Tải bản đầy đủ

Thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp thương mại từ thực tiễn tỉnh hà nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN
TỈNH HÀ NAM

TRẦN NGỌC THUẬN

HÀ NỘI – 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN

TỈNH HÀ NAM

TRẦN NGỌC THUẬN

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN TRUNG TÍN

HÀ NỘI - 2018
2


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài luận văn nghiên cứu của riêng tôi. Các luận
điểm, dẫn chứng, số liệu, ví dụ nêu trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy
và trung thực. Kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ đề tài, công trình nghiên cứu nào khác.
Trân trọng cảm ơn!

Tác giả luận văn

Trần Ngọc Thuận


LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn các quý thầy, cô giáo của Viện Đại học Mở đã giúp
đỡ tôi rất nhiều trong quá trình học tập và làm luận văn.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS. Nguyễn Trung Tín đã
nhiệt tình, tận tâm, đầy trách nhiệm hướng dẫn tôi hoàn thành luận văn này.
Cảm ơn cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan, đơn vị của tỉnh Hà Nam
đã tạo điều kiện cho tôi học tập và hoàn thành tốt luận văn.
Để thực hiện luận văn, bản thân tôi đã cố gắng tìm tòi, học hỏi, tự nghiên cứu
với tinh thần, nghị lực và ý chí vươn lên. Tuy nhiên, không tránh khỏi những hạn
chế và thiếu sót. Kính mong quý thầy, cô giáo và bạn bè, đồng nghiệp tiếp tục đóng
góp ý kiến để đề tài ngày càng hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả


Trần Ngọc Thuận

2


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU .............................................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI VÀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI ......................................................... 7
1.1. Khái quát về tranh chấp kinh doanh thương mại và giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại ............................................................................................................... 7
1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại ..................................................... 7
1.1.2. Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại ..................................................... 9
1.2. Một số vấn đề lý luận về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp
kinh doanh, thương mại .................................................................................................... 12
1.2.1. Khái niệm thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết các tranh chấp kinh
doanh, thương mại ............................................................................................................. 12
1.2.3. Ý nghĩa của các quy định về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết
tranh chấp kinh doanh, thương mại ................................................................................. 19
1.3. Sơ lược các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam về thẩm quyền
của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp KD, TM từ năm 1945 tới nay .............. 20
1.3.1. Giai đoạn 1945 đến trước năm 1994 .................................................................... 20
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1994 đến 2004 .......................................................................... 22
1.3.3. Giai đoạn từ năm 2004 đến nay ............................................................................ 24

3


CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ HIỆN HÀNH VỀ THẨM
QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH
DOANH, THƯƠNG MẠI VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH Ở TỈNH HÀ NAM ........ 26
2.1. Quy định của pháp luật Tố tụng dân sự hiện hành về thẩm quyền của Tòa án
trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại ..................................... 26
2.1.1. Thẩm quyền theo loại việc của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại ............................................................................................................. 26
2.1.2. Thẩm quyền của Tòa án các cấp đối với tranh chấp kinh doanh, thương mại 35
2.1.3. Thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh
doanh, thương mại ............................................................................................................. 38
2.1.4. Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn của Toà án............................... 39
2.2. Thực tiễn thực thi các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về thẩm
quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại ..... 41
2.2.1. Tình hình giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại thông qua Tòa án
tại tỉnh Hà Nam.................................................................................................................. 41
2.2.2. Những khó khăn, vướng mắc trong quy định của pháp luật về xác định thẩm
quyền của Toà án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại ...........44
2.2.3. Nguyên nhân của những khó khăn, vướng mắc ................................................. 58
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ THẨM QUYỀN
CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU LỰC THỰC HIỆN Ở TỈNH HÀ
NAM .................................................................................................................................... 61
3.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải
quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại ...................................................................... 61
3.1.1. Phải đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế thị trường trong bối cảnh cải cách tư
pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền hiện nay ........................................................61

4


3.1.2. Phải phù hợp với pháp luật quốc tế và đảm bảo phục vụ tốt yêu cầu hội nhập
kinh tế quốc tế ...........................................................................................................63
3.1.3. Phải đảm bảo sự đồng bộ giữa các quy định pháp luật khác nhau nhằm đảm
bảo hiệu lực của pháp luật tố tụng trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương
mại ............................................................................................................................ 65
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu lực áp dụng pháp luật về thẩm quyền của tòa án
trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại ở tỉnh Hà Nam thời
gian tới ................................................................................................................................ 66
3.2.1. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm quyền dân sự của Tòa án
trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại ..................................66
3.2.2. Thực hiện tốt công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật về kinh doanh, thương
mại ............................................................................................................................. 70
3.2.3. Đổi mới mô hình, cơ cấu của tòa án theo hướng tăng cường thẩm quyền của
tòa án nhân dân cấp huyện ........................................................................................71
3.2.4. Nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp cho đội
ngũ cán bộ có thẩm quyền áp dụng pháp luật dân sự ...............................................74
3.2.5. Các giải pháp khác ..........................................................................................76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ......................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................... 81

5


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLTTDS:

Bộ luật tố tụng dân sự

HĐTP:

Hội đồng thẩm phán

KD:

Kinh doanh

TAND:

Tòa án nhân dân

TM:

Thương mại

UBND:

Ủy ban nhân dân

6


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Tình hình thụ lý và giải quyết các loại vụ án nói chung của
Tòa án 2 cấp tỉnh ở Hà Nam từ năm 2011 đến 2017........................................... 42
Bảng 2.2: Tình hình thụ lý và giải quyết các tranh chấp kinh doanh,
thương mại so với các loại vụ án của Tòa án 2 cấp ở tỉnh Hà Nam từ năm
2011 đến 2017.....................................................................................................
43
Hình 3.1. Sơ đồ tóm tắt thẩm quyền 4 cấp Tòa của Việt Nam hiện nay... 73

7


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế Việt Nam đã và đang đạt
được nhiều thành tựu to lớn. Kinh tế tăng trưởng đã góp phần quan trọng đưa đất
nước tiến nhanh trên con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Quá trình hội nhập với
kinh tế thế giới đã có nhiều tác động không nhỏ đến nền kinh tế của Việt Nam khiến
các quan hệ kinh doanh (KD), thương mại (TM) ngày càng gia tăng về số lượng
cũng như tính chất phức tạp. Từ thực tiễn đó, đòi hỏi phải có một cơ chế hiệu quả
để giải quyết các tranh chấp, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho các tổ
chức, cá nhân có tranh chấp KD, TM, đồng thời cũng là công cụ để Nhà nước quản
lý trật tự kinh tế xã hội theo đó việc cải cách, hoàn thiện hệ thống pháp luật trong đó
có hệ thống pháp luật tư pháp của nước ta được đặt ra hết sức cấp thiết.
Tòa án với vai trò là một thiết chế tài phán công, có nhiều lợi thế khi giải
quyết các tranh chấp. Vì vậy, Tòa án thường được các đương sự ưu tiên lựa chọn
khi giải quyết các tranh chấp nói chung cũng như tranh chấp KD, TM nói riêng.
Trước đây, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, bộ luật tố tụng dân sự
(BLTTDS) 2004 đã có các quy định về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải
quyết các tranh chấp KD, TM. Tuy nhiên, các quy định đó sau một thời gian áp
dụng đã bộc lộ nhiều hạn chế như: không phân biệt tranh chấp KD, TM với
tranh chấp dân sự, một số tranh chấp KD, TM nhưng không được giải quyết
theo thủ tục tố tụng kinh tế…Điều này ảnh hưởng tới chất lượng xét xử cũng
như việc tồn đọng các vụ án.
BLTTDS 2004 ra đời là một bước tiến lớn của pháp luật tố tụng Việt Nam, đã
có nhiều tiến bộ khi khắc phục được hầu hết các nhược điểm của Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các vụ án kinh tế trước đó. Các quy định về quyền giải quyết các tranh
chấp KD, TM trong BLTTDS cũng có nhiều điểm mới. Tuy nhiên quá trình áp dụng
BLTTDS 2004 cũng đã bộc lộ những hạn chế vướng mắc, đòi hỏi cần được nghiên
cứu để tìm ra giải pháp giải quyết khắc phục hạn chế nhằm nâng cao hiệu quả áp
1


dụng của pháp luật. Ngày 29/3/2011 BLTTDS sửa đổi BLTTDS 2004 ra đời đã quy
định đầy đủ, có tính hệ thống hơn các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự, địa vị
pháp lý của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia tố
tụng. BLTTDS 2015 ra đời đã thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng về cải
cách tư pháp, đặc biệt Nghị quyết số 48/NQ-TW; Nghị quyết số 49/NQ-TW; Kết
luận 79/KL-TW; Kết luận 92/KL-TW của Bộ chính trị đã quán triệt hoàn thiện các
thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai minh bạch, tôn
trọng bảo vệ quyền con người, thực hiện mô hình tố tụng “Xét hỏi kết hợp với tranh
tụng”, xác định rõ vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và
người tham gia tố tụng, thực hiện tốt việc tranh tụng xem đó là khâu đột phá của
hoạt động xét xử, tạo điều kiện cho các đương sự chủ động thu thập chứng cứ để
bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình.
Trong giai đoạn hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hà Nam đã có nhiều doanh nghiệp
được thành lập với hình thức khác nhau và ngành nghề, lĩnh vực khác nhau thì việc
liên kết, hợp tác thậm chí cạnh tranh với nhau cũng là điều dễ hiểu. Điều đó dẫn tới
xung đột về quyền và lợi ích giữa các chủ thể khi tham gia KD là không thể tránh
khỏi. Một khi các tranh chấp xảy ra, có nghĩa là lợi ích kinh tế của một bên chủ thể
KD đã bị vi phạm. Điều này không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động KD của
chính chủ thể đó mà còn gián tiếp tác động tiêu cực đến sự phát triển lành mạnh của
nền kinh tế. Đối với một số tranh chấp xảy ra trong nội bộ đơn vị, chẳng hạn tranh
chấp về quyền quản lý và điều hành doanh nghiệp, nếu không được giải quyết kịp
thời sẽ ảnh hưởng đến hoạt động chung của đơn vị đó. Trong một số trường hợp,
các bên hoặc một số bên tranh chấp không quan tâm quan tâm đến lợi ích và sự phát
triển của doanh nghiệp, mà vì lợi ích của mình một cách thái quá dẫn đến đình trệ
sản xuất. Các bên đều cố ý can thiệp, ngăn cản hoạt động bình thường của doanh
nghiệp dưới các hình thức khác nhau, gây thiệt hại thêm cho chính họ và các bên
liên quan. Tranh chấp KD, TM phát sinh là điều tất yếu, vấn đề là phải có biện pháp
giải quyết hợp lý những tranh chấp đó để giúp cho các chủ thể KD có được sự tin
tưởng trong cơ chế điều hành, quản lý kinh tế của Nhà nước. Chính vì thế, việc đổi

2


mới và hoàn thiện hệ thống giải quyết tranh chấp KD, TM, trong đó có hoàn thiện
pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp KD, TM phù hợp
với cơ chế thị trường không chỉ là đòi hỏi bức thiết của xã hội mà còn là yêu cầu để
đảm bảo thực hiện chức năng kinh tế của Nhà nước ta.
Với đề tài “Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp thương
mại từ thực tiễn tỉnh Hà Nam” em lựa chọn làm luận văn thạc sỹ, với mong muốn
phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành, từ đó chỉ ra
những điểm hạn chế của các quy định này; đồng thời đưa ra giải pháp nhằm hoàn
thiện, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thẩm quyền của Tòa án trong việc
giải quyết tranh chấp KD, TM ở tỉnh Hà Nam thời gian tới.
2. Tổng quan nghiên cứu
Thẩm quyền của Tòa án là một vấn đề đã được nhiều nhà nghiên cứu quan
tâm. Các nhà nghiên cứu đi sâu vào phân tích những khía cạnh khác nhau về vấn đề
thẩm quyền dân sự của Tòa án đối với các tranh chấp KD, TM.
Kể từ khi BLTTDS 2004 có hiệu lực đã có rất nhiều bài viết, tạp chí khoa
học pháp lý đề cập đến vấn đề giải quyết tranh chấp KD, TM theo pháp luật tố tụng
dân sự trong đó phải kể đến bài viết “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp công ty của
Tòa án” của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân
(TAND) số 4 năm 2007; “Một số kiến nghị nhằm thực thi có hiệu quả các quy định
về thẩm quyền giải quyết tranh chấp KD, TM theo quy định của BLTTDS” của Vũ
Thị Hồng Vân đăng trên tạp chí Kiểm sát số 15, năm 2007; “Thẩm quyền giải quyết
KD theo BLTTDS 2004” đăng trên Tạp chí nhà nước và Pháp luật số 12, năm 2005
của tác giả Viên Thế Giang; Tiến sỹ Phan Chí Hiếu với bài viết: “Thẩm quyền giải
quyết các tranh chấp KD theo BLTTDS và các vấn đề đặt ra trong thực tiễn thi
hành” đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 10, năm 2005 và bài “Thực
trạng pháp luật giải quyết tranh chấp KD ở Việt Nam” đăng trên Tạp chí Dân chủ
và pháp luật số 12 năm 2005; “Việc thẩm quyền giải quyết tranh chấp KD, TM của
Tòa án theo BLTTDS 2004” tác giả Vũ Thị Hồng Vân trên tạp chí Luật học số

3


4/2008; Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày 31/3/2005 hướng dẫn thi hành một
số quy định trong phần thứ nhất “Những quy định chung” của BLTTDS năm 2004;
Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 hướng dẫn thi hành các quy định
trong phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của BLTTDS;
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013; BLTTDS 2004
được sửa đổi bổ sung năm 2011; BLTTDS năm 2015; Nghị quyết số 03/2012/NQHĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.
Tuy nhiên mỗi bài viết chỉ đề cập dưới góc độ phương diện khác nhau giải
quyết những vấn đề riêng biệt, cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách
tập trung, đầy đủ vấn đề Thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết các tranh chấp
TM từ thực tiễn tỉnh Hà Nam.
Nối tiếp những công trình nghiên cứu về nội dung này luận văn xin được đi
sâu phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng về Thẩm quyền của Tòa án
trong giải quyết các tranh chấp TM ở tỉnh Hà Nam, từ đó đưa ra những giải pháp,
kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật của Việt Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Luận văn tập trung vào việc nghiên cứu và làm rõ các vấn đề lý luận về
thẩm quyền dân sự của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp KD, TM như: Xây
dựng khái niệm về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp KD,
TM; các đặc điểm của tranh chấp KD, TM; ý nghĩa của các quy định về thẩm
quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM; phân tích các quy định của pháp luật tố
tụng dân sự hiện hành về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp KD, TM của Tòa
án qua đó chỉ ra một số hạn chế của các quy định và đề xuất những phương
hướng hoàn thiện pháp luật và một số giải pháp chủ yếu để nâng cao hiệu quả
thực hiện ở tỉnh Hà Nam thời gian tới.

4


3.2. Nhiệm vụ
Trên cơ sở mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về tranh chấp KD, TM và thẩm quyền
của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp KD, TM;
- Phân tích quy định của BLTTDS về thẩm quyền giải quyết các tranh chấp
KD, TM; từ đó đánh giá thực trạng pháp luật về vấn đề nghiên cứu, chỉ ra những bất
cập, vướng mắc trong quá trình thực hiện và rút ra nguyên nhân của tồn tại.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp
luật về thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp KD, TM ở tỉnh Hà Nam.
4. Câu hỏi nghiên cứu
Tranh chấp KD, TM là gì? Tranh chấp KD, TM có thể được giải quyết theo
những cách nào?
Thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp KD, TM là gì? Căn cứ
vào đâu để xác định thẩm quyền đó và ý nghĩa của vấn đề này như thế nào?
Hiện nay pháp luật tố tụng dân sự hiện hành quy định như thế nào về thẩm
quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp KD, TM?
Làm thế nào để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thẩm quyền của Tòa
án trong việc giải quyết tranh chấp KD, TM ở tỉnh Hà Nam?
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1. Đối tượng
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn về
thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết các tranh chấp KD, TM ở tỉnh Hà Nam.
5.2. Phạm vi
- Về không gian: trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
- Về thời gian: nghiên cứu thực trạng từ năm 2011 đến nay và đề xuất giải
pháp đến năm 2025.
5


6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử kết hợp với các phương pháp chuyên ngành như: Phương pháp lịch sử, phương
pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp khảo sát
thực tiễn.
Trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước về đường lối đổi mới đất nước,
xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, xây dựng nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN hiện nay, luận văn đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm
hoàn thiện quy định của pháp luật về việc giải quyết tranh chấp KD, TM theo pháp
luật tố tụng dân sự.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được chia thành các phần: Mở đầu, nội dung, kết luận và danh
mục tài liệu tham khảo. Về phần nội dung, luận văn có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về tranh chấp kinh doanh, thương mại và
thẩm quyền của Toà án trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại.
Chương 2: Pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về thẩm quyền của Tòa án
trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại và thực tiễn thi hành ở
tỉnh Hà Nam
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án
trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại và giải pháp nâng
cao hiệu lực thực hiện ở tỉnh Hà Nam.

6


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG
MẠI VÀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH DOANH, THƯƠNG MẠI

1.1. Khái quát về tranh chấp kinh doanh thương mại và giải quyết tranh
chấp kinh doanh, thương mại
1.1.1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh, thương mại
Tranh chấp được hiểu là sự mâu thuẫn hoặc bất đồng (tranh cãi); sự mâu
thuẫn về các quyền yêu cầu hay sự đòi hỏi về quyền, yêu cầu hay đòi hỏi từ một
bên được đáp lại bởi một yêu cầu hay lập luận trái ngược của bên kia [12, tr 9].
Thuật ngữ tranh chấp KD, TM mới chỉ xuất hiện khi Việt Nam thực hiện
đổi mới nền kinh tế đến nay. Trước đây, khi nền kinh tế Việt Nam còn mang nặng
tính bao cấp, các mối quan hệ kinh tế mang tính tập thể và quốc hữu. Các quan hệ
kinh tế chủ yếu phát sinh giữa các chủ thể nằm trong sự quản lý của nhà nước, lúc
này chưa có thuật ngữ “Tranh chấp KD, TM” mà chỉ tồn tại thuật ngữ “Tranh chấp
kinh tế”.
“Tranh chấp kinh tế” theo tư duy cũ quy định tại Điều 12 của Pháp lệnh
Thủ tục giải quyết các vụ án Kinh tế năm 1994, bao gồm:

- “Các tranh chấp về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân,
giữa pháp nhân với cá nhân có đăng ký KD.

- Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các
thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải
thể công ty.

- Các tranh chấp liên quan đến mua bán cổ phiếu, trái phiếu.
- Các tranh chấp khác theo quy định của pháp luật”. [38]

7


Với quy định này, khái niệm “tranh chấp kinh tế” vẫn không bao quát hết
các tranh chấp phát sinh trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, ví dụ như
tranh chấp về hợp đồng có mục đích KD giữa hai doanh nghiệp tư nhân với
nhau không được xem là tranh chấp kinh tế mà xem là tranh chấp dân sự.
Điều này dẫn đến không có sự phân biệt rõ ràng giữa tranh chấp kinh tế và
tranh chấp dân sự.
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có cách hiểu chuẩn xác và thống nhất về tranh
chấp KD, TM. Việc xác định phạm vi của tranh chấp được coi là tranh chấp KD,
TM chủ yếu căn cứ vào luật thực định.
Theo khoản 16, điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 thì: “Kinh doanh là việc
thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư từ
sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục
đích sinh lợi”.[27]
Khoản 1, điều 3, Luật Thương mại năm 2005 định nghĩa: “Hoạt động TM
là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ, đầu tư, xúc tiến TM và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”.[23]
Với cách định nghĩa trên hoạt động KD và hoạt động TM có nhiều nội hàm
trùng nhau như về mục đích sinh lợi, về đầu tư, về cung ứng dịch vụ, về tiêu thụ sản
phẩm… Trên thực tế, khi xây dựng các quy định trong BLTTDS 2004, đã có nhiều
tranh luận xung quanh nội hàm của hai thuật ngữ “Tranh chấp KD” và “Tranh
chấp TM”. Có ý kiến thì cho rằng nội hàm của “Tranh chấp TM” hẹp hơn “Tranh
chấp KD” và “Tranh chấp TM” chỉ là một dạng của “Tranh chấp KD”, nó phát
sinh từ hoạt động KD và có quan hệ chặt chẽ với hoạt động KD. Trong khi đó, có
quan điểm cho rằng “Tranh chấp TM” rộng hơn “Tranh chấp KD”, quan điểm này
phù hợp với pháp luật quốc tế.
Từ sự bất đồng giữa quan điểm dẫn tới việc BLTTDS 2004 đã dùng giải
pháp tình thế khi xây dựng các quy định trong Bộ luật đó là: Sử dụng ghép hai
thuật ngữ “Tranh chấp KD, TM”.
8


Theo đó, có thể quan niệm tranh chấp KD, TM là những mâu thuẫn, bất
đồng giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động thực hiện liên tục một, một số
hoặc toàn bộ quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, cung ứng các
dịch vụ trên thị trường, xúc tiến TM và các hoạt động sinh lợi khác. Nói một
cách ngắn gọn hơn, có thể định nghĩa tranh chấp KD, TM là những mâu thuẫn,
bất đồng về quyền lợi giữa các chủ thể phát sinh trong hoạt động KD, TM.
Tuy nhiên, trong quan hệ KD, giữa các bên luôn tồn tại đồng thời hai mối
quan hệ vừa xung đột, vừa hợp tác. Để xác định chính xác khi nào những xung
đột lợi ích này chuyển thành tranh chấp thì cần phải dựa vào những dấu hiệu của
nó. Dấu hiệu đó là khi một bên cho rằng quyền và lợi ích của mình bị vi phạm yêu
cầu phía bên kia khắc phục nhưng không nhận được sự đồng ý. Vì vậy, theo cách
này, còn có một cách hiểu khác đó là “Tranh chấp KD, TM xảy ra khi một bên trong
quan hệ KD, TM khẳng định một trái quyền mà lại bị bên khác chống lại”. [40]
Hiện nay, khái niệm về tranh chấp KD, TM được đề cập đến trong khoản
1, điều 30, BLTTDS năm 2015: “Tranh chấp KD, TM là những tranh chấp phát
sinh trong hoạt động KD, TM giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký KD và đều có
mục đích lợi nhuận”. [29]
Tóm lại, mỗi quan niệm trên đều có hạt nhân hợp lý của mình, vấn đề là sử
dụng thuật ngữ thống nhất trong tất cả các văn bản pháp luật. Và thuật ngữ đó
không thể bó hẹp nội dung cụ thể của tranh chấp mà mang tính bao quát, tiên liệu
các tranh chấp KD, TM trong sự biến động của đời sống kinh tế hiện nay, nhưng
lại xác định chính xác loại tranh chấp. Đặc biệt, xây dựng hệ thống pháp luật giải
quyết tranh chấp này thật hiệu quả là vấn đề thực tế đặt ra.
1.1.2. Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại
Tranh chấp KD, TM là hệ quả phát sinh từ các quan hệ KD, TM, các quan
hệ có tính tài sản với mục đích KD, kiếm lời. Khi tham gia các quan hệ KD, TM.
các chủ thể đều hướng đến mục đích cao nhất là lợi nhuận, lợi ích kinh tế. Do vậy,
tranh chấp KD, TM phát sinh trên cơ sở sự xâm phạm đến quyền lợi kinh tế. Các
9


tranh chấp này thường có ảnh hưởng đến không những quyền lợi của các bên tranh
chấp mà còn ảnh hưởng đến sản xuất, KD của cả cộng đồng KD. Đây chính là
phản ứng dây chuyền của tranh chấp KD, TM và do vậy nếu nó không được giải
quyết một cách khoa học, bảo đảm quyền lợi của các bên trong quan hệ tranh
chấp thì có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế đất nước.
Giải quyết tranh chấp KD, TM theo nghĩa chung nhất có thể hiểu là cách
thức, phương pháp cũng như các hoạt động để khắc phục và loại trừ các tranh chấp
phát sinh, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể KD, bảo vệ trật
tự kỷ cương xã hội. [15, tr.287]
Hoạt động KD, TM có những đặc thù riêng cho nên khi tranh chấp xảy ra
các bên tranh chấp luôn mong muốn nhanh chóng chấm dứt xung đột để bảo vệ
hoặc khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, việc giải quyết tranh
chấp KD, TM cần đáp ứng một số yêu cầu sau:

- Nhanh chóng, thuận lợi, không làm cản trở các hoạt động KD
- Khôi phục và duy trì các quan hệ hợp tác, sự tín nhiệm giữa các bên
trong KD.

- Giữ bí mật KD, uy tín của các bên trên thương trường
- Kinh tế nhất, ít tốn kém nhất cả về thời gian, tiền bạc, sức lực
Việc lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp nói riêng cũng như mọi
vấn đề liên quan đến quá trình giải quyết các tranh chấp trong KD nói chung dựa
trên nguyên tắc quan trọng là quyền tự định đoạt của các bên. Cơ quan nhà nước
và Trọng tài TM can thiệp theo yêu cầu của các bên tranh chấp, kể cả khi Tòa án
hoặc Trọng tài đã can thiệp trong quá trình tố tụng, quyền tự định đoạt biểu hiện
bằng những hành vi đơn phương hoặc thỏa thuận của các bên luôn được ghi nhận
và tôn trọng. Quyền tự định đoạt của các bên được coi là một nội dung của quyền
tự do KD và được pháp luật bảo hộ.
Xuất phát từ quyền tự do KD, trong đó bao hàm quyền tự do lựa chọn
10


phuơng thức giải quyết tranh chấp, các bên tranh chấp có quyền lựa chọn phương
thức giải quyết tranh chấp phù hợp nhất cho mình. Có 4 phương thức giải quyết
tranh chấp đó là: thương lượng, hòa giải, Trọng tài và Tòa án.
Giải quyết tranh chấp KD, TM bằng thương lượng là hình thức giải quyết
tranh chấp KD, TM được tiến hành giữa các bên (hoặc đại diện của các bên) tranh
chấp để cùng tìm ra và đi đến những thỏa thuận thống nhất bằng những giải pháp
phù hợp với tất cả các bên nhằm chấm dứt những tranh chấp trong hoạt động KD.
Giải quyết tranh chấp KD, TM bằng hòa giải là phương thức giải quyết
tranh chấp KD, TM có sự tham gia của bên thứ ba giữ vai trò trung gian hòa giải
nhằm giúp cho các bên tranh chấp thu hẹp những bất đồng và đi đến giải pháp
giải quyết vụ tranh chấp. Bên thứ ba (hay còn gọi là hòa giải viên) do các bên
tranh chấp thỏa thuận lựa chọn làm trung gian hòa giải không có quyền quyết
định hay áp đặt ý chí của mình lên các bên tranh chấp. Tuy nhiên, hòa giải viên là
người am hiểu pháp luật, có kỹ năng hòa giải, có kiến thức chuyên môn liên quan
đến lĩnh vực tranh chấp sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cho các bên
tranh chấp tìm kiếm những giải pháp thích hợp cho việc giải quyết tranh chấp,
còn giải pháp có đạt được hay không là do các bên tranh chấp quyết định.
Giải quyết tranh chấp KD, TM bằng Trọng tài là hình thức giải quyết tranh
chấp thông qua hoạt động của Trọng tài viên (hoặc Hội đồng Trọng tài), với tư
cách là bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt xung đột bằng việc đưa ra một phán
quyết buộc các bên tranh chấp phải thực hiện. Cơ sở làm phát sinh thẩm quyền
của Trọng tài là sự thỏa thuận của các bên tranh chấp. Điều 5, khoản 1 của Luật
Trọng tài TM 2010 quy định: “Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các
bên có thoả thuận Trọng tài. Thỏa thuận Trọng tài có thể được lập trước hoặc sau
khi xảy ra tranh chấp” [25]. Thỏa thuận Trọng tài phải được lập thành văn bản, có
thể ghi trong hợp đồng chính hoặc bằng văn bản riêng.
Giải quyết tranh chấp KD, TM bằng Tòa án là phương thức giải quyết tranh
chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực nhà nước, được tiến hành theo trình

11


tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của Tòa án về vụ tranh
chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thi hành bằng sức
mạnh cưỡng chế của nhà nước [9, tr 465]. Tòa án là cơ quan tài phán kinh tế duy
nhất có quyền nhân danh quyền lực nhà nước tiến hành xét xử các vụ tranh chấp
KD, TM. Đặc điểm này thể hiện vai trò của nhà nước trong việc tạo lập nên
những thiết chế quyền lực nhằm giải quyết những mâu thuẫn bất đồng trong KD,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong nền kinh tế, góp phần xây
dựng môi trường KD lành mạnh.
1.2. Một số vấn đề lý luận về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh
chấp kinh doanh, thương mại
1.2.1. Khái niệm thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết các tranh chấp kinh
doanh, thương mại
Dưới góc độ ngôn ngữ, “Thẩm quyền” theo nghĩa chung nhất được giải
thích trong từ điển Tiếng Việt đó là: “Quyền được xem xét và quyền quyết định”
[16, tr. 414].
Về mặt pháp lý, “Thẩm quyền” được Từ điển Luật học giải thích là: “Tổng
hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của cơ quan tổ chức thuộc bộ
máy nhà nước” [7, tr. 731].
Như vậy, có thể thấy rằng khái niệm “Thẩm quyền” bao hàm hai nội dung:
Đó là quyền được làm những công việc nhất định và quyền giải quyết, quyết định
công việc đó trong phạm vi quy định của pháp luật.
Trong khoa học pháp lý, vấn đề thẩm quyền đã được nhiều nhà nghiên cứu
quan tâm và cũng có nhiều quan niệm khác nhau về thẩm quyền của Tòa án. Theo
quan điểm của Thạc sỹ Nguyễn Văn Tiến thì: Thẩm quyền của Tòa án là phạm vi
giới hạn hoạt động của Tòa án và quyền năng pháp lý của Tòa án có mối liên quan
chặt chẽ với nhau tạo thành thẩm quyền của Tòa án. Thẩm quyền của Tòa án bao
gồm thẩm quyền xét xử, phạm vi giới hạn xét xử và quyền hạn quyết định của Tòa
án. Tác giả Nguyễn Đức Mai thì quan niệm: “Thẩm quyền của Tòa án” là một hệ
12


thống nhất, bao gồm 2 yếu tố liên quan chặt chẽ đến nhau đó là thẩm quyền về
hình thức và thẩm quyền về nội dung. Thẩm quyền về hình thức thực hiện ở quyền
hạn xem xét và phạm vi xem xét của Tòa án (Thẩm quyền xét xử và phạm vi xét
xử), còn thẩm quyền về nội dung thể hiện ở quyền hạn giải quyết, quyết định của
Tòa án đối với những vấn đề được xem xét” [22, tr, 45].
Tham khảo một số quan niệm của các nhà nghiên cứu trên, chúng ta thấy
rằng dù tiếp cận “Thẩm quyền của Tòa án” từ các lĩnh vực khác hình sự, dân sự
hay TM, nhưng các khái niệm mà các tác giả đưa ra đều cho rằng: Thẩm quyền của
Tòa án gồm hai nội dung, thẩm quyền trong việc xét xử và thẩm quyền ra quyết
định trong việc xét xử đó.
Cũng đề cập tới khái niệm thẩm quyền của Tòa án, tác giả Nguyễn Thị
Phương Thảo- Trường Đại học luật Hà Nội viết về thẩm quyền dân sự theo loại
việc của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp KD, TM đã phân tích và đưa
ra một số khái niệm thẩm quyền rộng hơn những khái niệm trên. Tác giả Nguyễn
Thị Phương Thảo đã đề cập đến thẩm quyền giải quyết công việc nội bộ của Tòa
án: “Nói đến thẩm quyền của Tòa án thì không liên quan đến công việc nội bộ của
Tòa án. Vì vậy thẩm quyền của Tòa án là thẩm quyền trong việc xét xử, các công
việc nội bộ, giới hạn của việc xét xử, giải quyết công việc nội bộ và quyền ra quyết
định trong việc giải quyết các công việc đó trong phạm vi pháp luật quy định”.
Khi nghiên cứu về thẩm quyền của Tòa án chúng tôi cho rằng, có thể đưa ra
một khái niệm về thẩm quyền của Tòa án theo một nghĩa hẹp hơn, thẩm quyền của
Tòa án chỉ bao gồm quyền được xem xét, giải quyết các vụ việc và quyền ra phán
quyết đối với các vụ việc đó sau khi xem xét, giải quyết. Đặt trong phạm vi nghiên
cứu của đề tài “Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp KD, TM”
tôi cho rằng tiếp cận khái niệm thẩm quyền của Tòa án theo nghĩa hẹp sẽ hợp lý và
bám sát với đề tài hơn.
Do cách thức tổ chức hệ thống Tòa án của Việt Nam có nhiều đặc thù nên
quan niệm về thẩm quyền của Tòa án trong tố tụng dân sự có một số khác biệt nhất

13


định. Hệ thống Tòa án của Việt Nam được tổ chức theo các cấp, theo địa giới hành
chính, ở TAND cấp tỉnh và TAND cấp cao lại có những tòa chuyên trách để xem
xét giải quyết các vụ việc thuộc các lĩnh vực cụ thể. Từ đó khái niệm thẩm quyền
của Tòa án cần được tiếp cận dưới góc độ: Thẩm quyền theo loại việc, thẩm quyền
của Tòa án theo cấp và thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ và thẩm quyền theo
sự lựa chọn của đương sự.
Trên cơ sở phân tích ở trên, cùng với phạm vi của đề tài, có thể kết luận về
khái niệm thẩm quyền của Tòa án như sau: Thẩm quyền của Tòa án là quyền xem
xét, giải quyết và quyền ra quyết định đối với các vụ việc phát sinh trong xã hội,
được thực hiện theo trình tự do pháp luật quy định.
Về nguyên tắc, Tòa án có thẩm quyền giải quyết nhiều loại tranh chấp khác
nhau, trong đó có tranh chấp KD, TM. Sau khi nghiên cứu có thể kết luận về thẩm
quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp KD, TM như sau:
“Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp KD, TM là
quyền của một Tòa án hoặc các Tòa án trong hệ thống TAND xem xét, giải quyết
và quyền ra quyết định đối với tranh chấp KD, TM theo thủ tục tố tụng dân sự”.
1.2.2. Cơ sở phân định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp
kinh doanh, thương mại
Việc phân định thẩm quyền dân sự của Tòa án nói chung và thẩm quyền
giải quyết tranh chấp KD, TM của Tòa án nói riêng, phải dựa vào trên những cơ
sở nhất định. Bao gồm cả những yếu tố chủ quan như: Đường lối chính sách của
Đảng về hoạt động Tư pháp; các quy tắc hiến định về tổ chức và hoạt động của hệ
thống Tòa án. Đồng thời cũng cần phải căn cứ vào những yếu tố khách quan từ
thực tiễn như: Tính chất xét xử; năng lực giải quyết tranh chấp KD TM của các
cấp Tòa án và cả những đòi hỏi trong quá trình hội nhập và phát triển.
1.2.2.1. Căn cứ vào đường lối của Đảng về cải cách tư pháp
Đảng Cộng Sản Việt Nam là một bộ phận cấu thành và giữ vai trò quan

14


trọng trong hệ thống chính trị. Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với dân tộc Việt
Nam đã được thể hiện và khẳng định trong suốt quá trình lịch sử kể từ khi thành
lập. Đảng luôn là lực lượng lãnh đạo chính quyền và các tổ chức khác trong hệ
thống chính trị. Để thể chế hóa nguyện vọng toàn thể nhân dân, Đảng đề ra chủ
trương, vạch ra đường lối, phương hướng để phát triển xã hội, hoàn thiện nhà
nước cũng như hệ thống pháp luật. Trong lĩnh vực lập pháp, nghị quyết của Đảng
luôn là kim chỉ nam để nhà làm luật xây dựng các văn bản pháp luật tương ứng:
- Hội nghị Ban chấp hành TW Đảng đã ra Nghị quyết trong đó chỉ rõ cần
phải: “Xóa bỏ lối quản lý hành chính cung cấp, thực hiện quản lý thủ công, phân
tán theo lối sản xuất nhỏ, xây dựng các tổ chức của nền công nghiệp lớn”. Ban
chấp hành TW Đảng đã đề ra nhiệm vụ “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa”.
Để thực hiện theo đường lối của Nghị quyết, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết
điều chỉnh về hợp đồng kinh tế và điều lệ tổ chức, hoạt động của Trọng tài kinh
tế. Theo đó, trọng tài kinh tế khi đó có nhiệm vụ giải quyết tranh chấp về hợp
đồng kinh tế và xử lý các vi phạm về hợp đồng kinh tế.
- Trong Nghị quyết của Đại hội Đảng đã chỉ ra chủ trương xóa bỏ cơ chế kế
hoạch hóa tập trung, bao cấp chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ chủ trương đó Đảng yêu cầu phải cải cách bộ máy Nhà nước, nhằm tinh giảm
và có sự phân định rõ thẩm quyền. Việc tinh giảm và phân định rõ thẩm quyền sẽ
làm cho hoạt động của nhà nước nói chung và hệ thống tư pháp nói riêng sẽ đạt
hiệu quả cao. Thực hiện yêu cầu của Đảng, Quốc hội đã thông qua luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật tổ chức TAND, thành lập tòa kinh tế thuộc hệ thống
TAND. Ngày 16 tháng 3 năm 1994, Ủy ban Thường vụ quốc hội thông qua pháp
lệnh thủ tục quyết các vụ án kinh tế. Điều 12 pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
án kinh tế đã quy định về thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế của tòa án với
phạm vi rộng hơn các văn bản trước đó. Theo đó Tòa án không chỉ có thẩm quyền
giải quyết các tranh chấp giữa các thành viên công ty với công ty, tranh chấp giữa
thành viên công ty với nhau; tranh chấp đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu....
15


- Với sự phát triển và hội nhập của nền kinh tế, những quy định trong pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế đã không còn phù hợp với các yêu cầu
của thực tiễn. Nhận định được điều này, Đảng ta cũng đưa ra nhiều yêu cầu về
công tác tư pháp thể hiện trong các nghị quyết của Đại hội lần thứ VIII, XI. Trong
các Nghị quyết này đã nhấn mạnh đến việc phân định thẩm quyền của các cấp tòa
án một cách hợp lý, thực hiện hai cấp xét xử, tăng thẩm quyền cho TAND cấp
huyện.....
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, việc cụ thể hóa và thực hiện đường lối,
chính sách của Đảng là một trong những yêu cầu quan trọng trong hoạt động lập
pháp nói chung và phân định thẩm quyền cho TAND nói riêng. Đường lối chính
sách của Đảng là cơ sở quan trọng cho việc phân định thẩm quyền của Tòa án.
1.2.2.2. Căn cứ vào nguyên tắc tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án
Cách thức tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước của các quốc gia trên thế
giới là không giống nhau, do đó hệ thống các cơ quan trong bộ máy nhà nước đó
cũng sẽ có những nét riêng biệt. Hệ thống Tòa án nước CHXHCN Việt Nam cũng
mang những đặc thù về tổ chức và hoạt động. Đặc thù này tác động trực tiếp tới
việc phân định thẩm quyền giải quyết tranh chấp KD, TM của Tòa án.
- Theo quy định của Luật tổ chức Tòa án thì ở TAND cấp cao và TAND cấp
tỉnh được tổ chức thành các Tòa chuyên trách, các tòa chuyên trách này có thẩm
quyền xử lý, giải quyết các loại vụ việc cụ thể. Với cách tổ chức như vậy, đòi hỏi
phải có sự phận định thẩm quyền giữa các tòa án chuyên trách trong từng một cấp
Tòa án. Tức là pháp luật tố tụng cần phân định với những tranh chấp nào thuộc
tòa án dân sự, những tranh chấp nào thuộc thẩm quyền Tòa án Kinh tế, tranh chấp
nào thuộc Tòa lao động.
- Theo quy định của Luật tổ chức TAND thì hệ thống Tòa án của Việt Nam
bao gồm: TAND tối cao, TAND cấp cao, TAND các tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương, các TAND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, các Tòa án
quân sự và các Tòa án đặc biệt khác [28]. Quy định này dẫn đến việc phân định
16


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×