Tải bản đầy đủ

Pháp luật chống bán phá giá của WTO trong thương mại quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với việt nam

HOÀNG THỊ VÂN GIANG

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬT KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO
TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ NHỮNG
VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM

2015 - 2017

HOÀNG THỊ VÂN GIANG

HÀ NỘI - 2017

1



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO
TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ NHỮNG
VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
HOÀNG THỊ VÂN GIANG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS. NGUYỄN TOÀN THẮNG
HÀ NỘI - 2017

2


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập
của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguốn gốc rõ
ràng.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Hoàng Thị Vân Giang

3


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian nghiên cứu và học tập tại Viện Đại học Mở Hà
Nội, dưới sự hướng dẫn tận tình của các thày cô, em đã nghiên cứu và tiếp thu
được nhiều kiến thức bổ ích để vận dụng vào công việc hiện tại nhằm nâng
cao trình độ năng lực của bản thân.
Luận văn thạc sĩ "Pháp luật về chống bán phá giá của WTO trong
thương mại quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam" là kết quả


của quá trình nghiên cúư trong những năm học vừa qua.
Em xin gửi lời cảm ơn trân trọng nhất tới TS. Nguyễn Toàn Thắng người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em về mọi mặt trong quá trình thực
hiện luận văn.
Em cũng xin cảm ơn các thày cô đã tham gia giảng dạy, giúp đỡ em
trong suốt quá trình học tập.
Xin cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã giúp đỡ, động
viên, tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập và hoàn thành bài luận văn
này.
Dù đã có nhiều cố gắng nhưng do giới hạn về trình độ nghiên cứu,
giới hạn về tài liệu nên luân văn không tránh khỏi những thiếu sót. Kính
mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thày cô giáo, bạn bè đồng nghiệp
và những người quan tâm.
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2017
Học viên thực hiện luận văn

Hoàng Thị Vân Giang

4


Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU ............................................................................................ 1
Chương 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ VÀ
PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC
TẾ .................................................................................................................. 5
1.1. Bán phá giá ........................................................................................ 5
1.1.1. Lịch sử và nguồn gốc của bán phá giá .......................................... 5
1.1.2. Khái niệm bán phá giá .................................................................. 6
1.1.3. Nguyên nhân bán phá giá ........................................................... 11
1.1.4. Phân loại bán phá giá ................................................................. 15
1.1.5. Tác động của bán phá giá ........................................................... 19
1.2. Chống bán phá giá ........................................................................... 22
1.2.1. Khái niệm chống bán phá giá .................................................... 22
1.2.2. Pháp luật về chống bán phá giá .................................................. 23
1.3. Lịch sử pháp luật về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế
................................................................................................................. 25
1.3.1. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật về chống bán phá
giá đầu tiên ở một số quốc gia .............................................................. 25
1.3.2. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật quốc tế về chống
bán phá giá........................................................................................... 27
Chương 2: NỘI DUNG HIỆP ĐỊNH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA WTO
..................................................................................................................... 33
2.1. Xác định việc bán phá giá ............................................................... 33
2.1.1. Định nghĩa phá giá ..................................................................... 33
2.1.2. Nguyên tắc xác định phá giá:...................................................... 34
2.1.3. Tính biên độ phá giá ................................................................... 34
2.2. Xác định thiệt hại............................................................................. 36
2.2.1.Định nghĩa thiệt hại ..................................................................... 36
2.2.2. Nguy cơ gây thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước ................ 38
2.3. Điều tra áp dụng biện pháp chống bán phá giá ............................. 38
2.3.1. Nộp đơn yêu cầu tiến hành chống phá giá .................................. 38
2.3.2. Thu thập thông tin....................................................................... 40
2.3.3. Áp dụng biện pháp tạm thời ........................................................ 41
2.3.4. Cam kết giá................................................................................. 42
2.3.5. Áp dụng thuế và thu thuế chống bán phá giá .............................. 43
2.3.6. Truy thu thuế............................................................................... 45
2.3.7. Rà soát ........................................................................................ 46

5


2.3.8. Thông báo công khai và giải thích các kết luận .......................... 46
Chương 3:THỰC TIỄN CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA VIỆT NAM
TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI
VỚI VIỆT NAM .......................................................................................... 48
3.1. Thực trạng bán phá giá hàng nhập khẩu của nước ngoài ở Việt
Nam ......................................................................................................... 48
3.1.1. Ngành cơ khí............................................................................... 48
3.1.2. Ngành hàng sản xuất xe đạp ....................................................... 49
3.1.3. Dược phẩm ................................................................................. 50
3.1.4. Điện tử ........................................................................................ 52
3.1.5. Ngành giấy ................................................................................. 53
3.1.6. Ngành dệt may ............................................................................ 54
3.1.7. Nước giải khát ............................................................................ 55
3.2. Thực trạng pháp luật về chống bán phá giá của Việt Nam ........... 56
3.3. Thực tiễn áp dụng pháp luật chống bán phá giá và khả năng khởi
kiện chống bán phá giá của các Doanh nghiệp Việt Nam .................... 64
3.3.1. Tình hình sử dụng biện pháp chống bán phá giá tại Việt Nam .... 65
3.3.2. Đánh giá về các nguy cơ bán phá giá của hàng hóa nước ngoài
gây thiệt hại cho doanh nghiệp Việt Nam ............................................. 66
3.3.3. Đánh giá về khả năng khởi kiện của các Doanh nghiệp Việt Nam
............................................................................................................. 70
3.3.4. Về phía các cơ quan chức năng. ................................................. 76
3.4. Nguyên nhân dẫn đến những bất cập của pháp luật và thực tiễn
chống bán phá giá trong nước ............................................................... 78
3.5. Phương hướng hoàn thiện pháp luật và thực thi pháp luật về
chống bán phá giá của Việt Nam. .......................................................... 82
PHẦN KẾT LUẬN ...................................................................................... 85
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 86
PHỤ LỤC .................................................................................................... 90

6


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, tự do thương mại và liên kết kinh tế
thương mại đang là trào lưu nổi bật thì hội nhập kinh tế không những ngày càng trở
thành một xu thế khách quan mà còn đóng vai trò một công cụ hữu hiệu để phát
triển nhanh và bền vững nếu được nắm bắt và vận dụng một cách tích cực. Nền kinh
tế các nước ngày càng lệ thuộc vào nhau và trong bối cảnh đó sự lớn mạnh, bền
vững kinh tế thế giới có thể đạt được nếu tạo ra được tính công bằng trong quan hệ
thương mại quốc tế.
Khi cạnh tranh trong thương mại trở thành vấn đề toàn cầu thì pháp luật điều
tiết cạnh tranh cũng không còn là vấn đề nội bộ của các quốc gia. Vì thế, các chế
định về phòng vệ thương mại đã trở thành những nội dung quan trọng trong khuôn
khổ pháp luật về thương mại quốc tế của tổ chức thương mại thế giới (WTO). Trong
đó, chế định pháp luật về chống bán phá giá luôn có vị trí quan trọng và được các
nước áp dụng khá phổ biến để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước trước áp lực
cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu bán phá giá.
Kể từ khi nước ta chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại
thế giới WTO (năm 2007) đến nay, tiến trình chủ động, tích cực hội nhập kinh tế
của nước ta ngày càng sâu rộng hơn, đạt được nhiều kết quả tích cực, khá hoàn
thiện trên các lĩnh vực. Về thực trạng pháp luật của Việt Nam, năm 2004, Pháp lệnh
Chống bán phá giá đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XI ban hành để bảo
vệ sản xuất trong nước trước luồng hàng hóa giá rẻ nhập khẩu vào Việt Nam. Tuy
nhiên, Pháp lệnh chống bán phá giá và các văn bản hướng dẫn thi hành vẫn chưa
thực sự phát huy hiệu quả. Vẫn có những bất cập nhất định trong các quy định của
pháp luật và đặc biệt là trong thực tiễn áp dụng pháp luật về chống bán phá giá của
Việt Nam.

1


Xuất phát từ thực tiễn các vụ kiện chống bán phá giá mà Việt Nam có liên
quan và thực trạng pháp luật của Việt Nam cũng như nhu cầu đào tạo nguồn nhân
lực chất lượng cao...cho thấy tính cấp thiết cao, cả về lý luận và thực tiễn của việc
nghiên cứu đề tài về "Pháp luật về chống bán phá giá của WTO trong thương
mại quốc tế và những vấn đề đặt ra đới với Việt Nam" .
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài tài, tác giả muốn làm rõ hơn những tác
hại của việc bán phá giá và áp dụng thuế chống bán phá giá của các nước cũng như
Việt Nam, bàn một số phương hướng khắc phục. Thấy được những bất cập của
pháp luật chống bán phá giá, tác hại của bán phá giá đối với nước xuất khấu, nước
nhập khẩu. Nhằm góp phần đưa nước ta hội nhập vào nền kinh tế thế giới thêm sâu
rộng.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu thêm một phần nhỏ bé về bán phá giá,
chống bán phá giá một đề tài không mới đối với các nước pháp triển nhưng rất mới
mẻ đối với các nước đang phát triển như Việt Nam chúng ta. Sự hiểu biết chưa sâu
sắc đã làm cho các doanh nghiệp Việt Nam luôn mắc phải và luôn phải thiệt hại rất
lớn từ việc bán phá , mục địch của đề tài là không chỉ giúp nhà nước, doanh
nghiệp,cá nhân hiểu và đối phó được với các chiêu thức cạnh tranh không lành
mạnh mà cụ thể là việc bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Việt Nam
mà còn áp dụng được các quy định của pháp luật để kiện lại bên vi phạm các cám
kết của WTO về chống bán phá giá, hay nói đúng hơn là chúng ta dùng cam kết đó
bảo vệ mình và dùng nó để đòi lại quyền lợi cho mình. Nâng cao và tuyên truyền
pháp luật chống bán phá giá vào các doanh nghiệp, cá nhân để khi thực hiện các
hoạt động kinh tế đặc biệt là kinh tế xuất nhập khẩu để tránh những thiệt hại kinh tế
khi bị kiện bán pháp giá. Muốn các cơ quan chức năng tích cực hoàn thiện pháp luật
chống bán phá giá theo xu thế chung của thế giới để bảo vệ quyền lợi của các bên,
tích cực đàm phán gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế đa phương để bảo vệ
một cách có hiệu quả quyền lợi của các bên.

2


3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng: Trong đề tài này tôi tập trung nghiên cứu về vai trò của pháp luật
chống bán phá giá, các cơ chế giải quyết các hành vi bán phá giá và cơ quan thực
thi giải quyết qua các văn bản pháp luật quốc gia như Pháp lệnh chống bán phá giá,
Luật thương mại, Luật thuế và các văn bản pháp luật quốc tế như Hiệp định chống
bán phá giá của WTO, Hiệp định chung về thuế quan và thương mại GATT(1994),
nắm vững đối tượng nghiên cứu cho phép chúng ta tiếp cận một cách sâu sắc và đầy
đủ các khía cạnh của vấn đề cần nghiên cứu.
Về phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ nghiên cứu về bán phá giá và chống
bán phá giá trong thương mại quốc tế, tức là việc bán phá giá hàng hóa qua biên
giới quốc gia, được pháp luật thương mại quốc tế điều chỉnh, bên cạnh đó là các vấn
đề về bán phá giá và chống bán phá gía đối với hàng hóa nước ngoài nhập khẩu vào
thị trường Việt Nam. Pháp luật thương mại quốc tế là một lĩnh vực hết sức rộng và
đã có lịch sử phát triển tương đối lâu dài mà trong khuôn khổ thời gian và độ dài
của một luận văn không thể bao trùm hết được. Chính vì vậy, phạm vi nghiên cứu
của luận văn chỉ bao gồm các quy định hiện hành của pháp luật WTO, và Việt Nam
về chống bán phá giá cụ thể là các điều kiện xác định có bán phá giá, xác định thiệt
hại và mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại, các biện pháp chống
bán phá giá, các thủ tục xem xét lại thuế chống bán phá giá; thực tiễn chống bán phá
giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam kể từ khi Pháp lệnh chống bán phá giá được
ban hành cho tới nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài “Pháp luật về chống bán phá giá của WTO trong
thương mại quốc tế và những vấn đề đặt ra đới với Việt Nam ”. Tôi đã sử dụng
các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu

3


- Phương pháp thống kê
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Về mặt lý luận: đây là luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện
về pháp luật chống bán phá giá trong thương mại quốc tế và của Việt Nam, pháp
luật và thực tiễn chống bán phá giá đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam. Các
kiến nghị, kết luận nêu trong luận văn là những luận cứ khoa hoạc của tác giả. Có
thể nói đây là công trình khoa học được nghiên cứu một cách nghiêm túc, có hệ
thống và đề cập đến nhiều vấn đề về pháp luật chống bán phá giá tại Việt Nam mà
từ trước đến nay chưa được giải quyết hoặc giải quyết chưa triệt để. Đố là vấn đề về
quá trình nhận thức về bán phá giá trong khoa học pháp lý của Việt Nam, cơ sở kinh
tế - pháp lý cho việc xác định bản chất của hiện tượng bán phá giá cũng như bán
phá giá hàng hóa nhập khẩu, những thành tựu và tồn tại trong pháp luật chống bán
phá giá của Việt Nam.
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu
tham khảo hữu ích trong việc nghiên cứu về lý luận và pháp luật chống bán phá giá.
Về thực tiễn: Những nghiên cứu, kết luận, đề xuất của luận án còn có ý nghĩa
trong việc hoàn thiện pháp luật chống bán phá giá tại Việt Nam và nâng cao hiệu
quả áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này.
6. Nội dung của luận văn.
Đề tài có kết cấu ba phần gồm: Phần mở đầu; Phần nội dung; Phần kết luận.
Trong đó phần nội dung gồm 3 chương.
Chương 1: Các vấn đề lý luận về chống bán phá giá và pháp luật về chống
bán phá giá trong thương mại quốc tế
Chương 2: Hiệp định chống bán phá giá của WTO
Chương 3: Thực tiễn chống bán phá giá của việt nam trong thương mại quốc
tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam

4


Chương 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHỐNG BÁN
PHÁ GIÁ VÀ PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ
1.1. Bán phá giá
1.1.1. Lịch sử và nguồn gốc của bán phá giá
Khái niệm “bán phá giá” trong thương mại quốc tế có một lịch sử lâu đời.
Trong những cuộc tranh luận tại Mỹ năm 1791, Alexander Halinton đó cảnh báo về
các thủ pháp của các đối thủ cạnh tranh bán hạ giá tại các nước khác để nhằm mục
tiêu chiếm lĩnh thị trường. Những trường hợp bán phá giá của các nhà sản xuất Anh
tại thị trường mới mẻ ở nước Mỹ đó được báo cáo. Cuộc tranh luận của công chúng
về vấn đề này, cùng nhiều nỗ lực của ngành lập pháp nhằm đối phó với nó cũng
được ghi nhận trong gần hết thế kỷ 19. Đầu thế kỷ XX, Đạo luật chống bán phá giá
cụ thể đầu tiên được ban hành ở Canada năm 1904. Sau đó Luật chống bán phá giá
được ban hành tại Newzealand năm 1905, Australia năm 1906 và Nam phi năm
1914. Nước Mỹ có Đạo luật chống bán phá giá năm 1916 và nước Anh có vào năm
1921.
Khi xây dựng Hiệp định chung về Buôn bán và Thuế quan (GATT) năm
1947, một điều khoản đặc biệt về các trường hợp chống bán phá giá đó được soạn
thảo. Điều VI của GATT cho phép các bên ký kết được sử dụng các sắc thuế chống
bán phá giá để bù trừ mức phá giá của các hàng nhập khẩu, miễn là chứng minh
được việc bán phá giá đang gây ra, hoặc đe doạ gây ra thiệt hại vật chất cho các
ngành công nghiệp nội địa có cạnh tranh. Cho đến nay, đây vẫn là luật quốc tế cốt
lõi về việc bán phá giá.
Tuy nhiên một số quốc gia trong GATT nhận thấy rằng có một số nước đó áp
dụng Luật chống phá giá để dùng lên những hàng rào thương mại mới, các thủ tục
chống bán phá giá, những cách tính toán mức phá giá đó gây thiệt hại làm hạn chế

5


và lệch lạc các dòng thương mại quốc tế. Tại vòng đàm phán Kennedy của GATT
(1962 - 1967) các bên ký kết GATT đó thảo luận bộ luật chống bán phá giá, đặt ra
một loạt các quy tắc về thủ tục và nguyên lý cho việc áp dụng những sắc thuế chống
bán phá giá nhằm hạn chế các thủ tục và phương thức đánh thuế của những Chính
phủ có thể gây tổn hại đến thương mại quốc tế.
Tại vòng đàm phán Tokyo 1973, các bên ký kết GATT đó xây dùng một
Luật chống bán phá giá mới, có hiệu lực từ năm 1979 thay thế cho Luật chống bán
phá giá năm 1967, có 26 nước thành viên ký kết có hiệu lực hơn mọi Hiệp định
trước đó về bán phá giá. Đến vòng đàm phán Urugoay 1994 về bán phá giá, dùa
trên Luật chống bán phá giá trước đó các thành viên xây dùng “Hiệp định về việc
thi hành điều VI của GATT năm 1994” điều chỉnh kỹ hơn các quy tắc chống bán
phá giá và có hiệu lực hơn đối với mọi thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới
( WTO ) và là Hiệp định cưỡng bức thi hành. Hiệp định này cụ thể ba loại nghĩa vụ
khống chế việc áp dụng các sắc thuế:
- Các quy tắc chi tiết về các sự kiện cấu thành việc “ bán phá giá”.
- Các quy tắc chi tiết “ yêu cầu về thiệt hại ”
- Các quy tắc chi tiết về những thủ tục theo đó các Chính phủ xác định và áp
dụng các sắc thuế chống bán phá giá.
1.1.2. Khái niệm bán phá giá
Về mặt lịch sử, thuật ngữ “bán phá giá” lần đầu tiên được sử dụng để chỉ một
hiện tượng gắn liền với quá trình công nghiệp hoá ngày càng rộng rãi và cuộc cách
mạng về giao thông vận tải của Chủ nghĩa tư bản. Những phát minh trong khoa học
dẫn đến những thay đổi mang tính đột phá về công nghệ sản xuất đã làm cho năng
suất lao động ngày càng tăng và nhờ đó giá thành sản xuất ngày càng thấp. Sự ra
đời của máy hơi nước và sau đó là động cơ đốt trong cũng tạo nên bước đột phá
trong phương tiện chuyên chở hàng hoá, làm cho chi phí chuyên trở hàng hoá giữa
những địa điểm cách xa nhau trở nên rất thấp so với trước đó. Thời gian chuyên trở
hàng hoá, nhờ vào sự tiến bộ của khoa học công nghệ, cũng được rút ngắn đi rất

6


nhiều. Khoảng cách về mặt địa lý không còn là một cản trở đáng ngại đối với việc
kinh doanh. Tất cả những sự đột phá về công nghệ trong kỷ nguyên công nghiệp
hoá của Chủ nghĩa tư bản đã đem đến cho nhà tư bản sản xuất hàng hoá những lợi
thế kinh doanh vô cùng lớn. Họ có thể đem bán hàng hóa với giá thành rẻ của mình
ở một địa điểm xa xôi với một mức giá rất cạnh tranh, có khi là thấp hơn nhiều so
với giá hàng hóa sản xuất tại chính bản địa hay thậm chí là thấp hơn cả giá hàng hóa
sản xuất ở nước xuất khẩu. Và đương nhiên điều này đã làm cho các nhà sản xuất
bản địa cảm thấy bị đe dọa. Các công trình nghiên cứu về lịch sử thương mại quốc
tế đã cho thấy ngay từ cuối thế kỷ 16, các nhà sản xuất giấy ở Anh đã phàn nàn về
hiện tượng những người nước ngoài đem bán giấy với mức giá chịu lỗ nhằm bóp
nghẹt nền công nghiệp giấy của Anh. Đến thế kỷ 17, các thương nhân Hà Lan cũng
tiến hành những hoạt động bán hàng hoá với mức giá rất thấp nhằm xoá sổ các
thương nhân Pháp ra khái vùng Baltic. Vào cuối thế kỷ 18, thậm chí các nhà sản
xuất Anh quốc còn bị khiếu nại về việc bán giá hàng hóa quá thấp nhằm vùi dập nền
công nghiệp sản xuất ở Hoa Kỳ.
Tất cả những hoạt động thương mại trên đây, tuy được tiến hành vào những
thời điểm khác nhau trong lịch sử và trong những ngành nghề khác nhau, nhưng
chúng đều là những hiện tượng kinh tế có chung đặc điểm là hàng hoá được sản
xuất ở một nước (nước xuất khẩu) và được bán ở một nước khác (nước nhập khẩu)
với mức giá rất thấp. Khi thương mại hàng hoá ngày càng phát triển thì hiện tượng
này trở nên ngày càng phổ biến. Tuy nhiên, đến những thập kỷ đầu của thế kỷ 20 thì
hiện tượng đó mới được khái niệm hoá lần đầu tiên. Năm 1923, Jacob Viner, một
trong những học giả được viện dẫn nhiều nhất trong lĩnh vực chống bán phá giá
hàng hoá đã đưa ra một khái niệm về bán phá giá hàng hoá mà sau này đã trở thành
một khái niệm kinh điển được sử dụng rộng rãi trong kinh tế học. Theo ông, “Bán
phá giá là việc bán hàng hoá ở những mức giá khác nhau ở các thị trường quốc gia”
hay nói một cách khác là “sự phân biệt về giá giữa các thị trường quốc gia”. Có thể
nói rằng đây là một định nghĩa rất khái quát về bán phá giá. Nội dung của nó chỉ
đơn giản là nếu một nhà sản xuất bán hàng hóa của mình ở nước của mình hoặc ở

7


một nước nào đó với mức giá phân biệt với giá bán vào nước nhập khẩu thì đã được
coi là có bán phá giá. Trong thực tiễn khái niệm đơn giản về bán phá giá này đã
được các nhà chuyên môn bổ sung thêm một số đặc điểm để làm cho nội hàm của
nó rõ hơn như sau:
Thứ nhất, với khái niệm như trên, bán phá giá sẽ bao trùm một phạm vi rất
rộng các hành vi phân biệt giá bán giữa các thị trường quốc gia: đó có thể là việc
bán hàng hóa ở nước nhập khẩu với mức giá thấp hơn mức giá ở nước xuất khẩu
hay bán hàng hóa ở nước nhập khẩu với mức giá thấp hơn ở thị trường của nước
nhập khẩu khác, hay thậm chí còn có thể là việc bán hàng hóa ở nước nhập khẩu với
mức giá cao hơn mức giá ở nước xuất khẩu.
Trong điều kiện thương mại quốc tế và kinh tế bình thường, hàng hóa sản
xuất ở một nước khi đem bán ở một nước khác thường sẽ có giá bán cao hơn ở thị
trường nội địa do phải chịu chi phí chuyên trở, đóng gói và thuế quan khi nhập
khẩu. Vì thế việc phân biệt giá bán theo nghĩa giá ở thị trường nhập khẩu cao hơn
giá ở thị trường xuất khẩu là hiện tượng bình thường và không thể coi là bán phá
giá. Khái niệm bán phá giá, như vậy, chỉ được dùng khi giá bán ở thị trường nhập
khẩu thấp hơn giá bán ở thị trường xuất khẩu hoặc một nước nhập khẩu thứ ba.
Thứ hai, trong thương mại quốc tế, điều kiện địa lý và thị trường ở hai quốc
gia khác nhau hiển nhiên là phải khác nhau. Việc giá bán của cùng một hàng hóa
giữa hai quốc gia khác nhau là một hiện tượng phổ biến và bình thường vì thế
không thể coi một cách cơ học rằng nếu giá bán ở thị trường nhập khẩu thấp hơn ở
thị trường xuất khẩu thì đã có hiện tượng bán phá giá. Trên thực tế cần phải xem xét
xem liệu các lý do của việc chênh lệch giá đó có xuất phát từ những khác biệt khách
quan dẫn tới chi phí khác nhau đối với hàng hóa khi đem bán ở hai thị trường khác
nhau hay không. Nếu sự khác biệt giá là do các yếu tố này gây ra thì sự khác biệt
giá đó là tất yếu và không thể coi là bán phá giá. Còn ngược lại thì sự chênh lệch giá
sẽ có xu hướng mang tính chủ quan của nhà sản xuất và có thể bị coi là bán phá giá.

8


Thứ ba, có một số học giả cho rằng thậm chí khi giá bán không khác nhau
giữa thị trường nhập khẩu và thị trường xuất khẩu thì cũng có thể đã có hoạt động
bán phá giá. Lý do là vì trong trường hợp đó có thể là chi phí khách quan liên quan
tới hàng hóa đó ở hai thị trường là khác nhau. Vì thế, xét cho cùng nếu chi phí
khách quan ở thị trường xuất khẩu cao hơn thị trường nhập khẩu thì tức là về thực
chất, giá bán của hàng hóa ở nước nhập khẩu đã thấp hơn giá bán ở nước xuất khẩu.
Với những điểm bổ sung để hoàn thiện khái niệm kinh điển của Viner về bán
phá giá, có thể nêu khái niệm đầy đủ của bán phá giá được dùng phổ biến trong
thương mại quốc tế hiện nay như sau:
Bán phá giá trong thương mại quốc tế là hiện tượng xảy ra khi một hàng
hóa được bán ở thị trường nước nhập khẩu với mức giá thấp hơn mức giá bán
của hàng hóa đó ở thị trường nước xuất khẩu.
Khái niệm này hàm chứa hai điều kiện để xác định bán phá giá:
Thứ nhất, phải có hai thị trường riêng biệt. Hai thị trường này phải bị ngăn
cách bởi những đường biên giới quốc gia hoặc vùng.
Thứ hai, giá bán của cùng một loại hàng hóa hoặc sản phẩm tương tự ở thị
trường nhập khẩu thấp hơn ở thị trường xuất khẩu hoặc một thị trường thứ ba.
Với sự phát triển ngày càng rộng rãi của Pháp luật về chống bán phá giá trên
phạm vi quốc gia và quốc tế, khái niệm bán phá giá cũng dần dần được mở rộng ra.
Người ta phát hiện ra rằng nếu chỉ dựa vào dấu hiệu có phân biệt giá bán để xác
định hành vi bán phá giá đôi khi là chưa đủ để bảo vệ ngành công nghiệp sản xuất
trong nước trước sức cạnh tranh mãnh liệt của hàng hoá nhập khẩu. Những luồng
hàng hoá giá rẻ vẫn có thể có mặt ở các nước nhập khẩu với mức giá không khác so
với mức giá bán ở thị trường nước xuất khẩu và như vậy sẽ không bị coi là bán phá
giá theo khái niệm phổ biến nêu trên. Vì vậy, khái niệm bán phá giá bắt đầu được
mở rộng ra để bao gồm cả những trường hợp hàng hóa nhập khẩu có giá thấp hơn
một mức chi phí sản xuất nào đó chứ không phải chỉ là mức giá của hàng hóa tại thị
trường nội địa của nước xuất khẩu.

9


Cùng với xu hướng mở rộng ra, khái niệm bán phá giá khi được luật hóa
cũng trở nên chính xác hơn. Thực tiễn các hoạt động kinh tế trong một quốc gia đã
hết sức phong phú song thực tiễn hoạt động thương mại quốc tế còn nhiều lần
phong phú hơn. Nếu chỉ quy định rằng bán phá giá là việc bán hàng hóa ở nước
nhập khẩu với mức giá thấp hơn giá của hàng hóa ở nước xuất khẩu thì sẽ rất khó
xác định khi nào thì một lô hàng hóa xuất khẩu cụ thể có bán phá giá hay không.
Bởi vì hàng hóa có thể được sản xuất ra và tiêu thụ với nhiều mức giá khác nhau
ngay tại thị trường nội địa. Có thể là ngay giữa các khu vực khác nhau trong cùng
thị trường nội địa mức giá của hàng hóa đã có thể không giống nhau. Điều tương tự
cũng xảy ra đối với giá của hàng hóa khi bán tại thị trường nhập khẩu. Như vậy là
rất khó xác định khi nào thì có bán phá giá và khi nào không. Nếu so sánh giá tiêu
thụ ở thị trường nhập khẩu với mức giá ở vùng đô thị của nước xuất khẩu thì có thể
không có bán phá giá, trong khi đó nếu so sánh với mức giá ở vùng sâu vùng xa nơi
có chi phí vận chuyển và bảo quản cao thì có khi đã có bán phá giá.
Chính vì đặc điểm trên đây nên luật lệ của WTO và Pháp luật về chống bán
phá giá của các nước trên thế giới đều cố gắng lượng hóa khái niệm bán phá giá một
cách chính xác ở mức độ tối đa có thể. Để lượng hóa, người ta thường so sánh một
mức giá bán nhất định của hàng hóa tại thị trường nhập khẩu với một giá trị nhất
định của hàng hóa ở thị trường nội địa của nước xuất khẩu hoặc ở thị trường khác
tương tự với thị trường đó. Nói một cách khác, đây là phép so sánh giữa “giá xuất
khẩu” của hàng hóa với “giá trị thông thường” của hàng hóa theo các tiêu chí xác
định. Khái niệm bán phá giá được xác định theo cách này được thể hiện rõ nét trong
quy định của WTO cụ thể tại khoản 1 Điều VI của GATT 1994 có nêu:
“Các bên ký kết công nhận rằng bán phá giá, theo đó hàng hóa của một nước
được đưa vào thương mại ở một nước khác với giá trị thấp hơn giá trị thông thường
của hàng hóa đó, phải bị lên án nếu như nó gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại lớn
đối với một ngành công nghiệp đã được thiết lập trên lãnh thổ của một nước ký kết
hoặc cản trở nghiêm trọng việc thiết lập một ngành sản xuất nội địa.” (Đoạn 1, Điều
VI, GATT 1994)

10


Hay tại khoản 2.1 Điều 2 Hiệp định về chống bán phá giá của WTO 1994
(ADA 1994) quy định:
“Trong phạm vi Hiệp định này, một hàng hóa bị coi là bán phá giá (tức là
được đưa vào lưu thông thương mại ở một nước khác với giá thấp hơn giá trị thông
thường của hàng hóa đó) nếu như giá xuất khẩu của hàng hóa được xuất khẩu từ
một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của hàng
hóa tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại
thông thường”.
Như vậy, có thể nêu khái niệm bán phá giá từ góc độ pháp lý như sau:
Bán phá giá trong thương mại quốc tế là một hiện tượng xảy ra khi một
hàng hóa của nước này được xuất khẩu vào một nước khác với mức giá xuất
khẩu thấp hơn giá trị thông thường của hàng hóa tương tự tại nước xuất khẩu.
Trong khái niệm này, hai yếu tố mấu chốt để xác định bán phá giá là “giá
xuất khẩu” (export price) và “giá trị thông thường” (normal value) sẽ được các cơ
quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu xác định và tính toán theo những phương
pháp và tiêu chí được quy định trong luật lệ của WTO và pháp luật quốc gia nước
mình.
1.1.3. Nguyên nhân bán phá giá
Trong nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế, có khá nhiều lý do để
doanh nghiệp xuất khẩu hàng hoá của mình với mức giá thấp hơn giá ở thị trường
trong nước hoặc thậm chí là thấp hơn mức chi phí nhất định. Có một số nguyên
nhân điển hình như sau:
Thứ nhất, khi một doanh nghiệp đã có vị thế tốt trong thị trường nội địa
muốn phát triển một thị trường mới ở một nước khác bị phân cách bởi ranh giới địa
lý, họ sẽ phải chịu thêm các chi phí phụ trội như thuế nhập khẩu, chi phí chuyên
chở, chi phí cho các rào cản kỹ thuật. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn có thể muốn duy

11


trì mức giá thấp cho hàng hóa của mình để tạo thế cạnh tranh mà không có ý định
xâm hại tới môi trường cạnh tranh của thị trường mới.
Thứ hai, trong trường hợp mở rộng quy mô sản xuất để tối đa hoá lợi nhuận,
doanh nghiệp có thể sẽ có nhu cầu bán hàng với mức giá thấp để khuếch trương
hàng hóa trong thị trường mới, đặc biệt khi doanh nghiệp đang theo đuổi chương
trình khuyến mãi dài kỳ ở thị trường mới để chiếm lĩnh thị phần.
Thứ ba, trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất tối đa công suất và giá của
hàng hóa ở thị trường trong nước đã bị khống chế bởi nhà nước hoặc bởi các tập
đoàn mà doanh nghiệp là thành viên, doanh nghiệp có thể sẽ chỉ có cách lựa chọn
duy nhất là hạ giá hàng hóa ở thị trường khác để cắt giảm lỗ.
Thứ tư, cũng có thể có trường hợp doanh nghiệp đã có thế đứng và tiềm lực
rất tốt trong nước và muốn chiếm lĩnh thị trường nước ngoài bằng cách loại bỏ các
đối thủ cạnh tranh ở thị trường nước ngoài. Trong trường hợp đó, doanh nghiệp có
thể lợi dụng sự vững chắc của thị phần trong nước để bán hàng hóa với mức giá rất
thấp ở thị trường nước ngoài trong một thời gian dài nhằm loại bỏ các đối thủ cạnh
tranh ra khái thị trường đó. Khi đó, mục đích cuối cùng mà doanh nghiệp hướng tới
rất có thể là vị thế thống lĩnh thị trường để từ đó chiếm thế độc quyền tiếp theo là
nâng giá bán để tối đa hoá lợi nhuận.
Thứ năm, khi một doanh nghiệp đang thử nghiệm một dòng hàng hóa mới ở
thị trường mới, doanh nghiệp có thể sẽ bán hàng hóa thử nghiệm với mức giá thậm
chí thấp hơn chi phí bỏ ra với mục đích dành được sự chú ý và chấp nhận của người
tiêu dùng đối với hàng hóa mới.
Thứ sáu, có một số trường hợp, sự thiếu thông tin về thị trường mới làm cho
doanh nghiệp phải ký hợp đồng và ấn định giá bán hàng hóa trước khi bắt đầu sản
xuất hàng hóa. Những biến động giá đầu vào cùng với sự thiếu tính toán trước có
thể làm cho mức giá ấn định trước thấp hơn so với chi phí sản xuất thực tế sau đó.
Thứ bảy, đối với một số ngành sản xuất có mức độ tập trung tư bản cao như
công nghiệp luyện thép hoặc thu hoạch theo mùa như nông sản, luôn luôn có những

12


thời kỳ hàng hóa bị dôi ra so với nhu cầu của thị trường. Khi đó, doanh nghiệp
không có cách nào khác phải bán hàng hóa dôi ra ở mức thấp hơn chi phí để cắt lỗ.
Đặc biệt đối với hàng nông sản đã đến kỳ thu hoạch không thể để lâu như hoa quả
hay cá nuôi thương phẩm, việc bán với mức giá thấp hơn chi phí sản xuất để bù đắp
lỗ là điều gần như không thể tránh khái.
Ngoài những nguyên nhân về phía các doanh nghiệp, trong một vài trường
hợp,hành động bán phá giá còn được các quốc gia sử dụng để nhằm đạt được một
số mục tiêu về chính trị, ổn định kinh tế - xã hội tại quốc gia đó. Chúng ta có thể
phân tích và tổng hợp thành một số nhóm mục tiêu như sau:
* Bán phá giá nhằm đạt mục tiêu Chính trị thao túng các nước khác.
Chính phủ Mỹ đặc biệt quan tâm đến xuất khẩu gạo bởi vì cạnh tranh giá gạo
bây giờ ảnh hưởng lớn đến việc đạt các mục tiêu quan trọng khác. Mỹ sẵn sàng bỏ
ngân sách mua phần lớn số gạo trên thị trường thế giới rồi bán phá giá. Điều này
làm cho nhiều nước xuất khẩu gạo phải lao đao và sẽ phải chịu vòng phong toả của
Mỹ. Chẳng hạn, giá xuất khẩu gạo của Mỹ khoảng 400USD/ tấn, nhưng các nhà
xuất khẩu gạo Mỹ sẵn sàng mua với giá 500USD/ tấn, thậm chí cao hơn đến
800USD/tấn, và họ cũng sẵn sàng bán ra thị trường thế giới chỉ bằng 60 - 70%,
thậm chí đến 40% giá mua. Mức giá này thấp hơn nhiều so với giá thành của chính
nông dân Mỹ sản xuất ra. Như vậy, Mỹ có thể sẵn sàng bỏ ra 700 - 800 triệu USD/
năm để tài trợ giá xuất khẩu gạo nhằm thực hiện mục tiêu của mình. Chính vì điều
này mà mặc dù sản lượng gạo của Mỹ hàng năm thấp nhưng Mỹ lại thao túng giá
gạo trên thị trường thế giới.
* Chính phủ tài trợ cho các doanh nghiệp để ổn định kinh tế - chính trị - xã
hội trong nước.
Chính phủ các nước phương Tây coi tài trợ là con đường ngắn nhất để đạt
được sự cân bằng kinh tế và đảm bảo cho thị trường hoạt động một cách tối ưu.
Chính sách tài trợ nhằm đạt được hai mục đích sau:
- Duy trì và tăng cường mức sản xuất xuất khẩu.

13


- Duy trì mức sử dụng nhất định đối với các yếu tố sản xuất như lao động và
tiền vốn trong nền kinh tế. Các khoản tài trợ có thể được cấp cho người sản xuất
cũng như cho người tiêu dùng, nhưng về mặt tác động kinh tế thì chúng đều như
nhau vì đều đưa đến những hệ quả tương tự.
Những hình thức tài trợ chủ yếu là: Trợ cấp, ưu đãi về thuế, tận dụng ưu đãi,
sự tham gia của Chính phủ vào các chi phí kinh doanh cũng như hỗ trợ xuất khẩu.
+ Trợ cấp: Đặc điểm cơ bản của trợ cấp là hướng vào giúp đỡ phát triển sản
xuất. Ở các nước công nghiệp phát triển, các khoản trợ cấp chiếm một nửa toàn bộ
khối lượng tài trợ. Tỷ trọng của các khoản trợ cấp cho từng ngành trong tổng số
giúp đỡ của Chính phủ có sự khác nhau đỏng kể giữa các nước. Như ở Anh, ý, Hà
Lan thì trợ cấp chiếm phần lớn.
+ Ưu đãi về thuế: Những ưu đãi về thuế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho
một số ngành trong một số loại hoạt động riêng biệt. Chúng được áp dụng rộng rãi ở
nhiều nước, mặc dù ít khi được phản ánh trong các chỉ tiêu của Chính phủ vì chúng
là ngoại lệ khi áp dụng các thuế suất chuẩn. Ở Anh, Bỉ, Đan Mạch, giá trị của chúng
không lớn, còn ở Mỹ thì tổng số ưu đãi về thuế cho công nghiệp lớn gấp 3 lần khối
lượng trợ cấp.
+ Ưu đãi về tận dụng: Những ưu đãi về tận dụng là sự cho vay của Chính
phủ với điều kiện hấp dẫn hơn là tìm kiếm trên thị trường vốn. ở các nước thuộc
Cộng đồng Kinh tế Châu Âu khoảng 14% tổng khối lượng giúp đỡ cho công
nghiệp được thực hiện dưới hình thức tận dụng ưu đãi. Phần lớn khối lượng tận
dụng của Chính phủ Nhật Bản cấp cho các hãng vừa và nhỏ với lời suất thấp hơn ở
lời suất thị trường vốn 0,5%.
Các Chính phủ cũng thường xuyên bảo đảm các khoản tận dụng, tức là bảo
lãnh cho các công ty vay mà không trả nợ được. Phương pháp tài trợ này thường
dùng cho các hợp đồng xuất khẩu để đảm bảo cho các công ty xuất khẩu của nước
mình. Theo đánh giá, quy mô của tài trợ này chiếm vào khoản từ 2% đến 8% tổng
tài trợ công nghiệp ở các nước công nghiệp phát triển.

14


+ Tham gia của Chính phủ vào chi phí kinh doanh: Sự tham gia của Chính
phủ vào chi phí kinh doanh thường là 15% tổng tài trợ trở xuống. Từ thập kỷ 80 đến
nay, phần sở hữu Nhà nước trong hoạt động kinh doanh có xu hướng giảm. Phương
pháp này được sử dụng để bù đắp những tổn thất trong những lĩnh vực kinh tế riêng
đang suy thoái.
Hiện nay, tài trợ công nghiệp vẫn được Chính phủ các nước phương Tây duy
trì ở mức khá cao. Trên thực tế, các khoản tài trợ giúp các ngành thực hiện công
nghệ mới, trang bị máy và thiết bị hiện đại, nghĩa là giúp các ngành mới gia nhập
thị trường và đẩy mạnh phát triển những ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước,
tăng cường xuất khẩu.
Như vậy có thể thấy rằng trong nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế có
rất nhiều lý do dẫn tới việc doanh nghiệp quyết định bán hàng hóa của mình với
mức giá thấp hơn thị trường nội địa hoặc thậm chí là thấp hơn chi phí sản xuất,
những trường hợp mà từ góc độ kinh tế có thể bị coi là bán phá giá. Tuy nhiên, do
tính hợp lý về mặt kinh tế của những trường hợp đó, khó có thể nói rằng tất cả các
trường hợp bán phá giá đó đều có ý đồ xấu hay có hại đối với môi trường cạnh tranh
hoặc nền kinh tế của nước nhập khẩu để áp dụng các biện pháp ngăn cản.Trong
nhiều trường hợp làm như vậy chỉ tạo ra một sự bảo hộ không cần thiết cho ngành
sản xuất trong nước, làm giảm lợi ích của người tiêu dùng cũng như của toàn xã hội.
Những phân tích dưới đây sẽ phân loại những hoạt động bán phá giá căn cứ
trên động cơ của doanh nghiệp bán phá giá để thấy rõ khía cạnh chủ quan của
những hoạt động bán phá giá.
1.1.4. Phân loại bán phá giá
Trong quá trình đàm phán dẫn tới Hiến chương Havana, những nước tham
gia đàm phán chia bán phá giá thành bốn loại: bán phá giá về giá, bán phá giá dịch
vụ, bán phá giá hối đoái và bán phá giá xã hội. Sau này chỉ có bán phá giá về giá
được quy định chi tiết trong pháp luật thương mại quốc tế và trở thành khái niệm
bán phá giá được sử dụng phổ biến hiện nay. Đó cũng là khái niệm bán phá giá

15


được nghiên cứu trong luận án này. Với ý nghĩa đó, các nhà kinh tế học và luật học
hiện đại nhìn chung chia các hoạt động bán phá giá thành 5 nhóm:
- Nhóm bán phá giá để mở rộng thị trường (market-expansion dumping): đây
là những hoạt động bán phá giá tại thị trường nhập khẩu với mức giá thấp hơn hoặc
chỉ tăng hơn chút đỉnh so với giá ở nước xuất khẩu, song vẫn thấp hơn giá trung
bình của hàng hóa đó ở thị trường nhập khẩu. Mục đích của nhà xuất khẩu trong
trường hợp này là mở rộng thị trường ở nước nhập khẩu. Khi thực hiện loại hoạt
động bán phá giá này, do biên độ dao động của nhu cầu tại nước nhập khẩu cao,
nghĩa là người dân có thể chấp nhận các mức giá khác nhau với hàng hóa cùng loại
có chất lượng khác nhau, nên nhà xuất khẩu vẫn có thể có lãi cho dù là bán hàng
hóa với mức bán phá giá.
- Nhóm bán phá giá theo chu kỳ hay bán phá giá tuần hoàn (Cyclical
dumping): động cơ của việc bán phá giá loại này là do chi phí cơ hội hay chi phí cận
biên để sản xuất hàng hóa thấp do đặc thù của hoạt động sản xuất. Nói một cách cụ
thể hơn, khi vào một thời kỳ sản xuất nào đó mà nhà máy đã vận hành gần hết công
suất và do đó, chi phí thêm để sản xuất thêm hàng hóa là rất thấp, nhà sản xuất sẽ có
khả năng xuất khẩu những hàng hóa được sản xuất thêm đó sang thị trường nước
khác với mức giá thấp mà vẫn có thể có lãi, ví dụ như ngành luyện thép trong thời
kỳ đang dôi dư hàng hóa .v.v.
- Nhóm bán phá giá trả đũa (Reciprocal dumping): Đây là nhóm các hoạt
động bán phá giá mới xảy ra trong những năm gần đây. Hoạt động này được thực
hiện khi một vài công ty cùng sản xuất một loại hàng hoá và cùng chiếm phần lớn
thị phần ở nước mình. Các công ty này đều muốn mở rộng thị trường sang nước
khác và vì thế bán phá giá hàng hóa. Tuy nhiên, giá bán vẫn cao hơn chi phí cận
biên và chi phí vận tải. Khi đó, đối thủ cạnh tranh ở nước nhập khẩu cũng muốn
cạnh tranh lại. Vì thế họ cũng bán hàng hóa theo cách tương tự ở nước xuất khẩu
ban đầu. Lúc này, thị trường hai nước giống như hai mảng thị trường ở một quốc
gia vậy và doanh nghiệp xuất khẩu của nước này bán phá giá để trả đũa hoạt động

16


bán phá giá của doanh nghiệp xuất khẩu của nước kia. Trường hợp này khá phổ
biến đối với ngành sản xuất các mặt hàng mới cho nền kinh tế thế giới, bởi vì khi đó
số lượng nhà sản xuất loại hàng hóa đó đang còn ít và dễ khống chế giá bán của
hàng hóa ở thị trường nội địa của mình.
- Nhóm bán phá giá chiến lược (strategic dumping): đây là những hoạt động
bán phá giá nhằm tới mục đích gây tổn hại cho các công ty cạnh tranh ở nước nhập
khẩu. Nhà xuất khẩu trong trường hợp này có xu hướng bán phá giá một cách có
chiến lược và dài hạn với hai yếu tố là bán giá thấp tại thị trường nhập khẩu đồng
thời ngăn cản nhà xuất khẩu của nước nhập khẩu thâm nhập thị trường của nước
xuất khẩu. Trường hợp này hay xảy ra đối với những công ty có quy mô thị phần
lớn ở nước xuất khẩu. Khi đã có những thị phần đủ lớn để khống chế thị trường của
nước mình thì các nhà xuất khẩu sẽ dễ dàng chiếm ưu thế cạnh tranh so với những
đối thủ đến từ các nước khác và qua đó dễ dàng không cho nhà xuất khẩu nước khác
thâm nhập thị trường nước mình. Hoạt động bán phá giá trong trường hợp này được
diễn ra trong một thời gian tương đối dài và có những bước đi thích hợp gây hại tới
sức cạnh tranh của những đối thủ cạnh tranh ở nước nhập khẩu.
- Nhóm bán phá giá nhằm tiêu diệt đối thủ cạnh tranh (predatory dumping
hay còn gọi là predatory pricing): đây là loại bán phá giá được quan tâm nhiều nhất
trong các nghiên cứu khoa học cũng như thực tiễn về bán phá giá. Marceau cho
rằng bán phá giá nhằm tiêu diệt đối thủ cạnh tranh (gọi tắt là bán phá giá tiêu diệt)
là bán hàng hóa xuất khẩu với mức giá thấp nhằm mục đích loại các đối thủ cạnh
tranh ra khái thị trường nhằm giành được vị trí thống lĩnh trên thị trường nước nhập
khẩu. Giá của hàng hóa trong trường hợp này thường thấp hơn cả chi phí sản xuất
theo một cách tính nào đó. Có ba loại chi phí thường được sử dụng nhiều nhất:
+ Chi phí thực tế (true economic costs): đây là các chi phí đã được sử dụng
để sản xuất ra hàng hóa, được tính theo các hóa đơn đầu vào của quá trình sản xuất.
+ Chi phí cơ hội (opportunity costs): đây là mức chi phí có được do cơ hội
đặc biệt tạo ra có thể do lạm phát cục bộ hoặc giá cả đầu vào một số nguyên vật liệu
chủ chốt giảm đột ngột .v.v.

17


+ Chi phí cận biên (marginal cost): đây là chi phí cần thêm để sản xuất ra
thêm một số lượng sản phẩm nào đó sau khi dây chuyền đã sản xuất được hết theo
mức hiện có. Ví dụ các chi phí đầu vào đã được xác định để sản xuất ra 500 sản
phẩm. Nhưng trên thực tế sau khi sản xuất xong 500 sản phẩm thì chỉ cần thêm một
số chi phí nhất định thêm vào là có thể sản xuất thêm 300 sản phẩm nữa cũng trên
dây chuyền đó. Trường hợp đó chi phí thêm vào kia được gọi là chi phí cận biên và
thường rất thấp vì thực tế những chi phí đầu tư để sản xuất ra 500 sản phẩm ban đầu
vẫn được sử dụng để sản xuất ra 300 sản phẩm sau.
Bán với mức giá thấp hơn chi phí có nghĩa là nhà sản xuất đã chấp nhận chịu
lỗ trong một thời gian dài để hy vọng sẽ có được lãi suất đủ lớn trong tương lai từ vị
trí thống lĩnh thị trường. Theo Trebilcock và Howse, bán phá giá tiêu diệt là việc
bán hàng hóa với giá thấp hơn chi phí một cách có hệ thống để đe doạ hoặc/và loại
bỏ đối thủ ra khái thị trường để rồi sau đó sẽ thu lại lợi nhuận bù đắp bằng cách đẩy
giá hàng hóa lên cao hơn mức bình thường nếu có tình trạng độc quyền. Theo Tổ
chức hợp tác phát triển kinh tế (OECD), bán phá giá tiêu diệt là một chiến lược dài
kỳ, thường là của một doanh nghiệp đã có vị trí thống lĩnh trong thị trường, nhằm
loại trừ các đối thủ cạnh tranh ra khái thị trường bằng cách áp giá bán hàng hóa rất
thấp hoặc thậm chí là dưới mức chi phí thay đổi trung bình (average variable cost).
Một khi doanh nghiệp này đã loại trừ được các đối thủ cạnh tranh hiện tại và ngăn
ngừa được các đối thủ mới muốn xâm nhập thị trường nó có thể sẽ nâng giá bán
hàng hóa và kiếm được lợi nhuận nhiều hơn thông thường.
Như vậy, bán phá giá tiêu diệt là một hình thức phức tạp của hành vi bán phá
giá. Cho dù là được nhìn nhận từ quan điểm nào thì nó cũng gồm có ba dấu hiệu.
Thứ nhất, doanh nghiệp bán giá hàng hóa tại thị trường nhập khẩu với mức giá rất
thấp và trong một khoảng thời gian đủ dài để cho thấy tính hệ thống. Thứ hai, việc
bán giá thấp đó nhằm mục tiêu loại trừ các đối thủ cạnh tranh ra khái thị trường và
ngăn ngừa đối thủ cạnh tranh mới vào thị trường. Như vậy, các đối thủ cạnh tranh bị
loại ra khái thị trường không phải vì lý do họ hoạt động không hiệu quả mà bởi vì
họ không thể có đủ tiềm lực để chạy đua chịu lỗ với doanh nghiệp bán phá giá tiêu

18


diệt. Thứ ba, doanh nghiệp bán phá giá tiêu diệt chấp nhận chịu lỗ cao khi bán hàng
hóa với hy vọng sẽ thu lại lợi nhuận đủ bù đắp khi sau này đã chiếm lĩnh được vị trí
độc quyền hoặc thống lĩnh toàn bộ thị trường. Trong ba dấu hiệu này, hai dấu hiệu
đầu tiên là quan trọng nhất và thường được dựng làm căn cứ để xác định xem đã có
hành vi bán phá giá tiêu diệt xảy ra hay chưa. Dấu hiệu thứ ba liên quan đến ý chí
chủ quan của doanh nghiệp và rất khó có bằng chứng cụ thể để xác định. Nó chỉ
được coi là dấu hiệu phái sinh vì thường được suy diễn từ hai dấu hiệu trước, bởi vì
nếu căn cứ vào động cơ lợi nhuận thì sẽ là vô nghĩa nếu doanh nghiệp cứ bán hàng
hóa với giá thấp hơn chi phí để chịu lỗ mà không hy vọng vào cơ hội bù đắp bằng
lãi sau này. Chính vì thế nếu mức giá chịu lỗ càng thấp hơn mức chi phí sản xuất
thấp nhất và việc bán giá kiểu này tiến hành trong một thời gian dài hoặc có hệ
thống thì dấu hiệu thứ ba cũng như hành vi bán phá giá tiêu diệt càng được coi là rõ
ràng.
1.1.5. Tác động của bán phá giá
Với những phân tích trên đây, có thể thấy tác động tới nền kinh tế của cả
nước nhập khẩu và nước xuất khẩu của các loại hình bán phá giá là tương đối rõ
ràng trên một số lĩnh vực.

1.5.1.1. Đối với nền kinh tế nước nhập khẩu
Tác động ngay lập tức từ các hàng hoá được nhập khẩu với giá rẻ vào thị
trường nước nhập khẩu, những loại hàng hoá đó sẽ làm cho mặt bằng giá cả trên thị
trường nói chung có xu hướng giảm đi. Điều này trước tiên sẽ có lợi cho người tiêu
dựng bởi họ sẽ có được cơ hội mua được hàng hoá cùng loại với giá rẻ hơn mức giá
trước đó. Tổng nguồn cung hàng từ phía các nhà sản xuất nội địa sẽ có xu hướng
giảm đi do một phần thị trường nhất định đã bị hàng hóa nhập khẩu chiếm lĩnh. Tuy
nhiên, tổng nguồn cung hàng trên thị trường thì chưa chắc đã giảm đi mà có thể nói
có xu hương tăng lên với nguồn cung bên ngoài.

19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×