Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam

1

MỤC LỤC
Cơ sở lập bảng báo cáo kết quả kinh doanh...................................................................31
Lập và trình bày báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh..................................31
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (Mã số 01):...................................................31
Lập báo cáo các chỉ tiêu luồng tiền từ hoạt động đầu tư.............................................36
Lập báo cáo các chỉ tiêu luồng tiền từ hoạt động tài chính.........................................38
Tổng hợp các luồng tiền trong kỳ.................................................................................39
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO
KẾ TOÁN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XÂY DỰNG SỐ 9 - VINACONEX 9......................93


2


3

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1.3. Phân loại đối tượng lao động của công ty:......................................................65
Bảng 2.1.4.3: Bảng tổng hợp phiếu khảo sát:.....................................................................68

Sơ đồ 2.1.4.4. Trình tự sổ kế toán theo hình thức kế toán trên máy tính...........................69
Sơ đồ 2.2.1: Trình tự lập báo cáo tài chính tổng hợp Công ty Cổ phần xây dựng số 9.....72


4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1.
2.

3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.

BCĐKT


BCHĐKD
BCLCTT
BHXH
BHYT
BHTN
BCTC
CBCNV
CCDC
BQLDA
DN
ĐTDH
ĐTNH
FDI
HĐQT
GTGT
LKTĐN
NSNN
QTKD
TK
TSCĐ
TGĐ
TW
SXC
SXKD
XDCB
XHCN
KTTC
KTQT
VAS

Bảng cân đối kế toán
Báo cáo hoạt động kinh doanh
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm y tê
Bảo hiểm thất nghiệp
Báo cáo tài chính
Cán bộ công nhân viên
Công cụ, dụng cụ
Ban quản lý dự án
Doanh nghiệp
Đầu tư dài hạn
Đầu tư ngắn hạn
Vốn đầu tư nước ngoài
Hội đồng quản trị
Giá trị gia tăng
Lũy kế từ đầu năm
Ngân sách nhà nước
Quản trị kinh doanh
Tài khoản
Tài sản cố định
Tổng giám đốc
Trung ương
Sản xuất chung
Sản xuất kinh doanh
Xây dựng cơ bản
Xã hội chủ nghĩa
Kế toán tài chính
Kế toán quản trị
Chuẩn mực kế toán Việt Nam
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
1.1. Tính cấp thiết
Trong những năm qua, kế toán Việt Nam chứng kiến nhiều cải cách và đổi
mới, việc ra đời liên tiếp của các chuẩn mực kế toán mới và đi kèm với các thông tư


5

hướng dẫn đây cũng là động thái tất yếu để phát triển nền kế toán của Việt Nam phù
hợp , thích nghi với yêu cầu của môi trường hoạt động kinh doanh ngày càng đa
dạng và phức tạp. Bên cạnh, đáp ứng yêu cầu của kế toán trong nước mà chuẩn mực
kế toán Việt Nam còn phải hoàn thiện và sửa đổi để dần thu hẹp khoảng cách với hệ
thống chuẩn mực kế toán quốc tế. Chính vì vậy, việc hệ thống báo cáo kế toán của
doanh nghiệp phải được hoàn thiện để đáp ứng với nhu cầu doanh nghiệp, yêu cầu
pháp lý và yêu cầu cạnh tranh với môi trường kinh doanh mới là điều tất yếu.
Hệ thống báo cáo kế toán là kênh thông tin chính thống của kế toán về tình
hình tài chính của doanh nghiệp, cung cấp cho những đối tượng khác sử dụng thông
tin kế toán – tài chính của doanh nghiệp. Bên cạnh việc cung cấp thông tin, báo cáo
kế toán cũng là một công cụ hữu ích để giúp nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra các
quyết định về hoạch định kế hoạch, kiểm soát tình hình hoạt động của công ty phù
hợp , kịp thời. Đây chính là yếu tố góp cho doanh nghiệp tồn tạii và phát triển mạnh
mẽ trong môi trường cạnh tranh gay gắt. Thông tin từ hệ thống báo cáo kế toán
không chỉ đơn thuần là thông tin quá khứ mà nó còn là những thông tin tương lai
của doanh nnghiệp.
Tại công ty cổ phần xây dựng số 9, hệ thống báo cáo kế toán được đặc biệt
quan tâm trong công tác kế toán của công ty. Các báo cáo luôn được lập và trình
bày đúng quy định của nhà nước và theo yêu cầu của ban quản trị, phù hợp với đặc
thù của công ty. Ban lãnh đạo của công ty cũng đặc biệt quan tâm đến hệ thống báo
cáo kế toán, do các thông tin trên báo cáo kế toán ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh
doanh của công ty do công ty là một công ty niêm yết trên sàn chứng khoán. Các
thông tin trên báo cáo kế toán của công ty ngoài việcđáp ứng nhu cầu quản lý mà nó
còn là căn cứ quan trọng để công ty huy động nguồn vốn từ các nhà đầu tư từ đó gia
tăng nguồn vốn đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Hệ thống báo cáo kế toán
còn cung cấp thông tin nội bộ công ty để nhà quản trị có các hoạt động, phương
hướng kinh doanh cho công ty . Như vậy, hệ thống báo cáo kế toán góp mặt từ khâu
vốn kinh doanh đến khâu đưa ra các quyết định kinh doanh, hai yếu tố quyết định
sự sống còn và phát triển của công ty. Báo cáo kế toán càng chi tiết, đầy đủ, chính


6

xác, kịp thời bao nhiêu thì hiệu quả sử dụng càng cao và tiết kiệm bấy nhiêu, lợi ích
mang lại cho công ty càng lớn. Hoàn thiện báo cáo kế toán trở thành việc tất yếu mà
công ty phải làm.
Để báo cáo kế toán được hoàn thiện toàn diện thì việc lập, trình bày báo cáo
kế toán là công việc phải được thực hiện trước hết. Vì việc lập báo cáo kế toán
sẽ là yếu tố quyết định để báo cáo kế toán có nội dung đầy đủ, chính xác, phù
hợp với công ty; việc trình bày báo cáo kế toán góp phần thể hiện những thông
tin đó một cách chi tiết, rõ ràng và dễ hiểu. Vậy, doanh nghiệp muốn có một hệ
thống báo cáo kế toán như ý thì hoàn thiện lập, trình bày báo cáo kế toán là việc
cần làm tiên quyết.
2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
Tác giả đã tìm hiểu 3 đề tài đề cập và nghiên cứu về việc Lập và trình bày báo
cáo kế toán tại một số doanh nghiệp tại Việt Nam, trong đó có 2 luận văn Thạc sỹ và
1 luận án tiến sỹ.
- Luận văn Thạc sỹ kế toán “ Hoàn thiện nội dung, phương pháp lập báo cáo
tài chính và báo cáo quản trị tại các công ty xổ số kiến thiết ở các tỉnh Nam Trung
Bộ”. Tác giả Bùi Quang Đáng - Trường Đại học kinh tế Thành phố Hồ Chí Minhnăm 2009. Trong luận văn này tác giả đã nghiên cứu và đạt được những thành tựu
nhất định như: đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận lập Báo cáo tài chính và báo cáo
quản trị, đặc biệt tại doanh nghiệp xổ số kiến thiết; tác giả đã xây dựng được hệ
thống báo cáo kế toán quản trị hữu ích và phù hợp với doanh nghiệp xổ số kiến thiết
Nam Trung Bộ và đặc biệt tác giả đã đưa ra được một số phương pháp khả thi để
hoàn thiện nội dung và phương pháp lập báo cáo tài chính và báo cáo quản trị tại
các công ty xổ số Nam Trung Bộ. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì
luận văn còn một số hạn chế như: Do đặc thù luận văn nghiên cứu về các doanh
nghiệp xổ số kiến thiết nên việc áp dụng đối với các ngành khác là tương đối khó;
luận văn đã được nghiên cứu từ năm 2009 đến nay, thì chuẩn mực kế toán, và có
nhiều thông tư kế toán mới ra đời hướng dẫn việc lập và trình bày báo cáo tài chính,
báo cáo tài chính hợp nhất tại doanh nghiệp nên mức độ thời sự của luận văn là


7

chưa cao; tác giả còn chưa có giải pháp khách quan cho các đơn vị quản lý, mới chỉ
là định hướng chung; việc sử dụng lợi nhuận để tái đầu tư của doanh nghiệp vẫn
chưa được bàn bạc cụ thể trong luận văn này.
- Luận văn Thạc sỹ kinh tế “ Lập và trình bày báo cáo kế toán tại các doanh
nghiệp sản xuất gạch trên địa bàn tình Thái Bình” của Nguyễn Thái Hà - Đại học
Thương Mại (Năm 2012). Về cơ bản luận văn đã đạt được một số mục tiêu đặt ra
trước khi nghiên cứu đề tài như: xác định rõ được những điểm lý luận căn bản, nêu
lên thực trạng chi tiết của từng doanh nghiệp về việc lập, trình bày báo cáo kế toán,
từ đó đưa ra được một sô giải pháp cụ thể cho việc hoàn thiện công tác lập và trình
bày các báo cáo kế toán này cho các doanh ghiệp sản xuất gạch trên địa bàn tỉnh
Thái Bình. Bên cạnh những thành tựu đạt được thì còn một số hạn chế của luận văn
như sau: do quy mô, đặc điểm mô hình sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp
là khác nhau nên việc áp dụng các giải pháp hoàn thiện công tác lập và trình bày
báo cáo kế toán tại các công ty như luận văn đã nêu cho từng doanh nghiệp cụ thể là
tương đối khó khăn.
- Luận án Tiến sỹ kinh tế “ Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán trong các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam” của Bùi Thị Thu
Hương - Học Viện Tài chính (Năm 2011). Luận án đã khái quát được những vấn đề
cơ bản về báo cáo kế toán; chỉ ra được những thuận lợi, khó khăn khi sử dụng hệ
thống pháp lý kế toán hiện hành cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính cho các
doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam; việc kết hợp học
hỏi kinh nghiệm lập báo cáo kế toán tại một số nước trên thế giới mà tác giả đã đưa
ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán cho các doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam. Tuy nhiên, tác giả nghiên cứu đề tài theo
một nhóm doanh nghiệp về sản xuất kinh doanh thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam nên
áp dụng cho đơn vị khác tương đối khó khăn.
Với những tài liệu đã nghiên cứu liên quan đến việc lập và trình bày báo cáo
kế toán đã nêu, tác giả nhận thấy có một số vẫn đề chưa được làm rõ như sau:


8

- Quy trình lập và trình bày báo cáo kế toán, đặc biệt là các báo cáo quản trị
chưa được nêu cụ thể.
- Hệ thống báo cáo tài chính chưa nghiên cứu rõ ràng phần lập và trình bày
báo cáo tài chính tại đơn vị.
Dựa trên những vấn đề còn tồn tại nêu trên và tình hình thực tế về việc lập và
trình bày báo cáo kế toán tại Công ty cổ phần xây dựng số 9 - Vinaconex 9, tác giả
mong muốn nghiên cứu đề tài lập và trình bày báo cáo kế toán Công ty cổ phần xây
dựng số 9 – Vinaconex 9 sẽ khắc phục được những vấn đề còn tồn tại đã nêu.
3. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về lập và trình bày báo cáo kế toán trong
doanh nghiệp
- Khảo sát việc lập và trình bày báo cáo kế toán tại công ty cổ phần xây dựng
số 9 nhằm thấy được những thành tựu mà doanh nghiệp đã đạt được cùng những
tồn tại tại doanh nghiệp; tìm ra những nguyên nhân của những tồn tại trong lập và
trình bày báo cáo kế toán tại công ty cổ phần xây dựng số 9-Vinaconex 9.
- Đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện lập và trình bày báo cáo kế toán tại công
ty cổ phần xây sựng số 9.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác lập và trình bày báo cáo kế toán tại công ty
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: Công ty Cổ phần Xây dựng số 9
+ Thời gian: Số liệu năm 2015
+ Về nội dung: Đề tài nghiên cứu về nội dung lập và trình bày báo kế toán tại
công ty cổ phần xây dựng số 9 - Vinaconex 9 gồm: Báo cáo tài chính riêng và báo
cáo quản trị.
5. Phương pháp thực hiện đề tài
5.1. Phương pháp thu thập và tổng hợp dữ liệu
5.1.1. Phương pháp phỏng vấn.
Phương pháp phỏng vấn là phương pháp thu thập thông tin được tác giả sử
dụng do thông dụng và hiệu quả. Người nghiên cứu đặt câu hỏi trực tiếp cho đối


9

tượng được điều tra và thông qua câu trả lời của họ sẽ nhận được những thông tin
mong muốn.
*Các bước tiến hành phỏng vấn.
Bước 1: Xác định cụ thể đối tượng phỏng vấn là những ai, giữ chức vụ gì?
Bước 2: Thiết kế bảng câu hỏi phỏng vấn: Các câu hỏi phỏng vẫn được đưa ra
nhằm tập trung, đi sâu vào tình hình lập, trình bày báo cáo kế toán của công ty.
Bước 3: Tiến hành phỏng vấn theo các câu hỏi đã được chuẩn bị trong bảng
câu hỏi phỏng vấn. Và ghi chép lại các câu trả lời để làm tài liệu phục vụ cho đề tài
nghiên cứu.
Bước 4: Tổng hợp dữ liệu phỏng vấn: Tổng hợp và xử lý thông tin đã ghi chép
được thành văn bản phỏng vấn để lấy dữ liệu phục vụ cho việc lập, trình bày và
phân tích báo cáo tài chính của công ty.
- Phải cố gắng tìm hiểu về công việc của người đươc phỏng vẫn và định ra các
câu hỏi trong phạm vi công việc của họ.
- Lựa chọn kỹ câu hỏi sẽ dùng, mỗi loại phù hợp với hoàn cảnh riêng của nó.
Việc lựa chọn câu hỏi phỏng vấn sẽ quyết định chất lượng của các thông tin thu thập
được. Câu hỏi mở luôn tạo ra nhiều khả năng trả lời khác nhau.
5.1.3. Phương pháp quan sát, nghiên cứu trực tiếp các tài liệu kế toán của
Công ty
Quan sát là phương pháp thu thập thông tin thông qua việc sử dụng các giác
quan và các thiết bị hỗ trợ để ghi nhận các hiện tượng hoặc các hành vi của con
người phục vụ cho công tác nghiên cứu một vấn đề khoa học. Phương pháp này
cũng thích hợp trong các tình huống khi phỏng vấn không thu thập được các thông
tin chính xác hoặc không lấy được đầy đủ thông tin vì đối tác không muốn trả lời
hoặc có thái độ bất hợp tác. Ngoài ra, sử dụng phương pháp quan sát có thể thu thập
được các thông tin sơ cấp một cách trực diện “mắt thấy, tai nghe” mà các phương
pháp khác không thể cung cấp được.
Sử dụng phương pháp quan sát, tác giả đã tiến hành quan sát các quá trình
luân chuyển và tâp hợp chứng từ, các loại chứng từ, mẫu biểu mà Công ty sử dụng
để phản ánh tình hình công tác lập, trình bày báo cáo tài chính kế toán tại công ty cổ
phần xây dựng số 9. Để thu thập được thông tin có liên quan đến tình hình lập, trình
bày báo cáo kế toán công ty cổ phần xây dựng số 9, tác giả đã tiến hành quan sát tại


10

Văn phòng công ty, chi nhánh công ty tại Ninh Bình, Đội thi công côgntrình số
6,9,12.
Tác giả quan sát, nghiên cứu trực tiếp sổ sách kế toán chi tiết, tổng hợp và các
BCTC năm 2014, năm 2015.
5.2. Phương pháp phân tích dữ liệu
+ Phương pháp so sánh: Phương pháp so sánh được sử dụng để tìm ra những
điểm khác nhau trong việc lập và trình bày báo cáo kế toán của công ty giữa các
năm.
+ Phương pháp dùng biểu, sơ đồ phân tích: Sử dụng các bảng biểu, sơ đồ phân
tích để nêu lên thực trạng lập, trình bày báo cáo kế toán của doanh nghiệp. Đồng
thời, sử dụng phương pháp này để xử lý số liệu và đưa ra những đánh giá, giải pháp
cho việc lập và trình bày báo cáo tài chính của doanh nghiệp.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài
Về mặt lý luận, đề tài làm sáng tỏ những vấn đề về yêu cầu, nguyên tắc, quy
trình lập, trình bày báo cáo kế toán tai công ty cổ phần xây dựng số 9. Đưa ra các
phương pháp tối ưu nhất trong lập, trình bày báo cáo kế toán cho công ty chuyên về
xây lắp để báo cáo kế toán của công ty vừa được lập đúng theo luật định, vừa đảm
bảo được yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.
Về mặt thực tiễn, đề tài nghiên cứu, tìm hiểu về thực trạng lập, trình bày báo
cáo kế toán của công ty cổ phần xây dựng số 9. Từ đó, đánh giá thực trạngvà đưa ra
các giải pháp hoàn thiện lập và trình bày báo cáo kếtoán phù hợp với công ty.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Mở đầu: Tổng quan nghiên cứu lập và trình bày báo cáo kế toán tại Công ty cổ
Phần xây dựng số 9 – Vinaconex 9
Chương I: Cơ sở lý luận về lập và trình bày báo cáo kế toán trong doanh
nghiệp.
Chương II: Thực trạng lập và trình bày báo cáo kế toán tại Công ty cổ phần
xây dựng số 9 – Vinaconex 9.


11

Chương III: Hoàn thiện lập và trình bày báo cáo kế toán tại Công ty cổ phần
xây dựng số 9 - Vinaconex 9

CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LẬP VÀ TRÌNH BÀY BÁO CÁO KẾ TOÁN TRONG
DOANH NGHIỆP
1.1. Lý luận chung về báo cáo kế toán trong DN
1.1.1. Khái niệm và bản chất của báo cáo kế toán
Kết quả của công tác kế toán ở đơn vị kế toán được biểu hiện thông qua hệ
thống báo cáo kế toán được lập để cung cấp thông tin cho các đối tượng khác nhau.
Xuất phát từ yêu cầu của công cụ kế toán trong quản lý Nhà nước ở từng giai đoạn
khác nhau mà khái niệm về báo cáo kế toán cũng thay đổi.
Tại Việt Nam, trong giai đoạn nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập
trung khái niệm về báo cáo kế toán khá đa dạng và trong đó có tiêu biểu khái niệm:


12

“Báo cáo kế toán là phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán
theo các chỉ tiêu kinh tế về tình hình và kết quả kinh doanh, sử dụng vốn của đơn vị
kế toán trong một thời kỳ nhất định vào một hệ thống mẫu biểu báo cáo quy định”1
Như vậy qua khái niệm trên chúng ta có thể rút ra một quan điểm thống nhất
về bản chất báo cáo kế toán ở thời kỳ này là: “Báo cáo kế toán là một trong các
phương pháp của kế toán sử dụng để thực hiện các chức năng kiểm tra đối tượng kế
toán trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung.”
Khi nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế
thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì khái
niệm về báo cáo kế toán cũng thay đổi. Với mục đích sử dụng báo cáo kế toán như
một phương tiện cung cấp thông tin cho những đối tượng sử dụng nhằm đề ra các
quyết định kinh tế, báo cáo kế toán có khái niệm như sau: “Báo cáo kế toán định kỳ
là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài sản, công nợ và nguồn vốn, cũng
như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của DN nhằm phục vụ các yêu
cầu thông tin cho việc đề ra các quyết định của chủ DN, hội đồng quản trị DN,
nhà đầu tư, người cho vay hiện tại, tương lai và các cơ quan, tổ chức chức năng”2
Hoặc theo Nguyễn Năng Phúc (2007) “Báo cáo kế toán là sản phẩm cuối
cùng của quá trình kế toán số liệu, nó được lập dựa trên cơ sở tổng hợp sốliệu từ
các sổ kế toán, theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính nhất định”3
Khi có sự chuyển dịch về nền kinh tế mạnh mẽ thì khái niệm báo cáo kế toán
lại thể được thể hiện mới hơn theo định hướng xử lý và cung cấp thông tin gắn liền
với yêu cầu quản lý nội bộ và đáp ứng cho nhu cầu của các đối tượng khác bên
ngoài. Kết quả của kế toán là hệ thống báo cáo nội bộ và báo cáo tài chính cho các
yêu cầu của các cơ quan, đối tượng bên ngoài DN. Báo cáo kế toán sẽ phản ánh đầy
đủ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình sử dụng nguồn vốn DN trong
Vũ Huy Cẩm, Học viện Tài chính kế toán, Giáo trình Kế toán Công nghiệp Hà Nội, NXB
Tài Chính, năm 2001, trang 261.
1

Chế độ báo cáo kế toán định kỳ áp dụng cho DN ( Ban hành theo quyết định 1206-TC/
CĐKT ngày 14/12/1994 của Bộ Tài Chính)
3
PGS.TS Nguyễn Năng Phúc, Giáo trình kế toán quản trị DN, Nhà xuất bản tài chính, năm
2007, trang 199.
2


13

một thời kỳ nhất định. Từ những số liệu tổng hợp tại báo cáo kế toán mà các đối
tượng sử dụng có thể đánh giá, phân tích tình hình kinh tế tài chính, quá trình sản
xuất kinh doanh và kết quả kinh doanh của DN. Từ đó, các đối tượng sử dụng thông
tin có thể ra các quyết định cần thiết và kịp thời. Chính vì vậy, chất lượng thông tin
báo cáo kế toán cung cấp luôn được quan tâm bởi các đối tượng sử dụng nó. Báo
cáo kế toán càng có chất lượng tốt, càng có độ tin cậy cao thì yêu cầu về trách
nhiệm các bên từ DN đến các cơ quan chức năng càng cao. Ngoài việc, DN có
trách nhiệm đảm bảo thông tin trên báo cáo kế toán là trung thực, đầy đủ, kịp thời
thì các đơn vị cơ quan chức năng có thẩm quyền, hiệp hội kế toán cũng có trách
nhiệm đưa ra các quy định và hướng dẫn cụ thể để DN thực hiện.
Như vậy, trong nền kinh tế thị trường vận hành theo cơ chế thị trường, bản
chất của báo cáo kế toán được xem như là một hệ thống thông tin đã được xử lý bởi
hệ thống kế toán nhằm cung cấp những thông tin tài chính cho những người sử
dụng để ra các quyết định kinh tế.
1.1.2. Phân loại báo cáo kế toán
Trong phạm vi nghiên cứu đề tài căn cứ vào mục đích cung cấp thông tin được
cung cấp thì báo cáo kế toán trong DN được phân thành: hệ thống báo cáo tài chính
và hệ thống báo cáo quản trị.
a. Hệ thống báo cáo tài chính
Hệ thống báo cáo tài chính của DN Việt Nam được lập, trình bày và cung cấp
thông tin theo quy định, chuẩn mực của cơ quan chức năng có liên quan tại Việt
Nam. Sau một quá trình hình thành và phát triển với sự thay đổi của nền kinh tế
sang nền kinh tế thị trường như hiện nay thì các chuẩn mực và quy định về lập, trình
bày báo cáo tài chính của Việt Nam cũng có nhiều sự tương thích với các chuẩn
mực quốc tế về kế toán.
Tùy theo góc độ tiếp cận với báo cáo tài chính thì hệ thống báo cáo tài chính
có thể hiểu theo những quan điểm khác nhau.
Theo cách tiếp cận về chức năng cung cấp thông tin của hệ thống báo cáo tài
chính thì theo Ngô Thế Chi (2007): “ Báo cáo tài chính là phương pháp tổng hợp


14

số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính tổng hợp, phản ánh có hệ
thống tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản của DN, tình hình và hiệu quả sản
xuất kinh doanh , tình hình lưu chuyển tiền tệ và tình hình quản lý, sử dụng vốn…
của DN trong một thời kỳ nhất định vào một hệ thống mẫu biểu quy định thống
nhất”4
Báo cáo tài chính có chức năng là tổng hợp, phản ánh và thuyết minh các số
liệu kinh tế tài chính được tổng hợp từ các sổ kế toán cho các đối tượng bên trong,
bên ngoài DN có thể tiếp cận số liệu một cách hiệu quả nhất.
Hay, theo các yếu tố cần trình bày trong hệ thống báo cáo tài chính tại chuẩn
mực kế toán Việt Nam số 01: “Báo cáo tài chính phản ảnh tình hình tài chính của
DN bằng cách tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế, tài chính có cùng tính chất kinh tế
thành các yếu tố của báo cáo tài chính. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác
định tình hình tài chính trong Bảng cân đối kế toán là tài sản, nợ phải trả và vốn
chủ sở hữu. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến đánh giá tình hình và kết quả
kinh doanh trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là doanh thu, thu nhập
khác, chi phí và kết quả kinh doanh.”.5
Tuy các khái niệm về báo cáo tài chính có khác nhau do các góc độ tiếp cận
khác nhau nhưng về bản chất thì không có sự khác nhau. Tóm lại, các cáo tài chính
là một phương pháp kế toán, là sản phẩm cuối cùng của hoạt động kế toán được lập
trên cơ sở nguyên tắc và phương pháp riêng của kế toán.
Theo Luật Kế toán thì hệ thống báo cáo tài chính DN Việt Nam hiện nay gồm
4 báo cáo: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh,
báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo tài chính.
Hiện nay, theo đối tượng lập báo cáo tài chính thì báo cáo tài chính có hai loại:
báo cáo tài chính riêng và báo cáo tài chính hợp nhất.
- Báo cáo tài chính riêng được lập tại các đơn vị hạch toán kinh tế độc lập.

GS.TS Ngô Thế Chi, Học viện tài chính, Giáo trình kế toán tài chính, Nhà xuất bản tài
chính, năm 2007, trang 532.
4

5

Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01


15

- Báo cáo tài chính hợp nhất được lập tại cac tập đoàn, tổng công ty hoạt động
theo mô hình mẹ - con nhằm tổng hợp thông itn của tập đoàn như một thực thể pháp
lý duy nhất.
b. Hệ thống báo cáo quản trị
Hệ thống báo cáo quản trị là kết quả xử lý thông tin của hệ thống kế toán
nhằm cung cấp thông tin cho những nhà quản trị nội bộ DN để đưa ra các quyết
định về quản lý, hoạch định, kiểm soát và các quyết định khác, không tìm thấy trong
báo cáo tài chính. Hệ thống các biểu mẫu báo cáo kế toán quản trị không mang tính
pháp lý bắt buộc mà DN tùy theo yêu cầu quản lý của đơn vị mình để thiết kế các
mẫu biểu cho phù hợp.
Theo nội dung của báo cáo quản trị ta có thể xác định một số báo cáo quản trị
chủ yếu như sau:
- Báo cáo cung cấp thông tin cho quá trình lập kế hoạch: các bảng dự toán
doanh thu, chi phí,…
- Báo cáo cung cấp thông tin cho quá trình tổ chức điều hành hoạt động: báo
cáo doanh thu, báo cáo chi phí và lợi nhuận, báo cáo hàng tồn kho…
- Báo cáo thông tin cho quá trình kiểm soát: báo cáo thực hiện ở từng bộ phận
DN…
- Báo cáo cung cấp thông tin cho quá trình quyết định: các phương án quảng
cáo, chiến lược gắn với các số liệu về giá thành và lợi nhuận …
Nhu cầu chính của nhà quản trị không phải là các thông tin chi tiết rời rạc mà
là các bảng tóm tắt tuy ngắn gọn nhưng đầy đủ, rõ ràng. Từ đó, nhà quản trị sẽ thấy
được nơi nào có vấn đề và nơi đâu cần sự quan tâm của nhà quản lý hơn nữa để cải
tiến làm cho các công việc đạt hiệu quả cao hơn.
1.1.3. Vai trò của báo cáo kế toán
Theo sự chuyển dịch kinh tế mà hiện nay, báo cáo kế toán đảm nhiệm một
trọng trách có quy mô rộng hơn về cả số lượng và chất lượng của báo cáo. Báo cáo
kế toán không chỉ đơn thuần là cung cấp các thông tin được thu thập từ quá khứ của
các nghiệp vụ kinh tế phát sinh dưới thước đo tiền tệ nữa, mà nó còn đáp ứng các
nhu cầu thông tin cho các nhà quản lý và những người sử dụng bên ngoài, hệ thống


16

báo cáo kế toán có thể bao gồm những thông tin tài chính, thông tin phi tài chính…
Hệ thống báo cáo kế toán càng ngày càng trở nên hữu ích hơn và phục vụ được cho
nhiều đối tượng hơn, cụ thể như sau:
• Vai trò của báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính có vai trò phản ánh tình hình tài chính của một công ty, để
so sánh với các đối thủ cạnh tranh khác. Báo cáo tài chính là công cụ hữu ích nhất
cho việc đánh giá so sánh giữa các DN. Từ báo cáo tài chính cho ta thấy tất cả
những gì mà công ty nợ, sở hữu, lợi nhuận và các khoản lỗ trong một khoảng thời
gian nhất định và vị thế của công ty thay đổi như thế nào từ những báo cáo cuối
cùng của họ.
- Đối với DN:
Báo cáo tài chính được sử dụng như một công cụ hữu hiệu công khai thông tin
về tình hình hoạt động của công ty cho các đối tượng bên ngoài để thu hút nguồn
vốn từ các nàh đầu tư bên ngoài. Bên cạnh đó, báo cáo tài chính cũng được sử dụng
để các nhà quản lý của DN nắm bắt được tình hình hoạt động của DN qua đó có các
quyết định cần thiết để vận hành DN hiệu quả.
- Đối với các nhà đầu tư, các chủ nợ:
Về bản chất nhu cầu sử dụng báo cáo tài chính của hai đối tượng nhà đầu tư và
chủ nợ tương đối giống nhau, hộ đều có hai mục đich rất rõ ràng:
Thứ nhất, họ cần thông tin phảnánh trên báo cáo tài chính để giám sát, bắt
buộc nàh quản lý của công ty phải thực hiện theo đúng hợp đồng và cam kết đã ký
kết;
Thứ hai, họ cần tin phản ánh trên báo cáo tài chính để lấy cơ sở cho việc ra
quyết định đầu tư và cho vay của mình.
- Đối với các kiểm toán viên độc lập:
Với các kiểm toán viên độc lập, thì báo cáo tài chính chính là đối tượng của
họ. Họ được DN thuê về để kiểm toán báo cáo tài chính, chứng minh về sự minh
bạch và tính trung thực của báo cáo tài chính đó. Các nhà quản lý DN sẽ sử dụng
kết quả của kiểm toán viên độc lập sau quá trình kiểm toán để chứng minh cho các


17

nhà đầu tư, các tổ chức tín dụng về tình hình tài chính của DN, qua đó huy động
nguồn vốn về để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của DN theo kế
hoạch đã đặt ra.
- Đối với nhà nước:
Báo cáo tài chính cung cấp thông tin cần thiết giúp việc thực hiện các chức
năng quản lý đối với nền kinh tế, giúp cho các cơ quan tài chính thực hiện các côg
tác kiểm tra định kỳ và đột xuất đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Và
không thể thiếu được một vai trò quan trọng của báo cáo tài chính đối với các cơ
quan nhà nước đó là, báo cáo tài chính là cơ sở để tình các khoản thuế và các khoản
phí mà DN phải nộp cho NSNN, thực hiện nghĩa vụ của DN.
• Vai trò của báo cáo kế toán quản trị
Báo cáo kế toán quản trị có vai trò quan trọng trong chỉ đạo hoạt động kinh
doanh của DN. Đó là cơ sở để đưa ra các quyết định ngắn hạn và dài hạn nhằm đảm
bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của DN trong nền kinh tế thị trường.
Ra quyết định là chức năng và nhiệm vụ cơ bản của các nhà quản trị DN. Báo
cáo quản trị cung cấp các thông tin liên quan đến: xây dựng kế hoạch, tổ chức thực
hiện, kiểm soát và đánh giá, ra quyết định kinh doanh trong quản trị DN.
- Đối với việc việc xây dựng kế hoạch:
Trong DN việc lập kế hoạch là yêu cầu cần thiết để DN đạt được các mục tiêu
kinh doanh của mình. Việc lập kế hoạch này có thể là kế hoạch dài hạn, kế hoạch
hàng năm và kế hoạch tác nghiệp, tùy từng loại kế hoạch sẽ sử dụng các báo cáo
quản trị thích hợp. Các kế hoạch mà nhà quản trị phải lập thường có dạng là dự
toán, đó là sự lien kết các mục tiêu lại với nhau và chỉ rõ cách huy động và sử dụng
những nguồn lực sẵn có thể đạt được các mục tiêu đã đề ra. Dự trên các cơ sở ghi
chép, tinhs toán, phân tích chi phí, doanh thu, kết quả từng hoạt động , từng sản
phẩm, …để lập ra các bảng dự toán chi phí, doanh thu, lợi nhuận, dự toán vốn,…để
cung cấp các thông tin trong việc phác họa, dự kiến tương lai nhằm phát triển DN.
- Đối với việc tổ chức, điều hành các hoạt động trong DN:


18

Thông tin báo cáo quản trị giúp nhà quản lý có thể đề ra các quyết định kinh
doanh đúng đắn trong quá trình lãnh đạo hoạt động hàng ngày, cũng như các quyết
định dài hạn. Báo cáo quản trị cung cấp thông tin cho các tình huống khác nhau để
nhà quản lý có thể đưa ra các phương án có thể xem xét, đề ra quyết định đúng đắn
nhất trong quá trình tổ chức điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với
mục tiêu đã đề ra.
- Đối với việc kiểm soát và đánh giá của nhà quản lý DN:
Nhà quản lý DN đã lập ra kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch đó. Để đạt
hiệu quả như mong muốn thì nhà lý thực hiện chức năng kiểm tra và đánh giá, báo
cáo quản trị sẽ cung cấp các báo cáo thực hiện, trong đó các phương pháp thường
xuyên được sử dụng như là: so sánh các số liệu đã thực hiện với các số liệu dự toán,
liệt kê tất cả các vấn đề bất thường, đánh giá thực hiện. Các báo cáo này có tác dụng
như một hệ thống thông tin phản hồi để nhà quản lý nắm đuwọc tình hình thực hiện
dự toán, từ đó có những điều chỉnh phù hợp, kịp thời để đạt được kết quả như mong
muốn của hoat động DN.
- Đôi với việc ra quyết định của nhà quản lý DN:
Ra quyết định là một chức năng quan trọng, xuyên suốt các khâu trong hoạt
động của DN. Tất cả các quyết định đều được đưa ra dựa trên nền tảng thông tin của
báo cáo quản trị, những thông tin này giúp cho nhà quản lý đưa ra được các phương
án cho từng hoạt động và lựa chọn được phương án tối ưu từ đó đạt được hiệu quả
cao nhất trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN.
1.1.4. Đối tượng sử dụng báo cáo kế toán
a. Đối tượng sử dụng báo cáo tài chính
Theo thông lệ quốc tế ( IASB), tại đoạn 9 trong báo các về “ khuôn khổ để
soạn và trinhg bày các báo cáo tài chính” của Uỷ ban chuẩn mực kế toán quốc tế.
“ Những người sử dụng báo cáo tài chính gồm các nhà đầu tư hiện tại, những
người làm thuê, các nhà cho vay, các nhà cung cấp, các chủ nợ thương mại khác,
các khách hàng, nhà nước và các cơ quan của nó và cộng đồng. Họ dùng báo cáo
tài chính để đáp ứng nhu cầu thông tin khác nhau của họ.”


19

Trong đó:
- Các nhà đầu tư: những người cung cấp vốn và các cố vấn của họ quan tâm
đến những rủi ro và những lợi tức mang lại từ sự đầu tư của họ.
- Những người làm thuê: quan tâm đến những thông tin về sự ổn định và khả
năng sinh lời của DN, đảm bảo cuộc sống của công nhân.
- Các nhà cho vay: quan tâm đến những thông tin cho phép họ xác định có cho
vay (hay không), tiền lãi sẽ được trả khi đến hạn hay không.
- Các nhà cung cấp và các chủ nợ khác: quan tâm đến những thông tin cho
phép họ xác định xem số tiền họ đang làm chủ sẽ được trả khi đến hạn hay không.
- Các chủ nợ có thể quan tâm đến một DN qua một kỳ ngắn hơn các nhà cho
vay trừ khi nó phụ thuộc vào sự liên tục của DN như một khách hàng thứ yếu.
- Các khách hàng: quan tâm đến những thông tin về sự liên tục của một DN,
đặc biệt khi họ có sự liên quan lâu dài hoặc bị phụ thuộc vào DN.
- Nhà nước và các cơ quan nhà nước: quan tâm đến việc sử dụng tài nguyên, họ
đòi hỏi thông tin để điều chỉnh các hoạt động của các DN, xác định chính sách thuế
cũng như làm căn cứ để thống kê thu nhập của quốc gia và các thống kê tương tự.
- Cộng đồng: các DN ảnh hưởng đến các thành viên của cộng đồng theo nhiều
cách khác nhau như sự đóng góp quan trọng của DN vào sự phát triển kinh tế địa
phương, giải quyết thất nghiệp, môi trường…
b. Đối tượng sử dụng báo cáo kế toán quản trị
Khác với báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị được soạn thảo và trình
bày nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của đối tượng sử dụng trong nội bộ DN – các
nhà quản lý, ban quản trị công ty.
Với các doanh nghiệp khác nhau nhu cầu về thông tin báo cáo quan rtrij cũng
khác nhau. Tuy nhiên, hầu hết thông tin nhà quản trị các công ty quan tâm bao gồm
ba loại thông tin chính: thông tin phục vụ cho việc xây dựng kế hoạch để đạt mục
tiêu hoạt động DN; thông tin phục vụ cho việc kiểm soát các hoạt động thường
xuyên của các DN để chỉ đạo hoạt động nhằm thực hiện kế hoạch công ty đã đề ra;


20

thông tin về báo cáo hoạt động để ban quản trị điều hành hoạt động của công ty hiệu
quả.
Vai trò chủ yếu của nhà quản lý là ra quyết định, để thực hiện được vai trò này
các nhà quản lý cần thông tin, nhu cầu thông tin có được từ nhiều nguồn, một trong
những nguồn cung cấp thông tin tin cậy cho các nhà quản lý là kế toán quản trị.
1.1.5. Mục đích của báo cáo kế toán
a. Mục đích của báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính được lập nhằm các mục đích sau:
- Tổng hợp và trình bày tổng quát, toàn diện về tình hình tài sản, công nợ,
nguồn vốn; tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của DN trong một
kỳ hạch toán nhất định, nhằm cung cấp thông tin kinh tế tài chính chủ yếu cho việc
đánh giá tình hình và kết quả hoạt động của DN, qua đó đánh giá được khả năng tài
chính của DN trong kỳ hoạt động vừa qua và đưa ra những dự đoán trong tương lai.
Thông tin của báo cáo tài chính còn là căn cứ quan trọng để ra quyết định về quản
lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc đưa ra các quyết định về đầu tư
của các nhà quản lý DN, chủ sở hữu, các chủ nợ hiện tại và tương lai của DN.
Trong hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS), chuẩn mực số 21 “Trình
bày Báo cáo tài chính” được ban hành và công bố theo quyết định số 234/2003/QĐBTC ngày 30 tháng 12 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính cũng đã nêu rõ mục
đích của Báo cáo Tài chính là: “Báo cáo tài chính phản ánh theo một cấu trúc chặt
chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một DN. Mục đích của báo cáo tài
chính là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các
luồng tiền của một DN, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng
trong việc đưa ra quyết định kinh tế”.
Mặt khác, các báo cáo tài chính được lập để đáp ứng yêu cầu chung nhất của
đối tượng sử dụng bên ngoài DN chứ không cung cấp toàn bộ thông tin cần thiết
cho các nhà quản lý để ra các quyết định kinh tế cũng như phục vụ cho việc hoạch
định, kiểm soát nội nộ DN bởi vì chúng chỉ đưa ra các ảnh hưởng tài chính của các
sự kiện trong quá khứ và không bắt buộc cung cấp những thông tin phi tài chính.


21

b. Mục đích của báo cáo quản trị
Báo cáo kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của
doanh nghiệp, như: chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc,
sản phẩm; phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi
phí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ; phân tích mối quan hệ giữa
chi phí với khối lượng và lợi nhuận; lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định
đầu tư ngắn hạn và dài hạn; lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh;... nhằm
phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế. Kế toán quản trị là công
việc của từng doanh nghiệp, nhà nước chỉ hướng dẫn các nguyên tắc, cách thức tổ
chức và các nội dung, phương pháp kế toán quản trị chủ yếu tạo điều kiện thuận lợi
cho doanh nghiệp thực hiện.
1.2. Nội dung lập và trình bày báo cáo kế toán trong DN
1.2.1. Lập và trình bày báo cáo tài chính
1.2.1.1. Trách nhiệm, thời hạn, nơi gửi báo cáo tài chính
a. Trách nhiệm lập, trình bày báo cáo tài chính
- Đối tượng lập báo cáo tài chính năm: Hệ thống báo cáo tài chính năm được
áp dụng cho tất cả các loại hình DN thuộc các ngành và các thành phần kinh tế. Báo
cáo tài chính năm phải lập theo dạng đầy đủ.
- Đối tượng lập báo cáo tài chính giữa niên độ ( Báo cáo tài chính quý và báo
cáo tài chính bán niên) gồm: DN do nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ hoặc nắm
giữ cổ phần chi phối, đơn vị có lợi ích công chúng phải lập báo cáo tài chính giữa
niên độ. Các DN khác không thuộc đối tượng trên được khuyến khích lập báo cáo
tài chính giữa niên độ nhưng không bắt buộc. Báo cáo tài chính giữa niên độ được
lập dưới dạng đầy đủ hoặc tóm lược. Chủ sở hữu đơn vị quyết định việc lựa chọn
dạng đầy đủ hoặc tóm lược đối với báo cáo tài chính giữa niên độ của đơn vị mình
nếu không trái với quy định của pháp luật mà đơn vị thuộc đối tượng bị điều chỉnh.
DN có các đơn vị trực thuộc có tư cách pháp nhân phải lập báo cáo tài chính
riêng của đơn vị mình và báo cáo tài chính tổng hợp. Báo cáo tài chính tổng hợp
được lập trên cơ sở bao gồm số liệu của toàn bộ các đơn vị trực thuộc không có tư


22

cách pháp nhân và đảm bảo đã loại trừ tất cả số liệu phát sinh từ các giao dịch nội
bộ giữa đơn cấp trên và đơn vị cấp dưới với nhau;
Các đơn vị trực thuộc không có tư cách pháp nhân phải lập báo cáo tài chính
của mình phù hợp với kỳ báo cáo của đơn vị cấp trên để phục vụ cho việc tổng hợp
báo cáo tài chính của đơn vị cấp trên và kiểm tra của cơ quan quản lý nhà nước.
Ngoài ra, việc lập và trình bày báo cáo tài chính của các DN có một số lưu ý
sau: các DN thuộc ngành đặc thù phải tuân thủ theo quy định tại chế độ kế toán do
Bộ Tài chính ban hành hoặc chấp thuận cho ngành ban hành. Lập, trình bày và công
khai báo cáo tài chính hợp nhất năm và báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ
được thực hiện theo quy định của pháp luật về báo cáo tài chính hợp nhất. Ký báo
cáo tài chính phải thực hiện theo luật kế toán. Đối với đơn vị không tự lập báo cáo
tài chính mà thuê dịch vụ kế toán lập báo cáo tài chính, người hành nghề cá nhân
phải ghi rõ số chứng chỉ hành nghề.
b. Thời hạn lập, gửi báo cáo:
Đối với DN nhà nước
- Đối với báo cáo quý:
+ Đơn vị kế toán phải nộp báo cáo tài chính quý chậm nhất là 20 ngày, kể từ
ngày kết thúc kỳ kế toán quý; đối với công ty mẹ, tổng công ty Nhà nước chậm nhất
là 45 ngày;
+ Đơn vị kế toán trực thuộc DN, tổng công ty Nhà nước nộp Báo cáo tài
chính quý cho công ty mẹ, tổng công ty theo thời hạn do công ty mẹ, tổng công ty
quy định.
- Đối với báo cáo năm:
+ Đơn vị kế toán phải nộp báo cáo tài chính năm chậm nhất 30 ngày, kể từ
ngày kết thúc kỳ kế toán năm; đối với công ty mẹ, tổng công ty nhà nước chậm nhất
90 ngày;
+ Đơn vị kế toán trực thuộc tổng công ty nhà nước nộp báo cáo tài chính năm
cho công ty mẹ, tổng công ty theo thời hạn do công ty mẹ, tổng công ty quy định.
Đối với các loại DN khác


23

- Đơn vị kế toán là DN tư nhân và công ty hợp danh phải nộp Báo cáo tài
chính năm chậm nhất là 30 ngày, kể từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm; đối với các
đơn vị kế toán khác, thời hạn nộp báo cáo tài chính năm chậm nhất là 90 ngày.
- Đơn vị kế toán trực thuộc nộp báo cáo tài chính năm cho đơn vị kế toán cấp
trên theo thời hạn do đơn vị kế toán cấp trên quy định.
c. Nơi gửi báo cáo:
* Đối với các DN Nhà nước đóng trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương phải lập và nộp Báo cáo tài chính cho Sở Tài chính tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương. Đối với DN Nhà nước Trung ương còn phải nộp Báo cáo tài
chính cho Bộ Tài chính (Cục Tài chính DN).
- Đối với các loại DN Nhà nước như: Ngân hàng thương mại, công ty xổ số
kiến thiết, tổ chức tín dụng, DN bảo hiểm, công ty kinh doanh chứng khoán phải
nộp Báo cáo tài chính cho Bộ Tài chính (Vụ Tài chính ngân hàng hoặc Cục Quản lý
giám sát bảo hiểm).
- Các công ty kinh doanh chứng khoán và công ty đại chúng phải nộp Báo cáo
tài chính cho Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và Sở Giao dịch chứng khoán.
* Các DN phải gửi Báo cáo tài chính cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý thuế
tại địa phương. Đối với các Tổng công ty Nhà nước còn phải nộp Báo cáo tài chính
cho Bộ Tài chính (Tổng cục Thuế).
* DN có đơn vị kế toán cấp trên phải nộp Báo cáo tài chính cho đơn vị kế
toán cấp trên theo quy định của đơn vị kế toán cấp trên.
* Đối với các DN mà pháp luật quy định phải kiểm toán Báo cáo tài chính thì
phải kiểm toán trước khi nộp Báo cáo tài chính theo quy định. Báo cáo tài chính của
các DN đã thực hiện kiểm toán phải đính kèm báo cáo kiểm toán vào Báo cáo tài
chính khi nộp cho các cơ quan quản lý Nhà nước và DN cấp trên.
* Cơ quan tài chính mà DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) phải nộp
Báo cáo tài chính là Sở Tài chính các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi DN
đăng ký trụ sở kinh doanh chính.


24

* Đối với các DN Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, ngoài các cơ quan
nơi DN phải nộp Báo cáo tài chính theo quy định trên, DN còn phải nộp Báo cáo
tài chính cho các cơ quan, tổ chức được phân công, phân cấp thực hiện quyền
của chủ sở hữu theo Nghị định số 99/2012/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ
sung, thay thế.
* Các DN (kể cả các DN trong nước và DN có vốn đầu tư nước ngoài) có trụ
sở nằm trong khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ cao còn phải nộp Báo
cáo tài chính năm cho Ban quản lý khu chế xuất, khu công nghiệp, khu công nghệ
cao nếu được yêu cầu..
1.2.1.2. Yêu cầu lập và trình bày báo cáo tài chính trong DN
Doanh nghiệp khi lập và trình bày báo cáo tài chính cần đảm bảo các yêu cầu
lập và trình bày báo cáo tài chính sau:
- Trung thực và hợp lý: trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính và kết
quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với quy định của từng
chuẩn mực kế toán nhằm đảm bảo cung cấp thông tin thích hợp với nhu cầu ra
quyết định kinh tế của người sử dụng và cung cấp thông tin đáng tin cậy, khi:
+ Phản ánh đúng bản chất kinh tế của giao dịch và sự kiện không chỉ đơn
thuần phản ánh hình thức hợp lý của chúng.
+ Trình bày khách quan không thiên vị
+ Tuân thủ nguyên tắc thận trọng
+ Trình bày đầy đủ mọi khía cạnh trọng yếu
Bên cạnh đó, với báo cáo tài chính hợp nhất ngoài việc thỏa mãn tất cả các yêu
cầu trên giống như báo cáo tài chính riêng, khi trình bày Báo cáo Tài chính hợp
nhất, DN cũng phải tuân theo các yêu cầu đã được nêu rõ trong chuẩn mực VAS 25
“ Báo cáo tài chính hợp nhất và kế toán khoản đầu tư vào công ty con” như:
- Công ty mẹ khi lập báo cáo tài chính hợp nhất phải hợp nhất các báo cáo
tài chính của tất cả các công ty con ở trong và ngoài nước ngoại trừ một số công
ty con được loại trừ ra khỏi hợp nhất nếu có đủ điều kiện theo quy định cua
chuẩn mực này.


25

Báo cáo tài chính hợp nhất được lập phải áp dụng chính sách kế toán một cách
thống nhất cho các giao dịch và sự kiện cùng loại trong những hoàn cảnh tương
tự. Nếu không thể sử dụng chính sách kế toán một cách thống nhất trong khi hợp
nhất báo cáo tài chính, công ty mẹ phải giải trình vấn đề này cùng với các khoản
mục đã được hạch toán theo các chính sách kế toán khác nhau trong báo cáo tài
chính hợp nhất.
1.2.1.3. Nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính
Lập và trình bày báo cáo tài chính phải tuân thủ sáu nguyên tắc quy định tại
Chuẩn mực kế toán số 21 “Trình bày báo cáo tài chính” gồm: hoạt động liên tục, cơ
sở dồn tích, nhất quán, trọng yếu, tập hợp, bù trừ và có thể so sánh được.
- Hoạt động liên tục: Báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là DN
đang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong
tương lai gần, trừ khi DN có ý định cũng như buộc phải ngừng hoạt động, hoặc phải
thu hẹp đang kể qui mô hoạt động của mình.
Để đánh giá khả năng hoạt động liên tục của DN, Giám đốc (hoặc người đứng
đầu DN) cần phải xem xét mọi thông tin có thể dự đoán được tối thiểu trong vòng
12 tháng tới kể từ ngày kết thúc niên độ kế toán.
- Cơ sở dồn tích: DN phải lập báo cáo tài chính theo cơ sở kế toán dồn tích,
ngoại trừ các thông tin liên quan đến các luồng tiền.
Theo cơ sở dồn tích, các giao dịch và sự kiện được ghi nhận vào thời điểm
phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực thu, thực chi tiền và được ghi nhận vào
sổ kế toán và báo cáo tài chính của các kỳ kế toán liên quan. Các khoản chi phí
được ghi nhận vào báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc phù hợp
giữa doanh thu và chi phí. Tuy nhiên, việc áp dụng nguyên tắc phù hợp không cho
phép ghi nhận trên bảng cân đối kế toán những khoản mục không thỏa mãn định
nghĩa về tài sản hoặc nợ phải trả.
- Nhất quán: Việc trình bày và phân loại các khoản mục trong báo cáo tài
chính phải nhất quán từ niên độ này sang niên độ khác, trừ khi:


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×