Tải bản đầy đủ

Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở việt nam

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận văn thạc sĩ “Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam”
là kết quả nghiên cứu của riêng cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS.
Vũ Văn Cương, dựa trên những kiến thức tôi đã được học tại Viện Đại học mở Hà
Nội cũng như kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình công tác. Các số liệu, các
nguồn trích dẫn trong luận văn được chú thích nguồn gốc rõ ràng, minh bạch. Kết
quả nghiên cứu của luận văn chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào.
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2017
Tác giả

Phạm Việt Anh


LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều tổ chức
và cá nhân.
Trước hết, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Vũ Văn
Cương đã tận tình dành nhiều thời gian và trí lực trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt
quá trình xây dựng đề cương, nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu Viện Đại học mở Hà Nội, cùng

toàn thể quý thầy, cô giảng viên đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên
cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn các cơ quan có liên quan đã nhiệt tình giúp đỡ và
tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu thập số liệu, nắm tình hình
thực tế tại đơn vị.
Cuối cùng, tôi xin trân trọng cảm ơn Lãnh đạo cơ quan, đồng nghiệp nơi tôi
đang công tác, gia đình và bạn bè đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ, cổ vũ,
động viên tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Tuy đã có nhiều cố gắng, song không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong
quý thầy, cô giảng viên, các chuyên gia và những người quan tâm đến đề tài, đồng
nghiệp và bạn bè tiếp tục giúp đỡ, đóng góp ý kiến để luận văn được hoàn thiện
hơn.
Xin trân trọng cảm ơn./.


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI VÀ
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI.......................................................... 10
1.1. Những vấn đề chung về bảo hiểm tiền gửi ................................................... 10
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi.................................................. 10
1.1.2. Mục đích của bảo hiểm tiền gửi .................................................................... 16
1.1.3. Vai trò của bảo hiểm tiền gửi ........................................................................ 19
1.2. Khái quát về pháp luật bảo hiểm tiền gửi.................................................... 25
1.2.1. Khái niệm pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. ................................................... 25
1.2.2. Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
1.2.3. Các nhân tố tác động chi phối đến nội dung điều chỉnh của pháp luật về
bảo hiểm tiền gửi..................................................................................................... 32
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1...................................................................................... 36
Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 37
2.1. Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam hiện
nay .......................................................................................................................... 37
2.1.1. Thực trạng các quy định về chủ thể trong quan hệ bảo hiểm tiền gửi .......... 37
2.2.2. Thực trạng các quy định của pháp về loại tiền gửi bảo hiểm, thu nộp phí
bảo hiểm và trả tiền bảo hiểm. ................................................................................ 52
2.2.3. Thực trạng các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với


BHTG ..................................................................................................................... 63
2.3. Thực tiễn thi hành pháp luật về bảo hiểm tiền gửi Việt Nam hiện nay .... 64
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2...................................................................................... 71
Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI Ở VIỆT NAM ................................ 72
3.1. Những định hướng cơ bản trong hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm
tiền gửi ở Việt Nam ............................................................................................... 72
3.1.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam
hiện nay. .................................................................................................................. 72


3.1.2. Những nguyên tắc và yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm
tiền gửi ở Việt Nam................................................................................................. 74
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam........... 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3...................................................................................... 86
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................. 88


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước, hoạt động của hệ thống ngân
hàng Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Qua đó, hệ thống ngân
hàng phần nào đã khẳng định được vị trí của mình với vai trò cung cấp vốn cho
nền kinh tế. Trong quá trình phát triển đó, các sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng
mang lại cho nền kinh tế ngày càng đa dạng và phong phú hơn. Tuy nhiên, hoạt
động được xem là cơ bản và quan trọng nhất của các ngân hàng là huy động vốn
từ công chúng bằng cách nhận tiền gửi dưới những hình thức nhất định và sử dụng
khoản tiền đó để cấp vốn cho các chủ thể khác đang có nhu cầu sử dụng trong nền
kinh tế. Như vậy, có thể nói một cách khái quát rằng, hoạt động cơ bản của các
ngân hàng là đi vay để cho vay. Đây cũng chính là căn nguyên chính dẫn đến khả
năng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro đối với hoạt động ngân hàng. Mặt khác, đặc trưng lớn
nhất của hoạt động ngân hàng so với các loại hình doanh nghiệp khác là tính hệ
thống rất cao. Do vậy, khi xảy ra rủi ro, đổ vỡ của một ngân hàng rất có thể sẽ dẫn
đến đổ vỡ của cả một hệ thống, thậm chí còn có thể gây hoảng loạn cho cả một
nền kinh tế. Để đối phó với vấn đề này, Việt Nam cũng giống như các quốc gia
khác đã áp dụng nhiều biện pháp thông qua việc ban hành các quy định pháp luật
nhằm đem lại sự an toàn ở mức độ cao nhất có thể trong hoạt động ngân hàng.
Xét ở một khía cạnh khác, để bảo đảm cho sự bình ổn trong hoạt động của
các ngân hàng, không thể không tính đến việc bảo vệ sự an toàn cho người gửi
tiền. Bởi lẽ, chính người gửi tiền là đối tác cung cấp vốn cho ngân hàng, lượng
vốn này đóng vai trò quyết định đến lượng tiền mà các ngân hàng có thể sử dụng
để cấp cho nền kinh tế.
Như vậy, vấn đề bảo vệ người gửi tiền và bảo vệ sự an toàn, bền vững trong
hoạt động của các ngân hàng phải được xem xét một cách đồng thời và luôn có
mối quan hệ biện chứng với nhau. Do vậy, bảo hiểm tiền gửi xuất hiện được xem
như hoạt động kết hợp hài hoà lợi ích, một mặt bảo vệ lợi ích của người gửi tiền,
mặt khác tạo điều kiện thuận lợi cho sự tồn tại và phát triển an toàn, bền vững của
hệ thống ngân hàng.
Nhu cầu đó của nền kinh tế chính là lý do khách quan làm xuất hiện một lĩnh
vực pháp luật mới, pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Ở Việt Nam, vấn đề bảo hiểm
tiền gửi được đề cập từ năm 1994 theo quyết định số 101/1994/TCQĐ/BH về việc
ban hành quy tắc bảo hiểm trách nhiệm của quỹ tín dụng nhân dân đối với các
khoản tiền có kỳ hạn. Đây là văn bản pháp luật đầu tiên của Việt Nam về bảo hiểm


tiền gửi. Tuy nhiên, bảo hiểm tiền gửi trong giai đoạn này chỉ là một trong những
nghiệp vụ kinh doanh của Bảo Việt, một doanh nghiệp chuyên kinh doanh các loại
bảo hiểm thương mại.
Sau đó, hoạt động bảo hiểm tiền gửi được tách thành một hoạt động độc lập
và mang tính chuyên biệt theo Nghị định số 89/1999/NĐ-CP ngày 01/09/1999 về
bảo hiểm tiền gửi và hoạt động này được thực hiện bởi tổ chức Bảo hiểm tiền gửi
Việt Nam, tổ chức này được thành lập theo Quyết định số 218/1999/QĐ-TTg ngày
09/11/1999. Sau một thời gian áp dụng, Nghị định số 89/1999/NĐ-CP đã bộc lộ
những hạn chế nhất định nên ngày 24/08/2005 Chính phủ đã ban hành Nghị định
số 109/2005/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
89/1999/NĐ-CP.
Ngày 16/06/2010 Quốc hội ban hành: Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
và Luật Các tổ chức tín dụng để thay thế cho 2 Luật ban hành năm1997 và được
sửa đổi bổ sung năm 2003, 2004.
Trong khi đó các văn bản pháp luật BHTG chỉ tồn tại ở dạng văn bản dưới
luật, tính pháp điển chưa cao, chưa tạo ra hành lang pháp lý ổn định, chưa đồng bộ
và phù hợp với các văn bản pháp luật khác có liên quan và có nhiều quy định đã
bộc lộ sự không phù hợp so với đòi hỏi của thực tiễn. Mặt khác, hoạt động bảo
hiểm tiền gửi ở Việt Nam đã có được sự phát triển nhất định trong giai đoạn hơn
10 năm thử nghiệm (kể từ năm 1999) và đặc biệt hơn, trong giai đoạn nước ta
ngày càng hội nhập kinh tế quốc tế một cách sâu, rộng thì nhu cầu hoàn thiện hệ
thống pháp luật nói chung và pháp luật về bảo hiểm tiền gửi nói riêng càng trở nên
cần thiết. Do vậy, ngày 18/06/2012 Quốc hội ban hành Luật bảo hiểm tiền gửi
(Luật số 06/2012/QH13).Trên cơ sở các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban
hành nhiều Văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
Luật BHTG.
Như vậy, có thể nhận thấy, các quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi
Việt Nam là lĩnh vực pháp luật khá quan trọng trong hệ thống pháp luật điều chỉnh
các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Mặc dù là lĩnh vực pháp
luật được hình thành chưa lâu tại Việt Nam nhưng pháp luật về bảo hiểm tiền gửi
đã dần được hoàn thiện và phần nào đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn nền kinh
tế. Luật BHTG đã thi hành được gần 5 năm đã phát sinh nhiều bất cập, việc nghiên
cứu đánh giá đúng thực trạng các quy định hiện hành của Việt Nam về bảo hiểm
tiền gửi để đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở
Việt Nam trong điều kiện hiện nay nhằm giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra


đối với hệ thống các TCTD ở VN và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế là rất có ý
nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cũng như pháp luật điều chỉnh lĩnh
vực này đã hình thành và phát triển được gần 20 năm, trong khoảng thời gian đó,
đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề này và các nghiên cứu được tiếp cận
ở các giác độ khác nhau với những phạm vi khác nhau: Như các luận văn, luận án,
bài viết tạp chí, các bài đăng trên kỷ yếu hội thảo và đề tài nghiên cứu của một số
cơ quan: Có thể sắp xếp nhóm các công trình nghiên cứu về bảo hiểm tiền gửi và
pháp luật về bảo hiểm tiền gửi đã được thực hiện ở Việt Nam trong thời gian qua
như sau:
Thứ nhất: Những công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động bảo hiểm
tiền gửi, nhìn dưới giác độ kinh tế và chính sách bảo hiểm tiền gửi có các công
trình sau:
- Các công trình nghiên cứu của tác giả: Nguyễn Thị Kim Oanh - Các giải
pháp phát triển hoạt động bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam - Luận án Tiến sĩ kinh tế
2004. Công trình nghiên cứu này của tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh được đánh giá
là công trình nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế, những nội dung mà tác giả đưa ra
phân tích, đánh giá khá toàn diện có giá trị về lý luận và thực tiễn, có giá trị tham
khảo trong nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, các công trình được nghiên cứu cách
đây hơn chục năm, có nội dung đã không còn phù hợp với thực tiễn.
Cũng liên quan đến bảo hiểm tiền gửi nhìn từ khía cạnh kinh tế - Tác giả Đào
Văn Tuấn trong luận văn thạc sĩ kinh tế của mình đã lựa chọn những giải pháp
nhằm hoàn thiện chính sách bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam. Đây cũng là công trình
nghiên cứu có giá trị tham khảo, ở đó tác giả cũng nêu khái quát về bảo hiểm tiền
gửi và những hoạt động bảo hiểm tiền gửi, phân tích chính sách bảo hiểm tiền gửi
ở nước ta và từ đó đưa ra những giải pháp góp phần hoàn thiện chính sách bảo
hiểm tiền gửi ở Việt Nam.
- Bài viết của TS.Vũ Như Thăng - Viện trưởng viện chiến lược và chính sách
tài chính - Bộ Tài chính: Phát huy vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi trong bối
cảnh thị trường tài chính hội nhập đăng trên Thông tin bảo hiểm tiền gửi số tháng
1 năm 2011. Bài viết phân tích tình hình quốc tế sau những cuộc khủng hoảng
kinh tế, theo đó hàng loạt ngân hàng đổ vỡ và thực tế đã cho thấy nhiều quốc gia
phải sử dụng đến công cụ bảo hiểm tiền gửi như một cứu cánh để lấy lại niềm tin
nơi công chúng để có thể lôi kéo họ quay lại với thị trường bằng cách gia tăng các


biện pháp bảo vệ người gửi tiền và giúp các ngân hàng rút lui khỏi thị trường một
cách có trật tự. Từ đó, tác giả đặt vấn đề với bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, liệu rằng
đã đáp ứng được yêu cầu trong việc bảo vệ người gửi tiền? Các quy định của pháp
luật về lĩnh vực này đã thực sự đầy đủ và chặt chẽ? Hạn mức chi trả bảo hiểm tiền
gửi đã phù hợp?… Tác giả đi đến kết luận rằng: Tất cả những vấn đề đó đều chưa
đáp ứng được yêu cầu và đấy chính là những đòi hỏi cần sớm khắc phục nếu
chúng ta thực sự muốn phát huy vai trò của bảo hiểm tiền gửi trong việc bảo vệ
người gửi tiền, bảo vệ an toàn cho hệ thống tài chính đặc biệt trong bối cảnh thị
trường tài chính đang trong quá trình hội nhập quốc tế.
- Bài viết của TS.Nguyễn Mạnh Dũng: Bộ nguyên tắc phát triển hệ thống bảo
hiểm tiền gửi hiệu quả và thực trạng hệ thống bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam được
đăng tải trên Thông tin bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được tiếp cận dựa trên bộ
nguyên tắc phát triển hệ thống bảo hiểm tiền gửi hiệu quả của Hiệp hội BHTG
quốc tế (IADI) và đánh giá thực trạng bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam. Đây là tài
liệu tham khảo có ý quan trọng, đặc biệt khi chúng ta tiến hành hội nhập quốc tế
và là thành viên của IADI.
Thứ hai: Những công trình nghiên cứu có liên quan đến pháp luật về bảo
hiểm tiền gửi ở Việt Nam. Về vấn đề này, nhìn chung có khá nhiều công trình
nghiên cứu ở các quy mô và phạm vi nghiên cứu khác nhau. Cụ thể như sau:
- Phạm Tiến Sỹ (2010) “Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam - Thực
trạng và hướng hoàn thiện”; Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà
Nội.
- Nguyễn Thuỳ Linh (2012) “Pháp luật về tổ chức và hoạt động của bảo
hiểm tiền gửi Việt Nam –Thực trạng và phương hướng hoàn thiện” Luận văn thạc
sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
- Nguyễn Đức Minh (2013); Hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi tại
Việt Nam” luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
- Trần Thị Nguyệt (2014)“Quyền và nghĩa vụ của cơ quan bảo hiểm tiền
gửi theo pháp luật Việt Nam” , Khoa Luât, Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Các bài viết của TS. Đinh Dũng Sỹ: “Bảo hiểm tiền gửi và vấn đề an toàn
tín dụng” được đăng trên Tạp chí Luật học số tháng 6 năm 2002. “Khái niệm tiền
gửi cá nhân được bảo hiểm nhìn dưới phương diện pháp lý” - được đăng trong kỷ
yếu Hội thảo khoa học với chủ đề Đối tượng tiền được bảo hiểm - tổ chức tháng
10 năm 2004. “Mô hình bảo hiểm tiền gửi hiện nay và những vấn đề cần quan tâm
khi xây dựng Luật bảo hiểm tiền gửi”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 1 năm
2008. Các Bài viết này của tác giả bàn về khái niệm tiền của cá nhân được bảo


hiểm; Vai trò của bảo hiểm tiền gửi và đưa ra các yêu cầu trong việc thiết lập bảo
hiểm tiền gửi, các quy định liên quan đến hoạt động bảo hiểm tiền gửi sao cho phù
hợp để bảo hiểm tiền gửi góp phần tạo lập sự an toàn cho hoạt động tín dụng; Các
mô hình bảo hiểm tiền gửi trên thế giới, đặc trưng và bản chất của từng mô hình
bảo hiểm tiền gửi. Để trên cơ sở đó, căn cứ vào những lập luận của mình, tác giả
nêu lên một số vấn đề cần quan tâm trong quá trình xây dựng pháp luật Bảo hiểm
tiền gửi Việt Nam… Mặc dù chỉ đề cập đến một khía cạnh của bảo hiểm tiền gửi
đó là mô hình bảo hiểm tiền gửi… Các bài viết của tác giả nêu trên rất có giá trị
tham khảo trong nghiên cứu khoa học và trong công tác lập pháp.
- Các công trình khoa học của TS. Lê Thị Thu Thủy gồm: Cuốn sách chuyên
khảo: “Pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam” Nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội
năm 2008. Bài viết: “Bàn về mô hình bảo hiểm tiền gửi trong thời kỳ hội nhập
quốc tế”, Tạp chí Luật học số 12 năm 2007. Tác giả phân tích những vấn đề lý
luận về bảo hiểm tiền gửi, pháp luật về bảo hiểm tiền gửi và phương hướng hoàn
thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi tại Việt Nam…Trong bài viết của mình, tác
giả phân tích một số mô hình bảo hiểm tiền gửi của một số nước trên thế giới để
rồi trên cơ sở đó đưa ra những viêt nhận định và một số kiến nghị về việc thiết lập
mô hình bảo hiểm tiền gửi Việt Nam sao cho phù hợp với điều kiện hội nhập quốc
tế. Đây là các tài liệu cung cấp lượng kiến thức rộng, có nhiều điểm sáng tạo có
giá trị tham khảo tốt về lý luận và thực tiễn và có giá trị trong công tác xây dựng
và hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở nước ta.
- Báo cáo tổng kết thi hành pháp luật về bảo hiểm tiền gửi giai đoạn 1999 2010 do Ngân hàng Nhà nước Việt nam thực hiện năm 2011. Báo cáo đã có những
phân tích, nhận định những thuận lợi và khó khăn, những mặt tích cực và hạn chế
trong việc triển khai thi hành pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam trong thời
gian qua. Đây thực sự là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu khoa học và công tác
xây dựng pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam.
3. Phạm vi, đối tượng nghiên cứu đề tài
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
Luận văn xác định phạm vi nghiên cứu gồm:
+ Những vấn đề lý luận về bảo hiểm tiền gửi như: khái niệm, mục đích và vai
trò của bảo hiểm tiền gửi cũng như những vấn đề mang tính lý luận về pháp luật
bảo hiểm tiền gửi, đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về bảo hiểm
tiền gửi.
+ Phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về bảo hiểm tiền
gửi, đánh giá thực trạng các quy định này dựa trên cơ sở khoa học, thực tiễn vận


hành và so sánh với pháp luật về bảo hiểm tiền gửi của một số nước trên thế giới.
+ Phân tích xu hướng phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam; các yêu
cầu trong việc hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi; đưa ra kiến nghị nhằm
hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Những vấn đề liên quan đến việc thực thi pháp luật về bảo hiểm tiền gửi không
thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn.
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn được xác định là các quan điểm khoa học,
các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo hiểm tiền gửi, các tư liệu, số liệu thực
tiễn thi hành pháp luật về BHTG ở Việt Nam trong những năm gần đây…Ngoài
ra, luận văn có nghiên cứu khái quát pháp luật BHTG của một số nước để phục vụ
cho so sánh, chắt lọc nhằm đưa ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về BHTG
trong luận văn của mình.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
- Mục đích của luận văn:
+ Làm rõ và hoàn thiện những vấn đề mang tính lý luận về bảo hiểm tiền gửi
và pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Xác định nhóm các quy định mà pháp luật về
bảo hiểm tiền gửi cần hướng tới.
+ Phân tích thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật về bảo hiểm tiền
gửi ở Việt Nam, đánh giá đúng đắn và toàn diện các quy định hiện hành về bảo
hiểm tiền gửi. Qua đó chỉ ra những điểm bất cập của pháp luật về bảo hiểm tiền
gửi của Việt Nam hiện nay so với đòi hỏi khách quan của nền kinh tế; các quy tắc
của Hiệp hội bảo hiểm tiền gửi quốc tế và thông lệ quốc tế.
+ Trên cơ sở đánh giá thực trạng pháp luật, thực tiễn thi hành pháp luật về
bảo hiểm tiền gửi của Việt Nam, Luận văn đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn
thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay sao cho
phù hợp với trình độ phát triển của nền kinh tế cũng như phù hợp với thông lệ
quốc tế.
- Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:
Để đạt được mục đích đã nêu trên, các nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
được xác định cụ thể như sau:
+ Nghiên cứu làm rõ khái niệm bảo hiểm, bảo hiểm tiền gửi để từ đó phân
tích mục đích, vai trò của bảo hiểm tiền gửi.
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật bảo hiểm tiền gửi, trong đó
chỉ rõ sự cần thiết phải điều chỉnh bởi pháp luật, nội dung mà lĩnh vực pháp luật
này cần tác động. Các yếu tố chi phối nội dung điều chỉnh của pháp luật bảo hiểm


tiền gửi.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện
hành về tổ chức bảo hiểm tiền gửi; tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi và chủ thể
được thụ hưởng bảo hiểm tiền gửi; Loại tiền được bảo hiểm; về phí bảo hiểm tiền
gửi và hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi cho người thụ hưởng khi có sự kiện bảo
hiểm phát sinh; quy trình chi trả bảo hiểm tiền gửi…
+ Phân tích, đánh giá những kết quả đạt được, những khó khăn vướng, mắc
và nguyên nhân của nó trong thực tiễn thi hành pháp luật về BHTG ở Việt Nam
thời gian qua.
+ Từ kết quả nghiên cứu thực trạng các quy định của pháp luật về bảo hiểm
tiền gửi và thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi Luận văn đề xuất
phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Để làm rõ các vấn đề nghiên cứu, luận văn được xử lý trên cơ sở phương
pháp luận là chủ nghĩa duy vậy biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Đây là
phương pháp luận khoa học được vận dụng nghiên cứu trong toàn bộ luận văn.
Qua đó, luận văn đánh giá khách quan, toàn diện sự thể hiện của các quy định của
pháp luật về bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam hiện nay cũng như sự vận động và phát
triển là tất yếu khách quan.
Bên cạnh đó, trong luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể
như: Phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp
luật học so sánh, phương pháp thống kê, phương pháp lịch sử cụ thể… Để hoàn
thành mục đích nghiên cứu, luận văn có sử dụng sự kết hợp giữa các phương pháp
trong từng phần cụ thể. Trong đó, phương pháp phân tích và tổng hợp là phương
pháp được sử dụng nhiều nhất trong luận văn. Đối với mỗi mục, mỗi phần cụ thể
trong luận văn có thể sẽ được sử dụng phương pháp nghiên cứu chủ đạo.
6. Kết cấu của luận văn
Với những câu hỏi nghiên cứu, giả thiết nghiên cứu, mục đích và nhiệm vụ
của luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu gồm 3 chương. Cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về Bảo hiểm tiền gửi và pháp luật về Bảo
hiểm tiền gửi
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về Bảo
hiểm tiền gửi ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về Bảo


hiểm tiền gửi ở Việt Nam


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM TIỀN GỬI
1.1. Những vấn đề chung về bảo hiểm tiền gửi
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm của bảo hiểm tiền gửi
Cũng như các loại hình bảo hiểm khác, BHTG cũng dựa trên nguyên tắc lấy
số đông bù số ít, song đặc thù của BHTG là thực hiện chính sách công nhằm mục
tiêu bảo vệ người gửi tiền và góp phần đảm bảo an toàn hoạt động ngân hàng và
rộng hơn là hệ thống tài chính. Để hiểu thế nào là BHTG, trước hết phải làm rõ
khái niệm tiền gửi.
Dưới góc độ kinh tế, tiền gửi được hiểu là “khoản tiền cho các định chế tài
chính nào đó vay với điều kiện cho phép rút có báo trước hoặc không hay hoàn trả
sau một thời gian nhất định. Những khoản tiền như vậy thường được gọi là “đang
gửi ngân hàng”.
Dưới giác độ pháp lý, pháp luật ở các quốc gia có diễn đạt khái niệm tiền gửi
có sự khác nhau đáng kể. Luật bảo hiểm tiền gửi của Mỹ quy định rằng: “Tiền gửi
được hiểu là số dư tiền hoặc giá trị tương đương chưa được thanh toán đã được
nhận hoặc giữ bởi một ngân hàng hoặc hiệp hội tiết kiệm trong hoạt động kinh
doanh thông thường và từ đó nó cấp hoặc có nghĩa vụ cấp tín dụng, dù là có điều
kiện hay không điều kiện, cho một tài khoản thương mại, séc, tiết kiệm, không kỳ
hạn, hoặc được chứng minh bằng giấy chứng nhận tiền gửi, chứng nhận tiết kiệm,
chứng nhận đầu tư, chứng nhận nợ, hoặc những tên tương tự, hoặc séc hay hối
phiếu rút ra từ tài khoản tiền gửi và được chứng nhận bởi ngân hàng hoặc hiệp
hội tiết kiệm, hoặc thư tín dụng hoặc séc du lịch mà ngân hàng hoặc hiệp hội tiết
kiệm có nghĩa vụ đầu tiên”
Luật các TCTD Việt Nam năm 2010 không sử dụng khái niệm tiền gửi mà sử
dụng khái niệm “nhận tiền gửi”. Theo đó, “nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền
của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền
gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức
nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi
tiền theo thỏa thuận”.
Từ những cách tiếp cận trên, có thể rút ra định nghĩa khái quát về tiền gửi như
sau:
“Tiền gửi là khoản tiền của khách hàng gửi tại TCTD (tổ chức được phép
huy động tiền gửi từ dân chúng) dưới những hình thức theo quy định của pháp


luật phù hợp với mục đích, yêu cầu của khách hàng và của chính TCTD đó”.
Nghiên cứu về lịch sử hình thành và quá trình hoạt động của các TCTD, có
thể nhận thấy rằng, một trong những hoạt động đặc biệt quan trọng của các TCTD
là hoạt động huy động vốn từ công chúng. Hoạt động này được thực hiện dưới
nhiều hình thức khác nhau như nhận tiền gửi dưới dạng tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi
không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành giấy tờ có giá. Nguồn vốn huy động từ
công chúng sẽ được TCTD cho các chủ thể khác trong nền kinh tế vay nhằm mục
đích phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hoặc nhằm mục đích tiến hành các hoạt
động sản xuất, kinh doanh. Với hoạt động cơ bản này thì TCTD đã trở thành trung
gian tài chính giữa người cho vay và người đi vay.
Có thể dễ nhận thấy rằng, hoạt động ngân hàng là hoạt động luôn ẩn chứa
nhiều rủi ro. Với tư cách là trung gian tài chính, đi vay để cho vay lại, nên trong
hoạt động, các TCTD chịu sự chi phối của nhiều yếu tố về môi trường kinh tế,
chính trị, xã hội, cơ chế chính sách vĩ mô và vi mô. Những yếu tố này luôn luôn
biến động và chịu sự tác động của nền kinh tế thế giới. Nền kinh tế quốc gia càng
hội nhập sâu, rộng vào kinh tế thế giới thì mức độ ảnh hưởng càng cao và rủi ro
ngân hàng theo đó cũng tăng theo. Hoạt động của các TCTD có mối liên hệ chặt
chẽ với nhau và mang tính dây truyền. Do vậy, mục tiêu bảo đảm an toàn hệ thống
TCTD đã được nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam lựa chọn.
Thực tiễn hoạt động kinh doanh ngân hàng cho thấy, trong chừng mực nhất
định, do hạn chế về kiến thức chuyên môn cũng như khả năng phân tích, nắm bắt
thông tin của người gửi tiền, TCTD đã có những quyết định kinh doanh mạo hiểm,
quá quan tâm đến lợi nhuận của mình và như vậy, hành động này nếu không được
kiểm soát chặt chẽ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tiền gửi của khách hàng.
Một trong những biện pháp kiểm soát đối với hoạt động sử dụng tiền gửi của
khách hàng, tăng cường nghĩa vụ cẩn trọng của TCTD trong sử dụng vốn, các
quốc gia đã thiết lập quy định bắt buộc các tổ chức có huy động tiền gửi từ dân
chúng phải mua bảo hiểm đối với khoản tiền gửi đã được huy động.
BHTG đã xuất hiện khá lâu và có rất nhiều học giả đưa ra những cách tiếp
cận không giống nhau về bảo hiểm tiền gửi. Theo tài liệu chuyên khảo về BHTG
và quản lý khủng hoảng do quỹ tiền tệ quốc tế phát hành của tác giả Carl Johan
Lindgren và Gilian Garcia thì “BHTG gửi được định nghĩa như một cơ chế có giới
hạn nhưng chính thức cung cấp sự bảo đảm mang tính pháp lý cho các khoản gốc
(và thường là cả lãi) của các khoản tiền gửi”.
Ở Việt Nam, hoạt động BHTG đã được hình thành và đi vào hoạt động gần
20 năm, chúng ta đã ban hành những văn bản pháp luật nhằm điều chỉnh hoạt động


này và thực tế cho thấy BHTG Việt Nam phần nào đã thể hiện được vai trò của
mình trong việc tạo niềm tin cho người gửi tiền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người gửi tiền cũng như tạo ra sự bình ổn cho hoạt động ngân hàng.
Các quan niệm về BHTG của các nhà khoa học Việt Nam hiện nay: Theo tác
giả Đào Văn Tuấn: “BHTG được hiểu là một sự bảo đảm rằng số dư gốc và lãi
cộng dồn của các tài khoản tiền gửi nhất định sẽ được thanh toán tới một giới hạn
nhất định”.
Theo tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh trong luận án tiến sĩ của mình đã đưa ra
khái niệm BHTG như sau: “BHTG là cam kết công khai của tổ chức BHTG đối với
tổ chức tham gia BHTG về việc tổ chức BHTG sẽ trả tiền gửi bao gồm phần gốc
và lãi cho người gửi tiền khi tổ chức tham gia BHTG bị chấm dứt hoạt động và
không có khả năng thanh toán cho người gửi tiền. Cam kết công khai này thể hiện
dưới hình thức hợp đồng bảo hiểm giữa hai đối tác, tổ chức BHTG, tổ chức huy
động tiền gửi (còn gọi là tổ chức tham gia BHTG) và người gửi tiền”. Quan niệm
này đã đề cập khá toàn diện khái niệm BHTG trên cơ sở tiếp cận từ các chủ thể
tham gia quan hệ BHTG và điều kiện chi trả BHTG.
Cũng bàn về khái niệm BHTG, TS. Lê Thị Thu Thủy cho rằng: “BHTG là
loại hình bảo hiểm, theo đó bảo đảm nghĩa vụ chi trả trong tương lai các khoản
tiền gửi cho người gửi tiền tại các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi khi các tổ
chức này gặp rủi ro dẫn đến tình trạng không có khả năng thanh toán các khoản
nợ đến hạn bị buộc giải thể hoặc phá sản”.
Tại khoản 1, Điều 4 Luật BHTG Việt Nam năm 2012 có quy định: “Bảo
hiểm tiền gửi là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được bảo hiểm tiền gửi
trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào
tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản”. Luật
BHTG có giải thích:
- Người được bảo hiểm tiền gửi là cá nhân có tiền gửi được bảo hiểm tại tổ
chức tham gia bảo hiểm tiền gửi.
- Tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng được nhận
tiền gửi của cá nhân”.
- Tổ chức bảo hiểm tiền gửi là tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động không
vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi, góp phần duy trì sự
ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành
mạnh của hoạt động ngân hàng”.
Như vậy, bảo hiểm tiền gửi có thể được hiểu như sau: “Bảo hiểm tiền gửi là


cam kết giữa tổ chức bảo hiểm tiền gửi với tổ chức nhận tiền gửi, theo đó tổ chức
bảo hiểm tiền gửi sẽ thực hiện thanh toán thay tổ chức nhận tiền gửi khi tổ chức
nhận tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền
hoặc phá sản”
Qua phân tích trên, có thể rút ra đặc trưng cơ bản của BHTG như sau:
Thứ nhất, về tính chất, mặc dù cũng dựa trên nguyên lý “lấy số đông bù số
ít”, nhưng hoạt động BHTG là công cụ thực hiện chính sách công với nhiệm vụ
quan trọng nhất là bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, góp phần bảo đảm sự phát triển
an toàn, lành mạnh của hệ thống tài chính quốc gia. Hiện nay trên thế giới có hai
xu hướng tham gia BHTG, đó là các tổ chức tham gia BHTG có thể tham gia
BHTG một cách bắt buộc hoặc tham gia tự nguyện. Điều này, tùy thuộc vào chính
sách tài chính ngân hàng của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, qua nghiên cứu ở các nước
cho thấy, xu hướng phổ biến hiện nay là tham gia BHTG bắt buộc. Chẳng hạn như
Mỹ, pháp luật có quy định các ngân hàng là thành viên của hệ thống dự trữ liên
bang phải tham gia bảo hiểm tại công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang (Federal
Deposit Insurance Corporation, viết tắt là: FDIC”.
Bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam, xét về tính chất - là loại hình bảo hiểm bắt
buộc.
Bởi vì, pháp luật bảo hiểm tiền gửi VN có quy định về điều kiện bảo hiểm,
mức phí bảo hiểm mà các tham gia quan hệ bảo hiểm có nghĩa vụ phải thực hiện.
Việc áp dụng chế độ bảo hiểm bắt buộc đối với tiền gửi không chỉ nhằm xử lí rủi
ro đối với tổ chức nhận tiền gửi, bảo vệ lợi ích của người gửi tiền mà còn bảo vệ
sự an toàn cho cả hệ thống các tổ chức tín dụng, sự ổn định tiền tệ quốc gia. Đồng
thời còn tạo ra sự bình đẳng, công bằng trong các tổ chức có hoạt động ngân hàng,
góp phần nâng cao uy tín của các tổ chức tín dụng đối với người dân trong giai
đoạn hiện nay, nhằm khai thác tối đa các nguồn vốn nhàn rỗi để tập trung cho đầu
tư phát triển kinh tế.
Thứ hai, xét về đối tượng bảo hiểm thì bảo hiểm tiền gửi thuộc loại bảo
hiểm trách nhiệm dân sự phát sinh trong hợp đồng. Bởi vì, đối tượng của bảo hiểm
tiền gửi chính là nghĩa vụ hoàn trả tiền gửi (cả gốc và lãi) của tổ chức nhận tiền gửi
đối với người gửi tiền. Trong pháp luật bảo hiểm tiền gửi ở nước ta đã xác định rõ:
Người tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm là các tổ chức được phép
nhận tiền gửi của các khách hàng là cá nhân bằng đồng Việt Nam, còn người được
hưởng quyền lợi bảo hiểm là người gửi tiền là cá nhân tại tổ chức tham gia bảo
hiểm.
Người gửi tiền không phải đóng góp tài chính cho tổ chức BHTG nhưng có


quyền yêu cầu tổ chức BHTG thanh toán tiền gửi kể cả tiền lãi tích lũy trên tiền
gửi đó trong hạn mức chi trả tiền gửi được bảo hiểm của tổ chức BHTG có thể là
toàn bộ hoặc một phần tiền gửi do chính sách của mỗi quốc gia. Tổ chức tham gia
BHTG chỉ được hưởng lợi gián tiếp từ việc tham gia BHTG như được giám sát
bởi một cơ quan Nhà nước, huy động vốn từ dân cư sẽ dễ dàng hơn do người gửi
tiền biết họ sẽ được bảo hiểm khi gửi tiền tại tổ chức đã tham gia BHTG.
Ở một số nước, bảo hiểm tiền gửi mang tính chất hỗn hợp giữa bảo hiểm
trách nhiệm dân sự và bảo hiểm tài sản. Chẳng hạn ở Canada, người được hưởng
quyền lợi bảo hiểm là người gửi tiền nhưng số tiền phí bảo hiểm một phần do tổ
chức nhận tiền gửi đóng và một phần phí bảo hiểm do người gửi tiền đóng.
Thứ ba, xét về bản chất, bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam là loại hình bảo
hiểm phi thương mại, không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật kinh doanh bảo
hiểm mà được điều chỉnh bằng một quy chế pháp lí riêng (Luật Bảo hiểm tiền
gửi). Tính phi thương mại của bảo hiểm tiền gửi thể hiện ở chỗ, bên bảo hiểm là tổ
chức Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam - tổ chức tài chính nhà nước, mục tiêu hoạt động
của tổ chức này là hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận mà nhằm mục đích
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, góp phần duy trì sự ổn định
của các tổ chức tín dụng bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh hoạt động ngân
hàng.
Đây chính là cơ sở để khẳng định dịch vụ BHTG thuộc loại hàng hóa công
không thuần túy, là việc Nhà nước đưa ra lời bảo đảm tới một giới hạn nhất định
đối với tiền gửi nhằm bảo vệ người tiền gửi thông qua các quy định trong Luật
BHTG đối với người gửi tiền hay tiền gửi thuộc đối tượng được bảo hiểm tại tổ
chức nhận tiền gửi.
Thứ tư, về hình thức pháp lý, việc tham gia quan hệ BHTG không dựa trên
hợp đồng BHTG mà việc tham gia quan hệ BHTG được thực hiện thông qua quyết
định công nhận tham gia BHTG, mang tính hành chính. Do đó, nội dung của
BHTG được thực hiện theo quy định của pháp luật, các bên tham gia quan hệ
BHTG không được tự do thỏa thuận các nội dung của bảo hiểm như những loại
hình bảo hiểm thương mại khác.
1.1.2. Mục đích của bảo hiểm tiền gửi
Bảo hiểm tiền gửi xuất hiện như một đòi hỏi khách quan của nền kinh tế, đó
là hoạt động vô cùng quan trọng nhằm mang lại niềm tin từ phía người gửi tiền đối
với các tổ chức nhận tiền gửi. Như vậy, có thể rút ra những mục đích của BHTG
như sau:
Một là, bảo hiểm tiền gửi là công cụ quan trọng bảo vệ người gửi tiền, có thể


coi đây là mục đích quan trọng nhất của BHTG, điều này được thể hiện ngay ở tên
gọi của nó, là sự thể hiện của việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực
tài chính ngân hàng. Có thể khẳng định đây là “là tuyên ngôn của mọi tổ chức bảo
hiểm tiền gửi hiện nay”.
Tổ chức BHTG sinh ra là để bảo vệ quyền lợi của những người gửi tiền tại
các ngân hàng và các định chế tài chính khác khi họ gặp rủi ro. Người gửi tiền
chính là những người cho các ngân hàng vay tiền. Do vậy, người gửi tiền tại các
TCTD là những người rất dễ thiệt hại và hoàn toàn không có khả năng tự bảo vệ
mình. Bởi lẽ, những thiệt hại của họ không đến từ chính bản thân họ mà đến từ rủi
ro của những TCTD hoặc các chủ thể khác kinh doanh bằng đồng tiền của họ. Do
vậy, để bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, nhất là những người gửi tiền nhỏ, ít
có khả năng tự bảo vệ cần phải có một tổ chức đứng ra bảo hiểm cho tiền gửi của
họ. Chính vì vậy, điểm đặc biệt của loại hình bảo hiểm này là người được bảo
hiểm (người được hưởng quyền lợi bảo hiểm là người gửi tiền vào tổ chức tham
gia bảo hiểm) không phải là người tham gia bảo hiểm và trả phí bảo hiểm mà là
các tổ chức huy động tiền gửi. Cũng vì vậy, BHTG trở thành hình thức bảo hiểm
tham gia bắt buộc đối với các tổ chức có huy động tiền gửi của dân cư. .
Hai là, bảo hiểm tiền gửi nhằm mục đích bảo đảm cho hệ thống các TCTD
hoạt động ổn định góp phần vào sự an toàn của hệ thống tài chính. Với khả năng
gây ảnh hưởng lớn của hệ thống tài chính đối với sự phát triển kinh tế xã hội, với
nguy cơ rủi ro mang tính dây truyền rất cao của hệ thống tài chính nên hoạt động
tài chính cần rất nhiều công cụ giám sát và hỗ trợ, trong đó có bảo hiểm tiền gửi.
Trong tài liệu “Chỉ thị về hệ thống bảo đảm cho người gửi tiền” của Cộng
đồng Châu âu đã kết luận: “bảo đảm tiền gửi là cấu phần quan trọng của việc
hoàn thiện thị trường nội địa và là sự bổ sung không thể từ chối của hệ thống
giám sát tài chính đối với các tổ chức tín dụng, vì nó đạt được sự đoàn kết giúp đỡ
của tất cả các tổ chức tín dụng trong một địa bàn tài chính trong trường hợp có sự
rơi rụng của một trong các tổ chức tín dụng”.
BHTG tạo ra cơ chế giám sát, cảnh báo, ngăn chặn và hỗ trợ các tổ chức
tham gia BHTG phòng tránh rủi ro trong kinh doanh. Sau nữa, hệ quả của việc
BHTG mang lại chính là tạo tâm lý an toàn cho tất cả những người gửi tiền, tránh
tình trạng rút tiền đồng loạt của những người gửi tiền khi có sự đổ vỡ của một
hoặc một vài TCTD, ngăn chặn được sự lây lan trong đổ vỡ tín dụng, tạo hiệu ứng
dây truyền trong hệ thống các TCTD. Từ đó, góp phần rất lớn vào bảo đảm an
toàn hệ thống tài chính – tiền tệ quốc gia và tránh được những đổ vỡ mang tính hệ
thống, thường là căn nguyên của những cuộc khủng hoảng tài chính, thậm chí là


khủng hoảng kinh tế.
Ngoài ra, BHTG còn tạo ra một cơ chế BHTG chính thức trong việc xử lý đổ
vỡ TCTD. Thực tiễn trên thế giới không phải quốc gia nào cũng lập ra tổ chức
BHTG. Tùy thuộc vào nhận thức của Nhà nước và khả năng tài chính của Chính
phủ mà tổ chức BHTG được thành lập hoặc không, hoặc thành lập ở cấp độ như
thế nào. Tính đến thời điểm này, trên thế giới đã có khoảng hơn 100 quốc gia có tổ
chức BHTG và nhiều quốc gia khác đang xúc tiến việc nghiên cứu thành lập tổ
chức này. Các quốc gia còn lại, Chính phủ không tuyên bố BHTG cho dân cư và
cũng không thành lập tổ chức BHTG mà sẽ xử lý đổ vỡ và thực hiện chi trả BHTG
theo từng trường hợp cụ thể. Khi có đổ vỡ thì tùy từng trường hợp và hoàn cảnh cụ
thể Chính phủ sẽ tuyên bố có bảo hiểm tiền gửi cho người dân hay không và bảo
hiểm đến đâu là tùy thuộc vào ý chí và khả năng tài chính của Chính phủ. Mô hình
này được gọi là mô hình bảo hiểm tiền gửi “ngầm”. Tuy nhiên, mô hình này hiện
nay tồn tại chủ yếu ở các nước có trình độ phát triển kinh tế - xã hội thấp.
Ba là, bảo hiểm tiền gửi được thiết lập nhằm mục đích khắc phục hậu quả
khi xảy ra sự cố trong hoạt động của các tổ chức tham gia bảo hiểm. Có thể nhận
thấy rằng, đây là mục đích ngoài mong muốn của chủ thể bảo hiểm tiền gửi, chủ
thể tham gia bảo hiểm tiền gửi và kể cả người thụ hưởng trong quan hệ bảo hiểm
tiền gửi. Tuy nhiên, sự đổ vỡ của các chủ thể tham gia bảo hiểm là hoàn toàn có
thể xảy ra và dường như đó là điều rất khó tránh khỏi trong hoạt động kinh doanh
nói chung và trong hoạt động kinh doanh ngân hàng nói riêng. Khắc phục hậu quả
khi xảy ra sự cố trong hoạt động của các chủ thể tham gia bảo hiểm phải được hiểu
đó là sự bắt đầu ra tay của tổ chức bảo hiểm tiền gửi. Trong trường hợp tổ chức
tham gia bảo hiểm có nguy cơ mất khả năng chi trả, khi đó tổ chức bảo hiểm tiền
gửi có thể áp dụng các biện pháp cần thiết như cho vay hỗ trợ để chi trả các khoản
tiền được bảo hiểm, đứng ra bảo lãnh các khoản vay đặc biệt để có nguồn chi trả
các khoản vay được bảo hiểm...Trong trường hợp tổ chức tham gia bảo hiểm đã
thực sự mất khả năng thanh toán, đã có quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền thì tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải thực hiện việc chi trả tiền gửi được bảo
hiểm cho chủ thể thụ hưởng bảo hiểm.
Bốn là, bảo hiểm tiền gửi được thiết lập nhằm mục đích góp phần xây dựng
và bảo vệ niềm tin của công chúng, người gửi tiền vào hệ thống các TCTD, góp
phần đáng kể vào việc bảo vệ tổ chức tham gia BHTG. Niềm tin là một yếu tố
quan trọng đối với đời sống nói chung và có ý nghĩa đặc biệt đối với sự ổn định,
phát triển của thị trường tài chính nói riêng.
Hầu như tất cả các hoạt động bảo hiểm đều xuất phát từ nhu cầu xây dựng và


bảo vệ niềm tin. Ngay trong bảo hiểm thương mại, người mua bảo hiểm không
mong sự kiện bảo hiểm xảy ra mà chỉ mong tạo ra sự yên tâm, nếu không may sự
kiện bảo hiểm xảy ra thì khi đó điều kiện, hoàn cảnh của họ không bị thay đổi
nhiều.
Nhiều chuyên gia của Ngân hàng thế giới và Ngân hàng phát triển Châu Á đã
phát biểu tại các diễn đàn của Việt Nam rằng: Khi người dân mang tiền đến gửi tại
các tổ chức tín dụng, họ thường hình thành một niềm tin vào hệ thống tài chính, vì
cho rằng có sự bảo đảm của Chính phủ đằng sau các tổ chức tín dụng, mặc dù các
tổ chức tín dụng hoạt động độc lập và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp
luật.
Năm là, bảo hiểm tiền gửi được thiết lập nhằm mục đích giảm gánh nặng tài
chính cho Chính phủ, tạo sự công bằng và động lực cạnh tranh cho các tổ chức
tham gia BHTG, góp phần bảo đảm trật tự an toàn xã hội, nhất là trong trường hợp
xảy ra nguy cơ đổ vỡ đối với tổ chức tham gia BHTG. Tổ chức BHTG được lập ra
là để giúp Chính phủ gánh vác trách nhiệm bảo hiểm cho người gửi tiền. Ở nhiều
quốc gia, tổ chức BHTG là những doanh nghiệp thực sự, tự chịu trách nhiệm và có
đủ năng lực tài chính để xử lý những đổ vỡ ngân hàng, Chính phủ không cần thiết
phải can thiệp hoặc chỉ can thiệp, hỗ trợ khi có khủng hoảng. Đối với những quốc
gia, ở đó có tổ chức BHTG mạnh, hoạt động hiệu quả, có thể sử dụng lợi nhuận
thu được để chia lại cho các tổ chức tham gia BHTG, tức là chia lại lợi nhuận cho
các ngân hàng, những người tham gia bảo hiểm tiền gửi và nộp phí bảo hiểm tiền
gửi. Ngoài ra, việc thu phí bảo hiểm được áp dụng theo cơ chế định phí trên cơ sở
định mức tín nhiệm. Theo đó, ngân hàng nào hoạt động an toàn, hiệu quả, có uy
tín càng cao thì mức phí bảo hiểm phải nộp càng thấp và ngược lại, ngân hàng nào
có uy tín thấp, độ rủi ro cho người gửi tiền càng cao thì mức phí bảo hiểm phải
nộp càng lớn. Từ đó, tạo ra sự công bằng cũng như động lực cho sự cạnh tranh
trong hoạt động của các tổ chức tham gia BHTG.
2.1.3. Vai trò của bảo hiểm tiền gửi
Qua phân tích những mục đích của bảo hiểm tiền gửi nêu trên, phần nào
chúng ta nhận thấy vai trò của bảo hiểm tiền gửi đối với sự tồn tại và phát triển
của ngành ngân hàng nói riêng và đối với sự phát triển kinh tế, xã hội nói chung.
Vai trò của bảo hiểm tiền gửi đối với sự phát triển kinh tế, xã hội được quyết định
bởi bản chất kinh tế của bảo hiểm tiền gửi - một loại hình dịch vụ. Loại hình dịch
vụ mà bảo hiểm tiền gửi cung cấp là loại hình dịch vụ đặc biệt, theo cách phân loại
của nhà kinh tế học Stiglitz thì dịch vụ bảo hiểm tiền gửi thuộc loại hàng hoá
không thuần tuý, cơ sở của cách phân loại này là dựa vào tính không thụ hưởng


một cách tuyệt đối của loại hình dịch vụ này. Bởi lẽ, bảo hiểm tiền gửi góp phần
bình ổn cho hệ thống tài chính của quốc gia, do vậy, mà người thụ hưởng của bảo
hiểm tiền gửi theo nghĩa rộng đó là toàn xã hội mà không nhất thiết phải là người
gửi tiền. Trong đó, người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm sẽ là người được
thụ hưởng một cách trực tiếp từ bảo hiểm tiền gửi khi mà chủ thể - nơi mà họ gửi
tiền mất khả năng thanh toán. Ngược lại, chủ thể nhận tiền gửi sẽ được hưởng từ
sự hậu thuẫn, từ sự hỗ trợ của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, từ đó yên tâm trong việc
sử dụng nguồn vốn huy động từ dân chúng. Khi đã có một nền tài chính ổn định,
an toàn thì các chủ thể khác có thể giúp cho các cá nhân và tổ chức khác trong xã
hội có cơ hội tốt cho việc phát triển, phúc lợi xã hội tăng và cả xã hội đều được
hưởng. Như vậy, bảo hiểm tiền gửi có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh
tế, xã hội. Vai trò đó được thể hiện một cách gián tiếp thông qua vai trò của hệ
thống ngân hàng. Vì vậy, vai trò của bảo hiểm tiền gửi đối với sự tồn tại và phát
triển của hệ thống ngân hàng cũng là vai trò của bảo hiểm tiền gửi đối với việc
phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Với cách lý luận đó, bảo hiểm tiền gửi có
một số vai trò nổi bật như sau:
Một là: Bảo hiểm tiền gửi giữ vai trò góp phần mang lại niềm tin của công
chúng đối với hệ thống ngân hàng. Chúng ta có thể khái quát hoạt động của ngân
hàng thông qua việc thực hiện hai chức năng cơ bản, đó là: chức năng làm trung
gian tín dụng; chức năng làm trung gian thanh toán. Điều đó có nghĩa rằng, các
ngân hàng muốn tạo dựng niềm tin nơi công chúng thì họ phải tìm cách thực hiện
tốt các chức năng của mình.
Với chức năng làm trung gian tín dụng cho thấy ngân hàng là cầu nối giữa
các chủ thể trong nền kinh tế. Theo đó, ngân hàng thực hiện việc huy động những
khoản tiền nhàn rỗi của các chủ thể trong xã hội kết hợp với phần vốn tự có của
mình để hình thành nên quỹ cho vay của ngân hàng và thực hiện việc cấp vốn cho
các chủ thể khác có nhu cầu sử dụng vốn trong nền kinh tế thông qua các hợp
đồng tín dụng. Chu trình này diễn ra một cách liên tục và như vậy thì ngân hàng
vừa là người đi vay, vừa là người cho vay.
Còn chức năng làm trung gian thanh toán thực chất là việc ngân hàng thông
qua các biện pháp chuyên môn, nghiệp vụ của mình để cung cấp cho nền kinh tế
một loại hình dịch vụ - dịch vụ thanh toán. Loại hình dịch vụ này được thực hiện
trên cơ sở yêu cầu của khách hàng và có thể là trích một khoản tiền từ tài khoản
của khách hàng để thanh toán cho một chủ thể khác hoặc nhập tiền vào tài khoản
của khách hàng..... Những biểu hiện như vậy, chúng ta có thể coi ngân hàng chính
là “thủ quỹ” của khách hàng. Có thể nhận thấy một cách rõ nét vai trò trung gian


thanh toán của các ngân hàng đối với nền kinh tế, nó làm cho tốc độ lưu thông của
hàng hoá nhanh hơn, an toàn hơn trong việc thanh toán, tốc độ luân chuyển vốn
nhanh hơn.... và như vậy, xã hội càng văn minh, kinh tế càng phát triển thì loại
hình dịch vụ này càng được chú trọng hơn.
Các chức năng của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung và
hỗ trợ cho nhau. Trong đó, chức năng trung gian tín dụng là cơ bản và là cơ sở để
thực hiện chức năng trung gian thanh toán, chức năng trung gian thanh toán có ảnh
hưởng trước tiên đối với niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng.
Trong hoạt động của mình, các ngân hàng thực hiện tốt các chức năng trên chính
là cơ sở để tạo dựng niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng.
Việc thiết lập một hệ thống bảo hiểm tiền gửi sẽ thực sự gặp khó khăn nếu
chúng ta không giải quyết được những vấn đề quan trọng liên quan đến sự bình ổn
của hệ thống tài chính và ngược lại, các cơ sở tạo ra sự bình ổn của hệ thống tài
chính sẽ phát huy hết sức mạnh của mình nếu có sự xuất hiện của bảo hiểm tiền
gửi. Hiện nay, hầu hết các nước đều thiết lập cơ chế bảo hiểm tiền gửi quốc gia và
cam kết rằng trong trường hợp ngân hàng mà họ gửi tiền mất khả năng chi trả thì
những khoản tiền được bảo hiểm vẫn được thanh toán. Khi người gửi tiền nhận
thức được rằng, khoản tiền gửi của mình luôn được đảm bảo chi trả thì tất nhiên
họ không có ý định rút tiền khi ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn về tài
chính. Từ đó, giảm được nguy cơ tan vỡ của một ngân hàng nói riêng và có thể là
sự sụp đổ mang tính hoảng loạn của cả hệ thống ngân hàng nói chung.
Bằng các hoạt động của mình như cung cấp cho công chúng đầy đủ các
thông tin về các ngân hàng; hỗ trợ tài chính cho các tổ chức tham gia bảo hiểm khi
tổ chức đó gặp khó khăn về tài chính để vực dậy hoạt động có hiệu quả của các tổ
chức này; chi trả bảo hiểm một cách kịp thời cho các chủ thể có quyền thụ hưởng
khi phát sinh sự kiện bảo hiểm; tham gia vào quá trình thanh lý tài sản sau khi chi
trả bảo hiểm để tiếp tục bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền chưa
được thanh toán hết tiền gửi.... tổ chức bảo hiểm tiền gửi đã thực sự bảo vệ được
quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền. Khi tổ chức bảo hiểm thực hiện việc
chi trả cho người gửi tiền khoản tiền được bảo hiểm thì xét về mặt bản chất, tổ
chức bảo hiểm đã thực hiện chức năng thanh toán thay cho tổ chức tham gia bảo
hiểm, tổ chức đã nhận tiền gửi của công chúng khi mà tổ chức tham gia bảo hiểm
mất khả năng thanh toán. Điều đó góp phần duy trì niềm tin của công chúng đối
với các ngân hàng đang hoạt động tốt nói riêng và với toàn bộ hệ thống ngân hàng
nói chung.
Hai là: Bảo hiểm tiền gửi giữ vai trò là nhân tố quan trọng cho sự phát triển


hệ thống ngân hàng. Như chúng ta đã phân tích trên, bảo hiểm tiền gửi góp phần
củng cố niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng, từ đó sẽ củng cố
được vị thế, uy tín của ngân hàng trong xã hội, giúp cho các ngân hàng có thể
thuận lợi hơn trong việc huy động vốn, mở rộng mạng lưới hoạt động, đa dạng hoá
các loại hình dịch vụ.... và như vậy, vô hình chung đã là cơ sở, là động lực cho sự
phát triển vững mạnh của các ngân hàng. Ngoài ra, chúng ta có thể khai thác vai
trò của bảo hiểm tiền gửi đối với hoạt động của các ngân hàng thông qua một số
khía cạnh sau:
+ Thứ nhất: Bảo hiểm tiền gửi tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của
các ngân hàng mới thành lập hoặc ngân hàng có quy mô hoạt động hạn chế. Mặc
dù, tất cả các ngân hàng đều được bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trước pháp luật,
đều có quyền tiến hành các biện pháp hỗ trợ nhằm tiến hành cạnh tranh một cách
lành mạnh trong quá trình hoạt động. Tuy nhiên, một điều chúng ta rất dễ nhận
thấy rằng, đối với các ngân hàng mới được thành lập hoặc quy mô hoạt động hạn
chế thì chưa có điều kiện hoặc không có điều kiện thể hiện mình đối với công
chúng và như vậy, việc huy động tiền gửi của các ngân hàng này kém thuận lợi
hơn so với các ngân hàng có quy mô lớn, các ngân hàng đã có bề dày kinh
nghiệm, đã tạo dựng được niềm tin của công chúng. Do vậy, sự có mặt của bảo
hiểm tiền gửi với chính sách bảo hiểm bắt buộc đối với mọi tổ chức có thực hiện
chức năng huy động vốn từ việc nhận tiền gửi của công chúng trong xã hội thì tâm
lý lo sợ của người gửi tiền không còn nữa. Khi đó, họ hoàn toàn yên tâm khi gửi
tiền ở các ngân hàng có quy mô nhỏ hoặc mới hoạt động. Qua đó, các ngân hàng
thuộc diện khó khăn này có thể củng cố uy tín của mình đối với công chúng và từ
đó tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng loại này tồn tại và phát triển, góp
phần tạo điều kiện phát triển chung của toàn hệ thống.
Thứ hai: Bảo hiểm tiền gửi giúp đỡ các ngân hàng thực sự yếu kém, không
thể duy trì được hoạt động có thể rút khỏi môi trường kinh doanh một cách có trật
tự, kỷ cương và không gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động của các ngân hàng khác.
Trong hệ thống các ngân hàng tồn tại với tư cách là những chủ thể kinh doanh,
không phải tất cả các ngân hàng đều có thể duy trì được hoạt động một cách an
toàn và hiệu quả. Hay nói cách khác, sự xuất hiện của một ngân hàng hoạt động
kém hiệu quả, thậm chí không thể duy trì được hoạt động cũng có thể coi đó là
chuyện bình thường. Vấn đề đặt ra là, trong những trường hợp đó thì vai trò của
bảo hiểm tiền gửi được thể hiện như thế nào? Trong quá trình thực hiện chức
năng, nhiệm vụ của mình thông qua công tác kiểm tra, giám sát, tổ chức bảo hiểm
tiền gửi có thể đánh giá được thực trạng của các ngân hàng tham gia bảo hiểm để


từ đó phát hiện kịp thời những ngân hàng hoạt động kém hiệu quả. Nếu nhận thấy
ngân hàng đó không thể duy trì hoạt động một cách độc lập thì tổ chức bảo hiểm
tiền gửi sẽ tiến hành các biện pháp nhất định nhằm mục đích hỗ trợ như đưa ra
phương án sáp nhập với một ngân hàng khác; thực hiện việc chi trả bảo hiểm cho
người gửi tiền thuộc đối tượng được bảo hiểm; tham gia vào công tác quản lý,
thanh lý tài sản…. Tất cả những hoạt động mà tổ chức bảo hiểm tiền gửi thực hiện
nêu trên sẽ giúp cho các ngân hàng không còn khả năng hoạt động độc lập, mất
khả năng thanh toán có thể nhanh chóng rút khỏi nền kinh tế một cách nhẹ nhàng,
êm đẹp và đặc biệt là không làm xáo trộn tình hình kinh tế - xã hội, không gây ảnh
hưởng xấu đến hoạt động của các ngân hàng khác trong hệ thống.
Thứ ba: Bảo hiểm tiền gửi giữ vai trò tạo điều kiện để các ngân hàng tham
gia bảo hiểm kiểm tra, giám sát lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Điều này
được xuất phát từ cơ chế chia sẻ rủi ro của số ít cho số đông. Theo đó, khi một
ngân hàng gặp khó khăn, thì việc khó khăn đó được khắc phục từ phí bảo hiểm mà
tổ chức bảo hiểm tiền gửi thu được từ các ngân hàng tham gia bảo hiểm. Từ đó,
kết hợp với tính dây truyền trong hoạt động ngân hàng mà giữa các ngân hàng
tham gia bảo hiểm xuất hiện nhu cầu giám sát lẫn nhau, cùng nhau nâng cao chất
lượng hoạt động. Điều này càng được thể hiện một cách rõ nét hơn đối với những
quốc gia thực hiện việc thu phí bảo hiểm theo hình thức “đóng góp sau”, tức là khi
một ngân hàng tham gia bảo hiểm gặp khó khăn và cần thiết phải có sự can thiệp
của bảo hiểm thì tuỳ theo từng trường hợp mà tổ chức bảo hiểm sẽ ấn định khoản
đóng góp của các ngân hàng tham gia bảo hiểm (ví dụ như tổ chức bảo hiểm tiền
gửi cho các ngân hàng tư nhân ở Đức).
Ba là: Bảo hiểm tiền gửi giữ vai trò quan trọng góp phần tích cực cho việc
huy động tiền gửi, tạo nền tảng vững chắc cho việc đầu tư phát triển. Như chúng ta
đã phân tích, một trong những chức năng cơ bản của ngân hàng đó là huy động
tiền gửi từ nguồn tiền nhàn rỗi của các tổ chức và cá nhân trong xã hội để hình
thành quỹ cho vay của mình, thực hiện việc cấp vốn cho nền kinh tế, tạo điều kiện
thuận lợi cho quá trình đầu tư phát triển. Tuy nhiên, nguồn tiền gửi của các tổ chức
thông thường chỉ mang tính tạm thời, ít ổn định, do vậy không thể coi đó là nguồn
vốn ổn định cho quá trình đầu tư phát triển. Ngược lại, nguồn tiền tiết kiệm, nhàn
rỗi của dân chúng thường mang tính ổn định, lâu dài và đó chính là nguồn vốn
quyết định đối với quá trình đầu tư phát triển. Bởi lẽ, đó là những khoản tiền nhàn
rỗi và thông thường được gửi với những kỳ hạn xác định. Đối với những khoản
tiền gửi này, nếu có biến động lớn xảy ra thì thông thường lại xuất phát từ biến
động của hệ thống ngân hàng. Nếu như các ngân hàng hoạt động có hiệu quả, trả


lãi thỏa đáng cho người gửi tiền, thủ tục gửi và rút tiền thuận lợi và đặc biệt khoản
tiền gửi của người gửi tiền được bảo đảm chi trả thì dường như sự biến động đối
với khoản tiền gửi này sẽ không xảy ra.
Bảo hiểm tiền gửi, thông qua hoạt động của tổ chức bảo hiểm tiền gửi đóng
vai trò quan trọng trong việc tạo sự an toàn, ổn định của hệ thống ngân hàng, tạo
niềm tin cho công chúng đối với hệ thống ngân hàng và bảo đảm cho khoản tiền
gửi của họ luôn được thanh toán. Điều đó có nghĩa rằng, bảo hiểm tiền gửi đã gián
tiếp giúp cho các ngân hàng có thể huy động tiền gửi nhàn rỗi của công chúng một
cách có hiệu quả nhất và tất nhiên, đó là nguồn vốn quan trọng cho việc đầu tư
phát triển một cách bền vững.
1.2. Khái quát về pháp luật bảo hiểm tiền gửi
1.2.1. Khái niệm pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.
Bảo hiểm tiền gửi với tư cách là một loại hình bảo hiểm, do tổ chức bảo hiểm
tiền gửi thực hiện, trước hết được hoạt động theo những nguyên lý chung của bảo
hiểm. Tuy nhiên, trong kinh tế hiện đại, tổ chức này không chỉ là một tổ chức bảo
hiểm đơn thuần, làm nhiệm vụ thu phí của nhiều chủ thể tham gia bảo hiểm tiền
gửi để bù đắp, khắc phục hậu quả cho một số ít chủ thể bị rủi ro. Tổ chức BHTG
phải thực hiện được vai trò nhất định trong việc tham gia quản lý rủi ro của các
ngân hàng thương mại, các tổ chức tham gia bảo hiểm khác, và hơn nữa tổ chức
BHTG có vai trò trong giám sát, góp phần bảo đảm an toàn của hệ thống tài chính
- tiền tệ quốc gia.
Dưới góc độ pháp lý, các quy định về BHTG sẽ tạo cơ sở pháp lý, xác lập
thẩm quyền để BHTG thực hiện tốt vai trò bảo đảm an toàn tài chính quốc gia.
Như vậy, pháp luật bảo hiểm tiền gửi được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp
luật điều chỉnh quan hệ xã hội phát sinh trong tổ chức và hoạt động của tổ chức
BHTG, các quan hệ phát sinh giữa tổ chức BHTG, tổ chức tham gia BHTG và
người gửi tiền và các quan hệ xã hội khác có liên quan đến hoạt động BHTG.
Từ định nghĩa này, có thể khái quát nội dung của pháp luật BHTG như sau:
Thứ nhất, nhóm các quy định về vị trí pháp lý, mô hình tổ chức của tổ chức
BHTG.
Vị trí pháp lý là một khái niệm dùng để chỉ cơ quan, tổ chức, đơn vị đó thuộc
hệ thống cơ quan nào, nó có nhiệm vụ, quyền hạn gì, mức độ độc lập của cơ quan
này so với các cơ quan Nhà nước khác, nhất là với các cơ quan quản lý Nhà nước
về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Hay nói cách khác, pháp luật về bảo hiểm tiền
gửi cần có nhóm các quy định xác định được chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn…
của tổ chức bảo hiểm tiền gửi. Nhóm các quy định pháp luật này phải có các quy


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×