Tải bản đầy đủ

Khởi kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại từ thực tiễn thực hiện tại các toà án trên địa bàn thành phố hải phòng

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
------------------------

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

KHỞI KIỆN, THỤ LÝ TRANH CHẤP VỀ KINH DOANH
THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÁC TOÀ
ÁN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

ĐINH NAM VƯƠNG

HÀ NỘI – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
------------------------


LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHỞI KIỆN, THỤ LÝ TRANH CHẤP VỀ KINH DOANH
THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI CÁC TOÀ
ÁN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

ĐINH NAM VƯƠNG
Chuyên ngành: Luật kinh tế
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. TRẦN ANH TUẤN

HÀ NỘI – 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
công bố trong bất kì công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan rằng, các thông tin trích dẫn trong luận văn đều
được chỉ rõ nguồn gốc./.
Tác giả luận văn

Đinh Nam Vương

i


LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình làm luận văn với những kiến thức đã được học, tham
khảo tài liệu và tình hình thực tế, cùng với sự giúp đỡ của giáo viên hướng
dẫn TS…, sự giúp đỡ, chỉ bảo của các thầy giáo, cô giáo tại Viện Đại học Mở
Hà Nội và các bạn bè đồng nghiệp, tôi đã hoàn thành luận văn của mình.
Lời đầu tiên tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành, sâu sắc tới thầy/cô giáo
- TS…. là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng dẫn cho tôi
cả chuyên môn và phương pháp nghiên cứu và chỉ bảo cho tôi nhiều kinh
nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo Viện Đại học Mở Hà Nội
và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình hoàn
thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều
kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn.


Học viên

Đinh Nam Vương

ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, HÌNH
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHỞI KIỆN, THỤ LÝ TRANH
CHẤP VỀ KINH DOANH THƯƠNG MẠI ................................................ 7
1.1. Tranh chấp kinh doanh thương mại .....................................................7
1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại ............................... 7
1.1.2. Đặc điểm pháp lý của tranh chấp kinh doanh thương mại .............. 9
1.1.3. Các loại tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định của Bộ
Luật tố tụng dân sự .................................................................................. 9
1.2. Khởi kiện tranh chấp kinh doanh thương mại ................................... 10
1.2.1. Khái niệm khởi kiện vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại ... 11
1.2.2. Đặc điểm của khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại .... 14
1.3. Thụ lý vụ án tranh chấp về kinh doanh thương mại.......................... 23
1.3.1. Khái niệm thụ lý vụ án tranh chấp về kinh doanh thương mại ..... 23
1.3.2. Đặc điểm thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại ................ 27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KHỞI KIỆN, THỤ LÝ GIẢI QUYẾT
CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI CÁC TOÀ
ÁN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ................................................................ 39
2.1. Tổng quan tình hình tranh chấp kinh doanh, thương mại trên địa
bàn thành phố Hải Phòng ........................................................................... 39
2.1.1. Giới thiệu về thành phố Hải Phòng ............................................. 39
2.1.2. Tình hình phát sinh tranh chấp kinh doanh, thương mại trên địa
bàn thành phố Hải Phòng ...................................................................... 42
iii


2.1.3. Nguyên nhân phát sinh tranh chấp kinh doanh, thương mại trên địa
bàn thành phố Hải Phòng ...................................................................... 43
2.2. Thực trạng khởi kiện, thụ lý giải quyết tranh chấp kinh doanh,
thương mại trên địa bàn thành phố Hải Phòng ........................................ 50
2.3. Đánh giá chung về ưu khuyết điểm trong hoạt động khởi kiện, thụ lý
tranh chấp kinh doanh, thương mại tại các tòa án thành phố Hải Phòng...63
2.3.1. Những điểm đạt được ................................................................. 63
2.3.2. Một số hạn chế và nguyên nhân của hạn chế ............................... 64
CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT TỐ TỤNG TRONG KHỞI
KIỆN, THỤ LÝ TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TẠI
CÁC TÒA ÁN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG ................ 66
3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại tại các toà án trên địa bàn thành phố Hải Phòng hiện nay. .66
3.1.1. Về phương diện pháp luật ............................................................ 66
3.1.2. Về các phương diện khác ............................................................. 74
3.2. Kiến nghị và đề xuất với Nhà nước và Bộ Tư pháp ...........................80
KẾT LUẬN ................................................................................................. 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................ 108

iv


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT

Ký hiệu

Nguyên nghĩa

1

BLDS

: Bộ luật dân sự

2

BLTTDS

: Bộ luật tố tụng dân sự

3

KDTM

: Kinh doanh thương mại

4

TA

: Tòa án

5

NN

: Nhà nước

6

KD

: Kinh doanh

7

TM

: Thương mại

8

UBND

: Ủy ban nhân dân

9

XHCN

: Xã hội chủ nghĩa

10

TP

: Thành phố

v


DANH MỤC BẢNG, HÌNH
BẢNG
Bảng 2.1:

Số lượng tranh chấp thương mại nộp đơn khởi kiện trên
địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2012 – 2016 .....51

Bảng 2.2:

Số lượng đơn khởi kiện gửi tới tòa án theo các hình thức .......53

Bảng 2.3:

Tổng số tranh chấp kinh doanh thương mại được thụ lý trên địa
bàn thành phố Hải Phòng trong thời gian qua .........................55

HÌNH
Hình 2.1:

Số lượng tranh chấp thương mại nộp đơn khởi kiện trên
địa bàn thành phố Hải Phòng giai đoạn 2012 – 2016 .....52

vi


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Kinh doanh thương mại là một quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực mà tất cả
các chủ thể khi tham gia bằng cách này hay cách khác, nhưng đều hướng đến
một mục tiêu chung là lợi nhuận. Tranh chấp kinh doanh thương mại là điều
các chủ thể khi tham gia quan hệ này không hề mong muốn, tuy nhiên nó là
một thực tế khách quan buộc các bên phải chấp nhận như một phần của cuộc
chơi. Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại là điều rất quan trọng, bởi
vì nó ảnh hưởng đến lợi ích của các chủ thể khi tham gia vào mối quan hệ
này. Pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh doanh thương mại thuộc nhóm
luật tư, do đó nó dựa trên phương pháp điều chỉnh đặc trưng của hệ thống luật
tư là phương pháp tự do thỏa thuận, ý chí, và bình đẳng giữa các bên tham gia
các quan hệ pháp luật, trong đó nguyên tắc tự định đoạt là một trong những
nguyên tắc cơ bản, mang tính cốt lõi.
Pháp luật Việt Nam hiện hành ghi nhận nguyên tắc này trong Hiến
pháp và các văn bản Luật như Luật thương mại, Bộ luật tố tụng dân sự hay
Luật Trọng tài thương mại. Tuy nhiên, đã qua nhiều lần thay thế văn bản
nhưng những quy định về việc đảm bảo và tôn trọng nguyên tắc này vẫn còn
chưa được chi tiết, cụ thể và vẫn còn thiếu. Điều này dẫn tới còn có nhiều
những bất cập, có thể dẫn ra một số nội dung sau đây:
- Pháp luật hiện nay quy định chưa rõ ràng, cụ thể và chi tiết về việc
cách thức áp dụng, quy định hiện hay chế tài tài bắt buộc tôn trọng nguyên tắc
trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại các tòa án.
- Về việc tôn trọng tự do thỏa thuận trong việc lựa chọn phương thức
giải quyết; và tôn trọng những thỏa thuận giải quyết đã được các bên thống
nhất và đề ra trước khi đưa ra cơ quan tài phán không được pháp luật qui định
và ghi nhận, cũng như đảm bảo thực hiện một cách nghiêm túc.
1


- Còn có những qui định thiếu hợp lý, mâu thuẫn và vi phạm quyền
quyết định của các chủ thể.
- Còn có sự can thiệp quá sâu của các thủ tục tố tụng cũng như việc tòa
án giải quyết vượt quá yêu cầu của các đương sự trong vụ án tranh chấp liên
quan đến kinh doanh thương mại được giải quyết tại tòa án. Đây không chỉ là
vi phạm nguyên tắc tự định đoạt mà còn vi phạm nguyên tắc tự do kinh doanh
theo quy định của Hiến pháp.
Ý thức sâu sắc được những bất cập và hạn chế đó tôi lựa chọn đề tài
“Khởi kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh, thương mại từ thực tiễn thực
hiện tại các tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng” làm luận văn tốt
nghiệp chương trình Cao học Thạc sĩ Luật kinh tế của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong góc độ lý luận và thực tiễn pháp luật về giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại luôn được sự quan tâm và đầu tư nghiên cứu của
nhiều tác giả. Nhiều người làm công tác giảng dạy và nghiên cứu luôn tìm tòi,
sáng tạo và có những công trình khoa học về vấn đề này. Có thể kể đến một
số các công trình nghiên cứu sau đây:
“Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự trong thủ tục
giải quyết các vụ án kinh tế”, Khóa luận tốt nghiệp/Trần Anh Hoài; Người
hướng dẫn: TS. Nguyễn Thái Phúc, TP. HCM năm 2002; “Quyền tự định đoạt
của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam năm 2004”,
Khoa Luật – ĐHQGHN, Luận văn Thạc sĩ ngành Luật dân sự, mã số 60 38
30/ Nguyễn Phương Hạnh. TS. Nguyễn Công Bình hướng dẫn, Hà Nội năm
2011; “Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam”, ĐH
Luật TP. HCM, Luận văn Thạc sĩ Luật dân sự, mã số 60 38 01 03/ Đinh Kim
Huệ, TS. Nguyễn Văn Cường hướng dẫn, TP. HCM năm 2007; “Hợp đồng
điều đình trong giải quyết tranh chấp thương mại ở Việt Nam”, Khóa luận tốt
nghiệp/ Lê Văn Luân. TS. Ngô Huy Cương hướng dẫn - Hà Nội 2010; “Giải
2


quyết tranh chấp thương mại bằng thương lượng”, Khóa luận tốt nghiệp/ Ngô
Thế Lập. TS. Ngô Huy Cương hướng dẫn - Hà Nội năm 2009; “Bản án dân
sự sơ thẩm với nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự”, Trần Minh
Tiến, Tạp chí nghề Luật, số 5/2006; “Những nguyên tắc tố tụng đặc trưng
trong Bộ luật tố tụng dân sự”, Nguyễn Ngọc Khánh, Tạp chí kiểm sát, số
1/2005, tr.19-23; “Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong Bộ luật
tố tụng dân sự”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5/2005, tr. 64 - 66….
Tuy nhiên những đề tài, bài báo và các công trình khoa học nói trên chỉ
mới phân tích và làm rõ nguyên tắc tự định đoạt của đương sự trong Bộ luật tố
tụng dân sự, hoặc có đi vào việc áp dụng nguyên tắc tự định đoạt để giải quyết
tranh chấp kinh doanh thương mại nhưng dựa trên các chế định pháp luật cũ, các
văn bản pháp luật đã lạc hậu và hết hiệu lực, bị thay thế các văn bản pháp luật
mới hiện hành. Kể từ khi Bộ luật tố tụng dân sự, Luật thương mại và Luật trọng
tài thương mại ra đời đến nay đây chưa có một một đề tài nào trực tiếp nghiên
cứu và đi sâu vào nội dung “Khởi kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh, thương
mại từ thực tiễn thực hiện tại các tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng”.
Chính vì điều đó mà tôi chọn đề tài này để làm luận văn thạc sĩ Luật học chuyên
ngành Luật Kinh tế của mình, với mong muốn làm sáng tỏ những điểm hạn chế
về việc áp dụng khởi kiện, thụ lý trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh
doanh thương mại ở các tòa án của thành phố Hải phòng hiện nay, nghiên cứu
kỹ những quy định mới về chế định áp dụng khởi kiện, thụ lý trong giải quyết
tranh chấp kinh doanh thương mại để từ đó đề xuất một vài giải pháp nhằm hoàn
thiện pháp luật tố tụng giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam
trong lĩnh vực này, và đưa nó được áp dụng một cách triệt để vào cuộc sống.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu để đạt được những mục đích cơ bản sau:
Trên cơ sở nghiên cứu một cách có hệ thống các cơ sở lý luận về khởi
3


kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại, phân tích thực trạng quy
định của pháp luật, thực tiễn thực thi việc áp dụng khởi kiện, thụ lý vào giải
quyết tranh chấp kinh doanh thương mại trên địa bàn thành phố Hải Phòng
và đánh giá thực trạng áp dụng nguyên tắc đó để giải quyết các vụ việc tranh
chấp trong thực tế. Việc ghi nhận và tôn trọng pháp luật trong giải quyết
tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án. Từ đó kiến nghị đưa ra các giải
pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng trong khởi kiện, thụ lý tranh chấp kinh
doanh thương mại tại tòa án.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu tổng quát trên, luận văn đưa ra những mục
tiêu cụ thể như sau:
Thứ nhất, làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản, bản chất, đặc điểm và
nguyên tắc cơ bản trong khởi kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại.
Thứ hai, nghiên cứu thực trạng khởi kiện, thụ lý giải quyết các tranh
chấp kinh doanh thương mại tại các tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng
trong thời gian qua.
Thứ ba, kiến nghị và đề xuất các giải pháp cụ thể mang tính luật định
nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng trong khởi kiện, thụ lý giải quyết tranh
chấp kinh doanh thương mại tại các tòa án hiện nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định hiện hành của pháp
luật Việt Nam về việc khởi kiện, thụ lý giải quyết tranh chấp kinh doanh
thương mại tại các tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài
- Về nội dung: đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận, khía cạnh pháp lý và
thực tiễn khởi kiện, thụ lý giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh
thương mại tại các tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
4


- Về không gian: đề tài nghiên cứu thực tiễn tại các tòa án trên địa bàn
thành phố Hải Phòng trong việc nhận khởi kiện, thụ lý giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại.
- Về thời gian: đề tài tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian từ
năm 2014 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Phương pháp luận: đề tài được nghiên cứu trên cơ sở các quan điểm
của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật mà chủ yếu là trên cơ sở
quan điểm duy vật và phép biện chứng.
Phương pháp cụ thể: các phương pháp nghiên cứu cụ thể đó là thống
kê, phân tích, tổng hợp, so sánh các văn bản quy phạm pháp luật, các vụ việc
trong thực tiến giải quyết tranh chấp.
6. Những điểm mới về khoa học của luận văn
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên ở cấp thạc sĩ Luật học đề cập
đến vấn đề nghiên cứu các lý luận và thực tiễn tại các tòa án trên địa bàn một
địa phương cụ thể như thành phố Hải Phòng trong việc nhận khởi kiện, thu lý
giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại nên có những điểm mới khoa
học như sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa các khái niệm, đặc điểm, làm rõ bản chất pháp
lý và ý nghĩa pháp luật trong khởi kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh
thương mại.
Thứ hai, đối chiếu các quy định của pháp luật hiện hành, thực tiễn áp
dụng và nhu cầu thực tế đối với việc khởi kiện, thụ lý giải quyết tranh chấp
kinh doanh thương mại tại các tòa án trên địa bàn thành phố Hải Phòng, từ
đó phân tích, làm rõ những mặt ưu, nhược điểm trong khởi kiện, thụ lý
tranh chấp về kinh doanh thương mại tại các tòa án trên địa bàn thành phố
Hải Phòng.
5


Thứ ba, từ nghiên cứu lý luận cũng như thực tiễn pháp luật, từ đó đề
xuất được một số kiến nghị về hướng sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về khởi
kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh thương mại ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu làm 3 chương như sau:
Chương 1. Cơ sở lý luận về khởi kiện, thụ lý tranh chấp về kinh doanh
thương mại.
Chương 2. Thực trạng khởi kiện, thụ lý tranh chấp kinh doanh thương
mại tại các toà án trên địa bàn thành phố Hải Phòng.
Chương 3. Hoàn thiện pháp luật tố tụng về khởi kiện, thụ lý tranh chấp về
kinh doanh thương mại tại các toà án trên địa bàn thành phố Hải Phòng.

6


CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHỞI KIỆN, THỤ LÝ TRANH
CHẤP VỀ KINH DOANH THƯƠNG MẠI

1.1. Tranh chấp kinh doanh thương mại
1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại
Theo triết học Mác – Lê nin, mâu thuẫn là quy luật chung của xã hội,
là nguồn gốc, là động lực của sự phát triển. Mâu thuẫn luôn luôn tồn tại
như một tất yếu tự nhiên trên mọi lĩnh vực của xã hội, tạo nên sự phát triển
của xã hội. Tranh chấp là những xung đột thường phát sinh từ những mẫu
thuẫn và từ những lợi ích riêng. Tuy nhiên, mâu thuẫn và tranh chấp lại tạo
nên những phát triển của xã hội, góp phần xây dựng xã hội ngày càng hiện
đại, văn minh. Theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt: “Tranh chấp là đấu
tranh, giằng co khi có mâu thuẫn, bất đồng, thường là những trong vấn đề
quyền lực giữa hai bên”.
Tranh chấp kinh doanh thương mại (KDTM) được hiểu là những tranh
chấp trong lĩnh vực kinh doanh và thương mại, cụ thể:
Theo quy định tại khoản 16 điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014: “
Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn
của quá trình, đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch
vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Theo quy định tại khoản 1 điều 3 Luật Thương mại năm 2005: “Hoạt
động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán
hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động
nhằm mục đích sinh lợi khác”.
Như vậy, cả hai hoạt động kinh doanh và thương mại nêu trên có cùng
nội hàm về việc các chủ thể kinh doanh cùng hoạt động đầu tư, kinh doanh,
cung ứng các dịch vụ,… nhằm mục đích sinh lợi. Do đó, hai hoạt động này đã
7


được Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 không dùng khái niệm “tranh chấp về
hợp đồng kinh tế” như Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế mà dùng khái
niệm “tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại” và đã liệt kê đầy
đủ hơn các hành vi kinh doanh, thương mại nào có tranh chấp thì thuộc thẩm
quyền của toà án nhân dân.
Có thể nhận thấy rằng, khái niệm tranh chấp KDTM thực chất là những
mâu thuẫn phát sinh từ việc các chủ thể kinh doanh có sự bất đồng đến mức
trái ngược nhau trong hoạt động kinh doanh, đầu tư, cung ứng dịch vụ,… gọi
chung là hoạt động KDTM.
Cách định nghĩa này, mặc dù còn nhiều hạn chế song cũng đã chỉ ra
được bản chất của tranh chấp KDTM là mâu thuẫn, xung đột về những lợi ích
phát sinh khi tham gia các hoạt động KDTM. Tuy nhiên, phạm vi giữa mâu
thuẫn, xung đột và tranh chấp là khác nhau, chỉ khi nào mâu thuẫn và xung
đột lớn đến mức không thể điều hoà thì tranh chấp mới xảy ra.
Ngoài các định nghĩa trên, về tranh chấp KDTM thì giáo trình Luật
Thương mại, tập 2 của trường Đại học Luật Hà Nội cũng đưa ra quan điểm về
tranh chấp thương mại: “Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất
đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực
hiện các hoạt động thương mại.
Từ những phân tích trên, có thể thấy hiện nay, vẫn chưa đưa được cách
hiểu thống nhất, đặc biệt là chưa có văn bản pháp lý nào quy định cụ thể khái
niệm tranh chấp kinh doanh thương mại mà mới chỉ dừng lại ở vấn đề quan
điểm của một số tác giả trên cơ sở tiếp cận nó thông qua Luật Thương mại và
Luật tố tụng dân sự.
Tóm lại, có thể hiểu khái niệm tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn,
bất đồng giữa các chủ thể phát sinh trong việc thực hiện các hoạt động có liên
quan đến lĩnh vực kinh doanh, đầu tư và thương mại. Và có thể định nghĩa
một cách ngắn gọn đối với tranh chấp KDTM như sau: “Tranh chấp KDTM là
8


những mâu thuẫn, bất đồng hay xung đột về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các
chủ thể tham gia các quá trình của hoạt động KDTM”.
1.1.2. Đặc điểm pháp lý của tranh chấp kinh doanh thương mại
Từ những phân tích về cách hiểu của nội hàm tranh chấp KDTM như
trên, có thể cho thấy tranh chấp KDTM là các tranh chấp bao hàm các đặc
điểm pháp lý sau:
- Chủ thể trong tranh chấp KDTM là các chủ thể tham gia hoạt động
KDTM là các chủ thể tham gia toàn bộ quá trình từ lao động sản xuất đến tiêu
thụ sản phẩm cung ứng các dịch vụ trên thị trường, các hoạt động xúc tiến,
đầu tư thương mại, cung ứng dịch vụ trên thị trường và các hoạt động khác
với mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Do đó, trên thực tế chủ thể của tranh chấp
KDTM có thể là thương nhân hoặc các nhà đầu tư khác.
- Tranh chấp KDTM là tranh chấp xảy ra trong quá trình thực hiện các
hoạt động KDTM giữa các chủ thể, khi ít nhất một bên cho là quyền và nghĩa
vụ hợp pháp của mình bị bên kia xâm phạm và yêu cầu phải được giải quyết.
- Tranh chấp KDTM phải là những tranh chấp phát sinh trong hợp đồng
đã cam kết giữa các bên (hợp đồng thương maih, góp vốn thành lập công ty,
mua bán chứng khoán,…).
1.1.3. Các loại tranh chấp kinh doanh thương mại theo quy định
của Bộ Luật tố tụng dân sự
Tại điều 30, Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 đã liệt kê các tranh chấp
về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của toà án, theo đó có
các loại tranh chấp KDTM bao gồm năm nhóm việc như sau:
- Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá
nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá
nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận.
- Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao
dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.
9


- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp
giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành
viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa
các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động,
giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển
đổi hình thức tổ chức của công ty.
- Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc
thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.
1.2. Khởi kiện tranh chấp kinh doanh thương mại
Có thể nhận thấy, mối quan hệ trong hoạt động KDTM vừa mang tính
xung đột vừa hợp tác. Vì thế, khi xảy ra tranh chấp các bên luôn tìm cách
nhanh chóng để giải quyết các xung đột, mâu thuẫn này để sớm đưa hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình trở lại bình thường ổn định. Do đó, việc
giải quyết tranh chấp KDTM đòi hỏi các bên tranh chấp cũng như cơ quan
giải quyết tranh chấp phải tiến hành nhanh chóng, kín đáo, không làm ảnh
hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh của các bên đồng thời phải luôn đảm
bảo được sự hợp tác trong hoạt động KDTM.
Khi xảy ra tranh chấp các bên có quyền tự lựa chọn phương thức giải
quyết tranh chấp của mình bằng các con đường khác nhau. Trên thực tế tranh
chấp KDTM có thể được giải quyết bằng toà án hoặc các phương thức khác
ngoài toà án. Pháp luật giải quyết tranh chấp KDTM quy định đối với các
phương thức giải quyết tranh chấp KDTM nói trên về trình tự, thủ tục và các
nội dung khác đảm bảo quá trình giải quyết tranh chấp KDTM theo quy trình,
đảm bảo tính pháp lý.
- Đối với các phương thức giải quyết tranh chấp KDTM như hoà giải,
thương lượng chỉ cần các bên có thiện chí giải quyết, pháp luật chưa có quy
định về thủ tục giải quyết tranh chấp KDTM bằng phương thức này nhưng
trong các phương thức giải quyết khác mà pháp luật có quy định về trình tự
10


thủ tục đều khuyến khích các bên tiến hành hoà giải hoặc thương lượng trước
khi buộc phải tiến hành các thủ tục khác.
- Trong trường hợp lựa chọn toà án là cơ quan giải quyết tranh chấp
KDTM thì các bên phải tuân thủ triệt để nghiêm ngặt, chặt chẽ các quy định
của pháp luật về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp được quy định tại Bộ
Luật tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành bộ luật này.
Mặc dù tranh chấp KDTM có thể được giải quyết bằng nhiêu phương
thức khác nhau như thương lượng, hoà giải hoặc bằng con đường toà án hoặc
bằng các cơ quan khác ngoài toà án nhưng tác giả chỉ tập trung đi sâu phân
tích các vấn đề có liên quan đến nội dung giải quyết tranh chấp KDTM thông
qua thủ tục tố tụng tại toà án đặc biệt tập trung vào khởi kiện và thụ lý tranh
chấp về kinh doanh thương mại đã trình bày ở phần đối tượng và phạm vi
nghiên cứu trong luận văn.
1.2.1. Khái niệm khởi kiện vụ án tranh chấp kinh doanh thương mại
Trước năm 1959, trong một số văn bản pháp luật như Sắc lệnh số
51/SL ngày 17/4/1946 về xác định thẩm quyền xét xử về dân sự và thương sự
của Toà án sơ cấp, Sắc lệnh số 85 ngày 22/5/1950 về cải cách bộ máy tư pháp
và tố tụng... thuật ngữ vụ kiện dân sự được sử dụng để chỉ những tranh chấp
dân sự có yêu cầu Toà án giải quyết. Đến năm 1959, khi mà Hiến pháp 1959
ra đời, thuật ngữ vụ kiện trước đây được thay thế bằng thuật ngữ vụ án, cụ thể
theo Điều 1 Luật tổ chức Toà án nhân dân năm 1960 quy định “Toà án nhân
dân xét xử những vụ án hình sự và dân sự...”. Khái niệm vụ án dân sự ở đây
được dùng để chỉ những vụ kiện dân sự và cả những việc dân sự đặc biệt –
bao gồm cả những việc trong đó có tranh chấp hay không có tranh chấp về
quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Đến những năm 1990, các vấn đề phát sinh từ các mối quan hệ dân sự
đều được giải quyết thông qua các Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân
sự 1989, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, Pháp lệnh thủ tục giải
11


quyết các tranh chấp lao động. Thuật ngữ vụ án dân sự là tiếp tục được kế
thừa sử dụng trong các văn bản pháp luật này. Theo đó, thủ tục để giải quyết
các vấn đề phát sinh căn cứ vào loại quan hệ cụ thể, thủ tục tố tụng dân sự
giải quyết cho quan hệ dân sự, thủ tục tố tụng kinh tế giải quyết cho các quan
hệ kinh tế, kinh doanh thương mại; và thủ tục tố tụng lao động giải quyết cho
các quan hệ lao độngchứ không căn cứ vào việc vụ việc đó có tranh chấp hay
không. Hay nói cách khác, theo các Pháp lệnh nói trên, khi các đương sự có
nhu cầu đưa các vụ việc dân sự, kinh tế, lao động để giải quyết theo thủ tục tố
tụng thì tất cả các vụ việc, tranh chấp hay không tranh chấp vẫn được gọi
chung là vụ án.
Thực tiễn giải quyết các loại việc về dân sự, kinh tế, lao động... cho
thấy nếu áp dụng một thủ tục tố tụng chung với những trình tự nghiêm ngặt
như nhau, thông qua phiên toà với những thủ tục như thẩm vấn, tranh luận,
đối chất... cho một số loại việc không có tranh chấp, chỉ đơn giản là việc xác
nhận một sự kiện pháp lý nào đó... thì lại dẫn đến sự rườm rà, kéo dài việc
giải quyết, gây mất thời gian vừa gây tốn kém cho công dân và Nhà nước,
không bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự.
Vì vậy, khi cho soạn thảo BLTTDS 2004, nhà làm luật đã xây dựng hai
loại thủ tục riêng biệt là thủ tục giải quyết các vụ án dân sự có tranh chấp và
thủ tục giải quyết việc dân sự không có tranh chấp. Theo đó, lần đầu tiên khái
niệm vụ việc dân sự và việc dân sự đã được BLTTDS ghi nhận chính thức.
Khái niệm vụ việc dân sự đã thay thế cho khái niệm vụ án dân sự trước đây,
còn hiện tại, nếu các cá nhân, cơ quan tổ chức có tranh chấp về quyền và
nghĩa vụ thì gọi là vụ án dân sự, nếu cơ quan cá nhân tổ chức không có tranh
chấp về quyền và nghĩa vụ nhưng có yêu cầu Toà án công nhận cho mình
quyền về dân sự thì là việc dân sự. Có thể nói, từ thời điểm này khái niệm vụ
án dân sự không còn nội hàm bao rộng như trước nữa, bao gồm cả các tranh
chấp và yêu cầu mà chỉ bao hàm các tranh chấp về dân sự, các yêu cầu về dân
12


sự đã được tách ra thành một khái niệm riêng biệt. Tuy xét về góc độ nội hàm
thì khái niệm vụ án dân sự đã bị thu hẹp lại, nhưng xét về mặt phạm vi thì
khái niệm này lại được mở rộng ra thêm rất nhiều bởi lúc này vụ án dân sự
bao gồm các tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương
mại và lao động.
Nhà nướcTrong trường hợp cần yêu cầu Toàán bảo vệ quyền lợihay
công nhận các quyền của mình thì chủ thể cóthể khởi kiện hoặc yêu cầu
Toàán giải quyết. Theo quy định tại Điều 14 Hiến pháp 2013 thì “Ở nước
Cộng hoà XHCN Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh
tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và
được quy định trong Hiến pháp và luật”. Trong đó quyền dân sự có ý nghĩa
rất quan trọng. Theo đó các chủ thể có quyền thực hiện các hành vi như lao
động, sản xuất kinh doanh, tham gia vào các giao dịch dân sự…theo quy
định của pháp luật nhằm thỏa mãn lợi ích của mình, tạo ra của cải vật chất
phục vụ cho nhu cầu của bản thân và xã hội. Khi quyền và lợi ích của họ bị
xâm phạm hay tranh chấp thì họ có quyền thực hiện những biện pháp mà
pháp luật cho phép để bảo vệ và một trong những biện pháp đó chính là
khởi kiện VADS.
Về nguyên tắc, chỉ có cá nhân, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền
hạn của mình có lợi ích bị xâm phạm mới có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa
án bảo vệ quyền lợi của mình. Pháp luật cũng quy định các trường hợp khởi
kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích
công cộng và lợi ích của Nhà nước. Điều 162 BLTTDS sửa đổi xác định
những chủ thể cóquyền khởi kiện mặc dù không có quyền lợi tranh chấp hay
vi phạm. Đó là:
- Cơ quan về dân số, gia đình và trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ trong
phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn
nhân và gia đình trong trường hợp do Luật hôn nhân và gia đình quy định;
13


- Công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở có quyền khởi kiện vụ án lao
động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể
người lao động do pháp luật quy định;
- Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có
quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi
ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách.
- Ngoài ra theo quy định của BLDS, hộ gia đình, tổ hợp tác là các chủ
thể đặc biệt của quan hệ pháp luật dân sự, vì vậy khi tham gia các quan hệ dân
sự nếu xảy ra tranh chấp các chủ thể này cũng có quyền yêu cầu Tòa án bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Như vậy, khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại là việc cá
nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật
TTDS nộp đơn yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của mình hay của người khác, bảo vệ lợi ích công cộng và lợi ích Nhà
nước trong trường hợp lợi ích đó đang bị xâm phạm hay có tranh chấp với
chủ thể khác.
Khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại vụ là hoạt động đầu
tiên của tố tụng dân sự, là hành vi tố tụng đầu tiên của nguyên đơn làm phát
sinh các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự. Việc thực hiện quyền khởi kiện
tranh chấp về kinh doanh thương mại thể hiện bằng việc nguyên đơn nộp đơn
yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án, được xác định là sự kiện thực tế có ý nghĩa
pháp lý làm phát sinh quá trình tố tụng. Khởi kiện tranh chấp về kinh doanh
thương mại là giai đoạn đầu tiên để bắt đầu thủ tục tố tụng.
1.2.2. Đặc điểm của khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại
Khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại được xem là “Công cụ
hữu hiệu nhất trong toàn bộ các phương thức khác nhau mà xã hội và Nhà
nước dùng để giải quyết các tranh chấp và mâu thuẫn lợi ích ” [4,390]. Hoạt
động khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại có những đặc điểm sau:
14


- Khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại được pháp luật ghi
nhận là hoạt động bảo vệ quyền dân sự của chủ thể có quyền hay lợi ích hợp
pháp bị xâm phạm. Cụ thể khởi kiện được pháp luật ghi nhận dưới dạng
quyền khởi kiện tại Điều 161 BLTTDS, theo đó cá nhân, cơ quan, tổ chức có
quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện VADS (sau
đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo
vệ quyền hay lợi ích hợp pháp của mình. Xuất phát từ yêu cầu của việc cần
đảm bảo quyền con người, khi quyền hay lợi ích bị xâm phạm chủ thể có
quyền cần phải có một công cụ để bảo vệ lợi ích của mình hoặc của người
khác mà phương pháp hiệu quả nhất chính là nhờ vào quyền lực cũng như sự
công minh của Nhà nước và pháp luật thông qua việc làm đơn khởi kiện. Việc
làm đơn khởi kiện là bước đầu tiên trong hoạt động khởi kiện, từ việc làm đơn
gửi Tòa án sẽ phát sinh những thủ tục tố tụng tiếp theo như đơn khởi kiện
được Tòa án thụ lý hay không thụ lý, nếu đơn được chấp nhận Tòa án sẽ ra
các quyết định tố tụng khác để giải quyết vụ án…Chính vì vậy, khởi kiện
được coi là hoạt động không thể thiếu để làm phát sinh vụ án dân sự.
- Khởi kiện là hoạt động do các chủ thể có quyền lợi hoặc được pháp
luật trao quyền thực hiện theo quy định của pháp luật nội dung và pháp luật tố
tụng quy định. Các hoạt động khác do các cơ quan tố tụng thực hiện ví dụ:
Tòa án thực hiện việc thụ lý, việc chuẩn bị xét xử, hòa giải, phiên tòa, Chi cục
thi hành án dân sự thực hiện việc thu tạm ứng án phí, lệ phí….Trừ các trường
hợp đặc biệt mà pháp luật có quy định thì chủ thể có quyền khởi kiện thường
là chủ thể của các quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh
thương mại có tranh chấp.
- Khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại là tiền đề cho các
hoạt động tố tụng tiếp theo trong quá trình giải quyết tranh chấp về kinh
doanh thương mại. Khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại được thực
hiện ở thời điểm trước khi Tòa án thụ lý vụ án. Hoạt động ngay sau việc nộp
15


đơn khởi kiện là hoạt động xem xét đơn khởi kiện. Tòa án sau khi nhận đơn
khởi kiện sẽ xem xét đơn và trong thời hạn luật định phải ra một trong các
quyết định thụ lý nếu thuộc thẩm quyền; chuyển đơn nếu không thuộc thẩm
quyền và trả lại đơn. Khởi kiện chính là hành vi đầu tiên của cá nhân, pháp
nhân và các chủ thể khác nhau tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng dân sự,
là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng dân sự.
- Khởi kiện tranh chấp về kinh doanh thương mại là hoạt động trong đó
các đương sự được tự do định đoạt, theo đó các nhân, cơ quan, tổ chức và các
chủ thể khác có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại có quyền thực hiện hoặc
không thực hiện hoạt động khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án có thẩm
quyền buộc người có hành vi xâm phạm quyền dân sự phải chấm dứt hành vi
vi phạm, bồi thường thiệt hại hoặc theo thỏa thuận của các bên. Đây là đặc
điểm đặc trưng của hoạt động này. Việc khởi kiện được thực hiện trên cơ sở
tự nguyện và quyền tự do của cá nhân, đồng thời pháp luật cũng ghi nhận việc
tự định đoạt và tự thỏa thuận của các chủ thể. Điều này xuất phát từ bản chất
dân sự của hoạt động kinh doanh thương mại nên trong tố tụng dân sự thì các
đương sự có quyền tự định đoạt về việc bảo vệ quyền lợi của mình. Các
đương sự được tự do lựa chọn các phương thức để bảo vệ quyền, lợi ích của
mình như trung gian hòa giải, trọng tài hoặc yêu cầu sự can thiệp của Tòa án
bằng việc thực hiện hoạt động khởi kiện.
1.2.3. Điều kiện khởi kiện tranh chấp kinh doanh thương mại
Thứ nhất, Điều kiện về chủ thể khởi kiện
Để khởi kiện vụ án dân sự, chủ thể khởi kiện phải có quyền khởi kiện
và có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Đây là điều kiện đầu tiên phải xác
định khi đương sự thực hiện việc khởi kiện (điểm a khoản 1 Điều 192
BLTTDS năm 2015).
Người khởi kiện phải là người có quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự,
hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động, đất đai, nhà ở (sau đây
16


gọi tắt là dân sự). Về nguyên tắc, quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự chỉ có
được khi chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật nội dung: quan hệ dân sự,
hôn nhân gian đình, kinh doanh thương mại, lao động, đất đai, nhà ở (viết tắt
là quan hệ dân sự). Chủ thể không có quyền, lợi ích dân sự, không có quyền
khởi kiện trừ một số trường hợp ngoại lệ theo quy định của pháp luật. Tuy
nhiên, mặt dù người khởi kiện có quyền, lợi ích dân sự nhưng quyền, lợi ích
đó không hoặc chưa bị xâm phạm thì cũng chưa đủ điều kiện khởi kiện vụ án
dân sự.
Về nguyên tắc, chỉ có cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, lợi ích bị
xâm phạm mới có quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của
mình. Bên cạnh đó, để bảo vệ quyền hay lợi ích hợp pháp của người khác
hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực phụ trách,
trong một số trường hợp đặc biệt, pháp luật quy định quyền khởi kiện của các
cá nhân, cơ quan, tổ chức gồm: Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ
quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm
vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện trong trường hợp cần
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
Thứ hai, Vụ án được khởi kiện phải thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án
Tòa án chỉ thụ lý vụ án dân sự đối với những tranh chấp thuộc thẩm
quyền giải quyết của mình. Việc xác định thẩm quyền là một điều kiện cần
thiết để đảm bảo cho hoạt động bình thường và hợp lý của bộ máy nhà nước.
Đồng thời, việc phân định thẩm quyền giữa các Tòa án cũng góp phần cho
các Tòa án thực hiện đúng nhiệm vụ và người dân dễ dàng thực hiện quyền
khởi kiện. Thẩm quyền của Tòa án được xác định một cách chính xác sẽ tránh
được sự chồng chéo trong việc thực hiện nhiệm vụ của Tòa án, góp phần giải
quyết đúng đắn, tạo điều kiện cho các đương sự tham gia tố tụng bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Để vụ án dân sự được thụ lý, đơn khởi kiện
17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×