Tải bản đầy đủ

Pháp luật về phát hành trái phiếu chính phủ ở việt nam

NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

LUẬT KINH TẾ

Ph¸p luËt vÒ ph¸t hµnh tr¸i phiÕu
chÝnh phñ
ë ViÖt Nam

NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH

2015 - 2017

HÀ NỘI - 2017



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Ph¸p luËt vÒ ph¸t hµnh tr¸i phiÕu
chÝnh phñ
ë ViÖt Nam
NGUYỄN THỊ HỒNG HẠNH
Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số

: 60 38 01 07

Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN MINH HẰNG


HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số
liệu, ví dụ, trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy, trung thực.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Hồng Hạnh


LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Khoa Sau đại học, Viện Đại học Mở Hà Nội và sự
đồng ý của giáo viên hướng dẫn TS. Nguyễn Minh Hằng về đề tài luận văn: "Pháp
luật về phát hành trái phiếu chính phủ ở Việt Nam". Để hoàn thành được luận văn
này, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, động viên, giúp đỡ của quý thầy, cô
giáo trong trường.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy, cô giáo của Viện Đại
học Mở Hà Nội đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình tôi học tập,
nghiên cứu tại Viện.
Chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn khoa học TS. Nguyễn Minh Hằng
đã tận tình hướng dẫn tôi nghiên cứu, thực hiện luận văn của mình.


Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu, Khoa đào tạo sau đại học Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập. Mặc
dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng để thực hiện luận văn một cách hoàn chỉnh nhất,
nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định mà tự bản thân không thể tự
nhận thấy được. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của Quý thầy, cô giáo để luận
văn được hoàn chỉnh hơn.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè đã luôn bên tôi, động
viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện luận văn, công trình nghiên cứu
của mình.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2017

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Thị Hồng Hạnh


MỤC LỤC
Trang
1

MỞ ĐẦU

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH TRÁI

5

PHIẾU CHÍNH PHỦ

1.1.

Lý luận chung về phát hành trái phiếu chính phủ

5

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của phát hành trái phiếu chính phủ

5

1.1.2. Phương thức phát hành trái phiếu chính phủ

12

1.1.3. Vai trò của phát hành trái phiếu chính phủ

15

1.2.

19

Lý luận pháp luật về phát hành trái phiếu chính phủ

1.2.1. Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động phát

23

hành trái phiếu chính phủ
1.2.2. Nội dung pháp luật về phát hành trái phiếu chính phủ

24

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT, THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ

29

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ PHÁT HÀNH TRÁI
PHIẾU CHÍNH PHỦ Ở VIỆT NAM

2.1.

Thực trạng pháp luật Việt Nam về phát hành trái phiếu chính phủ

2.1.1. Khái quát về thực trạng pháp luật về phát hành trái phiếu chính

29
29

phủ ở Việt Nam
2.1.2. Quy định về chủ thể phát hành và phương thức phát hành

32

2.1.3. Quy định về các loại trái phiếu được phát hành

46

2.1.4. Quy định về quản lý nhà nước đối với hoạt động phát hành trái

47

phiếu chính phủ
2.2.

Thực tiễn áp dụng pháp luật về phát hành trái phiếu chính phủ ở

51

Việt Nam
2.2.1. Những kết quả đạt được

51

2.2.2. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

54


2.3.

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về phát hành trái phiếu chính phủ ở

56

Việt Nam
2.3.1. Căn cứ hoàn thiện pháp luật về phát hành trái phiếu chính phủ ở

56

Việt Nam
2.3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về phát hành trái phiếu chính phủ ở

58

Việt Nam
KẾT LUẬN

60

TÀI LIỆU THAM KHẢO

61


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng

Trang

Kết quả trái phiếu chính phủ niêm yết tại Sở giao dịch chứng

51

bảng
2.1

khoán Hà Nội từ năm 2010 đến 2016


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trái phiếu chính phủ là một bộ phận quan trọng trong thị trường tài chính tiền tệ Việt Nam, là một kênh huy động vốn nhanh chóng, hiệu quả, đem lại lợi ích
thiết thực cho Nhà nước và nhân dân. Nó có chức năng thu hút, di chuyển các nguồn
vốn từ những nhà đầu tư tiềm năng, có nguồn vốn dồi dào để đáp ứng yêu cầu xây
dựng cơ sở hạ tầng, phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Nói cách khác, trái phiếu
chính phủ là công cụ hữu hiệu của Chính phủ trong điều hành vĩ mô nền kinh tế.
Hoạt động phát hành trái phiếu chính phủ ở Việt Nam ngày càng khẳng
định được vai trò và vị trí quan trọng trong việc huy động vốn cho ngân sách nhà
nước và cho đầu tư phát triển, ổn định nền tài chính quốc gia, kiểm soát được lạm
phát, thúc đẩy quá trình phát triển của thị trường tài chính. Sự có mặt của thị trường
chứng khoán nói chung và trái phiếu chính phủ nói riêng đã góp phần khắc phục
được những khiếm khuyết của thị trường tài chính, tạo cơ hội cho việc luân chuyển
vốn đầu tư, đáp ứng yêu cầu về vốn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước.
Trong những năm qua, hoạt động phát hành trái phiếu chính phủ của nước
ta đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Phát hành trái phiếu chính phủ thông
qua đấu thầu công khai, minh bạch đã trở thành kênh phát hành chủ đạo. Hoạt động
giao dịch trái phiếu chính phủ có những sự thay đổi mạnh mẽ về chất và lượng, quy
mô thị trường được mở rộng, chất lượng thanh khoản dần được cải thiện. Các sản
phẩm trái phiếu chính phủ ngày càng được đa dạng hóa với nhiều mức lãi suất và kì
hạn, tạo nhiều lựa chọn cho các nhà đầu tư.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, thị trường vẫn còn tồn tại những
hạn chế. Về mặt thực tiễn, quy mô phát hành trái phiếu chính phủ cửa nước ta còn
hạn chế, hàng hóa trên thị trường còn ít, các sản phẩm phái sinh chưa được chú
trọng… Bên cạnh đó, về mặt cơ sở pháp luật, hoạt động phát hành trái phiếu chính

1


phủ còn chưa hỗ trợ nhiều cơ chế phòng ngừa rủi ro, chưa có những quy định làm
hành lang về kết nối nhà đầu tư, chưa có cơ chế thanh toán bù; các quy định về cơ
cấu thành viên thị trường còn chưa đa dạng…
Để góp phần hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật liên quan đến
phát hành trái phiếu chính phủ, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc phát triển
mạnh mẽ và chất lượng hoạt động này, tác giả lựa chọn đề tài: Pháp luật về phát
hành trái phiếu chính phủ ở Việt Nam làm đề tài nghiên cứu của luận văn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Những công trình nghiên cứu về trái phiếu chính phủ và phát hành trái
phiếu chính phủ không nhiều và phạm vi, mức độ nghiên cứu cũng rất khác nhau.
Một số công trình tiêu biểu, đó là: Luận án tiến sĩ của Trần Xuân Hà (2004), Sử
dụng công cụ trái phiếu chính phủ để huy động vốn cho cho đầu tư phát triển ở Việt
Nam; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của PGS.TS. Lê Văn Hưng - Kho bạc Nhà
nước (2005), Các giải pháp nhằm tăng cường huy động vốn cho đầu tư phát triển
của Nhà nước, giai đoạn 2005-2010; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành - Ban
Huy động vốn, Kho bạc Nhà nước (2006), Huy động nguồn vốn trong nước để bù
đắp bội chi ngân sách nhà nước và góp phần kiềm chế lạm phát ở Việt Nam; Đề tài
cấp ngành - Ban Huy động vốn, Kho bạc Nhà nước (2007), Xây dựng trang thông
tin về thị trường trái phiếu chính phủ; Đề án của Vụ Tài chính Ngân hàng - Bộ Tài
chính (2008), Xây dựng thị trường giao dịch trái phiếu chính phủ chuyên biệt... Các
công trình trên đây, ở các góc độ và mức độ khác nhau đã tiếp cận, nghiên cứu về
trái phiếu chính phủ, phát hành trái phiếu chính phủ trên thị trường và đề xuất các
giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động phát hành trái phiếu chính phủ; tuy nhiên,
những công trình này chưa có công trình nào đề cập một cách chuyên biệt và sâu
sắc đến lĩnh vực pháp luật liên quan đến phát hành trái phiếu chính phủ. Chưa có
công trình nào đưa ra những giải pháp toàn diện cả về lý luận và thực tiễn nhằm
nâng cao chất lượng xây dựng và áp dụng hệ thống pháp luật về phát hành trái phiếu
chính phủ.

2


Do đó, việc triển khai nghiên cứu đề tài luận án có ý nghĩa lớn về lý luận và
thực tiễn.
3. Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn là:
- Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về trái phiếu chính phủ và phát hành
trái phiếu chính phủ;
- Làm rõ những vướng mắc, bất cập về pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp
luật trong hoạt động phát hành trái phiếu chính phủ;
- Đưa ra những giải pháp khắc phục những khó khăn, vướng mắc trong các
quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trong hoạt động phát hành trái
phiếu chính phủ;
Đối tượng nghiên cứu của đề tài luận văn là:
- Một số quan điểm lý luận khoa học về trái phiếu chính phủ và phát hành
trái phiếu chính phủ;
- Thực trạng pháp luật về phát hành trái phiếu chính phủ của Việt Nam;
- Một số giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật và giải pháp nâng cao
chất lượng hoạt động phát hành trái phiếu chính phủ.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn là:
Trái phiếu chính phủ và phát hành trái phiếu chính phủ trong quy định của
pháp luật Việt Nam giai đoạn 10 năm trở lại đây. Ngoài ra, luận văn có nghiên cứu,
tham khảo quy định của pháp luật một số nước trên thế giới về trái phiếu chính phủ
và phát hành trái phiếu chính phủ.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp: Phương pháp thống kê, tổng
hợp, phân tích, so sánh, đối chiếu trong quá trình nghiên cứu. Các phương pháp này
dựa trên nền tảng của phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các kết quả nghiên cứu rút ra từ các công trình nghiên
cứu khoa học của các học giả trong và ngoài nước.

3


5. Kết quả nghiên cứu mới và giá trị ứng dụng của đề tài
- Hệ thống hóa, tổng quan những lý luận về trái phiếu chính phủ và phát
hành trái phiếu chính phủ. Làm rõ vai trò của phát hành trái phiếu chính phủ trong
nền kinh tế và những yêu cầu của hoạt động phát hành trái phiếu chính phủ.
- Rút ra những bài học hữu ích từ việc nghiên cứu kinh nghiệm xây dựng và
phát triển hoạt động phát hành trái phiếu chính phủ của một số quốc gia và vùng
lãnh thổ trên thế giới.
- Phân tích, đánh giá và là rõ thực trạng phát hành trái phiếu chính phủ ở
Việt Nam; đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của hoạt động
phát hành trái phiếu chính phủ ở Việt Nam thời gian qua trong đó nhấn mạnh những
nguyên nhân về mặt pháp luật.
- Đưa ra quan điểm, đề xuất giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật
về phát hành trái phiếu chính phủ ở Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn có thể tiếp tục được sử dụng làm tài
liệu nghiên cứu, giảng dạy và ứng dụng vào thực tiễn hoàn thiện các quy định của
pháp luật về phát hành trái phiếu chính phủ ở Việt Nam.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn
gồm 2 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận pháp luật về phát hành trái phiếu chính phủ.
Chương 2: Thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng và một số giải pháp
hoàn thiện pháp luật về phát hành trái phiếu chính phủ ở Việt Nam.

4


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT
VỀ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ
1.1. Lý luận chung về phát hành trái phiếu chính phủ
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của phát hành trái phiếu chính phủ
Trái phiếu là một dạng hình thức tín dụng được nghiên cứu dưới nhiều góc
độ. Về bản chất kinh tế, trái phiếu là một chứng chỉ vay nợ của Chính phủ hoặc của
doanh nghiệp, thể hiện nghĩa vụ của người phát hành phải trả nợ cho người nắm giữ
trái phiếu một số tiền nhất định, vào những khoảng thời gian nhất định và phải trả
lại khoản tiền gốc khi đến hạn. Trái phiếu thể hiện mối quan hệ kinh tế giữa người
đi vay và người cho vay, giữa họ có mối liên hệ qua lại lẫn nhau thông qua vận
động giá trị vốn và nó không chỉ đơn thuần là một hình thức vận động về tiền tệ mà
còn là mối quan hệ về xã hội (như mối quan hệ về lòng tin). Có nhiều loại trái phiếu
như trái phiếu công ty, trái phiếu của các tổ chức tín dụng, trái phiếu chính phủ...
Trái phiếu cũng chính là một loại chứng khoán bởi nó có thể được giao dịch, mua
bán trên thị trường chứng khoán. Dù trong điều kiện nào, người sở hữu trái phiếu
cũng đều có quyền hưởng đủ các khoản thanh toán lãi và hoàn trả gốc khi đáo hạn
như đã cam kết. Xuất phát từ bản chất nêu trên, khái niệm chứng khoán thường
được đưa ra xem xét cùng với việc nghiên cứu thị trường chứng khoán.
Theo Từ điển bách khoa toàn thư của Viện hàn lâm Khoa học và xã hội Việt
Nam thì: "Trái phiếu là một loại các chứng khoán có thu nhập cố định, là chứng chỉ
cho vay vốn, chứng nhận người sở hữu nó đã cho người phát hành vay một số tiền
nhất định, trong một thời gian nhất định, với một tỉ lệ lãi nhất định. Trái phiếu bao
gồm: Có trái phiếu chính phủ (công trái quốc gia, tín phiếu kho bạc), trái phiếu
ngân hàng (kì phiếu ngân hàng), trái phiếu công ti (do các công ti có vốn vững chắc
phát hành) và trái phiếu của chính quyền các cấp hoặc của các tổ chức khác".
Giáo trình Thị trường chứng khoán - Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho
rằng: "trái phiếu là một loại chứng khoán qui định nghĩa vụ của người phát hành

5


(người đi vay) phải trả cho người đứng tên sở hữu chứng khoán (người cho vay) một
khoản tiền nhất định bao gồm cả gốc và lãi trong những khoảng thời gian cụ thể".
Giáo trình Luật chứng khoán - Trường Đại học Luật Hà Nội đưa ra định
nghĩa: "Trái phiếu là một loại chứng khoán nợ. Trái phiếu là phương tiện vay nợ,
theo đó chủ thể phát hành ra nó cam kết sẽ trả lại cả gốc và lãi vào thời gian nhất
định trong tương lai".
Điểm 3, khoản 6 Luật Chứng khoán 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) giải
thích từ ngữ về trái phiếu như sau: "Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền
và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần vốn nợ của tổ chức phát hành".
Như vậy, dù các định nghĩa có khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều thống
nhất với nhau về bản chất của trái phiếu là:
a. Trái phiếu là một loại chứng khoán
Trái phiếu cũng mang đầy đủ bản chất của một loại chứng khoán, đó là:
bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản
hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện dưới hình thức
chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử và trái phiếu mang hình thức là một
chứng chỉ
Xét về bản chất kinh tế, trái phiếu được coi là "tư bản giả"; có nghĩa, lượng
vốn (tư bản thật) đã được nhà đầu tư (người nắm giữ trái phiếu) chuyển cho các tổ
chức phát hành và họ chỉ nắm giữ những phương tiện thể hiện có lượng tư bản đang
tồn tại thực tế thông qua hình thức là trái phiếu. Xét về bản chất pháp lý, trái phiếu
là loại tài sản với đầy đủ đặc tính của nó. Từ khi xuất hiện, chứng khoán nói
chung, trái phiếu nói riêng được coi là một loại tài sản ở dạng giấy tờ có giá.
Người sở hữu trái phiếu có đầy đủ các quyền đối với trái phiếu như: chuyển
nhượng, tặng cho... như đối với bất kì loại tài sản nào khác.
b. Trái phiếu xác lập một quan hệ vay nợ giữa người phát hành và người sở hữu
Bản chất của trái phiếu là công cụ nợ mà nhà phát hành đi vay theo phương
thức có hoàn trả cả gốc lẫn lãi. Nó phản ảnh quan hệ vay mượn, sử dụng vốn lẫn

6


nhau trên nguyên tắc hoàn trả. Bản thân chứng chỉ trái phiếu hoặc các sổ sách ghi
chép trái phiếu thể hiện mối quan hệ vay mượn giữa hai chủ thể. Dù phát hành dưới
hình thức nào thì trái phiếu cũng có các điều khoản phản ánh quan hệ vay nợ như:
số tiền gốc, kỳ hạn, lãi suất, cách thức trả lãi - gốc, các điều khoản có liên quan như
quyền mua lại, quyền chọn bán, thế chấp,… Người cho vay (chỉ sở hữu trái phiếu)
sẽ không chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả hoạt động sử dụng vốn của người
vay, và trong mọi trường hợp, nhà phát hành phải có trách nhiệm hoàn trả cho trái
chủ theo các cam kết đã được xác định trong hợp đồng vay.
c. Người phát hành trái phiếu phải trả cho người sở hữu một khoản tiền
nhất định (gốc và lãi) trong một khoảng thời gian nhất định
Với các nhà đầu tư, trái phiếu là công cụ đầu tư. Nhà đầu tư được hưởng lợi
tức từ tiền lãi mà trái chủ phải thanh toán trong suốt kỳ hạn của trái phiếu và các
quyền lợi khác nếu có. Lợi tức của trái phiếu được xem là chi phí đối với chủ thể
phát hành. Nói cách khác, trái phiếu phải thể hiện được mệnh giá, lãi suất và thời
hạn trả nợ giữa đơn vị phát hành với người sở hữu trái phiếu.
Hiện nay, khái niệm trái phiếu chính phủ hiện đang được quan tâm xem xét,
làm rõ dưới nhiều góc độ. Dưới góc độ khoa học pháp lý, nội hàm của khái niệm
trái phiếu chính phủ bao gồm hai nội dung chính là: (1) Bản chất pháp lý, và (2)
Chủ thể phát hành.
Về bản chất pháp lý, trái phiếu chính phủ cũng thoả mãn các yếu tố của tất
cả các loại trái phiếu khác. Trái phiếu chính phủ cũng là một loại chứng khoán xác
nhận quan hệ vay nợ s và có đối tượng phát hành là Chính phủ. Nói cách khác, trái
phiếu chính phủ là sẽ thiết lập một quan hệ vay nợ với người sở hữu trái phiếu chính
phủ. Đề đáp ứng nhu cầu chi tiêu Ngân sách nhà nước, Chính phủ các nước thường
phát hành trái phiếu để huy động tiến nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài
nước. Hiện nay vẫn đang tồn tại hai nhóm quan điểm về chủ thể phát hành của trái
phiếu chính phủ như sau:
Nhóm quan điểm thứ nhất: Trái phiếu chính phủ là tên gọi chung của các
loại trái phiếu do Kho bạc Nhà nước phát hành và trái phiếu chính quyền địa

7


phương, các cơ quan được Chính phủ cho phép phát hành và được Chính phủ bảo
đảm thanh toán. Có thể thấy, phạm vi của trái phiếu chính phủ được xác định theo
quan điểm này khá rộng, bao gồm ba dạng: (1) trái phiếu do Chính phủ uỷ nhiệm cho
các cơ quan trực thuộc (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính) phát hành; (2) trái phiếu
do Chính quyền địa phương (Ủy ban nhân dân) phát hành; (3) trái phiếu do doanh
nghiệp phát hành nhưng được Nhà nước bảo đảm thanh toán. Quan điểm này có
phần chưa hợp lý vì đã quá mở rộng đối tượng có thẩm quyền phát hành trái phiếu
chính phủ và đồng nhất hoạt động phát hành trái phiếu chính phủ với hoạt động bảo
đảm thanh toán trái phiếu chính phủ đối với trái phiếu do doanh nghiệp phát hành.
Nhóm quan điểm thứ hai: Trái phiếu chính phủ là tên gọi chung của các
loại trái phiếu do cơ quan, tổ chức được Chính phủ chỉ định cho phép phát hành và
được Chính phủ bảo đảm thanh toán. Theo quan điểm này, các loại trái phiếu chính
phủ chỉ bao gồm các loại trái phiếu do Ngân hàng Nhà nước hoặc Bộ Tài chính phát
hành và Chính phủ bảo đảm thanh toán. Tác giả đồng thuận với quan điểm này vì đã
nêu rõ được vị trí pháp lý đặc trưng của trái phiếu chính phủ so với các loại trái
phiếu khác trên thị trường là do một loại chủ thể đặc biệt phát hành - Chính phủ.
Quan điểm này cũng phù hợp với định nghĩa được quy định tại khoản 1 Điều 2
Nghị định 01/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ vềphát hành
trái phiếu chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền
địa phương như sau: "Trái phiếu chính phủ là loại trái phiếu do Bộ Tài chính phát
hành nhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho chương
trình, dự án đầu tư cụ thể thuộc phạm vi đầu tư của nhà nước"
Từ những phân tích trên, có thể đưa ra khái niệm trái phiếu chính phủ như
sau: Trái phiếu chính phủ là một loại chứng khoán nợ, do Chính phủ phát hành, có
thời hạn, có mệnh giá, lãi suất và xác nhận nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ đối với
người sở hữu trái phiếu.
Xét dưới góc độ kinh tế, trái phiếu chính phủ cũng có những đặc điểm
chung của các loại trái phiếu, đó là:

8


• Tính sinh lời: Bản chất của trái phiếu là chứng chỉ vay nợ, do đó người sở
hữu (nhà đầu tư) sẽ thu lại một khoản lợi tức nhất định trong tương lai. Khoản lợi
túc này được thể hiện thông qua các dạng lãi suất của trái phiếu như: lãi suất danh
nghĩa, lãi suất hoàn vốn, lãi suất thị trưởng.
• Tính rủi ro: Bất kể trái phiếu nào cũng mang tính rủi ro và mức độ rủi ro
phụ thuộc vào tính chất, đặc thù của từng loại trái phiếu. Các chủ sở hữu, nhà đầu tư
trái phiếu không tham gia trực tiếp vào quá trình sử dụng nguồn vốn vay; đồng thời
với sự tác động của nền kinh tế thị trường, lạm phát... làm cho mức độ rủi ro của
trái phiếu cũng thay đổi.
• Tính thanh khoản: Đây là khả năng chuyển đổi trái phiếu thành tiền mặt
và mỗi trái phiếu khác nhau có tính thanh khoản khác nhau. Thông thường, với những
trái phiếu có kì hạn càng ngắn (dưới 1 năm) thì càng có tính thanh khoản cao.
Bên cạnh đó, trái phiếu chính phủ cũng mang những đặc điểm riêng như:
Một là, trái phiếu chính phủ có tính sinh lời thấp.
Trái phiếu chính phủ là chứng chỉ vay nợ của Chính phủ, khi đầu tư vào trái
phiếu tức là nhà đầu tư sẽ thu được một khoản lợi tức mong đợi trong tương lai; với
uy tín của chủ thể phát hành là Chính phủ và nguồn vốn thanh toán trái phiếu chính
phủ khi đến hạn được đảm bảo bằng nguồn vốn của Ngân sách nhà nước; vì vậy, về
nguyên tắc, lãi suất trái phiếu chính phủ phải thấp hơn lãi suất thị trường vay nợ
cùng kỳ hạn, do đó tính sinh lời của trái phiếu chính phủ sẽ không cao so với các
công cụ nợ khác trên thị trường. Trái phiếu chính phủ cũng có tính sinh lời như các
loại chứng khoán nợ khác. Khi đầu tư vào trái phiếu chính phủ, người đầu tư sẽ
được hưởng một mức lợi tức nhất định. Lợi tức của trái phiếu là vấn đề mà nhà đầu
tư và các nhà kinh tế quan tâm nhất vì nó phản ánh chính xác lợi nhuận thu được
khi đầu tư vào trái phiếu. Tỷ lệ lợi tức được xác định bằng cách lấy số tiền mà
người sở hữu trái phiếu nhận được từ lãi suất được hưởng của trái phiếu, cộng với
sự sai biệt về giá của trái phiếu đó, chia cho giá mua.
So với lãi suất của trái phiếu công ty và trái phiếu ngân hàng, trái phiếu
chính phủ thường có lãi suất thấp hơn do độ rủi ro thấp hơn. Tuy nhiên lãi suất trên

9


thị trường trái phiếu do cung cầu quyết định nên biến động theo thời gian. Do đó,
nếu so sánh cùng thời điểm phát hành thì thị trường trái phiếu chính phủ có mức lãi
suất thấp hơn các loại trái phiếu khác (trừ trường hợp đặc biệt như chiến tranh,
khủng hoảng, lạm phát..., Chính phủ cần huy động vốn cấp tốc để chi tiêu hoặc hút
tiền để điều hoà lưu thông tiền tệ, kiềm chế lạm phát thì lãi suất rất cao). Nhưng nếu
xét cả một quá trình thì lãi suất ở các thời điểm khác nhau của trái phiếu chính phủ
cũng biến động tuỳ theo diễn biến thị trường nên có thể tăng hay giảm. Vì vậy, so
với thời kỳ trước và sau, không nhất thiết lãi suất trái phiếu chính phủ luôn thấp hơn
lãi suất của các loại trái phiếu khác.
Hai là, trái phiếu chính phủ có tính rủi ro thấp do được bảo đảm thanh toán
bằng ngân sách nhà nước. Trái phiếu chính phủ là một loại trái phiếu có uy tín nhất
trên thị trường. Mức độ uy tín của trái phiếu chính phủ thể hiện ở chỗ Chính phủ có
khả năng bảo đảm cho việc thanh toán rất cao. Nguồn thanh toán trái phiếu chính
phủ chủ yếu lấy từ ngân sách nhà nước hoặc nguồn vốn thu hồi trực tiếp từ chính
các công trình được đầu tư bằng nguồn vốn phát hành trái phiếu chính phủ mang lại.
Cụ thể hơn, đối với các loại trái phiếu do Kho bạc Nhà nước phát hành, chính quyền
địa phương phát hành, nguồn vốn thanh toán được bảo đảm bằng ngân sách nhà
nước. Còn đối với các loại trái phiếu do các cơ quan được Chính phủ cho phép phát
hành thì nguồn vốn thanh toán được lấy từ nguồn thu chương trình, dự án đó mang
lại. Trong trường hợp không có khả năng thanh toán khoản nợ thì Chính phủ sẽ
đứng ra trả nợ. Tóm lại, trái phiếu chính phủ có tính an toàn cao, ít rủi ro vì được
bảo đảm trả nợ bằng nguồn ngân sách nhà nước.
Trong trường hợp ngân sách nhà nước không đảm bảo được nguồn để thanh
toán gốc, lãi trái phiếu khi đến hạn thì Chính phủ có thể phát hành nợ đến hạn (bằng
đồng tiền nội địa). Mặt khác, về mặt chính trị, khi Chính phủ này hết hạn cầm
quyền thì Chính phủ mới có trách nhiệm tiếp nhận và thanh toán các khoản nợ của
Chính phủ tiền nhiệm.
Mặc dù được coi là có độ an toàn cao nhất trong các loại chứng khoán nợ
nhưng trái phiếu chính phủ vẫn tiềm ẩn những yếu tố rủi ro như rủi ro do biến động

10


lãi suất, tỷ giá, rủi ro về khả năng thanh toán bằng ngoại tệ, rủi ro về khả năng
chuyển trái phiếu thành tiền mặt.
Trái phiếu chính phủ có nhiều loại khác nhau, tương ứng với mức độ rủi ro
khác nhau. Trái phiếu chính phủ trực tiếp phát hành có độ rủi ro thấp nhất, trái phiếu
chính quyền địa phương và trái phiếu của các cơ quan của Chính phủ phát hành có độ
rủi ro cao hơn trái phiếu chính phủ nhưng vẫn thấp hơn trái phiếu công ty.
Ba là, tính thanh khoản của trái phiếu chính phủ có hơn so với các loại trái
phiếu khác. Tuy nhiên, tính thanh khoản của trái phiếu chính phủ cũng tuỳ thuộc
vào từng loại trái phiếu được phát hành. Ví dụ: Tín phiếu kho bạc có tính thanh
khoản cao do thời hạn ngắn (dưới 1 năm). Trái phiếu kho bạc có tính thanh khoản
thấp hơn tín phiếu kho bạc do thời hạn thường dài trên 1 năm. Trái phiếu Chính
quyền địa phương và trái phiếu do cơ quan Chính phủ ban hành lại có tính thanh
khoản thấp hơn tín phiếu và trái phiếu chính phủ.
Để trái phiếu chính phủ đến được tay Nhà đầu tư và thu được vốn vay cho
Chính phủ thì cần phải thông qua một hoạt động gọi là phát hành trái phiếu chính
phủ. Về bản chất, hoạt động phát hành trái phiếu chính phủ chính là hoạt động chào
bán chứng khoán. Chào bán chứng khoản là hoạt động phát hành chứng khoán để
thu hút vốn, nhằm thỏa mãn nhu cầu về vốn của chủ thể chào bán. Chủ thể chào bán
chứng khoán rất đa dạng, có thể là Chính phủ, chính quyền địa phương và các
doanh nghiệp. Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về phát hành trái phiếu chính phủ
như sau: Phát hành trái phiếu chính phủ là hoạt động chào bán trái phiếu của
Chính phủ nhằm thu hút vốn, thoả mãn nhu cầu về vốn của Chính phủ.
Hoạt động chào bán chứng khoán (trái phiếu) của Chính phủ có những đặc
điểm nổi bật sau:
Một là, hoạt động phát hành trái phiếu chính phủ có đối tượng phát hành
đặc biệt. Điểm đặc biệt ở đây chính là việc Chính phủ một quốc gia huy động vay
vốn từ chính các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thông qua phát hành
trái phiếu. Khi phát hành trái phiếu đến tay chủ sở hữu, Chính phủ chủ động đề xuất

11


một quan hệ tài chính giữa Chính phủ và người cho vay thể hiện thông qua một
chứng chỉ vay nợ, đó chính là trái phiếu.
Hai là, mục đích của phát hành trái phiếu chính phủ là nhằm huy động vốn để
thực hiện các mục tiêu chung của quốc gia. Mục đích của việc phát hành trái phiếu
chính phủ chủ yếu nhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước một cách nhanh
chóng. Sau đó, Nhà nước sẽ sử dụng nguồn vốn này để đầu tư xây dựng các công
trình, dự án trọng điểm quốc gia hoặc để thực hiện các chương trình, mục tiêu của
Chính phủ. Suy cho cùng, Chính phủ huy động vốn từ nhân dân sau đó sử dụng vốn
đó phục vụ chính các nhu cầu của nhân dân.
Hai đặc điểm trên góp phần phân biệt giữa hoạt động phát hành trái phiếu
của Chính phủ với hoạt động phát hành trái phiếu của các doanh nghiệp hoặc các cơ
quan, tổ chức khác.
1.1.2. Phương thức phát hành trái phiếu chính phủ
Hiện nay, các phương thức phát hành trái phiếu chính phủ được ghi nhận
bao gồm: Đầu thầu trái phiếu; Bảo lãnh phát hành trái phiếu; Đại lý phát hành trái
phiếu; Bán lẻ trái phiếu.
a. Đấu thầu trái phiếu
Hình thức đấu thầu trái phiếu là việc bán trái phiếu cho các tổ chức, cá nhân
tham gia đấu thầu, đáp ứng đủ các yêu cầu và có mức lãi suất đặt thầu thấp nhất
(hay giá đặt thầu cao nhất). Việc đấu thầu trái phiếu có thể được thực hiện tại nơi
phát hành, có thể đấu thầu thông qua các tổ chức trung gian tài chính hoặc có thể
được thực hiện qua Sở giao dịch chứng khoán (các đối tượng tham gia tại Sở giao
dịch chứng khoán phải đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật). Các
nhà đầu tư nhỏ tham gia đấu thầu trái phiếu thông qua các thành viên đấu thầu.
Việc xác định khối lượng và lãi suất trúng thầu căn cứ vào khối lượng và lãi
suất đặt thầu của các thành viên, khối lượng vốn cần huy động và lãi suất chỉ đạo
(nếu có). Khối lượng trúng thầu được chọn bắt đầu từ mức lãi suất đặt thầu thấp
nhất đến mức lãi suất chỉ đạo (nếu có). Tại mức lãi suất đặt thầu mà khối lượng đặt

12


thầu vượt quá khối lượng vốn cần huy động thì khối lượng trúng thầu được phân
chia cho mỗi phiếu đặt thầu theo tỷ lệ thuận giữa khối lượng vốn cần huy động còn
lại và khối lượng đặt thầu của từng phiếu tại mức lãi suất đó. Trên thế giới hiện nay
thường áp dụng 2 phương thức đấu giá theo kiểu Hà Lan và Mỹ. Nếu đấu giá theo
kiểu Hà Lan (Dutch Auction) thì lãi suất trúng thầu cao nhất sẽ là lãi suất áp dụng
chung cho mọi đối tượng trúng thầu; nếu đấu giá theo kiểu Mỹ (American Auction)
thì các thành viên trúng thầu sẽ mua trái phiếu có lãi suất đúng bằng lãi suất họ đã
đặt thầu.
Trái phiếu đấu thầu qua thị trường chứng khoán tập trung được bán theo các
hình thức: bán chiết khấu; bán ngang mệnh giá; bán cao hoặc thấp hơn mệnh giá.
b. Bảo lãnh phát hành trái phiếu
Bảo lãnh phát hành trái phiếu là việc tổ chức bảo lãnh giúp tổ chức phát
hành thực hiện các thủ tục trước khi phát hành trái phiếu ra thị trường chứng khoán,
phân phối trái phiếu cho các nhà đầu tư, nhận mua trái phiếu để bán lại hoặc mua số
trái phiếu còn lại chưa phân phối hết. Trái phiếu do các tổ chức bảo lãnh phát hành
được bán theo hình thức chiết khấu và ngang mệnh giá. Bảo lãnh phát hành trái
phiếu được phân ra dưới nhiều hình thức sau:
+ Bảo lãnh với cam kết chắc chắn (bảo lãnh toàn phần): là phương thức, trong
đó tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua toàn bộ trái phiếu của nhà phát hành cho dù
trong trường hợp không phân phối hết. Hay nói một cách khác, tổ chức bảo lãnh
phát hành phải cam kết thanh toán đầy đủ số tiền bán trái phiếu cho nhà phát hành
kể cả có bán được hết hay không.
+ Bảo lãnh từng phần: là phương thức mà tổ chức bảo lãnh nhận mua một
phần (được quy định trong hợp đồng) số trái phiếu của nhà phát hành nếu phân phối
không hết.
+ Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: là hình thức trong đó, tổ chức bảo lãnh
hoạt động như một đại lý cho nhà phát hành; tổ chức bảo lãnh sẽ nỗ lực tối đa
nhưng không cam kết trong việc phân phối trái phiếu cho các nhà đầu tư. Trong

13


trường hợp nếu không bán hết, tổ chức bảo lãnh sẽ được quyền hoàn trả số trái
phiếu còn lại cho nhà phát hành mà không bị chịu phạt và đây là hình thức được các
tổ chức bảo lãnh hay áp dụng nhất.
+ Bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không: là hình thức mà tổ
chức bảo lãnh cũng phải cố gắng tối đa để bán hết số chứng khoán do tổ chức phát
hành yêu cầu. Trường hợp không bán hết, đợt phát hành sẽ bị huỷ bỏ và tổ chức bảo
lãnh sẽ không được nhận bất kỳ một khoản hoa hồng nào và số tiền đã bán trái
phiếu sẽ được hoàn trả cho các nhà đầu tư.
+ Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu - tối đa: đây là phương thức mà tổ
chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh phải phân phối một tỷ lệ tối thiểu nhất định
trái phiếu phát hành. Nếu không đạt được được tỷ lệ đó thì toàn bộ đợt phát hành bị
huỷ bỏ và tổ chức bảo lãnh sẽ không được nhận bất kỳ một khoản hoa hồng nào.
c. Đại lý phát hành trái phiếu
Hình thức đại lý phát hành trái phiếu là việc tổ chức được phép làm đại lý
phát hành trái phiếu thoả thuận với tổ chức phát hành nhận bán trái phiếu. Trường
hợp không bán hết, tổ chức đại lý phát hành được phép hoàn trả lại số trái phiếu cho
tổ chức phát hành mà không có trách nhiệm phải mua lại số trái phiếu không bán
hết đó và các tổ chức này sẽ được hưởng một khoản phí nhất định theo mức thoả
thuận với nhà phát hành.
Đại lý thanh toán trái phiếu là tổ chức được nhà phát hành uỷ quyền thanh
toán gốc và lãi trái phiếu khi đến hạn phải thanh toán. Các đại lý này cũng sẽ được
hưởng một khoản phí thanh toán nhất định theo mức thoả thuận với nhà phát hành.
Trái phiếu do các tổ chức làm đại lý phát hành được bán theo hình thức
giống như các tổ chức bảo lãnh phát hành.
d. Bán lẻ trái phiếu
Với hình thức này, nhà phát hành tiến hành tự tổ chức phát hành trái phiếu
cho nhà đầu tư mà không thông qua bất cứ một tổ chức trung gian nào. Hình thức
phát hành này phù hợp khi huy động với khối lượng vốn không lớn. Ưu điểm là chi

14


phí phát hành tương đối thấp. Tuy nhiên, có thể việc huy động sẽ bị kéo dài và khối
lượng huy động không đảm bảo theo kế hoạch vì phạm vi thị trường thường nhỏ hẹp.
Tại nhiều nước trên thế giới thường kết hợp các hình thức phát hành như
đấu thầu (theo giá hoặc theo lãi suất) kết hợp với phát hành qua tổ hợp ngân hàng
đầu tư và hình thức phát hành trực tiếp. Việc kết hợp này nhằm mục tiêu thực hiện
chính sách tài chính - tiền tệ, Chính phủ thường định kỳ phát hành nhằm tránh tác
động tiêu cực tới thị trường tài chính và cung cấp lãi suất chuẩn cho thị trường.
Hoạt động phát hành trái phiếu chính phủ không phải xin phép Ủy ban chứng khoán
Nhà nước. Thông qua nhu cầu và kế hoạch phát hành được cơ quan có thẩm quyền
phê duyệt, Chính phủ thực hiện việc phát hành trái phiếu thông qua các hình thức:
đấu thầu (đấu giá theo giá, theo lãi suất); phát hành qua tổ hợp các ngân hàng đầu tư
và bán lẻ qua hệ thống Kho bạc. Hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp khác
với trái phiếu chính phủ là đều phải xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban chứng
khoán Nhà nước; khi tiến hành phát hành, các doanh nghiệp phải tuân thủ theo đúng
các thủ tục và quy trình do các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quy định. Phát
hành trái phiếu doanh nghiệp thường thông qua hình thức sau: phát hành riêng lẻ
(đây là hình thức phát hành trong phạm vi hẹp, không tiến hành bán rộng rãi ra công
chúng. Do vậy, việc phát hành này chịu sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp và
không phải là đối tượng quy định pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng
khoán); phát ra công chúng với các phương thức tự phát hành, thông qua đại lý và
bảo lãnh.
1.1.3. Vai trò của phát hành trái phiếu chính phủ
Có thể nói, phát hành trái phiếu chính phủ là một hoạt động bọ phận của thị
trường tài chính, chứng khoán quốc gia. Xét trong mối quan hệ tương quan với các
bộ phận của thị trường tài chính, bao gồm thì trường tiền tệ, thị trường hối đoái và
thị trường vốn, thị trường chứng khoán trong đó có thị trường trái phiếu đóng một
vai trò rất quan trọng bởi lẽ, nó là một bộ phận cơ bản của thị trường vốn trung và
dài hạn cho Chính phủ và doanh nghiệp. Do vậy, sự tạo lập và phát triển thị trường

15


trái phiếu nói chung và phát hành trái phiếu chính phủ nói riêng có một ý nghĩa vô
cùng quan trọng đối với sự phát triển của thị trường tài chính cũng như đối với sự
phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Phát hành trái phiếu chính phủ thực hiện các vai
trò chủ yếu sau:
Thứ nhất, đối với nền kinh tế quốc dân. Bất cứ quốc gia nào, việc thực hiện
các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội phụ thuộc các nguồn vốn. Do
vậy, các mọi quốc gia đều chú trọng khai thác và sử dụng một cách có hiệu quả mọi
tiềm năng về tài chính, tài nguyên, lao động, đất đai để phát triển sản xuất kinh
doanh nhằm thực hiện thành công mục tiêu phát triển đặt ra. Một trong các nguồn
để phục vụ đầu tư phát triển trung và dài hạn đó là nguồn vốn trái phiếu. Nguồn vốn
trái phiếu có quy mô rất lớn, ổn định hơn kênh tín dụng, có mức đô rủi ro thấp, chi
phí vốn nhỏ hơn so với thị trường vốn cổ phần.
Do vậy, việc phát hành trái phiếu cho phép huy động một nguồn vốn tiết
kiệm lớn cung cấp cho nền kinh tế, đáp ứng được khoảng thời gian đầu tư trung và
dài hạn điều này góp phần điều hòa lượng vốn trong nền kinh tế và chia sẻ sức ép
với hệ thống ngân hàng.
Thứ hai, với tư cách vừa là nhà phát hành, vừa là người quản lý nhà nước,
Chính phủ có nhiệm vụ xây dựng một thị trường trái phiếu ngày càng phát triển,
cũng như thực hiện được các mục đích về điều hành các chính sách tài chính của
mình. Như vậy, thông qua hoạt động của thị trường trái phiếu đã giúp cho Chính
phủ giải quyết được một số vấn đề sau:
- Phục vụ đáp ứng nhu cầu về vốn của Chính phủ. Vay nợ của Chính phủ là
biện pháp để bù đắp thiếu hụt về vốn của Chính phủ. Đối với các quốc gia có điều
kiện nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế quốc dân
còn thấp, nguồn thu của ngân sách nhà nước (chủ yếu là thuế) có hạn, trong khi đó
nhu cầu chi cho đầu tư phát triển kinh tế rất lớn dẫn đến nảy sinh những mất cân đối
trong nền kinh tế mà điển hình là mất cân đối thu chi của Chính phủ. Để cân đối,
Chính phủ có nhiều biện pháp như vay nước ngoài, phát hành tiền, vay trong nước.

16


Trong đó, việc huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu là biện pháp hữu hiệu
nhất để bù đắp thiếu hụt, đồng thời còn tập trung được lượng vốn nhàn rỗi trong xã
hội để tăng nguồn chi cho phát triển kinh tế - xã hội. Biện pháp này được sử dụng
tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, ngay cả những nước phát triển có nguồn thu
tương đối lớn do nó không lệ thuộc vào vay nợ nước ngoài dễ gây nên sự mất ổn
định về kinh tế. Tuy nhiên cần phải nắm vững nhu cầu vay vốn, mục đích sử dụng
vốn, khả năng cung ứng nguồn vốn để từ đó xây dựng chiến lược và kế hoạch huy
động vốn một cách có hiệu quả. Mặt khác cần phải thấy rằng khi vay nợ quá lớn sẽ
tạo gánh nặng cho Chính phủ trong việc trả gốc và lãi, vì vậy cần quản lý công tác
vay nợ tốt để tránh gây nên sự bất ổn định về tài chính.
- Thúc đẩy phát triển thị trường vốn và thị trường chứng khoán. Phát triển
thị trường vốn, thị trường chứng khoán là một trong những nhân tố quyết định tốc
độ phát triển kinh tế của một quốc gia trong nền kinh tế thị trường. Sự phát triển của
thị trường vốn sẽ tạo điều kiện giao lưu giữa người có vốn muốn đầu tư và người có
nhu cầu sử dụng vốn trên thị trường từ đó giải phóng nguồn lực tài chính để phát
triển kinh tế. Trái phiếu có ưu điểm đặc biệt hơn so với các hình thức vay nợ khác là
nó có khả năng trao đổi, nên trái phiếu mà điển hình là trái phiếu chính phủ có vị trí
quan trọng trên thị trường chứng khoán; vai trò của trái phiếu chính phủ đối với
việc hình thành và phát triển thị trường vốn, thị trường chứng khoán thể hiện trên
các giác độ sau: (i) Tạo ra chứng khoán ban đầu cho thị trường hoạt động; kinh
nghiệm của các nước cho thấy, trong giai đoạn đầu mới thành lập của thị trường
chứng khoán, trái phiếu chính phủ là hàng hoá chủ đạo của thị trường, do độ rủi ro
của trái phiếu chính phủ thấp nên không gây nên sự đổ vỡ và bất ổn của thị trường
khi khuôn khổ pháp lý chưa hoàn thiện và trình độ am hiểu về hoạt động chứng
khoán của xã hội còn thấp. Hơn nữa do khối lượng trái phiếu chính phủ lớn, có tính
thanh khoản cao nên lãi suất của trái phiếu chính phủ được dùng làm lãi suất chuẩn
trên thị trường; (ii) Góp phần tăng cường chức năng định hướng phát triển và điều
tiết thị trường của Chính phủ: Thông qua việc sử dụng công cụ lãi suất đối với trái

17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×