Tải bản đầy đủ

Pháp luật về bảo hiểm hưu trí từ thực tiễn thành phố hạ long, tỉnh quảng ninh

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM HƯU TRÍ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH

TRẦN CHÍ KIÊN

HÀ NỘI- NĂM 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM HƯU TRÍ TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
TRẦN CHÍ KIÊN

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐỖ THỊ DUNG

HÀ NỘI - NĂM 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ luật học này là công trình nghiên cứu của
tôi dưới sự hướng dẫn của TS. Đỗ Thị Dung. Các số liệu, tài liệu, trích dẫn trình bày
trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng.
Người thực hiện

Trần Chí Kiên


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo Viện Đại học Mở Hà
Nội, đã cung cấp những kiến thức và đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành
chương trình Sau đại học và nghiên cứu, hoàn thành luận văn.
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo, tiến sĩ Đỗ Thị Dung - người đã tận
tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn.
Tôi xin cảm ơn các đồng nghiệp trong cơ quan nơi tôi công tác, gia đình,
người thân và tất cả bạn bè - những người luôn động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành
luận văn.
Hà Nội, ngày 12 tháng 9 năm 2017
Học viên

Trần Chí Kiên


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM HƯU
TRÍ VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ BẢO
HIỂM HƯU TRÍ.................................................................................................... 7


1.1. Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm hưu trí ......................................... 7
1.1.1. Bảo hiểm hưu trí ..................................................................................... 7
1.1.2. Pháp luật bảo hiểm hưu trí ................................................................... 11
1.2. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm hưu trí.................... 16
1.2.1. Quy định về bảo hiểm hưu trí trong bảo hiểm xã hội bắt buộc ............. 17
1.2.2. Quy định về bảo hiểm hưu trí trong BHXH tự nguyện .......................... 25
1.2.3. Quy định về bảo hiểm hưu trí bổ sung ................................................. 28
1.2.4. Quy định về trình tự, thủ tục thực hiện bảo hiểm hưu trí ...................... 30
1.2.5. Quy định về khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm về bảo hiểm hưu trí.......... 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ...................................................................................... 34
Chương 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM HƯU TRÍ
TẠI THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH ..................................... 35
2.1. Khái quát về tổ chức và hoạt động của bảo hiểm xã hội thành phố Hạ Long,
tỉnh Quảng Ninh .................................................................................................... 35
2.1.1. Cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của bảo hiểm xã hội
thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh ............................................................. 35
2.1.2. Những thuận lợi, khó khăn trong công tác triển khai thực hiện các quy
định pháp luật về bảo hiểm hưu trí trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh
Quảng Ninh .................................................................................................... 37
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật bảo hiểm hưu trí tại thành phố Hạ Long, tỉnh
Quảng Ninh ........................................................................................................... 38


2.2.1. Những kết quả đạt................................................................................. 38
2.2.2. Một số vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân ............................................ 45
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ...................................................................................... 49
Chương 3: KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU
QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM HƯU TRÍ TẠI THÀNH PHỐ
HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH...................................................................... 50
3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo
hiểm hưu trí tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh ........................................... 50
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật bảo hiểm hưu trí ....... 53
3.3. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm hưu trí tại
thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh .................................................................... 59
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 67


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHXH

: Bảo hiểm xã hội

BHHT

: Bảo hiểm hưu trí

BHXHBB

: Bảo hiểm xã hội bắt buộc

BHXHTN

: Bảo hiểm xã hội tự nguyện

ILO

: Tổ chức lao động quốc tế

NLĐ

: Người lao động

NSDLĐ

: Người sử dụng lao động

LĐTBXH

: Lao động, thương binh và xã hội

Nxb

: Nhà xuất bản


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Viêt Nam, ngay từ khi BHXH ra đời thì chế độ BHHT đã được coi là chế độ
quan trọng, luôn được pháp luật quan tâm điều chỉnh. Trải qua quá trình phát triển
và liên tục được sửa đổi, bổ sung, pháp luật về BHHT ngày càng hoàn thiện. Hiện
nay, BHHT được quy định cụ thể trong Luật BHXH năm 2014. Đây là cơ sở pháp
lý quan trọng nhằm bảo đảm đời sống cho NLĐ khi về già, hết khả năng lao động,
hướng đến việc đảm bảo công bằng xã hội và ổn định tài chính quỹ hưu trí, xây
dựng hệ thống hưu trí đa tầng, đa trụ cột, đảm bảo lâu dài và ổn định các quyền lợi
cho đối tượng hưởng.
Tuy nhiên, trước sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế xã hội, xu huớng
điều chỉnh pháp luật BHHT trên thế giới và nhu cầu về quyền lợi của NLĐ ngày
càng cao, nên BHHT trong Luật BHXH năm 2014 dần thể hiện một số điểm bật
cập. Cụ thể như: quy định tuổi nghỉ hưu chưa hợp lý, chưa bảo đảm công bằng về
quyền lợi giữa một số nhóm đối tượng tham gia, giữa lao động nam với lao động
nữ, giữa lao động làm việc trong và ngoài khu vực nhà nước, nguy cơ mất cân đối
trong thu - chi của quỹ BHHT ngày càng bộc lộ rõ rệt… Trong khi đó, BHHT áp
dụng với đông đảo với NLĐ tham gia, ở cả hai loại hình: BHHT trong BHXH bắt
buộc và BHHT trong BHXH tự nguyện. Tính đến năm 2015, trên cả nước có
khoảng 2,15 triệu người hưởng lương hưu hằng tháng, với mức bình quân là 3,9
triệu đồng/người/tháng [17]. Hơn nữa, trong bối cảnh già hóa dân số, cần thiết phải
đa dạng hóa nguồn lực tài chính, giảm áp lực cho NLĐ và gia đình NLĐ khi NLĐ
hết khả năng lao động.
Ở thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, một thành phố lớn và là trung tâm
của tỉnh Quảng Ninh thuộc vùng Đông Bắc nước ta, có dân số (tính đến năm 2014)
khoảng 236.972 người, trong đó nam là 121.440 người chiếm 51,2%, nữ là 115.532
người chiếm 48,8%. triệu người. Việc thực hiện pháp luật BHHT là vấn đề được
các ngành, các cấp, cơ quan có thẩm quyền trên địa bàn thành phố quan tâm. Với

1


mục đích là nhằm triển khai đúng và đầu đủ các quy định của pháp luật BHHT, đảm
bảo quyền lợi cho NLĐ trên địa bàn thành phố. Song, trong những năm qua, công
tác thực hiện pháp luật về BHHT trên địa bàn thành phố Hạ Long vẫn còn một số
vướng mắc. Đó là một số đơn vị vẫn còn nợ BHXH trong đó có BHHT, thủ tục thực
hiện chi trả chế độ ở một số phường còn chậm, lương hưu của NLĐ còn thấp chưa
bảo đảm đời sống so với mức sống chung của người dân trong thành phố…
Để góp phần khắc phục những bất cập trong quy định của pháp luật về
BHHT cũng như khắc phục những vướng mắc trong công tác thực hiện pháp luật
BHHT trên địa bàn thành phố Hạ Long, em quyết định chọn vấn đề: “Pháp luật về
bảo hiểm hưu trí từ thực tiễn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài
luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Là chế độ BHXH quan trọng nên BHHT đã được nghiên cứu trong nhiều công
trình khoa học. Cụ thể:
Sách tham khảo, giáo trình: Đó là sách tham khảo: “Bình luận khoa học
những nội dung cơ bản của Luật bảo hiểm xã hội” do TS Nguyễn Hiền Phương chủ
biên, Nxb Tư Pháp, Hà Nội năm 2016. Các giáo trình An sinh xã hội của các cơ sở
đào tạo Luật đều cập tới pháp luật BHHT như: Giáo trình luật an sinh xã hội của
Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Tư pháp, Hà Nội năm 2013; Giáo trình pháp luật
bảo đảm xã hội của Trung tâm đào tạo từ xa, Trường đại học Huế, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội năm 2009; Giáo trình luật an sinh xã hội do Nguyễn Hữu Chí
(chủ biên), Nxb Giáo dục Việt Nam năm 2012.
Bài viết đăng trên tạp chí: Bao gồm các bài viết như: “Góp ý vào Dự thảo
Luật Bảo hiểm xã hội: Hoàn thiện chế độ bảo hiểm hưu trí” của Nguyễn Thị Kim
Phụng đăng trên Tạp chí Nghiên cứu lập pháp của Văn phòng Quốc hội, số
8/2005; Bài viết “Cải cách Luật BHXH để mở rộng bảo hiểm hưu trí đối với
người cao tuổi” của Đăng Như Lợi đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị, số
12/2014; Bài viết “Chế độ hưu trí trong pháp luật một số nước và bài học kinh
nghiệm đối với Việt Nam” của Nguyễn Thế Mừng đăng trên Tạp chí Dân chủ và
Pháp luật, Bộ Tư pháp số 2/2016.
2


Luận án, luận văn: Luận án “Tăng cường quản lý Nhà nước bằng pháp luật
đối với hoạt động BHXH ở Việt Nam” của Đỗ Văn Sinh năm 2005 và Luận án “Cơ
sở lí luận và thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật an sinh xã hội ở
Việt Nam” của Nguyễn Hiền Phương năm 2008.
Các luận văn thạc sĩ, như: Luận văn “Bảo hiểm hưu trí - Thực trạng và kiến
nghị” của Nguyễn Lệ Huyền, Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2015; Luận văn
“Chế độ hưu trí trong quy định Luật bảo hiểm xã hội, thực trạng tại Thành phố Hà
Nội” của Nguyễn Thế Mừng, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2015; Luận
văn “Chế độ bảo hiểm hưu trí theo quy định Luật bảo hiểm xã hội năm 2014” của
Nguyễn Thị Thu Hằng, Viện Đại học Mở Hà Nội năm 2016; Luận văn “Chế độ
lương hưu hằng tháng theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội năm 2014 và những
tác động tới đời sống của người hưởng lương hưu” của Đinh Thị Thùy Linh, Khoa
Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2016.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên do mục đích nghiên cứu khác
nhau đã đề cập khác nhau về pháp luật BHHT, song chỉ dừng lại ở một số vấn đề lý
luận, tổng quan; đánh giá, bình luận khái quát một số nội dung về BHHT và thực
tiễn thực hiện chung trong phạm vi cả nước hoặc ở một địa phương cụ thể như
Thành phố Hà Nội. Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về thực tiễn
thực hiện pháp luật BHHT trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của luận văn là nhằm nghiên cứu một số vấn đề chung về pháp
luật BHHT. Trên cơ sở quan điểm về lý luận được nghiên cứu, luận văn tập
trung phân tích thực trạng pháp luật về BHHT theo quy định của pháp luật hiện
hành. Từ đó, luận văn đi sâu nghiên cứu thực tiễn thực hiện pháp luật BHHT trên
địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Thông qua việc đánh giá những
điểm bất cập của pháp luật và những vướng mắc trong công tác thực hiện pháp
luật về BHHT tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, luận văn đề xuất một số
giải pháp sửa đổi, bổ sung một số quy định về BHHT và một số giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả công tác thực hiện pháp luật BHHT tại thành phố Hạ Long,

3


tỉnh Quảng Ninh theo hướng phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương cũng như phù hợp với kinh tế - xã hội của đất nước trong bối cảnh hội
nhập quốc tế hiện nay.
Từ mục tiêu trên, luận văn tập trung vào các nhiệm vụ chính sau đây:
Một là, nghiên cứu để làm rõ một số vấn đề chung về BHHT và pháp luật
BHHT.
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật hiện
hành về BHHT ở Việt Nam. Chỉ ra những ưu điểm và bất cập trong quy định của
pháp luật.
Ba là, nghiên cứu thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật BHHT tại
thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Từ đó, rút ra những nhận xét về ưu điểm
cũng như những vấn đề còn tồn tại trong quá trình thực hiện BHHT ở thành phố Hạ
Long, tỉnh Quảng Ninh.
Bốn là, đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về BHHT
và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật BHHT tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng
Ninh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam về
BHHT. Trong đó, chủ yếu là các quy định trong Luật BHXH năm 2014 và các văn
bản hướng dẫn thi hành. Ngoài ra, một số đạo luật có liên quan đến BHHT như Bộ
luật lao động năm 2012, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Bộ luật hình sự năm
2015… cũng được đề cập đến trong một số nội dung của luận văn.
Cùng với việc nghiên cứu các quy định của pháp luật về BHHT hiện hành,
đối tượng nghiên cứu của luận văn còn là thực tiễn thực hiện BHHT trên cơ sở các
số liệu của cơ quan bảo hiểm xã hội thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh trong
những năm 2013, 2014, 2015, 2016.
Ngoài ra, các quy định của ILO và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới
có liên quan đến BHHT cũng là đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn.

4


Tuy nhiên, do thời gian thực hiện luận văn có hạn và dung lượng luận văn, nên
trong luận văn này tác giả không nghiên cứu phần tranh chấp về bảo hiểm xã hội
hưu trí và giải quyết tranh chấp về bảo hiểm hưu trí.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của học thuyết Mác Lênin bao gồm phép biện chứng duy vật và phương pháp luận duy vật lịch sử. Theo
đó, vấn đề pháp luật BHHT được nghiên cứu luôn ở trạng thái vận động và phát
triển trong mối quan hệ không tách rời với các yếu tố kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn còn dựa trên cơ sở các quan điểm, định hướng
của Đảng và Nhà nước về chính sách BHXH nói chung, chính sách BHHT nói riêng
ở Việt Nam hiện nay.
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng để thực hiện luận văn bao
gồm các phương pháp lịch sử, phân tích, chứng minh, so sánh, so sánh luật học,
tổng hợp, dự báo khoa học.
Trong quá trình nghiên cứu, tùy từng vấn đề, nội dung trình bày mà luận văn
có sự kết hợp đan xen các phương pháp nghiên cứu với nhau nhằm đạt được mục
tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đã đề ra.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn làm rõ hơn các khái niệm BHHT, pháp luật BHHT, phân tích rõ vai
trò, nguyên tắc của BHHT. Luận văn khái quát các nội dung pháp luật hiện hành về
BHHT, đồng thời phân tích một cách có hệ thống các nội dung này. Cùng với việc
đánh giá thực tiễn thực hiện BHHT tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, luận văn
đã đưa ra các kiến nghị hoàn thiện một số quy định của pháp luật và nâng cao hiệu quả
công tác thực hiện pháp luật về BHHT ở thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.
Cùng với ý nghĩa khoa học trên, luận văn còn cung cấp kiến thức cho những
người đang làm công tác thực tiễn về BHXH nói chung, BHHT nói riêng, cho người
tham gia BHHT trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Qua đó, giúp họ
thực thi pháp luật BHHT một cách chính xác, đảm bảo quyền lợi tối đa cho NLĐ
trên địa bàn.

5


Bên cạnh đó, luận văn cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên, học
viên, các nhà nghiên cứu quan tâm đến pháp luật BHHT cũng như pháp luật an sinh
xã hội nói chung.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu gồm: lời mở đầu, nội dung luận văn, kết luận, danh
mục tài liệu tham khảo. Trong đó, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm hưu trí và quy định
của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm hưu trí.
Chương 2. Thực tiễn thực hiện pháp luật bảo hiểm hưu trí tại thành phố Hạ
Long, tỉnh Quảng Ninh.
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật bảo hiểm hưu trí tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh.

6


Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO HIỂM HƯU TRÍ VÀ
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ
BẢO HIỂM HƯU TRÍ
1.1. Một số vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm hưu trí
1.1.1. Bảo hiểm hưu trí
1.1.1.1. Khái niệm bảo hiểm hưu trí
Để đảm bảo lợi ích cho NLĐ khi hết tuổi lao động và giúp họ có nguồn thu
nhập thường xuyên, ổn định, hầu hết các quốc gia trên thế giới cũng đều thực hiện
chính sách BHHT. Mục đích nhằm bảo đảm cho NLĐ một khoản thu nhập thay thế
tiền lương, phù hợp với thời gian làm việc và mức độ đóng góp của NLĐ trong suốt
quá trình lao động. Nguồn thu nhập này tuy ít hơn so với mức tiền lương lúc đang
làm việc nhưng lại rất quan trọng và cần thiết, giúp cho người về hưu ổn định về
mặt vật chất cũng như tinh thần trong cuộc sống, tạo cho họ có thêm điều kiện để
cống hiến cho xã hội những kinh nghiệm quý báu trong quá trình lao động sản xuất
mà họ đã tích luỹ được, nhằm bảo đảm an sinh xã hội của đất nuớc.
Tổ chức lao động quốc tế (ILO), trong Công uớc số 102 năm 1952 gọi BHHT
là trợ cấp tuổi già. Theo đó, ILO cho rằng đây là chế độ quan trọng nhất trong các
chế độ an sinh xã hội. Công ước số 102 nêu rõ: “Trợ cấp tuổi già phải là chế độ chi
trả định kỳ, trừ một số truờng hợp hy hữu thì các quỹ dự phòng quốc gia thực hiện
việc chi trả một lần”. Từ quy định của ILO, các quốc gia trên thế giới, tuỳ vào điều
kiện kinh tế - xã hội của mình mà có quy định khác nhau về BHHT [24].
Ở Việt Nam, BHHT là một trong các chế độ nòng cốt trong hệ thống BHXH.
Bởi lẽ đối tượng tham gia BHHT là mọi NLĐ có thu nhập ổn định, và trợ cấp hưu
trí là nguồn thu nhập chủ yếu khi NLĐ hết khả năng lao động.
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, Đảng và Nhà nước ta đã coi
công tác BHXH là công tác xã hội quan trọng. Đến nay, chính sách về BHXH nói
chung, chính sách về BHHT nói riêng càng được coi trọng và thay đổi căn bản. Để
phù hợp với điều kiện cuộc sống mới cũng như nhu cầu của NLĐ, sự ổn định của
7


quỹ hưu trí, và phù hợp với xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới, Luật
BHXH năm 2006 ra đời quy định cụ thể về BHHT trong BHXH bắt buộc và BHHT
trong BHXH tự nguyện. Các quy định về BHHT một lần nữa được hoàn thiện trong
Luật BHXH năm 2014, có hiệu lực từ ngày 01/01/2016.
Có thể thấy rằng, ở Việt Nam, BHHT là một trong các chế độ BHXH được
nhà nước đặc biệt quan tâm, luôn có sự hoàn thiện để phù hợp với thực tế cuộc
sống. Người lao động tham gia BHXH khi hết tuổi lao động hoặc không còn tham
gia BHXH nữa thì được hưởng BHHT hằng tháng hoặc một lần theo quy định của
pháp luật. Đây là khoản trợ cấp nhằm bảo đảm đời sống cho người về hưu, thay thế
cho khoản tiền lương trước đây mà họ có được khi còn đi làm.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu BHHT là chế độ BHXH nhằm bảo đảm
thu nhập cho NLĐ khi hết tuổi lao động hoặc không còn tham gia BHXH nữa.
Bảo hiểm hưu trí có những đặc điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đối tượng tham gia BHHT là NLĐ thuộc đối tượng tham gia
BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện hoặc bảo hiểm hưu trí bổ sung theo quy định
của pháp luật.
Thứ hai, về hình thức tham gia, có hai hình thức chính đó là BHHT trong
BHXH bắt buộc và bảo hiểm hưu trí trong BHXH tự nguyện. Ngoài ra, trên thế giới
hiện nay có rất nhiều nước trong đó có Việt Nam đã và đang thực hiện bảo hiểm
hưu trí bổ sung.
Thứ ba, đối tượng BHHT chính là thu nhập của NLĐ. Bảo hiểm hưu trí
hướng tới thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐ khi họ hết tuổi lao
động hoặc không tham gia đóng phí BHXH nữa.
Thứ tư, bảo hiểm hưu trí hoàn toàn không hướng tới mục tiêu lợi nhuận mà
hướng tới đảm bảo an sinh xã hội, thể hiện trách nhiệm và sự chia sẻ của NSDLĐ
với NLĐ và giữa những NLĐ với nhau.
Thứ năm, BHHT là một chế độ BHXH dài hạn nằm ngoài quá trình lao động.
Đặc điểm này thể hiện cả trong quá trình đóng và hưởng BHHT. NLĐ tham gia
đóng phí BHXH trong một thời gian khá dài và chỉ được hưởng khi họ hết tuổi lao

8


động và đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Khi đó NLĐ sẽ được hưởng trợ
cấp hưu trí theo từng tháng tính từ lúc về hưu cho đến khi chết, quá trình hưởng này
dài hay ngắn phụ thuộc vào tuổi thọ của từng người.
Thứ sáu, có sự tách biệt giữa đóng và hưởng chế độ bảo hiểm hưu trí. NLĐ
tham gia đóng phí ngay trong quá trình lao động. Trong suốt quá trình đó, số tiền
NLĐ đóng góp vào quỹ BHHT dùng để chi trả lương hưu cho thế hệ trước. Như vậy
có sự kế thừa giữa các thế hệ trong việc hình thành quỹ BHHT, qua đó thể hiện
nguyên tắc lấy số đông bù số ít của bảo hiểm.
1.1.1.2. Phân loại bảo hiểm hưu trí
- Căn cứ vào hình thức tham gia BHHT
Căn cứ vào hình thức tham gia BHHT có thể chia BHHT thành ba loại: bảo
hiểm hưu trí trong BHXH bắt buộc, bảo hiểm hưu trí trong BHXH tự nguyện và bảo
hiểm hưu trí bổ sung.
Bảo hiểm hưu trí trong BHXH bắt buộc là loại hình BHXH do Nhà nước tổ
chức mà NLĐ và NSDLĐ phải tham gia.
Bảo hiểm hưu trí trong BHXH tự nguyện là loại hình BHXH do Nhà nước tổ
chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với
thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người
tham gia hưởng chế độ hưu trí.
Bảo hiểm hưu trí bổ sung là chính sách BHXH mang tính chất tự nguyện nhằm
mục tiêu bổ sung cho chế độ hưu trí trong BHXH bắt buộc, có cơ chế tạo lập quỹ từ
sự đóng góp của NLĐ và NSDLĐ dưới hình thức tài khoản tiết kiệm cá nhân, được
bảo toàn và tích lũy thông qua hoạt động đầu tư theo quy định của pháp luật.
- Căn cứ theo thời gian hưởng BHHT
Căn cứ theo thời gian hưởng BHHT có thể chia BHHT thành 2 loại: bảo hiểm
hưu trí hằng tháng và bảo hiểm xã hội một lần.
BHHT hằng tháng là BHHT mà NLĐ khi nghỉ hưu cần đáp ứng đầy đủ
những điều kiện nhất định mà pháp luật quy định như điều kiện về tuổi đời, thời
gian đóng BHXH, điều kiện lao động.

9


BHXH một lần là loại bảo hiểm mà NLĐ chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu
hằng tháng. Trong cuộc sống vì nhiều lý do khác nhau (như ốm đau, bệnh tật, tai
nạn lao động) làm NLĐ bị suy giảm sức khỏe, suy giảm khả năng lao động khiến họ
khó có thể tham gia được quan hệ lao động nữa, cần phải nghỉ việc trước tuổi.
Trong những trường hợp đó, do chưa đủ tuổi về hưu theo quy định nên NLĐ được
hưởng chế độ BHXH một lần.
1.1.1.3. Ý nghĩa của bảo hiểm hưu trí
Bảo hiểm hưu trí có vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm đời sống cho
NLĐ. Khi đời sống của NLĐ được bảo đảm sẽ là cơ sở quan trọng để bảo đảm an
sinh xã hội của đất nước và từ đó góp phần phát triển ổn định, bền vững kinh tế của
đất nước.
- Ý nghĩa dưới góc độ kinh tế:
Bảo hiểm hưu trí bảo đảm quyền lợi cho NLĐ, giúp họ tự bảo vệ mình khi hết
tuổi lao động, tự lo cho cuộc sống vật chất và tinh thần của chính mình một cách
hợp lý nhất nhờ vào việc họ đã cống hiến sức lao động của mình để tạo ra của cải
vật chất cho xã hội trước đó. NLĐ chỉ cần trích ra một tỷ lệ tiền lương tương đối
nhỏ khi còn đang làm việc trong một thời gian nhất định. Đến khi hết tuổi lao động,
NLĐ sẽ có được sự bảo đảm của xã hội, làm giảm bớt phần nào khó khăn về mặt tài
chính do không còn lao động được nữa. Tiền lương hưu mà NLĐ nhận được là
khoản thu nhập chính đáng, là kết quả tích lũy trong suốt quá trình làm việc đóng
góp vào quỹ BHXH [24].
Ngoài ra, BHHT còn góp phần tạo động lực cho NLĐ tham gia sản xuất để
tạo ra thu nhập. Khi kinh tế phát triển, đời sống xã hội ngày càng được nâng cao thì
con người càng có nhu cầu đảm bảo an toàn cho tương lai. Từ đó có thể giải quyết
những rủi ro liên quan đến vấn đề già hóa dân số, giúp đa dạng hóa nguồn lực tài
chính, giảm áp lực cho NLĐ và gia đình họ.
- Ý nghĩa dưới góc độ xã hội:
Bảo hiểm hưu trí là một chế độ mang tính xã hội hóa cao được thực hiện một
cách thường xuyên và đều đặn, kế tiếp từ thế hệ này sang thế hệ khác. Nói cách

10


khác, chế độ BHHT lấy đóng góp của thế hệ sau chi trả cho các thế hệ trước. Vì
vậy, nó tạo ra sự ràng buộc và đoàn kết giữa các thế hệ, làm cho mọi người trong xã
hội quan tâm và gắn bó với nhau hơn thể hiện mối quan tâm sâu sắc giữa người với
người trong xã hội.
Trong xu hướng già hoá của dân số thế giới dẫn đến số lượng người nghỉ hưu
ngày càng tăng như hiện nay thì vai trò của BHHT ngày càng quan trọng trong đời
sống kinh tế xã hội của mỗi quốc gia. Bên cạnh việc đảm bảo về mặt tài chính để ổn
định đời sống, chế độ này còn tạo điều kiện cho một số NLĐ vẫn còn trí tuệ, kinh
nghiệm và sức khỏe để tiếp tục làm việc, cống hiến, tạo niềm vui cho cuộc sống khi
nghỉ hưu.
1.1.2. Pháp luật bảo hiểm hưu trí
1.1.2.1. Khái niệm pháp luật bảo hiểm hưu trí
Pháp luật BHHT là một bộ phận cấu thành pháp luật BHXH và là một trong
những nội dung thuộc chính sách an sinh xã hội, vì vậy nó phụ thuộc rất nhiều vào
điều kiện kinh tế - xã hội của các quốc gia. Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội
của mình mà các quốc gia có chính sách khác nhau về BHHT. Hầu hết ở các quốc
gia, BHHT do nhà nước tổ chức thực hiện trên cơ sở pháp luật và các đối tượng có
quyền và trách nhiệm tham gia BHHT theo quy định của pháp luật. Theo đó, pháp
luật BHHT điều chỉnh những quan hệ xã hội phát sinh từ hoạt động BHHT và phải
bao quát được hết các khâu từ quy định về đối tượng tham gia BHHT, mức đóng
phí, mức hưởng bảo hiểm cho đến quy định về thủ tục thực hiện BHHT, quỹ
BHHT, quản lý nhà nước về BHHT và các vấn đề khác có liên quan.
Do có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với người tham gia BHHT, đối với sự
phát triển kinh tế - xã hội và an sinh xã hội của đất nước nên BHHT được hầu hết các
quốc gia quy định cụ thể trong pháp luật về an sinh xã hội hoặc về bảo hiểm xã hội.
Từ những phân tích này, có thể hiểu pháp luật BHHT là tổng hợp các quy
phạm pháp luật quy định về đối tượng tham gia, điều kiện hưởng và mức trợ cấp
cho những người tham gia BHXH khi đã hết tuổi lao động hoặc không tham gia
BHXH nữa.

11


1.1.2.2. Nguyên tắc của bảo hiểm hưu trí
- Thứ nhất, nguyên tắc mức hưởng BHHT trên cơ sở thời gian đóng và mức
đóng BHXH.
Thời gian đóng BHXH là khoảng thời gian được tính từ khi NLĐ bắt đầu
đóng BHXH cho đến khi dừng đóng. Trường hợp NLĐ đóng BHXH không liên tục
thì thời gian đóng BHXH để hưởng BHHT là tổng thời gian đã đóng BHXH. Khi
NLĐ có thời gian đóng BHXH dài hơn thì sẽ được hưởng BHXH hưu trí nhiều hơn
so với trường hợp ngược lại. Ngoài ra, mức hưởng BHHT còn tính trên cơ sở mức
phí đóng vào quỹ BHXH. Theo đó, NLĐ có mức tiền lương hoặc thu nhập cao hơn,
thì khi nghỉ hưu họ sẽ hưởng mức trợ cấp cấp cao hơn truờng hợp ngược lại.
Sở dĩ pháp luật BHHT chú trọng nguyên tắc này, bởi xuất phát từ sự công
bằng xã hội giữa đóng góp và hưởng thụ BHXH nói chung, BHHT nói riêng. Đồng
thời bảo đảm khả năng chi trả của quỹ BHHT. Bởi nếu NLĐ đóng góp trong thời
gian ngắn và mức phí đóng thấp sẽ ảnh hưởng đến sự an toàn về tài chính của quỹ,
đồng thời không bảo đảm công bằng giữa đóng góp và hưởng thụ vì thế sẽ dẫn đến
vỡ quỹ.
- Thứ hai, nguyên tắc NLĐ vừa tham gia BHXHBB vừa tham gia BHXHTN
thì được hưởng chế độ BHHT trên cơ sở thời gian tham gia BHXH.
Nguyên tắc này nhằm bảo đảm sự liên thông giữa các loại hình BHHT khác
nhau. Theo đó, NLĐ đã có thời gian tham gia BHXHBB, sau đó vì lý do nào đó
không tham gia BHXHBB nữa thì họ có quyền tham gia BHXHTN. Chế độ hưởng
BHHT tính trên cơ sở cộng dồn thời gian đóng phí BHXH, cả BHXHBB và
BHXHTN.
Nguyên tắc này nhằm bảo đảm quyền lợi cho NLĐ tham gia BHXH, hướng
tới mức đích an sinh xã hội. Đó là khi hết tuổi lao động, NLĐ được hưởng quyền lợi
trên cơ sở thời gian đóng phí và mức đóng phí. Điều đó rất hợp lý và đáp ứng nhu
cầu về BHHT cho NLĐ.
- Thứ ba, nguyên tắc điều chỉnh hợp lý về chế độ hưởng BHHT giữa lao động
nam và lao động nữ.

12


Đây là nguyên tắc riêng của BHHT, xuất phát từ sự khác biệt về yếu tố thể
lực, quá trình lão hoá, tâm sinh lý giữa lao động nam và lao động nữ. Nhìn chung,
thể lực của lao động nữ thường kém hơn so với lao động nam. Đến một độ tuổi nhất
định, điều đó càng thể hiện rõ nét. Tuy nhiên, những yếu tố này có thể thay đổi do
điều kiện phát triển kinh tế và dịch vụ xã hội. Vì vậy, một số quốc gia đã quy định
điều kiện nghỉ hưu thống nhất đối với cả hai giới.
Thực tế, vấn đề tuổi lao động còn phụ thuộc vào quan niệm lao động là quyền
hay là nghĩa vụ của con người. Nếu quan niệm lao động là nghĩa vụ của con người
thì quyền nghỉ hưu của lao động nữ thường được quy định sớm hơn so với lao động
nam. Còn nếu quan niệm lao động là quyền con người thì tuổi lao động và tuổi nghỉ
hưu có thể được quy định như nhau đối với cả hai giới. Những quan niệm này có
thể thay đổi do sự thay đổi của các điều kiện kinh tế - xã hội và vì vậy quy định về
tuổi nghỉ hưu của NLĐ cũng có thể thay đổi theo từng thời kỳ [24].
- Thứ tư, nguyên tắc ưu đãi đối với một số ngành nghề, lĩnh vực trong BHHT
Nguyên tắc này xuất phát từ lý do điều kiện làm việc của NLĐ trong một số
ngành nghề có tính chất nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, ở nơi xã xôi, hẻo lánh hoặc
trong những lĩnh vực quan trọng như an ninh quốc phòng. Đồng thời nó cũng nhằm
khuyến khích NLĐ vào làm việc trong các ngành nghề và lĩnh vực này nhằm phân
công lao động hợp lý và hiệu quả trong xã hội.
Trong BHHT, sự ưu đãi này được thể hiện ở việc luật pháp cho phép NLĐ
được nghỉ hưu sớm hơn so với độ tuổi theo quy định chung mà không phải trừ tỷ lệ
lương hưu do nghỉ hưu sớm đó. Pháp luật Việt Nam quy định NLĐ làm việc trong
môi trường nặng nhọc, độc hai, nguy hiểm, làm việc ở vùng sâu, vùng xa hoặc làm
việc trong lực lượng vũ trang, nhìn chung, được nghỉ hưu sớm hơn so với NLĐ làm
việc trong điều kiện lao động bình thường.
1.1.2.3. Nội dung pháp luật bảo hiểm hưu trí
Xuất phát từ vai trò hết sức quan trọng của BHHT đối với đời sống NLĐ
cũng như trong đời sống xã hội, nên hầu hết các quốc gia đều quy định cụ thể về
BHHT. Tuy quy định của các quốc gia khác nhau, song nhìn chung đều bao gồm

13


các nội dung cơ bản như: đối tượng tham gia BHHT, mức phí và phương thức đóng
phí, chế độ BHHT, quỹ và quản lý quỹ BHHT, thủ tục thực hiện BHHT, xử phạt vi
phạm pháp luật về BHHT.
- Đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí:
Đối tượng tham gia bảo hiểm hưu trí rất rộng. Tùy vào điều kiện cụ thể của
từng quốc gia trong từng giai đoạn cụ thể mà quốc gia quy định với phạm vi áp
dụng cụ thể. Thông thường pháp luật các quốc gia quy định hệ thống BHHT bắt
buộc và BHHT tự nguyện nhằm bao quát toàn bộ đối tượng NLĐ trong xã hội.
Hiện nay một số nước kinh tế phát triển đã thực hiện trợ cấp hưu trí phổ
thông cho tất cả mọi NLĐ trong xã hội bằng việc quy định một hình thức tham gia
duy nhất là bắt buộc đối với mọi NLĐ. Một số nước khác chỉ giới hạn trong những
NLĐ tham gia BHXH khi họ đáp ứng được những điều kiện nhất định theo quy
định pháp luật.
- Điều kiện hưởng chế độ bảo hiểm hưu trí:
Để được hưởng một chế độ BHXH, người hưởng bảo hiểm phải đảm bảo một
số điều kiện nhất định. Tùy từng chế độ bảo hiểm cụ thể mà điều kiện hưởng là
khác nhau nhưng nhìn chung đều căn cứ vào mức độ đóng góp của người tham gia.
Đối với BHHT, có 2 yếu tố quan trọng để xác định điều kiện hưởng đó là tuổi đời
của NLĐ và thời gian đóng BHXH.
Độ tuổi hưởng chế độ BHHT hưu trí đóng một vai trò quan trọng trong việc
xác định chi phí đóng góp. Độ tuổi nghỉ hưu là độ tuổi mà tại đó NLĐ ngừng làm
việc do tuổi đã cao hoặc sức khỏe không đảm bảo để tiếp tục làm việc. Tuổi hưởng
chế độ hưu trí có thể được ấn định theo khả năng làm việc tổng thể của người cao
tuổi, vị thế của người cao tuổi trong thị trường lao động và khả năng kinh tế của quỹ
BHHT. Ngoài ra, tuổi nghỉ hưu còn được quy định hạ thấp so với độ tuổi bình quân
đối với những người làm những công việc trong điều kiện lao động và môi trường
nặng nhọc, nguy hiểm đã có ảnh hưởng nhất định làm suy giảm một phần khả năng
lao động so với bình thường [20].
Thời gian đóng BHHT là tổng số đơn vị thời gian có đóng phí BHXH để
được hưởng chế độ này. Việc quy định thời gian đóng phí BHXH nhằm xác định sự

14


cống hiến về mặt lao động của mỗi người với xã hội nói chung và phần đóng góp
vào BHXH nói riêng. Thời gian đóng BHXH là một trong những căn cứ để chi trả
đối với NLĐ như theo luật định nhằm bảo đảm sự công bằng, bình đẳng giữa những
người tham gia BHXH.
Việc xác định thời gian đóng phí BHXH được dựa trên căn cứ: độ tuổi về hưu,
tỷ lệ đóng góp, tuổi thọ của những người về hưu, mức được hưởng... Trong trường
hợp NLĐ làm việc trong những điều kiện đặc biệt như những nơi độc hại, vùng sâu,
vùng xa thì số thời gian này được làm căn cứ để giảm tuổi đời khi nghỉ hưu.
- Mức hưởng bảo hiểm hưu trí:
Mức hưởng BHHT là số tiền mà một người về hưu nhận được kể từ khi nghỉ
hưu. Thông thường mức hưởng lương hưu phụ thuộc vào tình trạng mất khả năng
lao động, tiền lương hằng tháng khi NLĐ còn đang đi làm và tuổi thọ bình quân của
NLĐ và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng thời kì.
Ở Việt Nam, pháp luật quy định người nghỉ hưu được hưởng thêm các quyền
lợi như trợ cấp một lần khi nghỉ hưu, hay đối với những NLĐ nghỉ việc chưa đủ
tuổi để hưởng chế độ hưu hằng tháng cũng nhận được trợ cấp một lần và ngoài
lương hưu hằng tháng, người nghỉ hưu còn được hưởng bảo hiểm y tế do quỹ
BHXH đài thọ, khi chết gia đình được hưởng chế độ tử tuất.
- Quỹ bảo hiểm hưu trí:
Quỹ bảo BHHT là quỹ tài chính được hình thành từ nguồn đóng BHXH và
các nguồn thu hợp pháp khác, được sử dụng để chi trả cho người tham gia BHHT,
chi phí quản lý bộ máy của tổ chức BHXH và những khoản chi phí hợp pháp khác
liên quan đến BHXH và BHHT. Quỹ bảo BHHT là một bộ phận chiếm tỷ trọng
tương đối lớn trong quỹ BHXH, góp phần ổn định tài chính vĩ mô và là một trong
các nguồn lực để thực hiện chính sách an sinh xã hội.
Quỹ bảo hiểm hưu trí bao gồm quỹ bảo hiểm hưu trí bắt buộc và quỹ bảo
hiểm hưu trí tự nguyện. Nếu nguồn hình thành quỹ quỹ hưu trí bắt buộc là từ sự
đóng góp của NSDLĐ, NLĐ thì quỹ hưu trí tự nguyện không có sự tham gia đóng
góp của NSDLĐ.

15


- Thủ tục thực hiện bảo hiểm hưu trí:
Thủ tục thực hiện BHHT được hiểu là trình tự thực hiện của cơ quan có thẩm
quyền nhằm giải quyết chế độ BHHT cho NLĐ khi họ có đủ điều kiện pháp luật
quy định. Khi NLĐ tham gia BHHT được cấp số BHXH và thường xuyên được
điều chỉnh thông tin về BHHT như thời gian đóng, mức phí đóng, loại hình BHXH
tham gia. Bởi đây là căn cứ để cơ quan BHXH xem xét để giải quyết quyền lợi
hưởng cho NLĐ.
- Khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về BHHT:
Khiếu nại về BHHT được hiểu là việc NLĐ tham gia BHXH hoặc NSDLĐ
yêu cầu người có thẩm quyền giải quyết về BHHT xem xét lại quyết định, hành vi
về của người có thẩm quyền khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm
pháp luật BHHT, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Tố cáo về BHHT được hiểu là việc NLĐ, NSDLĐ tham gia BHHT báo cho
người có thẩm quyền biết hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân
trong lĩnh vực BHHT gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của nhà nước,
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BHHT được hiểu là việc cơ quan
nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế do pháp luật quy định
đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm pháp luật BHHT mà
chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị
xử phạt hành chính. Trường hợp đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm thì cá nhân, tổ
chức có hành vi vi phạm có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của
pháp luật các quốc gia
1.2. Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm hưu trí
Ngày 20/11/2014, Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật bảo
hiểm xã hội. Luật này có hiệu lực từ ngày 01/01/2016. Với sự kế thừa những ưu điểm
của Luật BHXH năm 2006 và đồng thời bổ sung nhiều nội dung mới nhằm khắc phục
những hạn chế của Luật BHXH năm 2006, Luật BHXH năm 2014 là một bước đột
phá mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa và quá trình tiến tới thực hiện BHHT cho mọi người lao động.
16


Cùng với các văn bản như Nghị quyết số 93/2015/NQQ-QH13 ngày
22/6/2015 về thực hiện chính sách hưởng BHXH một lần đối với NLĐ, Nghị định
số 115/2015/NĐ-CP ngaùy 11/11/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc, Nghị định số
134/2015/NĐ-CP ngày 29/12/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện, pháp luật BHHT đã
tạo hành lang pháp lý thuận lợi để thực hiện BHHT trong giai đoạn mới, góp phần
tích cực vào việc thực hiện chính sách an sinh xã hội của đất nước. Theo đó, pháp
luật BHHT hiện hành của Việt Nam bao gồm các nội dung cơ bản được nghiên cứu
sau đây.
1.2.1. Quy định về bảo hiểm hưu trí trong bảo hiểm xã hội bắt buộc
1.2.1.1. Đối tượng tham gia BHHT trong BHXH bắt buộc
Theo Điều 53 Luật BHXH năm 2014 thì đối tượng áp dụng chế độ hưu trí
trong BHXH bắt buộc là NLĐ thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc, bao gồm:
- Người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn, HĐLĐ xác định thời
hạn, HĐLĐ theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03
tháng đến dưới 12 tháng, kể cả HĐLĐ được ký kết giữa NSDLĐ với người đại diện
theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;
- Người làm việc theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng
(áp dụng từ 1/1/2018);
- Cán bộ, công chức, viên chức;
- Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong
tổ chức cơ yếu;
- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan
nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm
công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;
- Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân
dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được
hưởng sinh hoạt phí;

17


- Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật NLĐ Việt
Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;
- Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng
tiền lương;
- Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn [1].
So với quy định tại Luật BHXH năm 2006 thì Luật BHXH năm 2014 đã mở
rộng đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm hưu trí ở 2 nhóm đối tượng: i) Người làm
việc theo HĐLĐ có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng (áp dụng từ ngày
1/1/2018); ii) Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.
Như vậy, theo Luật BHXH 2014, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc đã
được mở rộng bao phủ gần như toàn bộ NLĐ có quan hệ lao động, kéo theo đó là
đối tượng áp dụng chế độ bảo hiểm hưu trí cũng mở rộng hơn. Khi NLĐ tham gia
BHXH thì tuỳ từng trường hợp có thể được hưởng chế độ hưu trí hằng tháng hoặc
BHXH một lần.
1.2.1.2. Chế độ bảo hiểm hưu trí hằng tháng
- Điều kiện hưởng bảo hiểm hưu trí hằng tháng:
Theo quy định tại Điều 54, 55 Luật BHXH năm 2014, thì điều kiện hưởng
lương hưu hằng tháng của NLĐ đựoc quy định khác nhau dựa trên các tiêu chí cơ
bản như: NLĐ thuộc lực lượng vụ trang hay lực lượng dân sự, điều kiện làm việc
nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; NLĐ bị suy giảm khả năng lao động hay không,
khả năng cân đối trong thu chi của quỹ BHXH… Tuy nhiên, dù thuộc đối tượng
nào, thì điều kiện hưởng lương hưu về nguyên tắc bao gồm hai điều kiện: Thời gian
đóng BHXH và điều kiện về tuổi đời của NLĐ. Cụ thể:
Người lao động thuộc lực lượng dân sự, khi nghỉ việc có đủ 20 năm đóng
BHXH trở lên thì được hưởng lương hưu nếu thuộc một trong các trường hợp sau
đây: a) Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi; b) Nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi, nữ từ
đủ 50 tuổi đến đủ 55 tuổi và có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc
hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ
Lao động, thương binh và xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×