Tải bản đầy đủ

Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHH Hưng Long

Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

MỤC LỤC

SV: Đặng Thị Thùy Linh

Lớp CQ53/21.06


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

LỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan đây là kết quả công trình nghiên cứu của riêng em, các số
liệu, số liệu nêu trong luận văn đều xuất phát từ tình hình hoạt động thực tế của

Công ty TNHH Hưng Long.
Tác giả luận văn

Đặng Thị Thùy Linh

SV: Đặng Thị Thùy Linh

Lớp CQ53/21.06


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT

Tên viết tắt

Tên đầy đủ

1

BCTC

Báo cáo tài chính

2

BHXH

Bảo hiểm xã hội

3

BHYT

Bảo hiểm y tế


4

BHTN

Bảo hiểm thất nghiệp

5

CCDC

Công cụ, dụng cụ

6

CPSX

Chi phí sản xuất

7

CPNCTT

Chi phí nhân công trực tiếp

8

CPNVLTT

Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp

9

CPSXC

Chi phí sản xuất chung

10

CP

Chi phí

11

GTGT

Giá trị giá tăng

12

KKĐK

Kiểm kê định kỳ

13

KKTX

Kê khai thường xuyên

14

KPCĐ

Kinh phí công đoàn

15

NTP

Nửa thành phẩm

16

NVL

Nguyên vật liệu

17

SDĐK

Số dư đầu kỳ

18

SDCK

Số dư cuối kỳ

19

TSCĐ

Tài sản cố định

20

TK

Tài khoản

SV: Đặng Thị Thùy Linh

Lớp CQ53/21.06


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Biểu 2.1: Phiếu xuất kho
Biểu 2.2: Sổ chi tiết TK 621
Biểu 2.3: Bảng tổng hợp chi tiết TK 621
Biểu 2.4: Sổ cái TK 621
Biểu 2.5: Bảng tính lương và phụ cấp
Biểu 2.6: Sổ cái TK 622
Biểu 2.7: Bảng tổng hợp chi tiết TK 622
Biểu 2.8: Phiếu chi
Biểu 2.9: Sổ nhật ký chung (trích)
Biểu 2.10: Sổ chi tiết TK 627
Biểu 2.11: Bảng tổng hợp Chi phí sản xuất kinh doanh
Biểu 2.12: Sổ nhật ký chung (trích)
Biểu 2.13: Sổ chi tiết TK 154
Biểu 2.14: Sổ cái TK 154
Biểu 2.15: Bảng tính giá thành sản phẩm hoàn thành
Hình 2.1: Màn hình giao diện phần mềm MISA
Hình 2.2: Màn hình đăng nhập phần mềm MISA
Hình 2.3: Màn hình nhập liệu xuất kho vật tư

SV: Đặng Thị Thùy Linh

Lớp CQ53/21.06


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Trình tự Kế toán Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tại công ty TNHH
Hưng Long
Sơ đồ 1.2: Kế toán chi phí nhân công trực tiếp tại công ty TNHH Hưng Long
Sơ đồ 1.3: Kế toán chi phí sản xuất chung tại công ty TNHH Hưng Long
Sơ đồ 1.4: Kế toán tập hợp chi phí sản xuất theo phương pháp kê khai thường
xuyên
Sơ đồ 2.1: tổ chức bộ máy quản lý của công ty
Sơ đồ 2.2: Công tác tổ chức bộ máy kế toán tại công ty TNHH Hưng long
Sơ dồ 2.3: Trình tự kế toán theo hình thức kế toán nhật ký chung

SV: Đặng Thị Thùy Linh

Lớp CQ53/21.06


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

Lời mở đầu


Tính cấp thiết của đề tài

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xu hướng hội
nhập cách mạng công nghệ 4.0, mở ra rất nhiều cơ hội cũng như thách thức đối
với các doanh nghiệp trong nước. Sự phát triển mạnh mẽ của các doanh nghiệp
trong một lĩnh nói riêng hay các lĩnh vực khác nói chung, đòi hỏi doanh nghiệp
phải tìm một chỗ đứng vững chắc, tồn tại, sáng tạo và phát triển. Với mục đích
của các nhà quản trị là làm sao để thu lại được lợi nhuận cao nhất. Biện pháp
hiệu quả nhất mà hầu hết các doanh nghiệp sản xuất đều áp dụng đó là phấn đấu
không ngừng để hạ thấp chi phí cá biệt so với chi phí xã hội và hạ thành giá
thành sản phẩm để mang lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp.
Trong doanh nghiệp sản xuất, chi phí là yếu tố chiếm tỉ trọng lớn và quyết
định đến tính giá thành sản phẩm. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai
mặt của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, giữa chúng
có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, trong đó chi phí sản xuất là cơ sở tính giá thành
sản phẩm còn giá thành sản phẩm là thước đo mức chi phí thực tế phát sinh để
sản xuất ra sản phẩm. Vì vậy, đối với các doanh nghiệp sản xuất nói chung thì
chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các
nhà quản trị. Việc tìm hiểu về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm sẽ giúp
cho doanh nghiệp có cái nhìn tổng quát nhất về tình hình sản xuất và hoạt động
kinh doanh của mình, từ đó tìm ra những phương hướng, ưu nhược điểm để đưa
ra các quyết định góp phần tích cực vào quá trình quản lý, tiết kiệm chi phí, hạ
giá thành sản phẩm và giúp cho doanh nghiệp ngày càng phát triển, có một vị trí
tốt trên thị trường hiện nay. Công việc không những mang ý nghĩa về mặt lý
6


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

luận, mà còn mang ý nghĩa thực tiễn to lớn cấp bách trong quá trình đổi mới cơ
chế quản lý kinh tế của các doanh nghiệp sản xuất ở nước ta chung và công ty
TNHH Hưng Long nói riêng.


Mục tiêu nghiên cứu:

- Khái quát lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm trong công ty TNHH Hưng Long.
- Tìm hiểu về thưc trạng công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm trong công ty TNHH Hưng long
- Đánh giá, rút ra những ưu điểm, nhược điểm, hạn chế đưa ra các giải pháp
góp phần hoàn thiện hơn nữa kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
tại công ty.


Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
công ty TNHH Hưng long.
Nội dung: kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm dưới góc độ kế
toán tài chính và kế toán quản trị
Không gian: Tại Công Ty TNHH Hưng Long
Thời gian: nghiên cứu các vấn đề lý luận và khảo sát tài liệu thực trạng tại
công ty TNHH Hưng Long trong năm 2018-2019

7


Luân văn tốt nghiệp
Thiều


GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp thu thập trực tiếp: trực tiếp quan sát, tiếp xúc với các đối
tượng để trực tiếp thực hiện thu thập các thông tin cần thiết, ghi chép kết quả thu
thập được.
- Phương pháp thu thập gián tiếp: thông qua các tài liệu của đơn vị thực tập
như sổ sách chứng từ sẵn có, BCTC,… Các thông tin cần thiết phục vụ cho quá
trình viết luận văn.
- Phương pháp sử dụng trong kinh tế: phương pháp tổng hợp, phân tích, so
sánh, thống kê,… để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
Công ty.


Kết cấu luận văn.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác kế toán chi phí sản xuất và

tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất. Trong quá trình thực tập ở
công ty TNHH Hưng Long, tìm hiểu về công tác kế toán, đặc biệt là kế toán chi
phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm, em chọn đề tài: “ Kế toán chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty TNHH Hưng Long” để đi sâu nghiên
cứu. Dưới sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Mạnh Thiều và
các anh chị trong phòng kế toán của công ty, em đã hoàn thành luận văn với kết
cấu có 3 phần như sau:
Chương 1: Những lý luận cơ bản về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành
sản phẩm trong doanh nghiệp sản xuất.
Chương 2: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại
công ty TNHH Hưng Long
Chương 3: Hoàn thiện kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành tại
công ty TNHH Hưng Long.
8


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

Chương 1
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY TNHH HƯNG LONG
1.1. Khái quát chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
trong doanh nghiệp sản xuất.
Doanh nghiệp sản xuất là doanh nghiệp chuyên tiến hành các hoạt động sản
xuất các loại hàng hóa nhằm cung cấp ra thị trường. Là những doanh nghiệp then
chốt trong việc tạo ra các sản phẩm hàng hóa để cung cấp cho người tiêu dùng.
Đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia và khu vực. Bên
cạnh đó, yếu tố lợi nhuận cũng được các nhà sản xuất đặt lên hàng đầu, đó được
thể hiện qua sự quan tâm đến chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Như vậy để tồn tại và phát triển mạnh mẽ trong nền kinh tế thị trường khốc
liệt, các doanh nghiệp phải tìm mọi cách đầu tư thay đổi trang thiết bị, công
nghệ, áp dụng công nghệ thông tin vào trong hệ thống điều hành của công ty
mình nhằm nâng cao chất lượng quản lý, tạo ra nhiều mẫu mã sản phẩm phù hợp
với thị hiếu người tiêu dùng. Và nghiên cứu các biện pháp để tiết kiệm chi phí
sản xuất và hạ giá thành sản phẩm. Từ đó, giúp công ty tạo ra sức cạnh tranh đối
với các doanh nghiệp sản xuất trong nước và lợi nhuận cao cho doanh nghiệp
trong tương lai.

9


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

1.1.1. Bản chất, nội dung kinh tế của chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm.
1.1.1.1. Khái niệm, bản chất, phân loại chi phí sản xuất.
Chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao
động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp phát sinh trong quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý,
năm).
Trên góc độ kế toán tài chính: chi phí là những phí tổn gắn liền với hoạt
động của doanh nghiệp. Chi phí phát sinh được xác định bằng tiền, các khoản
tương đương tiền, HTK, khấu hao TSCĐ,… Kế toán ghi nhận chi phí trên cơ sở
các chứng từ, tài liệu chắc chắn.
Trên góc độ kế toán quản trị: chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn
bộ các khoản chi tiêu cho quá trình sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải bù đắp bằng
thu nhập của doanh nghiệp. Như vậy, chi phí trong kế toán không ghi nhận theo
nguyên tắc phù hợp giữa chi phí và doanh thu, mà được ghi nhận ở thời điểm chi
tiêu cho sản xuất kinh doanh. Với mục đích là cung cấp thông tin thích hợp về
chi phí, kịp thời cho việc ra quyết định của các nhà quản trị.
Đối với kế toán quản trị, chi phí không đơn thuần như kế toán tài chính mà
còn được nhận thức theo khía cạnh nhận diện thông tin phục vụ cho ra quyết
định kinh doanh. Chi phí là phí tổn thực tế đã chi ra trong quá trình sản xuất kinh
doanh hàng ngày khi tổ chức, thực hiện, kiểm tra ra quyết định, nhưng cũng có
thể là ước tính khi thực hiện dự án hay giá trị lợi ích mất đi khi lựa chọn phương
án, hoạt động này mà bỏ qua cơ hội kinh doanh khác.

10


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

Qua đó cho thấy, Bản chất kinh tế của chi phí sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp là:
- Những hao phí về các yếu tố đầu vào của quá trình SXKD gắn với mục đích
kinh doanh
- Lượng chi phí phụ thuộc vào khối lượng các yếu tố sản xuất đã tiêu hao và
giá cả của nó.
- CPSXKD phải được đo lường bằng thước đo tiền tệ trong một khoảng thời
gian xác định.


Phân loại chi phí sản xuất:

Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, nhiều
khoản khác nhau về nội dung, mục đích, tính chất và vai trò. Trong quá trình sản
xuất để thuận lợi cho công tác quản lý hạch toán cũng như tiết kiệm, hợp lý chi
phí thu lại lợi nhuận cho doanh nghiệp thì cần thiết phải phân loại chi phí. Phân
loại CPSX một cách khoa học và thống nhất có ý nghĩa quan trọng với công tác
kế toán CPSX, tính giá thành sản phẩm và là tiền đề quan trọng để kiểm tra và
phân tích CPSX của toàn bộ doanh nghiệp, thúc đẩy việc sử dụng tiết kiệm
CPSX, hạ giá thành sản phẩm


Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế:

Theo cách này người ta sắp xếp các chi phí có cùng nội dung và tính chất
kinh tế vào một loại gọi là yếu tố chi phí, mà không phân biệt chi phí đó phát
sinh ở đâu và có tác dụng như thế nào. Cách phân biệt này còn được gọi là phân
loại chi phí theo yếu tố.

11


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

Số lượng các yếu tố chi phí sản xuất được phân chia trong từng doanh nghiệp
phụ thuộc vào đặc điểm quá trình sản xuất của doanh nghiệp, đặc điểm của từng
thời kỳ và quy định cụ thể của từng quốc gia,… Theo chế độ kế toán hiện hành
tại Việt Nam khi quản lý và hạch toán phải được theo dõi được chi phí theo năm
yếu tố sau:
- Chi phí nguyên liệu và vật liệu: yếu tố chi phí nguyên vật liệu bao gồm
giá mua, chi phí mua của nguyên vật liệu dùng vào hoạt động sản xuất trong kỳ.
Yếu tố này bao gồm chi phí nguyên vật liệu chính, chi phí nguyên vật liệu phụ,
chi phí nhiên liệu, chi phí phụ tùng thay thế và chi phí nguyên vật liệu khác. Với
sự hạch toán, quản lý chi phí nguyên vật liệu giúp các nhà quản trị doanh nghiệp
xác định được tổng giá trị nguyên vật liệu cần thiết cho nhu cầu sản xuất trong
kỳ. Trên cơ sở đó, các nhà quản trị sẽ hoạch định tổng mức luân chuyển, dự trữ
cần thiết của nguyên vật liệu một cách hợp lý, có hiệu quả.
- Chi phí nhân công: là các khoản chi phí về tiền lương phải trả người lao
động, các khoản trích (BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ) theo tiền lương của người
lao động.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định: bao gồm khấu hao của tất cả TSCĐ
dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài
phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như chi phí
điện, chi phí nước,...
- Chi phí khác bằng tiền: là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong
quá trình sản xuất kinh doanh ngoài các chi phí nói trên như chi phí tiếp khách ở
đội thi công, tiền thuê chuyên gia kỹ thuật,…
12


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

Phân loại chi phí sản xuất như này có tác dụng cho biết nội dung, kết cấu
tỷ trọng từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã sử dụng vào quá trình sản xuất
trong tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp.
Số liệu chi phí sản xuất theo yếu tố là cơ sở để xây dựng các dự toán chi
phí sản xuất, lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố chi phí, xác định nhu cầu
về vốn của doanh nghiệp, các kế hoạch về lao động, vật tư, tài sản,… trong
doanh nghiệp. Nó cũng là cơ sở phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí sản
xuất, cung cấp số liệu để lập thuyết minh báo cáo tài chính, từ đó để tính và tổng
hợp thu nhập quốc dân,… Số liệu được cung cấp sẽ giúp các nhà quản trị dễ
dàng hơn trong việc quản lý, đưa ra các dự toán chi phí sản xuất, các bản kế
hoạch,… tác động một phần không nhỏ đến sự phát triển của doanh nghiệp.


Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng kinh tế

Căn cứ vào mục đích của từng loại hoạt động trong doanh nghiệp, căn cứ vào
công dụng kinh tế của chi phí thì chi phí sản xuất kinh doanh chia thành:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: toàn bộ chi phí NVL được sử dụng
trực tiếp trong quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm hay thực hiện lao vụ dịch vụ.
- Chi phí nhân công trực tiếp: bao gồm tiền lương và các khoản trả trực
tiếp cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo tiền lương của công nhân:
BHXH, BHYT, BHTN, KPCĐ.
- Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến việc
phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, đội sản xuất. Chi phí
sản xuất chung bao gồm các yếu tố chi phí sau: chi phí nhân viên phân xưởng,

13


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

chi phí vật liệu, chi phí dụng cụ sản xuất, chi phí khấu hao TSCĐ, chi phí dịch
vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền.
- Chi phí bán hàng: là chi phí lưu thông và chi phí tiếp thị phát sinh trong
quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, lao vụ, dịch vụ loại chi phí này có: chi phí
quảng cáo, giao hàng, giao dịch, hoa hồng bán hàng, chi phí nhân viên bán hàng
và chi phí khác gắn liền đến bảo quản và tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa,…
- Chi phí quản lý doanh nghiệp: là các khoản chi phí liên quan đến việc
phục vụ và quản lý sản xuất kinh doanh có tính chất chung của toàn doanh
nghiệp. Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm: chi phí nhân viên quản lý chi phí
vật liệu quản lý, chi phí đồ dùng văn phòng, khấu hao TSCĐ dùng chung cho
toàn bộ doanh nghiệp, các loại thuế, phí có tính chất chi phí, chi tiếp khách, hội
nghị. Phân loại chi phí theo cách này có thể thấy nó giúp cho doanh nghiệp thấy
được công dụng của từng chi phí, có tác dụng yêu cầu quản lý chi phí theo định
mức, cung cấp số liệu cho công tác tính giá thành sản phẩm.
1.1.1.2. Khái niệm, bản chất, phân loại giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là một phạm trù kinh tế gắn liền với sản xuất hàng
hóa, nó được phản ánh lượng giá trị của những hao phí lao động sống và lao
động vật hóa đã thực chi cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Tất cả các khoản chi
phí phát sinh (trong kỳ, kỳ trước chuyển sang) và các chi phí trích trước có liên
quan đến khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên
chỉ tiêu giá thành sản phẩm. Giá thành còn là một căn cứ quan trọng để định giá
bán và xác định hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất.

14


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản hao phí
về lao động sống và lao động vật hóa có liên quan đến khối lượng công tác, sản
phẩm, lao vụ đã hoàn thành.



Phân loại giá thành sản phẩm:
Phân loại giá thành sản phẩm theo thời điểm tính và nguồn số để
tính giá thành:

- Giá thành sản phẩm kế hoạch: được xác định trước khi bước vào kinh
doanh trên cơ sở giá thành thực tế kỳ trước và các định mức, chi phí, các dự toán
chi phí của kỳ kế hoạch.
- Giá thành sản phẩm định mức: giá thành được xây dựng trên cơ sở các
định mức chi phí hiện hành và chỉ tính cho đơn vị sản phẩm, giá thành định mức
phải luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi phí đã đạt được
trong quá trình sản xuất. Đây là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp.
- Giá thành thực tế: là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc quá trình
sản xuất sản phẩm dựa trên cơ sở các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình sản
xuất sản phẩm.
Cách phân loại này giúp cho việc quản lý và giám sát chi phí, hạch toán
đúng đắn các chi phí đã phát sinh, trách xảy ra sai lệnh trong kỳ hạch toán. Từ đó
điều chỉnh định mức chi phí phù hợp.


Phân loại giá thành sản phẩm theo phạm vi phát sinh chi phí:

- Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng) là chỉ tiêu phản ánh tất cả
những chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong
phạm vi phân xưởng sản xuất,

15


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

- Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ hay giá thành đầy đủ) là chỉ tiêu
phản ánh toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu
thụ sản phẩm.
1.1.2. Ý nghĩa kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm.
Kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm có tác động
mạnh mẽ đến quá trình hoạt động sản xuất, giúp các nhà quản trị quản lý hiệu
quả, chặt chẽ hơn trong việc tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm
làm tăng hiệu suất kinh tế của doanh nghiệp; đáp ứng được nhu cầu sử dụng
thông tin cho các nhà quản lý, các bộ phận liên quan. Bên cạnh đó, cung cấp
thông tin đầy đủ, kịp thời cho các nhà quản trị có cái nhìn tổng quát về tình hình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, kịp thời đưa ra các phương hướng tốt
nhất cho công ty. Tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện tốt việc tiêu thụ sản
phẩm, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.
Chi phí sản xuất của doang nghiệp phát sinh thường xuyên và gắn liền với
quá trình sản xuất sản phẩm, nhưng để phục vụ cho quản lý và hạch toán kinh
doanh, chi phí sản xuất phải được tính toán và tập hợp theo từng thời kỳ: hàng
tháng, quý, năm phù hợp với kỳ báo cáo. Chỉ những CPSX mà doanh nghiệp bỏ
ra trong kỳ mới được tính vào chi phí sản xuất trong kỳ. Thực chất chi phí sản
xuất ở các doanh nghiệp là quá trình chuyển dịch vốn của doanh nghiệp vào đối
tượng tính giá thành nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp vào quá trình sản
xuất kinh doanh.
Trong sản xuất, chi phí sản xuất chỉ là một mặt thể hiện sự chi phí. Để
đánh giá chất lượng kinh doanh của các tổ chức kinh tế, chi phi sản xuất chỉ ra

16


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

phải được xem xét trong mối quan hệ với mặt thứ 2 cũng là mặt cơ bản của quá
trình sản xuất kinh doanh là kết quả sản xuất thu được. Quan hệ so sánh đã hình
thành nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm.
Trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp
hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất, tiêu thụ phải được bồi hoàn để tái sản xuất
ở doanh nghiệp mà không bao gồm những chi phát sinh trong kỳ kinh doanh của
doanh nghiệp. Những chi phí đưa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh được
giá trị thực của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho SX, tiêu thụ và các khoản chi
tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí lao động đời sống. Mọi
cách tính chủ quan không phản ánh đúng các yếu tố giá trị trong giá thành đều có
thể dẫn đến việc phá vỡ các quan hệ hàng hóa – tiền tệ, không xác định được
hiệu quả kinh doanh và không thực hiện được tái sản xuất giản đơn và tái sản
xuất mở rộng.
1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm.
Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có mối quan hệ mặt thiết với nhau.
Giá thành sản phẩm là thước đo phản ánh mức độ, tình hình sử dụng vật tư, lao
động, tiền vốn mà doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh hay còn
gọi là chi phí sản xuất và hiệu quả sử dụng các chi phí sản xuất đó. Về mặt bản
chất, chi phí sản xuất và gía thành là biểu hiện hai mặt của quá trình sản xuất
kinh doanh. Hay đều cùng biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống
và lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra.
Bên cạnh đó, chúng có sự khác nhau ở một số phương diện. Chi phí sản
xuất luôn gắn liền với thời kỳ đã phát sinh chi phí còn giá thành gắn liền với khối

17


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

lượng sản phẩm, công việc, lao vụ, đã hoàn thành. Chi phí sản xuất bao gồm
những chi phí sản xuất các sản phẩm hoàn thành, các sản phẩm hỏng, sản phẩm
dở dang cuối kỳ. Còn giá thành sản phẩm có thể gồm một phần chi phí phát sinh
ở kỳ trước chuyển sang và một phần chi phí phát sinh của kỳ sau nhưng được ghi
nhận trong kỳ này. Mặt khác, giá thành không tính những chi phí sản xuất dở
dang cuối kỳ, chi phí thiệt hại nhưng lại gồm chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ.
Do đó. Giá thành sản phẩm có thể bằng hoặc nhỏ hơn chi phí sản xuất phát sinh
trong kỳ.

Giá thành sản phẩm = CPSX dở dang + CPSX phát sinh - CPSX dở dang
đầu kỳ

trong kỳ

cuối kỳ

Khi chi phí sản xuất tăng sẽ khiến cho giá thành sản phẩm tăng. Và ngược
lại, muốn hạ giá thành thì phải giảm chi phí sản xuất. Do đó, khi đánh giá chất
lượng hoạt động của doanh nghiệp ta không thể phân tích riêng rẽ hai chỉ tiêu
này.
1.1.4. Yêu cầu quản lý và nhiệm vụ của kế toán chi phí sản xuất và tính chi
phí giá thành.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, sự phát tiển mạnh mẽ của các doanh
nghiệp có cùng mặt hàng, sự đa dạng trong hình dáng, màu sắc tạo nên sự canh
tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp trong nước và cả nước ngoài. Đó là thách
thức lớn đối với các nhà quản trị. Các doanh nghiệp không ngừng tiết kiệm chi
phí, hạ giá thành sản phẩm nhưng bên cạnh đó vẫn phải đảm bảo chất lượng sản

18


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

phẩm, phát triển tốt, đưa lại lợi nhuận cao cho công ty và tạo một vị thế tốt trong
lòng người tiêu dùng.
Vì thế, đối với chi phí sản xuất, doanh nghiệp phải lập ra các dự toán và
chi phí, đặt ra các định mức rõ ràng cho các yếu tố chi phí tính đúng, tính đủ các
chi phí sản xuất để xác định các chỉ tiêu về kế hoạch. Hơn nữa, giá thành sản
phẩm mang tính chủ quan, việc giới hạn chi phí tính vào gái thành sản phẩm còn
tùy thuộc vào quan điểm tính toán xác định chi phí, doanh thu và kết quả cũng
như quy định của chế độ quản lý kinh tế.
Để kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đáp ứng đọc
yêu cầu quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành của doanh nghiệp, kế toán chi
phí sản xuất và giá thành cần phải thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, phản ánh chính xác, kịp thời toàn bộ chi phí sản xuất thực tế
phát sinh trong kỳ.
Thứ hai, kiểm tra tình hình thực hiện các định mức chi phí và các chi phí
bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí sản xuất chung... Phát hiện kịp
thời các khoản chênh lệch so với định mức, dự toán các khoản chi phí ngoài kế
hoạch, các khoản thiệt hại... trong quá trình sản xuất để đề ra các biện pháp ngăn
chặn kịp thời.
Thứ ba, tính toán chính xác, kịp thời giá thành sản phẩm, kết quả từng
phần cũng như toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Thứ tư, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch hạ giá thành của doanh nghiệp
theo từng sản phẩm, hợp đồng, vạch ra các biện pháp hạ giá thành một cách hiệu
quả .
Thứ năm, xác định đúng đắn và bàn giao thanh toán kịp thời cho các hợp
đồng đến hạn. Định kỳ, đánh giá khối lượng sản phẩm dở dang đúng nguyên tắc.
19


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

Thứ sáu, đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở từng
hợp đồng trong từng thời kỳ nhất định, kịp thời lập các báo cáo về CPSX và giá
thành, cung cấp kịp thời các thông tin cho ban lãnh đạo doanh nghiệp. Tổ chức
lập và phân tích các báo cáo về chi phí, giá thành sản phẩm cung cấp những
thông tin cần thiết về chi phí, giá thành sản phẩm giúp cho các nhà quản trị
doanh nghiệp ra được các quyết định nhanh chóng và phù hợp với quá trình sản
xuất kinh doanh.
1.2. Nội dung cơ bản của kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm.
1.2.1. Các nguyên tắc cơ bản chi phối đến kế toán chi phí sản xuất và tính
giá thành sản phẩm.
Hệ thống kế toán Việt Nam không ngừng hoàn thiện và phù hợp với nền
kinh tế thị trường. Các khái niệm, các nguyên tắc kế toán ngày càng trở nên
quan trọng vì đó là tiền đề cho bất cứ một lý luận nào, nó chi phối mạnh mẽ đến
công tác kế toán, kế toán tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm cũng không
ngoại lệ. Hệ thống khái niệm và nguyên tắc kế toán liền mạch, logic và có sự liên
kết với nhau.
Những khái niệm và nguyên tắc này được rút ra từ kinh nghiệm thực tiễn
của những người thực hiện công tác kế toán kết hợp với quá trình nghiên cứu của
các cơ quan chức năng. Sau đó được mọi người thừa nhận như là một quy luật và
trở thành một trong những vấn đề có tính pháp lệnh của công tác kế toán thống
kê và được triển khai áp dụng thống nhất ở tất cả các đơn vị kinh tế trong phạm
vi quốc gia. Sau đây là một số khái niệm và những nguyên tắc cơ bản:

20


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

Nguyên tắc cơ sở dồn tích: Theo nguyên tắc này, mỗi nghiệp vụ kinh tế tài
chính của doanh nghiệp liên quan đến chi phí phải được ghi vào sổ kế toán vào
thời điểm phát sinh thực tế chứ không căn cứ vào thời điểm thu hoặc chi tiền.
Nguyên tắc hoạt động liên tục: Theo nguyên tắc này, báo cáo tài chính
phải được lập trên cơ sở giả định là doanh nghiệp đang hoạt động và sẽ tiếp tục
hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, nghĩa là doanh nghiệp
không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt động hoặc phải thu hẹp
đáng kể quy mô hoạt động của mình. Doanh nghiệp hoạt động liên tục ảnh
hưởng sâu sắc đến kỳ tính giá thành của doanh nghiệp.
Nguyên tắc giá gốc: Nguyên tắc này đòi hỏi tất cả các loại vật tư, hàng
hóa, chi phí… phải được ghi chép, phản ánh theo giá gốc của chúng. Vận dụng
nguyên tắc “giá gốc” trong việc ghi chép, phản ánh các loại tài sản theo trị giá
vốn thực tế tại thời điểm khác nhau. Trị giá vốn thực tế được xác định đúng đắn
thì công tác tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm sẽ trở nên chính xác.
Nguyên tắc trọng yếu: Nguyên tắc này chú trọng đến các yếu tố, các khoản
mục chi phí mang tính trọng yếu quyết định bản chất, nội dung của các sự kiện
kinh tế, đồng thời cho phép bỏ qua không ghi chép các nghiệp vụ, sự kiện không
quan trọng, không làm ảnh hưởng tới bản chất, nội dung nghiệp vụ kinh tế phát
sinh.
Nguyên tắc phù hợp: Theo nguyên tắc này, việc ghi nhận doanh thu và chi
phí phải phù hợp với nhau.Khi ghi nhận một khoản doanh thu thì phải ghi nhận
một khoản chi phí tương ứng có liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Các chi
phí tương ứng với doanh thu bao gồm chi phí của kỳ tạo ra doanh thu, chi phí
của các kỳ trước và chi phí của các kỳ sau nhưng liên quan đến doanh thu đó.

21


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

Nói cách khác, nguyên tắc phù hợp đưa ra việc xác định phần chi phí tương ứng
với doanh thu đã thực hiện.
Nguyên tắc nhất quán: Nguyên tắc này đòi hỏi việc áp dụng, thực hiện các
khái niệm, nguyên tắc chuẩn mực và các phương pháp kế toán .. phải thống nhất
trong suốt các niên độ kế toán. Thực hiện nguyên tắc kế toán sẽ đảm bảo cho số
liệu thông tin của kế toán trung thực, khách quan và đảm bảo tính thống nhất, so
sánh được các chỉ tiêu giữa các kỳ với nhau, đặc biệt là chỉ tiêu chi phí và giá
thành trong kỳ.
Những khái niệm, nguyên tắc kế toán là những chuẩn mực chung,
kim chỉ nam cho việc đánh giá ghi chép, phân loại, tổng hợp và báo cáo cung cấp
thông tin về hoạt động của các doanh nghiệp.
1.2.2. Kế toán tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp.
1.2.2.1. Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
CP NVLTT bao gồm các khoản chi phí về nguyên vật liệu chính, nửa
thành phẩm mua ngoài, vật liệu phụ,… sử dụng trực tiếp cho việc sản xuất chế
tạo sản phẩm hoặc trực tiếp thực hiện các lao vụ, dịch vụ.
CPNVLTT được tập hợp vào các đối tượng chịu chi phí như sau:
- Đối với những nguyên liệu, vật liệu khi xuất dùng có luên quan trực tiếp
đến từng đối tượng tập hơp chi phí thì được tập hợp trực tiếp vào đối tượng đó.
- Trường hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp
chi phí, không thể tổ chức hạch toán riêng được thì áp dụng phương pháp phân
bổ gián tiếp để phân bổ chi phí cho từng đối tượng có liên quan. Tiêu thức phân
22


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

bổ thường được sử dụng là: Định mức tiêu hao cho từng sản phẩm, hệ số phân
bổ được quy định, theo trọng lượng sản phẩm hay số lượng sản phẩm sản xuất
ra...


Tài khoản sử dụng

- Để theo dõi các khoản chi phí nguyên vật liệu sử dụng trực tiếp cho hoạt
động sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ trong kỳ sản xuất, kinh doanh, kế
toán sử dụng TK 621- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp.
Ngoài ra còn sử dụng các TK khác liên quan như: 111, 112, 331, 152…


Chứng từ sử dụng

-

Phiếu xuất kho

-

Bảng phân bổ nguyên vật liệu, vật liệu,…

-

….


Nguyên tắc kế toán

a) Tài khoản này dùng để phản ánh chi phí nguyên liệu, vật liệu sử dụng
trực tiếp cho hoạt động sản xuất sản phẩm.
b) Chỉ hạch toán vào tài khoản 621 những chi phí nguyên liệu, vật liệu
(gồm cả nguyên liệu, vật liệu chính và vật liệu phụ) được sử dụng trực tiếp để
sản xuất sản phẩm, thực hiện dịch vụ trong kỳ sản xuất, kinh doanh. Chi phí
nguyên liệu, vật liệu phải tính theo giá thực tế khi xuất sử dụng.
c) Trong kỳ kế toán thực hiện việc ghi chép, tập hợp chi phí nguyên liệu,
vật liệu trực tiếp vào bên Nợ tài khoản 621 “Chi phí nguyên liệu, vật liệu trực
tiếp" theo từng đối tượng sử dụng trực tiếp các nguyên liệu, vật liệu này hoặc tập
hợp chung cho quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm, thực hiện dịch vụ (phụ
thuộc vào việc xuất sử dụng nguyên liệu, vật liệu cho quá trình sản xuất sản
phẩm có xác định cụ thể, rõ ràng cho từng đối tượng sử dụng hay không).
23


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

d) Cuối kỳ kế toán, thực hiện kết chuyển (nếu nguyên liệu, vật liệu đã được
tập hợp riêng biệt cho đối tượng sử dụng), hoặc tiến hành tính phân bổ và kết
chuyển chi phí nguyên liệu, vật liệu (nếu không tập hợp riêng biệt cho từng đối
tượng sử dụng) vào tài khoản 154 phục vụ cho việc tính giá thành thực tế của sản
phẩm, dịch vụ trong kỳ kế toán.
đ) Khi mua nguyên liệu, vật liệu, nếu thuế GTGT đầu vào được khấu trừ thì
trị giá nguyên liệu, vật liệu sẽ không bao gồm thuế GTGT. Nếu thuế GTGT đầu
vào không được khấu trừ thì trị giá nguyên liệu, vật liệu bao gồm cả thuế GTGT.
e) Phần chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp vượt trên mức bình thường
không được tính vào giá thành sản phẩm, dịch vụ mà phải kết chuyển ngay vào
TK 632 “Giá vốn hàng bán”.


Kết cấu và nội dung phản ánh của TK 621 – chi phí nguyên liệu,
vật liệu trực tiếp.

Bên Nợ: Trị giá thực tế nguyên liệu, vật liệu xuất dùng trực tiếp cho hoạt
động sản xuất sản phẩm, hoặc thực hiện dịch vụ trong kỳ hạch toán.
Bên Có:
- Kết chuyển trị giá nguyên liệu, vật liệu thực tế sử dụng cho sản xuất, kinh
doanh trong kỳ vào TK 154 “Chi phí sản xuất, kinh doanh dở dang" hoặc TK
631 “Giá thành sản xuất” và chi tiết cho các đối tượng để tính giá thành sản
phẩm, dịch vụ.
- Kết chuyển CPNVLTT vượt trên mức bình thường vào TK 632 - Giá vốn hàng
bán.
- Trị giá nguyên liệu, vật liệu trực tiếp sử dụng không hết được nhập lại kho.
Tài khoản 621 không có số dư cuối kỳ.

24


Luân văn tốt nghiệp
Thiều

GVHD: PGS.TS Nguyễn Mạnh

Sơ đồ 1.1: Trình tự Kế toán Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tại công ty TNHH
Hưng Long

TK 152

TK 621

TK 152

Trị giá thực tế nguyên vật liệu

Trị giá nguyên vật liệu

xuất kho cho chế tạo sản phẩm

sử dụng không hết

(phương pháp kê khai thường

nhập lại kho.Giá trị
phế liệu thu hồi

xuyên)

TK 154

TK 611
Trị giá nguyên vật liệu thực tế xuất
dùng cho chế tạo sản phẩm

Phân bổ và k/c CPNVLTT

(phương pháp kiểm kê định kỳ)

TK 331,111,112,
TK 632
Mua nguyên vật liệu dùng
trực tiếp chế tạo sản phẩm
Tổng giá

Giá chưa có

thanh toán

thuế

Phần CPNVLTT vượt
trên mức bình thường

TK 133

TK 631
Kết chuyển CP
NVLTT

Thuế GTGT

( phương pháp kiểm
kê định kỳ)

25

Phần CPNVLTT vượt
trên mức bình thường


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×