Tải bản đầy đủ

Một số giải pháp giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ 3 4 tuổi người dân tộc bru vân kiều

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
ĐỀ TÀI: "MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÁO DỤC VỆ SINH CÁ NHÂN
CHO TRẺ 5- 6 TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC BRU-VÂN KIỀU"

Quảng Bình, tháng 9 năm 2018
1


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM:
ĐỀ TÀI: "MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÁO DỤC VỆ SINH CÁ NHÂN CHO
TRẺ 5- 6 TUỔI NGƯỜI DÂN TỘC BRU-VÂN KIỀU"

Họ và tên: Nguyễn Thị Lan
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Mầm non Kim Thủy.


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Quảng Bình, tháng 9 năm 2018
2


1.PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài, sáng kiến, giải pháp:
Trẻ em là chủ nhân tương lai của đất nước, là thế hệ tiếp bước cha anh đê
xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.
Lúc sinh thời, Bác Hô rất quan tâm các cháu Thiếu Niên, Nhi đông. Bác mong
muốn các cháu chăm ngoan, học giỏi nối tiếp truyền thông của ông cha xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc Việt nam giàu đẹp. Bác rất mực thương yêu trẻ em. Bác dành muôn
vàn thình thương yêu đối với các em Bác nói: "Sữa đê em thơ lụa tặng già".
Ngày nay, Đảng và Nhà nước ta cũng rất quan tâm đến thế hệ trẻ, đã dành
cho trẻ em sự quan tâm đặc biệt, tạo mọi điều kiện cho trẻ được đến trường, được
hưởng các quyền lợi về chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Như chúng ta đã biết nhân cách con người là kết quả tổng hòa của nhiều
nhân tố, nhân cách con người được hình thành là nhờ một phần của giáo dục.
Giáo dục có vai trò quan trọng, thông qua giáo dục nhằm giúp con người
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bôi dưỡng nhân tài; chỉ có giáo dục mới hình
thành đội ngũ lao động có trí thức, có năng lực, có sáng tạo, có phẩm chất chính
trị, đạo đức cách mạng.
Đối với lứa tuổi mầm non giáo dục có ý nghĩa đặc biệt quan trọng giúp cho
trẻ cường tráng về thê chất, phong phú về tinh thần, phát triên cao về trí tuệ; là cơ
sở đầu tiên đê hình thành nhân cách con người mới, là tiền đề đê chuẩn bị tâm thế
sẵn sàng đi học.
Ngoài việc giáo dục trẻ phát triên thê chất, ngôn ngữ, nhận thức, thẩm mỹ,
tình cảm xã hội thì công tác giáo dục vệ sinh được xem là nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu. Trẻ có khỏe mạnh thì mới ham học hỏi, tích cực, hứng thú tham gia các
hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng và giáo dục; tiếp thu kiến thức, kỹ năng giáo dục
nhờ đó phát triên nhận thức, trí tuệ, ngôn ngữ, tình cảm tốt và ngược lại nếu trẻ
gầy gộc, chậm lớn, thường xuyên đau ốm, bệnh tật thì không tích cực tham gia các
hoạt động chăm sóc, giáo dục điều đó đông nghĩa với việc chậm phát triên về nhận
thức, tư duy, ngôn ngữ, tình cảm xã hội....

3



"Sức khỏe là vàng", nếu trẻ không được chăm sóc tốt thường xuyên đau ốm,
bệnh tật thì không những ảnh hưởng đến kinh tế gia đình mà còn đê lại gánh nặng
cho xã hội.
Giáo dục vệ sinh cá nhân đối với trẻ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, phải
thực hiện thường xuyên, liên tục, kết hợp chặt chẽ giữa gia đình- nhà trường và xã
hội có như thê mới đem kết quả tốt.
Giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ bao gôm từ việc hình thành kiến thức giúp
trẻ nắm chắc các thao tác, quy trình rửa tay, lau mặt, ... đến tự giác thực hiện các
hoạt động vệ sinh và đê trở thành thói quen tốt.
Đối với trẻ mẫu giáo 3-4 tuổi dạy vệ sinh cho trẻ bắt đầu từ những hoạt
động đơn giản nhưng vô cùng quan trọng và cần thiết đó là: dạy trẻ biết rửa tay
bằng xà phòng dưới vòi nước; lau mặt, chải răng; không được dùng tay quệt mũi,
không ngôi lê dưới đất làm bẩn quần áo, biết đi đại tiêu tiện đúng nơi qui định, biết
giữ gìn quần áo, chân tay sạch sẽ, gọn gàng ... biết giữ gìn vệ sinh môi trường
trong lớp cũng như ở nhà luôn sạch sẽ.
Song việc giáo dục vệ sinh cá nhân trẻ là nhiệm vụ không mấy dễ dàng,
nhiệm vụ này thực hiện tốt hay không phụ thuộc rất nhiều yếu tố: khả năng của trẻ,
năng lực và tâm huyết của đội ngũ giáo viên, điều kiện cơ sở vật chất, đô dùng
dụng cụ vệ sinh và sự phối kết hợp chặt chẽ, thống nhất giữa nhà trường với gia
đình trẻ.
Đối với trẻ mẫu giáo từ 3- 4 tuổi đây là thời kỳ tâm sinh lý trẻ phát triên
mạnh nhất. Song cơ thê trẻ non nớt, nhạy cảm, sức đề kháng yếu. Nếu chăm sóc,
nuôi dưỡng và giáo dục không chu đáo sẻ kìm hãm sự phát triên của trẻ, làm cho
trẻ thường xuyên mắc các bệnh tật, ốm đau.
Trẻ người dân tộc BRu-Vân Kiều khi mới đến trường mọi thứ đều xa lạ
chưa quen cô, quen bạn, chưa hiêu được ngôn ngữ Tiếng Việt... chưa quen với chế
độ sinh hoạt của lớp; tránh né bạn, không chấp nhận sự giúp đỡ của cô giáo, thậm
chí còn la khóc, không ăn, không ngủ, không chịu tham gia vào mọi hoạt động của
lớp nói chúng và giáo dục vệ sinh nói riêng.

4


Mặt khác, trẻ 3-4 tuổi do không học từ nhà trẻ nên khả năng nghe, nói và
hiêu Tiếng Việt còn hạn chế trẻ chỉ nói tiếng địa phương nên mọi yêu cầu của trẻ
giáo viên cũng không hiêu và đáp ứng được, do đó trẻ chưa gần gủi, thân thiện với
giáo viên và ngược lại mọi yêu cầu của giáo viên trẻ không hiêu, không thực hiện
được.
Chất lượng cuộc sống trong gia đình trẻ còn thiếu thốn nên tỷ lệ suy dinh
dưỡng cả thê thấp còi và cân nặng rất cao
Đối với phụ huynh dân tộc Vân Kiều họ quen với tập tục sinh hoạt của
mình, cam chịu cái nghèo, cái thiếu; việc tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại còn
hạn chế; khả năng, nhận thức và điều kiện cuộc sống gia đình còn nhiều thiếu
thốn: nhà ở chưa khang trang, sạch sẽ, kín đáo; đô dùng vệ sinh chưa trang bị đầy
đủ; công trình vệ sinh chưa xây dựng kiên cố; việc quan tâm chăm sóc vệ sinh
cũng như sức khỏe cho trẻ chưa được cha mẹ trẻ chăm lo đúng mức; điện, nước
phục vụ sinh hoạt chưa đầy đủ...
Trong các năm gần đây bệnh "tay, chân, miệng", dịch cúm AH5N1, H1N1...
xảy ra ở nước ta, nhiều ở địa phương đã lây lan thành dịch; đối tượng dễ mắc phải
là trẻ nhỏ. Nguyên nhân xảy ra là do công tác vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường
không sạch sẽ. Đê phòng chống các bệnh "Tay, chân, miệng" và dịch cúm Bộ Y tế
đã khuyến cáo và tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp phòng chống dịch
bệnh trong toàn xã hội trong đó đặc biệt chú ý ở bậc học Mầm non.
Vì vậy, trường mầm non và đội ngũ giáo viên là người đóng vai trò quan
trọng và quyết định chất lượng, hiệu quả công tác chăm sóc, giáo dục vệ sinh cá
nhân cho trẻ.
Làm thế nào đê giáo dục vệ sinh cá nhân và hình thành nề nếp thói quen vệ
sinh cho trẻ là vấn đề tôi luôn băn khoăn, trăn trở.
Nhận thức được tầm quan trọng và sự cần thiết đó tôi đã suy nghĩ, tìm tòi
“Một số giải pháp giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ 3- 4 tuổi người dân tộc Bru
Vân Kiều" làm Sáng kiến kinh nghiệm trong năm học này.
Đề tài "Một số giải pháp giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ 3- 4 tuổi" chắc
cũng có nhiều người nghiên cứu, tìm hiêu nhưng họ là người đang công tác tại các
5


vùng thuận lợi, trong lớp chủ yếu trẻ người Kinh nên các nhiệm vụ, biện pháp thực
hiện của họ không thê áp dụng phù hợp đối với đơn vị vùng có nhiều trẻ người
đông bào thiêu số. Vì vậy, năm học này, tôi đã mạnh dạn thực hiện đề tài này với
mong muốn đóng góp được một số biện pháp hữu hiệu giúp chị em đông nghiệp
có thê vận dụng có hiệu quả tại vùng đông bào dân tộc, vùng núi, vùng sâu, vùng
xa.
* Điêm mới của đề tài là thực hiện một số giải pháp:
Hướng dẫn cho trẻ nắm vững quy trình lau mặt, rửa tay;
Giáo dục trẻ vệ sinh thông qua các hoạt động trong ngày
Tổ chức cho trẻ làm một số công việc tự phục vụ;
Phối hợp với phụ huynh chăm sóc, giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ.
Đề tài nhằm giải quyết tình trạng hạn chế về chất lượng chăm sóc vệ sinh
cho trẻ, góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ.
1.2. Phạm vi áp dụng đề tài, sáng kiến:
Đề tài "Một số giải pháp giáo dục vệ sinh cá nhân cho trẻ 3- 4 tuổi người
dân tộc Bru-Vân Kiều" có thê áp dụng cho giáo viên tại trường tôi đang công tác
và có khả năng áp dụng trong các đơn vị thuộc vùng núi, vùng sâu, vùng xa, nơi
biên giới và đây là đề tài thuộc lĩnh vực chăm sóc vệ sinh cho trẻ mẫu giáo 3-4
tuổi.
* Đề tài này được kết cấu theo những nội dung chính sau đây:
Phần I. Phần mở đầu:
Phần II. Nội dung
Phần III. Kết luận
Tuy nhiên, đề tài này cũng không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, rất
mong quý đọc giả, bạn bè đông nghiệp và các đông chí cán bộ quản lý, lãnh đạo
ngành góp ý, giúp đỡ đê đề tài được hoàn thiện hơn.
2. PHẦN NỘI DUNG
2.1. Thực trạng của nội dung cần nghiên cứu:
Khi bước vào thực hiện đề tài này bản thân tôi gặp một số thuận lợi và khó khăn sau:
*Thuận lợi:
Bản thân tôi có nhiều năm công tác tại trường nên am hiêu tình hình của địa
phương, nhà trường, phụ huynh và trẻ trong lớp. Hiêu được một số phong tục tập
quán của người dân nơi đây, hiêu và nói được một số câu, từ địa phương.
6


Trình độ chuyên môn đạt chuẩn hiện đang học Đại học sư phạm mầm non
nhờ đó kiến thức, năng lực chuyên môn nghiệp vụ luôn được xếp loại Tốt; lập
trường tư tưởng chính trị kiên định, vững vàng; có ý thức chấp hành tốt chủ trương
đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; phẩm chất đạo đức tốt, yêu nghề,
mến trẻ, nhiệt tình trong công tác, luôn được phụ huynh, đông nghiệp và nhân dân
tín nhiệm.
Được tham gia đầy đủ các đợt bôi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, các lớp tập
huấn về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ; dự các tiết dạy của đông nghiệp; được ban giám
hiệu nhà trường thường xuyên dự giờ và góp ý giúp đỡ.
Ngoài ra, tôi luôn tự tìm tòi nghiên cứu tài liệu, học hỏi đông nghiệp nên đê
trích lũy thêm kinh nghiệm về chuyên môn và có kiến thức về giáo dục vệ sinh cá
nhân trẻ.
Trong năm học này nhà trường đã phân công cho tôi dạy lớp mẫu giáo bé
trong lớp có 19 cháu trong đó 11 cháu dân tộc Vân Kiều tỷ lệ 58%, 8 cháu dân tộc
Kinh tỷ lệ: 42%; được dạy tại khu vực tổ chức cho trẻ ăn bán trú nên cũng rất
thuận lợi trong việc giáo dục và rèn luyện thói quen vệ sinh cá nhân cho trẻ.
Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường thuận lợi hơn so với các khu vực
khác: phòng học khang trang, sạch sẽ, có điện và nước giếng đê phục vụ sinh hoạt
của trẻ. Được trang cấp đầy đủ đô dùng, dụng cụ vệ sinh.
Hội phụ huynh đã có chuyên biến về nhận thức, quan tâm chăm lo cho các cháu.
Tuy vậy, thực hiện đề tài này tôi gặp nhiều khó khăn sau đây:
* Khó khăn:
Trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của chúng ta thì nguôn nước đóng vai
trò hết sức quan trọng, không những thế nguôn nước cũng ảnh hưởng đến sức khỏe
của con người. Nếu nguôn nước sạch thì sẽ cho ta một sức khỏe tốt và ngược lại
nguôn nước bẩn thì sẽ gây ra nhiều bệnh tật. Có nguôn nước sạch phục vụ sinh
hoạt cho người dân ở vùng thuận lợi thì không khó nhưng đối với vùng núi, vùng
đặc biệt khó khăn thì nguôn nước vô cùng khan hiếm. Hầu hết người dân ở đây sử
dụng nước suối đê phục vụ sinh hoạt hằng ngày nên hạn chế đến chất lượng cuộc

7


sống và công tác vệ sinh cho trẻ. Dẫn đến ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ, sinh ra
nhiều bệnh tật như: bệnh ngoài da, tiêu chảy, viêm đường hô hấp....
Kinh tế của người dân còn nhiều thiếu thốn, chật vật, phong tục tập quán
của người dân còn lạc hậu. Một số trẻ tiêm chủng không đầy đủ, đúng lịch, khám
bệnh không đúng định kỳ, chữa bệnh không kịp thời.
Nhà ở của phụ huynh chưa xây dựng kiên cố, chủ yếu ở nhà sàn, công trình
vệ sinh chưa có, các dụng cụ phục vụ sinh hoạt gia đình chưa đầy đủ, đô dùng
phục vụ vệ sinh chưa quan tâm đúng mức.
Phụ huynh hầu như không mấy khi lau nhà, hướng dẫn trẻ đánh răng, chải
đầu, soi gương, lau mặt, rửa tay bằng xà phòng dưới vòi nước; quần áo trẻ không
được thay giặt thường xuyên; ít dành tiền đê mua áo quần, dày dép cho con; đa số
trẻ mặc đi mặc lại những bộ quần áo đã cũ hoặc do cô giáo mang từ miền xuôi
mang lên.
Trình độ dân trí thấp, phụ huynh chưa hiêu rõ tầm quan trọng của việc học
tập của con em mình; chưa có kiến thức về chăm sóc sức khỏe, nuôi dưỡng và giáo
dục trẻ. Bố mẹ trẻ không mấy khi quan tâm tới mọi sinh hoạt thường ngày của con
mình.
Đa số cháu đều thuộc con em dân tộc Vân Kiều nên ít có điều kiện chăm sóc
vệ sinh chu đáo. Trẻ chưa có ý thức trong việc vệ sinh cá nhân cũng như vệ sinh
môi trường.
Khả năng tiếp thu, ghi nhớ của trẻ hạn chế rất nhiều so với những cháu cùng
tuổi dân tộc Kinh.
Đa số trẻ chưa nắm được thao tác, quy trình một số hoạt động vệ sinh cá
nhân, chưa có ý thực đi vệ sinh chưa đúng nơi quy định; chưa biết là một số công
việc tự phục vụ.
Trẻ đến trường chưa được sạch sẽ, gọn gàng, ăn mặc chưa phù hợp theo
mùa, mùa đông cháu mặc quần áo chưa được đủ ấm do đó ảnh hưởng rất nhiều
đến sức khỏe, nhiều trẻ bị bệnh viêm đường hô hấp, sổ mũi; một số trẻ viêm
đường hô hấp kéo dài hàng tháng vẫn không hết.
Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, thấp còi đang ở mức cao (37%).
8


Cơ sở vật chất của nhà trường tuy có đủ phòng học, điện nước hơn các khu
vực khác nhưng so với yêu cầu thì còn nhiều hạn chế: chưa có phòng vệ sinh khép
kín, đủ bôn cầu và khu vệ sinh dành riêng cho bé trai, bé gái theo quy định;
Nguôn nước không đủ phục vụ sinh hoạt của trẻ nhất là về mùa hè.
Nhà trường chỉ có khu vệ sinh dùng chung cho các nhóm lớp trong khu vực
nên đến giờ vệ sinh cháu tập trung nhiều dẫn đến không trật tự, nền nếp và giáo
viên khó trực tiếp quán xuyến, hướng dẫn cho trẻ được mỗi khi trẻ tự đi vệ sinh.
* Điều tra thực tiễn:
Nội dung

Tổng
số trẻ

Kỹ năng lau mặt
Ký năng rữa tay
Kỹ năng tự phục vụ
Số trẻ SDD thê thấp còi
Số trẻ SDD thê cân nặng
Bệnh ngoài da
Kết quả trên cho thấy:

19
19
19
19
19
19

Kết quả
Đạt
SL
13
15
14
14
17
15

%
68
79
74
74
89
79

Không đạt
SL
%
6
32
4
21
5
26
5
26
2
10,5
4
21

Mặc dù còn nhiều khó khăn và với kết quả điền tra thực tiễn còn rất hạn chế
song với tinh thần, trách nhiệm và lương tâm của người nhà giáo tôi đã tìm tòi suy
nghĩ và thực hiện một số giải pháp nhằm nâng cao công tác giáo dục vệ sinh cá
nhân cho trẻ. Sau đây là một số giải pháp cơ bản:
2.2. Các giải pháp:
Giải pháp 1: Dạy trẻ nắm vững quy trình thực hiện thao tác vệ sinh.
Đối với trẻ Mầm non muốn thực hiện vệ sinh cá nhân được tốt trước hết
phải dạy trẻ nắm được quy trình, các bước vệ sinh.
Đầu năm học trẻ mới đến trường chưa quen với chế độ sinh hoạt của lớp,
chưa tích cực tham gia các hoạt động chăm sóc vệ sinh, trong lúc đó các hoạt động
vệ sinh như lau mặt, rửa tay.... cần phải thực hiện nghiêm túc. Vì vậy, đê giúp trẻ
nắm được quy trình và thao tác vệ sinh lau mặt, rửa tay... tôi đã sưu tầm một số
Clip về hoạt động lau mặt, rửa tay rôi trình chiếu cho trẻ xem. Sau khi trẻ quan sát

9


cô gợi hỏi trẻ: Các con đã xem được những gì? Các bạn đã làm gì? Làm như thế
nào?...
Quy trình rửa tay, lau mặt theo gợi ý hướng dẫn trong chương trình giáo dục
mầm non yêu cầu giáo viên phải nắm chắc đê hướng dẫn cho trẻ. Đông thời do khả
năng phát triên về ngôn ngữ, nhận thức của trẻ người dân tộc Vân Kiều còn hạn
chế nên khi hướng dẫn cho trẻ giáo viên cần nói ngắn gọn, dễ hiêu, lời nói kết hợp
với thao tác linh hoạt, chính xác.
Ví dụ: Quy trình rửa tay theo hướng dẫn trong chương trình giáo dục được
thực hiện qua 6 bước.
Bước 1: Đầu tiên cô mở vòi nước nhẹ, úp 2 lòng bàn tay vào nhau và đê
dưới vòi nước chảy, sau đó cô xoa đều xà bông vào 2 lòng bàn tay, chà xát 2 lòng
bàn tay vào nhau đê tạo bọt.
Bước 2: Dùng ngón tay của bàn tay này cuốn và xoay lần lượt từng ngón
tay của bàn tay kia và ngược lại.
Bước 3: Dùng lòng bàn tay chà xát chéo lên mu bàn tay kia và ngược lại.
Bước 4: Dùng đầu ngón tay của bàn tay này miết vào các kẽ giữa các ngón
tay của bàn tay kia và ngược lại.
Bước 5: Chụm năm đầu ngón tay của bàn tay này cọ vào lòng bàn tay kia
bằng cách xoay đi xoay lại.
Bước 6: Cô đê tay dưới vòi nước xát nhẹ 2 lòng bàn tay vào nhau, rửa từ
mu bàn tay đến các ngón tay và rửa cho sạch xà phòng.
Đối với trẻ ở lớp tôi đã hướng dẫn quy trình này như sau:
Bước 1: Cô đặt 2 lòng bàn tay dưới vòi nước sau đó, lấy xà bông xoa đều
rôi chà xát đê tạo bọt.
Bước 2: Cô dùng bàn tay này xoay lần lượt hết các ngón của bàn tay kia rôi
đổi tay.
Bước 3: Cô dùng bàn tay này chà sát chéo lên mu của bàn tay kia rôi đổi bên.
Bước 4: Cô dùng các ngón của bàn tay này miết vào kẽ giữa các ngón của
bàn tay kia rôi đổi tay.

10


Bước 5: Chụm năm đầu ngón tay của bàn tay này xoay đi xoay lại vào lòng
của bàn tay kia rôi đổi tay.
Bước 6: Cô đê tay dưới vòi nước rửa sạch xà phòng, rủa từ mu bàn tay đến
lòng bàn tay và các ngón tay.
* Quy trình lau mặt theo hướng dẫn của chương trình hiện qua 6 bước sau:
Bước 1: Cô trải khăn vào lòng bàn tay, dùng ngón trỏ và ngón cái của bàn
tay phải lau từng mắt một, lần lượt lau từ mép trên của mắt rôi đến mép dưới của
mắt, lau từ hóc mắt đến đuôi mắt.
Bước 2: Cô dịch khăn đê lau mũi, lau từ trên mũi xuống 2 lỗ mũi rôi dịch
khăn.
Bước 3: Cô lau miệng, cô lau mép trên của miệng và mép dưới của miệng
và gấp khăn.
Bước 4: Đặt dọc khăn lên lòng bàn tay cô lau trán và má phải cô gấp khăn.
Bước 5: Cô lau trán và má trái và gấp khăn.
Bước 6: Cuối cùng cô lau cằm và cổ, bỏ khăn vào chậu.
Ở lớp tôi đã hướng dẫn cho trẻ như sau:
Bước 1: Cô trải khăn ở tay rôi dùng ngón trỏ, ngón cái lau từ mép trên rôi
đến mép dưới của mắt, lau từ hóc mắt đến đuôi mắt rôi chuyên sang lau mắt khác.
Bước 2: Cô dịch khăn đê lau từ trên mũi xuống 2 lỗ mũi.
Bước 3: Cô dịch khăn lau mép trên, mép dưới của miệng.
Bước 4: Gấp khăn đặt dọc lên lòng bàn tay rôi lau trán, má bên trái.
Bước 5: Gấp khăn đặt dọc lên lòng bàn tay rôi lau trán, má bên phải.
Bước 6: Cuối cùng lau cằm, cổ và bỏ khăn vào chậu.
Nhờ cách hướng dẫn ngắn gọn này mà trẻ dễ nhớ, dễ hiêu và thực hiện tốt
hơn rất nhiều so với cách hướng dẫn ban đầu. Đông thời khi trẻ thực hành lau cô
vừa hướng dẫn trẻ vừa khuyến khích trẻ nhắc đi nhắc lại nên giúp trẻ nắm chắc
quy trình thao tác.
Giải pháp 2: Giáo dục trẻ vệ sinh thông qua các hoạt động trong ngày.
Cơ thê trẻ còn non yếu, rất dễ bị các yếu tố của môi trường tác động làm ảnh
hưởng tới sức khỏe. Vì vậy, đê đảm bảo sức khỏe cho trẻ trước giờ đón trẻ tôi đến
sớm 30 phút mở cửa thông thoáng quét dọn nhà cửa sạch sẽ, lau nhà bằng khăn
11


ẩm, lớp học thoáng mát không ẩm ướt, xung quanh lớp không có vật sắc nhọn, các
thiết bị điện nước phải đảm bảo an toàn, phòng vệ sinh sắp xếp gọn gàng luôn khô
ráo, phối kết hợp với phụ huynh mua dép cho trẻ đi trong lớp và trong nhà vệ sinh.
Đô dùng cá nhân phải dùng riêng và có ký hiệu rõ ràng.
Trẻ thực hiện vệ sinh được tốt thì đầu tiên trẻ phải nhớ đúng ký hiệu của
mình, đê giúp trẻ nhớ ký hiệu của mình thì tôi tập cho trẻ nhận biết ký hiệu với
nhiều hình thức khác nhau: Khi lấy đô dùng, dụng cụ cho trẻ như: vỡ, dép, cốc ca
uống nước, khăn lau mặt… tôi hỏi trẻ về ký hiệu của mình.
Ví dụ: Vỡ con có ký hiệu gì? Nếu trẻ nhầm tôi nhắc lại cho trẻ nhớ. Quá
trình tập cho trẻ nhiều lần, lặp đi lặp lại thường xuyên sẽ giúp trẻ nhớ ký hiệu của
mình. Khi trẻ lấy đúng đô dùng thì trẻ mới hướng dẫn trẻ thực hiện vệ sinh, nếu trẻ
không nhận biết được đô dùng của mình mà dùng nhầm đô dùng của bạn khác thì
nguy cơ lây lan các bệnh về mắt, răng miệng rất nguy hiêm.
Việc dạy cho trẻ nhận biết ký hiệu đã khó nhưng việc dạy trẻ thực hiện vệ
sinh lại càng khó khăn, vất vả hơn. Với hoạt động rửa tay bằng xà phòng đối với
trẻ 3-4 tuổi thì rất khó, ở lứa tuổi này khi rửa tay trẻ chỉ biết thích đùa nghịch với
nước, trẻ chưa biết tầm quan trọng của việc rửa tay với xà phòng và các thời điêm
cần rửa tay như phải rửa tay trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, khi tay bẩn...Nên
trước hết tôi trò chuyện với trẻ qua nhiều hình thúc như cho trẻ đọc thơ hoặc hát.
Ví dụ: Tổ chức cho trẻ rửa tay trước khi ăn tôi cho trẻ đọc bài thơ
"Nhớ lời cô dạy”
Đến giờ ăn
Khi tay bẩn
Phải rửa tay
Với xà phòng
Bé ghi lòng
Lời cô dạy.
Tôi đặt những câu hỏi gợi mở cho trẻ trả lời:
Ví dụ: Vì sao trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, khi tay bẩn các con phải rửa
tay? (rửa đê cho tay thơm tho, sạch sẽ, mọi người yêu mến và không mắc bệnh…).
12


Vì sao các con phải rửa tay với xà phòng? (Rửa tay với xà phòng đê rửa sạch hết
vi khuẩn, phòng tránh được các bệnh…).
Cô hướng dẫn trẻ rửa tay đúng quy trình 6 bước. Khi trẻ rửa tay xong đến
lấy khăn và chọn khăn đúng ký hiệu của mình đê lau mặt. Trước khi lau mặt cô hỏi
trẻ tại sao phải lau mặt? (Lau mặt cho sạch sẽ được mọi người yêu mến, cho mặt
thơm tho, xinh hơn, không bị bệnh...).
Lúc nào phải lau mặt? (Lau mặt trước và sau khi ngủ, ăn, đi ra ngoài đường,
khi mặt bẩn... ). Cô cần hướng dẫn trẻ lau mặt đúng trình tự theo 6 bước.
Trong giờ ăn: Tôi cho trẻ đọc bài thơ “Giờ ăn”
Đến giờ ăn cơm
Vào bàn bạn nhé
Nào thìa, bát, đĩa
Xúc cho gọn gàng
Chớ có vội vàng
Cơm rơi, cơm vãi.
Tôi cũng đặt những câu hỏi đê trẻ trả lời, từ đó trẻ sẽ nhớ trong giờ ăn phải
như thế nào? Cô nhắc lại, hướng dẫn trẻ ngôi ngay ngắn, cầm thìa đúng tay, ăn
chậm, nhai từ tốn, không nhai nhôm nhoằm và nuốt vội; không ngậm thức ăn lâu
trong miệng, không vừa ăn vừa chơi, vừa nói chuyện, đi lại tự do, không được làm
rơi vải thức ăn, khi cơm rơi biết nhặt bỏ vào đĩa riêng, ăn hết suất.
Với những giải pháp này các cháu thực sự rất tiến bộ. Phần lớn các cháu khi
vệ sinh đã nhớ được lần lượt các thao tác và từng bước vệ sinh rửa tay và lau mặt.
Giải pháp 3: Dạy trẻ làm một số công việc tự phục vụ:
"Tuổi nhỏ làm việc nhỏ, tùy theo sức của mình" đó là phương châm của nền
giáo dục nước ta.
Trẻ biết tự làm một số công việc tự phục vụ vừa hình thành và rèn luyện
tính tích cực, tác phong nhanh nhẹn, hoạt bát khi tham gia các hoạt động, vừa hình
thành được thói quen tốt trong sinh hoạt. Do đó dạy cho trẻ biết làm một số công
việc tự phục vụ là nhiệm vụ rất quan trọng của người giáo viên.

13


Hàng ngày, trong các hoạt động chăm sóc, giáo dục giáo viên cần hướng
dẫn cho làm một số công việc:
Hướng dẫn trẻ nhặt rác đê vào thùng theo quy định, không vứt rác bừa bãi.
Trước khi ăn có thê cử một số trẻ nhanh nhẹn, khỏe mạnh tham gia dọn bàn
ăn cùng cô như: đê thêm dĩa đựng cơm rơi, khăn ẩm, đưa thìa cho các bạn. Sau khi
trẻ ăn xong hướng dẫn trẻ phải lau mặt, uống nước súc miệng, uống nước phải từ
tốn, không làm đổ nước ra ngoài, khi uống nước phải lấy cốc ca đúng ký hiệu của
mình, không rót nước quá nhiều, không được thò tay vào bình nước. Khi ăn, uống
nước xong đê đô dùng vào nơi quy định.
Đi đại tiêu tiện đúng nơi quy định, đi xong biết dội nước sạch sẽ. Khi có nhu
cầu đi vệ sinh cần đi ngay.
Đến giờ đón trẻ tôi cho trẻ tự mặc dép trong nền nhà. Khi đón trẻ vào lớp
hướng dẫn trẻ mặc thêm hoặc tự cởi bớt quần áo; tự cởi dày hoặc đeo dép, tự cất
mũ nón vào nơi quy định....
Giáo dục trẻ có ý thức giữ gìn vệ sinh chung: vào mùa hè không đi dép
trong nhà, về mùa đông thì không đi dép trong nhà ra ngoài sân; không khạc nhổ
lung tung, khi ho phải biết che miệng.
Giáo dục trẻ biết bảo vệ trường lớp luôn luôn sạch sẽ: tham gia làm vệ sinh
trong sân trường, nhặt lá cây đê vào nơi quy định, sau khi hoạt động giáo dục xong
cần biết sắp xếp đô dùng đô chơi ngay ngắn vào giá góc...
Trẻ miền núi thường không được sự quan tâm của bố mẹ nên trước khi đến
lớp trẻ cần chủ động yêu cầu bố mẹ thay quần áo, rửa tay chân, lau mặt mũi sạch
sẽ.
Trước giờ trả trẻ cô tổ chức cho trẻ lau mặt, rửa chân tay, cô chải tóc, sửa
sang lại quần áo cho trẻ....
Trong lớp số trẻ người Kinh và một số trẻ dân tộc Vân Kiều có kiến thức kỹ
năng tốt tôi đã phân công kèm cặp những cháu yếu. bằng cách khi tổ chức cho trẻ
rửa tay, lau mặt tôi đã phân công các cháu này đứng gần các cháu yếu, phát hiện
những thao tác của bạn chưa đúng, những hành vi chưa tốt thì nhắc nhỡ hoặc trao
đổi cùng cô đê kết hợp giúp bạn thao tác tốt hơn.
14


Giải pháp 4: Phối hợp với phụ huynh giáo dục vệ sinh cho trẻ khi ở nhà:
Đê việc chăm sóc, giáo dục vệ sinh trẻ đem lại hiệu quả cao, công tác phối
hợp với phụ huynh đóng vai trò hết sức quan trọng. Qua những lúc đón trả trẻ,
những buổi họp phụ huynh, tôi đã tuyên truyền với phụ huynh về tầm quan trọng
của công tác vệ sinh. Thông qua các buổi họp tôi đã hướng dẫn phụ huynh thường
xuyên tổ chức cho trẻ rửa tay bằng xà phòng, lau mặt, tắm, giặt, gội đầu nhằm
phòng tránh bệnh tật.
Tranh thủ thời gian tôi đã tìm về nhà một số phụ huynh hướng dẫn cho họ
về cách rửa tay, lau mặt thực hiện trình tự theo 6 bước, các thời điêm đê thực hiện
lau mặt, rửa tay, tắm gội. giặt quần áo cho trẻ đê phụ huynh nắm rõ và có kiến thức
tổ chức cho trẻ khi ở nhà. Phổ biến những bệnh thường gặp đối với trẻ, những dịch
bệnh thường hay xảy ra giúp phụ huynh biết thực hiện vệ sinh cá nhân, vệ sinh
môi trường sạch sẽ đê phòng tránh các bệnh truyền nhiễm cho trẻ từ đó việc phối
hợp giữa phụ huynh và cô có sự thống nhất từ nhà đến trường.
Tuyên truyền với phụ huynh thông qua góc tuyên truyền của lớp:
Đê lôi cuốn sự chú ý của phụ huynh thì nội dung góc tuyên truyền phải thiết
thực, phong phú, phải thay đổi thường xuyên. Do trình độ học vấn của phụ huynh
ở đây chưa cao nên các nội dung tuyên truyền được đánh máy vi tính, viết bằng cở
chữ to (16-18) giúp phụ huynh dễ đọc kết hợp với tranh ảnh hấp dẫn, đẹp; hình
ảnh ngộ nghĩnh….gây sự chú ý cho phụ huynh
Vào những lúc đón và trả trẻ tôi trao đổi với phụ huynh về những vấn đề mà
trẻ còn hạn chế: Trẻ không có thói quen rửa tay sau khi đi vệ sinh, khi tay bẩn, rửa
mặt không đúng quy trình, chưa mạnh dạn trao đổi với cô khi có nhu cầu đi vệ
sinh ….
Nhắc nhỡ phụ huynh hàng ngày vệ sinh cho trẻ sạch sẽ khi ở nhà cũng như
khi đưa trẻ đến trường; thường xuyên thay và giặt áo quần cho trẻ, không nên cho
trẻ mặc áo quần bẩn, ẩm ướt, thường xuyên phơi nắng đô dùng và quần áo của trẻ
đê tránh bệnh tật. Hàng ngày, phải tắm gội cho trẻ, nhất là về mùa hè, mùa đông có
nước ấm đê cho trẻ dùng. Hằng tuần nên cắt móng tay, móng chân cho trẻ.

15


Trên cơ thê của trẻ bộ phận răng miệng cũng rất quan trọng, răng miệng
cũng ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ. Hầu hết các cháu dân tộc đều không được
đánh răng chính vì thế tuyên truyền với phụ huynh tập cho trẻ đánh răng hằng
ngày nhất là vào buổi tối trước khi đi ngủ và buổi sáng trước khi ngủ dậy.
Ngoài việc đánh răng phụ huynh có thê cho trẻ ngậm nước muối loãng giúp
sát khuẩn miệng và vệ sinh tai, mũi họng ....
Hướng dẫn phụ huynh tham gia công tác vệ sinh môi trường, nhà cửa, đô
dùng sinh hoạt hằng ngày nhằm tránh dịch bệnh có thê xảy ra.
Đưa trẻ tiêm chủng mở rộng đầy đủ và đúng lịch theo quy định của y tế.
Ngoài việc hướng dẫn và tuyên truyền về công tác vệ sinh chăm sóc sức
khỏe, phòng chống bệnh tật cho trẻ tôi còn chia sẻ với gia đình trẻ về cách tổ chức
cuộc sống gia đình, hướng dẫn cho phụ huynh biết cần mua một số vật dụng cần
thiết phục vụ công tác vệ sinh như: xô, chậu, xà phòng, nước xả, dầu gội đầu...;
mua một số đô dùng phục vụ sinh hoạt gia đình như: soong, nôi, bát, thìa, chăn
màn, chiếu, dày dép, quần áo...; biết quan tâm, thường xuyên trò chuyện với trẻ,
nắm được đặc điêm tính cách, khả năng và nhu cầu của trẻ đê từ đó phối hợp với
giáo viên chăm sóc, nuôi dạy cho tốt.
Nhờ áp dụng các giải pháp trên đến nay lớp tôi đã có kết quả đáng phấn
khởi.
* Kết quả đạt được:
Nội dung
Kỹ năng lau mặt
Ký năng rữa tay
Kỹ năng tự phục vụ
Số trẻ SDD thê thấp còi
Số trẻ SDD thê cân nặng
Bệnh ngoài da

Kết quả

Tổng
số trẻ
19
19
19
19
19
19

Đạt
SL
16
17
17
16
18
17

%
84
89
89
84
95
89

Không đạt
SL
%
3
16
2
10,5
2
10,5
3
16
1
5,3
2
10,5

3. PHẦN KẾT LUẬN
3.1. Ý nghĩa của đề tài, sáng kiến, giải pháp:

16


Giáo dục vệ sinh cho trẻ là nhiệm vụ rất cần thiết đối với mọi người đặc biệt
ngành học Mầm non. Thông qua giáo dục vệ sinh giúp trẻ phát triên toàn diện về
thê chất, nhận thức, trí tuệ, ngôn ngữ, tình cảm và hình thành những hành vi văn
minh, phát triên nhân cách con người mới cho trẻ.
Trong cuộc sống hằng ngày việc giữ gìn vệ sinh thân thê cho trẻ không
những chỉ dừng lại ở mức chấp hành những yêu cầu, quy định về giáo dục vệ sinh,
mà còn thê hiện mối quan hệ, tình cảm giữa con người với con người. Bởi thông
qua việc thực hiện các hoạt động và thao tác vệ sinh mà thê hiện tính nhân văn sâu
sắc, tình người cao cả; Những thói quen tốt, những hành vi văn minh cô giáo trang
bị từ hôm nay sẻ là hành trang theo trẻ trong suốt cuộc đời.
Bằng cử chỉ hành động nhẹ nhàng mỗi khi cô giáo thực hiện các hoạt động
vệ sinh trẻ sẻ cảm nhận được tình cảm, sự yêu thương vô vàn của cô giáo dành cho
nó, nó càng tự tin hơn, yên tâm hơn khi mỗi ngày bên cô giáo.
Giữ gìn vệ sinh cơ thê sạch sẽ giúp trẻ luôn có thê lực khỏe mạnh, có sức
chống đở bệnh tật, hạn chế suy dinh dưỡng. Trẻ khỏe mạnh, ít ốm đau là niềm vui,
nguôn hạnh phúc của mỗi gia đình và toàn xã hội.
Tuy nhiên, muốn trẻ luôn giữ gìn vệ sinh cơ thê sạch sẽ thì người lớn đặc
biệt là cô giáo và bố mẹ là người cần hướng dẫn cho trẻ nắm vững kỹ năng, kiến
thức khoa học và thực hiện đúng quy trình, thao tác thành thạo, nắm được các thời
điêm cần thực hiện vệ sinh cá nhân cho mình. Dạy cho trẻ có ý thức và nhận thức
được tầm quan trọng của việc giữ gìn vệ sinh cá nhân. Rèn luyện cho trẻ ý thức tự
làm một số hoạt động phục vụ và tự bảo vệ mình.
Giáo dục vệ sinh cho trẻ ở trường sẽ giúp phụ huynh nâng cao nhận thức về
tầm quan trọng của giáo dục mầm non, có ý thức trách nhiệm đối với trẻ, quan tâm
chăm sóc và vệ sinh cho con em mình sạch sẽ. Tôn trọng, cảm thông với công việc
của giáo viên, từ đó nâng cao trách nhiệm đối với nhà trường và giáo viên.
Công việc hàng ngày của giáo viên mầm non tuy không nặng nhọc nhưng
vô cùng vất vả. Ngoài việc tổ chức các hoạt động giáo dục, hoạt động chăm sóc vệ
sinh cũng chiếm một thời lượng công việc khá lớn, một số hoạt động có thời điêm
rõ ràng như lau mặt, rửa tay trước khi ăn nhưng có nhiều hoạt động xen lẫn với các
17


hoạt động khác và xảy ra bất ngờ ngoài mong muốn nên người giáo viên phải biết
sắp xếp các hoạt động một cách khoa học, hợp lý, xử lý các tình huống một cách
kịp thời; có đôi mắt tinh tường đê quan sát tất cả các cháu trong lớp, có đầu óc
phán đoán nhanh, có tác phong nhanh nhẹn, hoạt bát; có sự phối hợp với các giáo
viên khác một cách linh hoạt có như thế mới hoàn thành tốt nhiệm vụ.
3.2. Những kiến nghị, đề xuất
Đề nghị lãnh đạo ngành và cán bộ quản lý giáo dục mầm non tiếp tục góp ý
chân thành vào bản Sáng kiến kinh nghiệm; tạo điều kiện đê bản thân tôi được học
hỏi thêm chị em đông nghiệp, được giao lưu và đúc rút được nhiều kinh nghiệm
góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ.
Với sự nổ lực của bản thân nên đã đạt được kết quả ban đầu song Sáng kiến
kinh nghiệm này cũng không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót kính mong sự
đóng góp ý kiến giúp đỡ của đông nghiệp, Hội đông khoa học của Nhà trường và
Hội đông khoa học của ngành đê cho bản Sáng kiến kinh nghiệm này được hoàn
thiện hơn, không những có khả năng áp dụng trong phạm vi toàn trường và còn
vươn đến các đơn vị mầm non thuộc vùng núi, vùng sâu, vùng xa, nơi biên giới./.
Kim Thuỷ, ngày 18 tháng 9 năm 2018
(Đã ký)

Nguyễn Thị Lan

Ý KIẾN CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NHÀ TRƯỜNG
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................
......................................................................................................................................
18


....................................................................................................................................

Kim Thủy, ngày 18 tháng 9 năm 2018
TM.HỘI ĐỒNG KHOA HỌC NHÀ TRƯỜNG
(Đã ký)

HIỆU TRƯỞNG
Nguyễn Thị Luân

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×