Xác định được các đại lượng vật lí thông qua các phương pháp đo đạc.


* Về kỹ năng:
+ Kỹ năng xác định mục đích và tiến trình thí nghiệm. Kỹ năng quan sát, kỹ
năng thu thập và sử lý thông tin thu được từ quan sát thí nghiệm.
+ Kỹ năng tiến hành thí nghiệm, quan sát, nhận biết các hiện tượng.

Trang - 2 -


Áp dụng các phương pháp mới trong dạy học vật lý 9 – Người thực hiện: Nguyễn Công Nam
===============================================================================

+ Kỹ năng sử dụng các dụng cụ thí nghiệm, kĩ năng bố trí lắp ráp thí
nghiệm.
+ Kỹ năng suy luận, lập luận lôgic, kỹ năng sống.
+ Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá kết quả và hoàn thành bài báo cáo thí
nghiệm.
* Về thái độ:
+ Yêu thích môn học, có tình yêu và niềm đam mê khoa học đặc biệt là
khoa học tự nhiên.
+ Cẩn thận, kiên trì, trung thực trong học tập.
+ Hợp tác trong hoạt động nhóm, có ý thức tổ chức kỉ luật cao.
+ Có biện pháp an toàn khi tiến hành thí nghiệm.
+ Vận dụng kiến thức đã học để giải thích một số hiện tượng đơn giản trong
thực tế.
3. Đối tượng nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu các phương pháp dạy học mới trong dạy học Vật lí ở học
sinh khối lớp 9 trường THCS Phan Đình Phùng.
4. Giới hạn của đề tài.
Đề tài áp dụng ở các tiết dạy trên các lớp khối 9 ở trường THCS Phan Đình
Phùng nói riêng và có thể áp dụng giảng dạy môn Vật lý 9 ở các trường có đặc
điểm tương đồng nói chung.
5. Phương pháp và nội dung nghiên cứu.
a. Phương pháp nghiên cứu.
+ Tham khảo, nghiên cứu tài liệu hướng dẫn về phương pháp dạy học nói
chung và phương pháp dạy học mới trong vật lí nói riêng.
+ Tham khảo SGK, SGV, SBT Vật lí 9.
+ Áp dụng dạy thử vào giờ dạy trên lớp.
+ Tham khảo ý kiến của đồng nghiệp, thăm dò ý kiến của học học sinh sau
mỗi giờ dạy để rút kinh nghiệm.
+ Tích lũy các giờ dạy trên lớp, dự giờ của đồng nghiệp.
Trang - 3 -


Áp dụng các phương pháp mới trong dạy học vật lý 9 – Người thực hiện: Nguyễn Công Nam
===============================================================================

+ So sánh chất lượng giờ dạy, lực học của học sinh khi chưa áp dụng đề tài
với khi đã áp dụng đề tài.
b. Nội dung nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu các phương pháp dạy học tích cực trong dạy học Vật lí 9.
Gồm các phương pháp sau đây:
+ Phương pháp dạy và học hoạt động nhóm.
+ Phương pháp dạy và học đặt và giải quyết vấn đề.
+ Phương pháp xử lí thông tin theo mô hình quy nạp.
+ Phương pháp xử lí thông tin theo mô hình diễn dịch.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận.
Luật giáo dục, điều 24.2 đã ghi “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy
tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; Phù hợp với đặc điểm
của từng lớp học, môn học; Bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn; Tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui,
hứng thú học tập cho học sinh”.
Khác với các bộ môn khác, Vật lí là bộ môn khoa học thực nghiệm. Gắn
liền với đời sống của con người. Mục đích của việc dạy – học Vật lí không chỉ
dừng lại ở việc truyền thụ cho học sinh những kiến thức, kỹ năng Vật lí mà loài
người đã tích lũy đươc, mà còn đặc biệt quan tâm đến việc bồi dưỡng cho học
sinh năng lực suy nghĩ độc lập, không dập khuôn, năng lực sáng tạo, năng lực
hành động thực tiễn để tạo ra những kiến thức mới, phương pháp mới, những
năng lực giải quyết vấn đề mới nhạy bén, hiệu quả, thiết thực và phù hợp với
hiệu quả thực tế. Muốn đạt được mục đích này trong dạy học Vật lí 9 thì việc
dạy học Vật lí 9 phải được tiến hành thông qua các hoạt động của học sinh.
Muốn đổi mới cách học thì phải đổi mới cách dạy, đổi mới cách dạy chính
là đổi mới phương pháp.
Trong phương pháp dạy học Vật lí 9 mới này, vai trò của giáo viên là tạo
điều kiện thuân lợi cho học sinh hoạt động, kích thích hứng thú học tập của học
Trang - 4 -


Áp dụng các phương pháp mới trong dạy học vật lý 9 – Người thực hiện: Nguyễn Công Nam
===============================================================================

sinh, hướng dẫn tổ chức và giúp đỡ để học sinh có thể thực hiện thành công
nhiệm vụ học tập. Tránh làm thay cho học sinh những gì mà học sinh có thể tự
lực làm được, rèn luyện cho học sinh làm việc tự lực, trở thành chủ thể của hoạt
động nhận thức, tìm tòi khám phá ra cá kiến thức mới, phát triển năng lực trí tuệ.
2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu.
Trên tinh thần đổi mới giáo dục hiện nay việc dạy học bộ môn Vật lí 9
nói riêng, các môn học khác nói chung đã đổi mới theo phương pháp
dạy học tích cực. Phương pháp dạy học tích cực có vai trò quan trọng
trong việc phát huy tính chủ động, tích cực và sáng tạo của học sinh.
Tính ưu việt của phương pháp dạy học này đã được thừa nhận, được
đông đảo anh chị em giáo viên nồng nhiệt hưởng ứng. Song trong thực
tế đó cách dạy học truyền thống vẫn còn ăn sâu vào tiềm thức của một
số giáo viên, do tính bảo thủ hoặc kém khả năng thích ứng.

Đối

với

một số giáo viên có ý thức vận dụng phương pháp dạy học tích cực
nhưng kết quả chưa được như mong đợi, chưa đáp ứng được tinh thần
thực sự “đổi mới”. Nguyên nhân của tình trạng trên đựơc thể hiện ở
một số điểm sau:
Một phần giáo viên áp dụng chưa thật hợp lí hoặc máy móc không cải
biến hoặc áp dụng chưa thật phù hợp với loại bài dạy, phần dạy. Trong phương
pháp cụ thể nào đó giáo viên chưa xác định chính xác các bước đi, giáo viên
chưa tận dụng triệt để đồ dùng dạy học, đồ dùng thí ngiệm.
Trong quá trình dạy giáo viên chưa thực sự là người điều khiển dẫn dắt
học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức. Do vậy học sinh chưa được và chưa có thói
quen phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo, phát triển tư duy mới.
Kết quả của sự dạy và học đó làm cho giáo viên không có thói quen và kĩ
năng trong phương pháp dạy học tích cực còn học sinh học tập chưa trở thành
chủ thể của việc tiếp nhận thức kiến thức mới.
Khi chưa áp dụng đề tài vào giảng dạy các lớp ở trường tôi thu được và
nhận thấy rằng học sinh tiếp nhận kiến thức thụ động, máy móc, không được
Trang - 5 -


Áp dụng các phương pháp mới trong dạy học vật lý 9 – Người thực hiện: Nguyễn Công Nam
===============================================================================

phát triển về tư duy tích cực, chủ động ,sáng tạo. Học sinh có thể nhớ và thuộc
kiến thức nhưng không hiểu sâu bản chất của kiến thức, vận dụng kiến thức
không linh hoạt, nhạy bén, khả năng thực hành của các em chưa cao.
Kết quả cụ thể của học sinh khối lớp 8 (trước khi lên lớp 9) cuối năm học
2016 – 2017 như sau:
Lớp
Giỏi
Khá
TB
Yếu

8A1
4%
30%
59%
7%

8A2
3%
35%
53%
9%

8A3
3,5%
29%
59,5%
8%

8A4
3.5%
30%
56.5%
10%

8A5
3%
28%
59%
10%

8A6
2,8%
31%
60,2%
6%

8A7
3,3%
33%
55,7%
8%

8A8
4,2%
26%
58,8%
11%

Phương pháp dạy học quan hệ mật thiết với nội dung và kết quả dạy học,
có phương pháp phù hợp với nội dung bài học thì kết quả dạy học sẽ cao. Hiện
nay ở bộ môn Vật lí đồ dùng thí nghiệm cơ bản đầy đủ, sách giáo khoa biên soạn
phù hợp với cách dạy mới, cùng với phương pháp dạy học hợp lí là điều kiện cơ
bản để đạt được mục tiêu cuả việc dạy học Vật lí 9.
Trước tình hình đó, tôi đưa ra bốn phương pháp dạy học mới áp dụng
trong dạy học Vật lí 9 nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên. Trong từng
phương pháp có trình bày nội dung, cách thực hiện và ví dụ minh họa cho
phương pháp đó.
3. Nội dung và hình thức của giải pháp.
a. Mục tiêu của giải pháp.
Khi áp dụng các phương pháp mới trong dạy học Vật lý 9, giúp giờ giảng
của mỗi giáo viên trở nên sinh động, hấp dẫn và có ý nghĩa. Người học là trung
tâm nhưng vai trò, uy tín của người thầy được đề cao hơn. Bên cạnh đó, khả
năng chuyên môn của người thầy sẽ tăng lên nhờ áp lực của phương pháp, bởi
nội dung kiến thức của từng giờ giảng phải được cập nhật liên tục để đáp ứng
các câu hỏi của người học trong thời đại thông tin rộng mở.
Dạy học là quá trình trao đổi kiến thức giữa thầy và trò. Người thầy phải
luôn đổi mới bài giảng cũng như phong cách đứng lớp. Như vậy, người dạy sẽ
học được từ học trò của mình rất nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tế. Mối
Trang - 6 -


Áp dụng các phương pháp mới trong dạy học vật lý 9 – Người thực hiện: Nguyễn Công Nam
===============================================================================

quan hệ thầy trò sẽ trở nên gần gũi, tốt đẹp qua việc giải quyết các tình huống
liên quan đến nội dung bài học và cuộc sống của người học.
Giáo viên áp dụng các phương pháp mới trong dạy học giúp người học
thấy họ được học chứ không bị học. Người học được chia sẻ những kiến thức và
kinh nghiệm của mình đồng thời với việc bổ sung những kiến thức, kinh nghiệm
không chỉ từ người thầy mà còn từ chính các bạn trong lớp. Họ hạnh phúc khi
được học, được sáng tạo, được thể hiện, được làm. Nhờ học theo hướng tích cực
mà họ ghi nhớ sâu kiến thức và tăng khả năng áp dụng vào thực tế lên gấp 3-4
lần so với cách học thụ động một chiều.
Dạy học bằng phương pháp mới chính là tìm mọi cách giúp người học
được chủ động trong việc học, cho họ được làm việc, được khám phá tiềm năng
của chính mình. Người dạy cần giúp người học có được sự tự tin, có trách nhiệm
với bản thân để từ đó chia sẻ trách nhiệm với cộng đồng.
b. Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp.
Trước đây với cách dạy đọc - chép, giáo viên là người rót kiến thức vào
đầu học sinh và người dạy giữ vai trò trung tâm. Nhưng kiến thức từ thầy có thể
trở thành kiến thức của trò không? Chắc chắn là không nhiều. Theo nhiều nghiên
cứu khoa học về giáo dục thì cách dạy đọc - chép chỉ giúp người học tiếp thu
được 10-20% kiến thức.
Khi áp dụng phương pháp giáo dục chủ động, người học giữ vai trò trung
tâm, người thầy chỉ đóng vai trò hướng dẫn, giúp đỡ. Người học chủ động tìm
kiếm tri thức và có thể thu nhận kiến thức không chỉ từ thầy mà còn từ rất nhiều
nguồn khác nhau.
Như vậy, vai trò của người thầy có giảm đi không? Xin khẳng định ngay
là không. Ngược lại, vai trò người thầy càng trở nên quan trọng. Giữa biển thông
tin mênh mông, điều gì cần gạn lọc, cách sử dụng ra sao và ứng dụng chúng vào
cuộc sống như thế nào… Tất cả những điều ấy đều cần đến sự chỉ dẫn của người
thầy. Sự thay đổi này đòi hỏi chúng ta phải dạy và học như thế nào? Với người
học, các bạn cần hiểu rõ mình là ai và mình muốn là người như thế nào, điều gì
Trang - 7 -


Áp dụng các phương pháp mới trong dạy học vật lý 9 – Người thực hiện: Nguyễn Công Nam
===============================================================================

mình cần học và mình muốn học cái gì. Với người dạy, mỗi người thầy càng
phải phấn đấu, tu dưỡng nhiều hơn, tự học, tự sáng tạo nhiều hơn để xứng đáng
trong vai trò mới.
Để cho các tiết dạy có hiệu quả tôi mạnh dạn trình bày một số phương
pháp tích hợp như sau:
Phương pháp 1: Thu thập tài liệu sinh động và có sức thuyết phục.
Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, việc tìm
kiếm bất cứ tư liệu nào trên mạng internet cũng trở nên dễ dàng. Đây là một điều
kiện thuận lợi cho việc đổi mới phương pháp dạy học.
Sau khi xây dựng được nội dung bài giảng giáo viên tìm và lựa chọn
những phương pháp giảng dạy phù hợp với yêu cầu để bài giảng trở nên sinh
động hơn.
Phương pháp 2: Ứng dụng công nghệ thông tin để giảng dạy.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin để dạy học sẽ phát huy cao tính trực
quan của bài dạy. Đòi hỏi không chỉ cung cấp kiến thức, kĩ năng mà quan trọng
là hình thành ở học sinh thái độ trước các vấn đề của bài học, điều này sẽ đạt
được hiệu quả cao khi các em được tự nghiên cứu, hoạt động tương tác lẫn nhau
để tìm ra kiến thức mới.
c. Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp.
Góp phần phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo, tự giác của học sinh
trong học tập và tham gia các hoạt động thực tiễn.
Hướng dẫn học sinh có thói quen vận dụng các kiến thức đã học vào giải
quyết các vấn đề thực tiễn.
Hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động thực tiễn với các hình thức
đa dạng, phong phú, có sức hấp dẫn, phù hợp, tạo niềm vui và thái độ tự tin
trong học tập cho học sinh.
Giúp học sinh phát triển tối đa năng lực, tiềm năng của bản thân.
d. Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu,
phạm vi và hiệu quả ứng dụng.
Trang - 8 -


Áp dụng các phương pháp mới trong dạy học vật lý 9 – Người thực hiện: Nguyễn Công Nam
===============================================================================

d1: Phương pháp dạy và học hoạt động nhóm trong dạy học Vật lí 9.
+ Theo phương pháp này, lớp học được chia thành nhiều nhóm nhỏ. Tùy
mục đích yêu cầu của vấn đề học tập, các nhóm được phân chia ngẫu nhiên hoặc
có chủ định , được duy trì ổn định hoặc thay đổi trong từng phần của tiết học,
được giao cùng nhiệm vụ hoặc nhiệm vụ khác nhau.
+ Nhóm tự bầu ra nhóm trưởng. Trong nhóm có thể phân công mỗi người
một phần việc, như: người lắp ráp thí nghiệm, tiến hành thí nghiệm, thư kí ghi
kết quả, báo cáo kết quả…
+ Trong nhóm, mỗi thành viên đều phải làm việc tích cực, không được ỷ
laị một vài người hiểu biết và năng động hơn. Các thành viên trong nhóm giúp
đỡ nhau tìm hiểu vắn đề nêu ra trong không khí thi đua với các nhóm khác. Kết
quả làm việc chung của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả học tập chung của cả
lớp. Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử ra
một đại diện hoặc phân công mỗi thành viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ
của nhóm khá phức tạp.
* Cấu tạo của một buổi học vật lí theo nhóm có thể như sau:
+ Làm việc chung cả lớp: Giáo viên đặt vấn đề bằng cách nêu hiện tượng
hoặc làm thí nghiệm, xác định nhiệm vụ; Tổ chức các nhóm, giao nhiệm vụ, đồ
dùng thí nhgiệm (nếu có); Hướng dẫn cách làm việc theo nhóm.
+ Làm việc theo nhóm: Phân công trong nhóm; Thành viên trong nhóm
trao đổi hoặc cùng làm thí nghiệm, thảo luận trong nhóm; Cử đại diện trình bày
kết quả.
+ Tổng kết trước lớp: Các nhóm lần lượt báo cáo kết quả; Thảo luận
chung cả lớp; Giáo viên tổng kết, nhận xét buổi làm vệc.
Ví dụ về phương pháp theo nhóm trong bài:
BÀI 15
THỰC HÀNH: XÁC ĐỊNH CÔNG SUẤT CỦA CÁC DỤNG CỤ ĐIỆN
Hoạt động 1:
Tổ chức, kiểm tra việc chuẩn bị của học sinh.
HOẠT ĐỘNG CỦA GV
HOẠT ĐỘNG CỦA HS
Trang - 9 -


Áp dụng các phương pháp mới trong dạy học vật lý 9 – Người thực hiện: Nguyễn Công Nam
===============================================================================

- Gọi 1 HS nêu mục tiêu cụ thể của bài
thực hành này là gì ?
- 1 HS nêu mục tiêu cụ thể của
bài thực hành
- Gọi một số HS trình bày các câu hỏi - HS hoạt động cá nhân trình bày
trong phần 1 báo cáo thực hành.
các câu hỏi trong báo cáo. Các
HS khác lắng nghe, nhận
xét, bổ xung nếu cần.
- Chia nhóm, phân công nhóm trưởng các - Nhóm trưởng các nhóm phân
nhóm. Yêu cầu nhóm trưởng các nhóm công nhiệm vụ cho các bạn trong
phân công nhiệm vụ cho các bạn trong nhóm mình.
nhóm mình.
- Yêu cầu các nhóm trưởng kiểm tra và - Nhóm trưởng báo cáo việc
báo cáo việc chuẩn bị của nhóm.
chuẩn bị báo cáo của các thành
viên trong nhóm.
- Yêu cầu một trong các nhóm cho biết các - Một trong các nhóm cho biết
bước cần làm để xác định công suất của các bước cần làm để xác định
một bóng đèn.
công suất của một bóng đèn.
Hoạt động 2:
Thực hành xác định công suất của bóng đèn.
HOẠT ĐỘNG CỦA GV
HOẠT ĐỘNG CỦA HS
-Yêu cầu HS thảo luận theo nhóm cách - Đại diện HS trình bày các bước
tiến hành TN xác định công suất của bóng xác định công suất của bóng đèn
đèn.
với các hiệu điện thế khác nhau,
vẽ sơ đồ mạch điện lên bảng.
- Yêu cầu HS các nhóm tiến hành đo công - HS tiến hành thí nghiệm theo
suất của bóng đèn theo các bước.
nhóm đo công suất của bóng đèn
theo các bước:
+ Mắc mạch điện theo sơ đồ hình
15.1 SGK sao cho biến trở có giá
trị lớn nhất.
+ Đóng công tắc. Điều chỉnh
biến trở để vôn kế có số chỉ U 1 =
1V. Đọc số chỉ của ampe kế 1,
ghi kết quả vào bảng.
+ Làm tương tự với U2 và U3.
+ Tính và ghi bảng giá trị tương
ứng của công suất.
+ Rút ra nhận xét về sự thay đổi
của công suất bóng đèn khi hiệu
điện thế giữa hai đầu bóng đèn
tăng hoặc giảm.
- Kiểm tra, hướng dẫn các nhóm HS mắc
đúng ampe kế và vôn kế cũng như điều
Trang - 10 -


Áp dụng các phương pháp mới trong dạy học vật lý 9 – Người thực hiện: Nguyễn Công Nam
===============================================================================

chỉnh biến trở để có được hiệu điện thế đặt
vào hai đầu bóng đèn đúng như yêu cầu
ghi trong bảng 1 SGK.
- Lưu ý HS cách đọc kết quả đo, đọc trung - HS lưu ý cách đọc kết quả đo,
thực ở các lần đo khác nhau.
đọc trung thực ở các lần đo khác
nhau.
- Yêu cầu HS hoàn thành bảng 1 thảo luận - HS hoàn thành bảng 1 thảo
thống nhất phần a; b
luận thống nhất phần a; b.
d2: Phương pháp dạy và học đặt và giải quyết vấn đề trong môn Vật lý 9.
Dạy và học đặt và giải quyết vấn đề được hiểu là giáo viên hoặc học sinh
tạo tình huống có vấn đề để thu hút học sinh vào quá trình nhận thức tích cực.
Cơ sở thực tiễn của phương pháp này là: Trong xã hội phát triển theo cơ chế thị
trường, cạnh tranh gay gắt thì phát hiện sớm và giải quyết vấn đề hợp lý những
vấn đề nảy sinh trong thực tiễn là một năng lực đảm bảo cho sự thành đạt trong
cuộc sống. Vì vậy tập dượt cho học sinh phát hiện, đặt và giải quyết vấn đề gặp
phải trong học tập, trong cuộc sống cá nhân, gia đình và cộng đồng là mục tiêu
cơ bản trong dạy học Vật lí 9.
* Cấu trúc một bài học (một phần bài học) theo dạy – học giải quyết vấn
đề trong dạy học Vật lí 9 thường như sau:
+ Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức: Tạo tình huống có vấn đề
(Giáo viên hoặc học sinh nêu hiên tượng hay làm thí nghiệm); Học sinh nhận
dạng, phát hiện vấn đề nảy sinh; Học sinh phát biểu vấn đề cần giải quyết.
+ Giải quyết vấn đề đặt ra: Đề xuất cách giải quyết (Học sinh hoặc giáo
viên); Lập kế hoạch giải quyết; Thực hiện kế hoạch giải quyết.
+ Kết luận: Học sinh thảo luận kết quả và đánh giá; Khẳng định hay bác
bỏ giả thuyết nêu ra; Phát biểu kết luận; Đề xuất vấn đề mới (nếu có)
Trong dạy và học đặt và giải quyết vấn đề có 4 mức độ, nhưng theo tôi nên
thực hiện theo mức sau: Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề.
Học sinh phát hiện và xác định vấn đề nảy sinh, tự lực đề xuất các dự đoán hoặc
giả thuyết và lựa chọn giải pháp. Học sinh thực hiện cách giải quyết và cùng
giáo viên đánh giá.
Trang - 11 -


Áp dụng các phương pháp mới trong dạy học vật lý 9 – Người thực hiện: Nguyễn Công Nam
===============================================================================

Ví dụ về phương pháp dạy và học đặt và giải quyết vấn đề trong bài:
BÀI 31: HIỆN TƯỢNG CẢM ỨNG ĐIỆN TỪ
Hoạt động 1:
Phát hiện ra cách khác để tạo ra dòng điện ngoài cách dùng pin hay ăcquy
HOẠT ĐỘNG CỦA GV
HOẠT ĐỘNG CỦA HS
* Đặt vấn đề
- Ta đã biết muốn chế tạo ra dòng điện - HS nêu dự đoán của riêng mình:
phải dùng nguồn điện là pin hoặc ăcquy. + Có thể dùng bình điện xe đạp.
Em có biết trường hợp nào không dùng + Máy phát điện.
pin hoặc ắc quy mà vẫn tạo ra dòng điện
được không?
- Trong bình xe đạp (gọi là đinamô xe đạp) - HS bánh xe chuyển động làm
có những bộ phận nào, chúng hoạt động núm các bình điện quay nên nam
như thế nào để tạo ra dòng điện?
châm quay trước cuộn dây , trong
cuộn dây có dòng điện làm đèn
sáng.
Hoạt động 2:
Tìm hiểu cấu tạo của đinamô xe đạp và dự đoán xem hoạt động
của bộ phận nào trong đinamô xe đạp là nguyên nhân chính gây ra dòng
điện.
HOẠT ĐỘNG CỦA GV
HOẠT ĐỘNG CỦA HS
I. Cấu tạo và hoạt động của
đinamô.
- Yêu cầu HS quan sát hình 31.1 SGK và - HS hoạt động cá nhân quan sát
quan sát đinamô tháo vỏ đặt trên bàn GV, và trả lời câu hỏi của GV:
để chỉ ra các bộ phận chính của đinamô xe + Cuộn dây có mắc bóng đèn (để
đạp. Và cho biết dự đoán xem hoạt động phát hiện ra dòng điện)
của bộ phận chính nào trong đinamô gây + Nam châm vĩnh cửu.
ra dòng điện?
- Liệu có phải nhờ nam châm mà tạo ra - HS nêu dự đoán của mình: Có
dòng điện không?
thể hoạt động của nam châm ở
đinamô gây ra dòng điện.
Hoạt động 3:
Tìm hiểu cách dùng nam châm vĩnh cửu để tạo ra dịng điện.
Xác định trong trường hợp nào thì nam châm vĩnh cửu có thể tạo ra dòng
điện
HOẠT ĐỘNG CỦA GV
HOẠT ĐỘNG CỦA HS
II. Dùng nam châm để taọ ra
dòng điện.
1. Dùng nam châm vĩnh cửu.
- Phát dụng cụ tới các nhóm HS, yêu cầu - HS hoạt động theo nhóm tiến
HS tiến hành thí nghiệm 1 (H 31.2SGK).
hành TN 1 quan sát các đèn LED
Trang - 12 -




Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×