Tải bản đầy đủ

Pháp luật việc làm, giải quyết việc làm từ thực tiễn tỉnh thái bình

NGÔ CHÍNH HỮU

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬT KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VIỆC LÀM, GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TỪ
THỰC TIỄN TỈNH THÁI BÌNH

NGÔ CHÍNH HỮU

2016 - 2018
HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI


LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VIỆC LÀM, GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH THÁI BÌNH

NGÔ CHÍNH HỮU

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. ĐÀO THỊ HẰNG

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan đề tài luận văn thạc sĩ Luật kinh tế “Pháp luật việc
làm, giải quyết việc làm từ thực tiễn tỉnh Thái Bình” là do chính tác giả nghiên
cứu và thực hiện.
Các thông tin và số liệu được sử dụng trong luận văn là hoàn toàn trung
thực, chính xác và có nguồn gốc rõ ràng.

Xác nhận của giảng viên hướng dẫn

Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2018
Tác giả

PGS.TS. Đào Thị Hằng

Ngô Chính Hữu


LỜI CẢM ƠN
Em xin trân trọng cảm ơn đến các thầy giáo, cô giáo Khoa sau đại học –
Trường Đại học mở Hà Nội đã trang bị tri thức, tạo môi trường điều kiện thuận
lợi cho em trong quá trình học tập và thực hiện luận văn thạc sỹ này.
Với lòng kính trọng và biết ơn, em xin được bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất
tới cô giáo PGS.TS. Đào Thị Hằng, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo, hướng
dẫn cho em trong suốt thời gian thực hiện, nghiên cứu và hoàn thành bản luận


văn thạc sỹ./.
Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2018
Tác giả

Ngô Chính Hữu


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU………………………………………………...….............................…………..........1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC LÀM, GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ
NỘI DUNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG HIỆN HÀNH ......................................................…6

1.1 Một số vấn đề lý luận về việc làm và giải quyết việc làm…...........................6
1.1.1 Quan niệm về việc làm………………………………........................….... 6
1.1.2. Phân loại việc làm……………………………………........................……7
1.1.3. Tầm quan trọng của việc làm và giải quyết việc làm…….........................10
1.2 Nội dung pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm…………........……..11
1.2.1. Các nguyên tắc về việc làm và giải quyết việc làm…….......................….11
1.2.2. Trách nhiệm của các chủ thể trong lĩnh vực việc làm và giải quyết việc
làm…………………………………………………………........................................ ...13
1.2.3. Các biện pháp pháp lý hỗ trợ và giải quyết việc làm…..............................19
1.2.4. Xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực việc làm và giải quyết việc
làm…………………………………………….........................................….29
Kết luận chương 1…………………………………….......................…..............34
Chương 2: THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM, GIẢI
QUYẾT VIỆC LÀM TẠI THÁI BÌNH………………... ......................................….35
2.1 Khái quát tình hình kinh tế -xã hội của tỉnh Thái Bình…..........................…35
2.2 Thực trạng thực hiện quy định pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm tại tỉnh
Thái Bình……………………………………......................................................... 38
2.2.1. Những kết quả đạt được trong việc thực hiện pháp luật về việc làm, giải quyết
việc làm tại Thái Bình……………………………............................................... 38
2.2.2 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong việc thực hiện pháp luật về việc làm,
giải quyết việc làm tại tỉnh Thái Bình……............................................……..56
Kết luận chương 2…………………...........…………….…….......................… .62


Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG
CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ VIỆC LÀM……...…....63
3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về việc làm,
giải quyết việc làm…………………..................................................………..63
3.2. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về việc làm và giải quyết việc
làm………………………………………………………………................................…65
3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về việc làm và giải
quyết việc làm tại tinht Thái Bình……………….................................................…69
Kết luận chương 3……………………............….......................………………..77
KẾT LUẬN……………………………………...….......................……………78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………......................…..………. 79



DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NLĐ

Người lao động

NSDLĐ

Người sử dụng lao động

BLLĐ

Bộ luật lao động

BLTTDS

Bộ luật tố tụng dân sự

THCS

Trung học cơ sở

BLĐTBXH

Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội

BHXH

Bảo hiểm xã hội

BHTN

Bảo hiểm thất nghiệp

DN

Doanh nghiệp

ILO

Tổ chức lao động quốc tế

TLĐLĐVN

Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

TCLĐ

Tranh chấp lao động



Lao động

SXKD

Sản xuất kinh doanh

Sở LĐTBXH

Sở Lao động Thương binh và Xã hội

CNKT

Công nhân kỹ thuật

GQVL

Giải quyết việc làm

GDNN

Giáo dục nghề nghiệp


HĐLĐ

Hợp đồng lao động

UBND

Ủy ban nhân dân

TT

Thông tư


DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Bảng 2.1. Số lượng dân số và lao động tỉnh Thái Bình ……………………………..36
Bảng 2.2. Kết quả thực hiện giải quyết việc làm giai đoạn 2011-2015………… ….. 41
Bảng 2.3. Kết quả thực hiện hoạt động vay vốn tạo việc àm giai đoạn 2011-2015…42
Bảng 2.4. Kết q ả t ực hiện hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài
giai đoạn 2011-2015………………………………………………………………… 51
Bảng 2.5. Bảng kết quả thực hiện hoạt động đào tạo nghề giai đoạn 2011-2015.........54


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là quốc gia đang trên đà phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nên luôn là điểm sáng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Nguồn nhân lực, bộ phận
trực tiếp tham gia vào các quy trình sản xuất, đóng vai trò hết sức quan trọng trong
việc phát triển kinh tế của doanh nghiệp. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ thất nghiệp của
cả nước trong quý 2 năm 2018 là 2,19%, nằm trong tốp những nước có tỷ lệ thất
nghiệp thấp trên thế giới [40]….. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là Việt Nam đang
có tình trạng việc làm ổn định cho người dân. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới,
thì nước ta đang thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc cao và
chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng thấp hơn nhiều so với các nước khác.
Trong khi đó cử nhân, thạc sỹ ra trường không có việc làm vẫn còn ở mức cao.
Việt Nam là một quốc gia có nguồn nhân lực trẻ, dồi dào cùng sự phát triển ngày càng
nhiều của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh với quy mô, hình thức khác
nhau. Đến thời điểm năm 2018, dân số cả nước là 95562000 người, trong đó có 48,4
triệu người thuộc lực lượng lao động. Theo thống kê, trong quý 2/2018 cả nước hiện
có khoảng 677.000 lao động thiếu việc làm, 1.061,5 nghìn người trong độ tuổi thất
nghiệp, tương đương 2,19%, trong đó số người thất nghiệp dài hạn (từ 12 tháng trở
lên) chiếm 34,93% tổng số người thất nghiệp [40]. Số việc làm tạo ra dù tăng nhưng
không theo kịp số người có nhu cầu tìm việc, vì vậy tình trạng thất nghiệp vẫn là vấn
đề “nóng bỏng”. Bên cạnh đó, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp,
cơ sở sản xuất, kinh doanh chịu sự cạnh tranh rất lớn nên dễ dẫn đến tình trạng hoạt
động không hiệu quả, phải cắt giảm nhân sự, hay thậm chí phá sản. Có thể nói tình
trạng việc làm của người lao động uôn trong tình trạng chưa ổn định.
Thái Bình có dân số gần 1,8 triệu người, dân số trong độ tuổi lao động là 1,1 triệu
người, trong đó số người trong độ tuổi lao động tham gia hoạt động kinh tế có gần 0,9
triệu người, tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị 2,7%, cơ cấu lao động trong lĩnh vực
ngành nông, lâm, ngư nghiệp là 48%; ngành công nghiệp, xây dựng 32%; ngành dịch
vụ 20%. Đến tháng 7/2018, toàn tỉnh hiện có 4.622 doanh nghiệp và 518 chi nhánh
văn phòng đại diện, trong đó có 03 doanh nghiệp nhà nước, 55 doanh nghiệp có vốn


đầu tư nước ngoài, 4.564 doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, sử dụng gần 720000
lao động [36]. Vấn đề việc làm, giải quyết việc làm tại tỉnh Thái Bình vẫn đang là vấn
đề mang tính thời sự, thu hút sự quan tâm của các cấp, các ngành thuộc tỉnh Thái Bình.
Xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề việc làm đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp cũng như đời sống của người lao động; xuất phát từ tính cấp
thiết phải làm rõ các quy định của pháp luật về lao động việc làm với mong muốn tìm
hiểu, phân tích nguyên nhân, thực trạng và góp ý làm hoàn thiện hơn pháp luật về việc
làm, tôi chọn đề tài “Pháp luật việc làm, giải quyết việc làm từ thực tiễn tỉnh Thái
Bình” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Bộ Luật Lao động là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích cho các
bên trong việc làm, cũng như đảm bảo sự hài hòa, ổn định của quan hệ lao động. Hiện
nay, vấn để bảo vệ quyền lợi cho người lao động và người sử dụng lao động nhận
được nhiều sự quan tâm và được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu. Tuy
nhiên, các công trình này còn mang tính chất riêng lẻ, chủ yếu là khai thác vấn đề dưới
góc độ người lao động hay người sử dụng lao động hoặc chỉ được nghiên cứu một
cách gián tiếp…
Trong đó, đáng chú ý là Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường Trường Đại học Luật
Hà Nội của tác giả Lưu Bình Nhưỡng “Việc làm và giải quyết việc làm trong điều kiện
nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, 2004; Luận văn
thạc sỹ luật học Trường Đại học Luật Hà Nội của ThS. Lưu Thị Hoài Anh với đề tài
“Giải quyết việc làm theo pháp luật lao động Việt Nam và thực tiễn hiện tại vùng
Đồng bằng sông Hồng”. Luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật về giải quyết việc làm
và thực tiễn thi hành tại huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh” của Lâm Thanh Nhựt,
2016; Luận văn Thạc sĩ Luật học “Pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm từ thực
tiễn tỉnh Quảng Bình” của Trương Thị Phương Lan, 2017 ...Ngoài ra, vấn đề này cũng
là đối tượng nghiên cứu của nhiều bài báo, tạp chí khoa học như bài viết “Bàn về khái
niệm “việc làm” dưới góc độ pháp luật lao động” của Ths Nguyễn Thị Kim Phụng
đăng trên tạp chí Luật học số 6/2004; bài viết “Chính sách lao động - việc làm nhìn từ
góc độ kinh tế vĩ mô” của Ths Nguyễn Minh Phong, đăng trên Tạp chí Tài chính Điện
tử số 96… Về cơ bản, các công trình nghiên cứu, bài viết nêu trên đã ít nhiều đề cập


đến vấn đề việc làm, giải quyết việc làm và pháp luật về lĩnh vực này ở các mức độ
khác nhau, song do mục đích và phạm vi nghiên cứu của các công trình đó nên hoặc
mới chỉ nghiên cứu ván đề ở một hoặc một vài khía cạnh, hoặc phản ánh thực tiễn thực
hiện ở một địa phương nhất định nhưng không phải ở tỉnh Thái Bình. Do vậy, đề tài
luận văn mà học viên lựa chọn sẽ không trùng lặp với các công trình nghiên cứu đã có
khi luận văn sẽ nghiên cứu vấn đề một cách toàn diện và xem xét việc thực hiện ở tĩnh
Thái Bình, nơi học viên đang sống và làm việc.
3. Phạm vi nghiên cứu
Việc làm và giải quyết việc làm có thể được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau như
kinh tế học, xã hội học…Trong luận văn này, tác giả chủ yếu nghiên cứu vấn đề dưới
góc độ pháp lý, nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành tại BLLĐ năm 2012,
Luật Việc làm và các văn bản hướng dẫn có liên quan về việc làm và giải quyết việc
làm. Đây cũng là vấn đề có phạm vi khá rộng, tuy nhiên, do giới hạn về dung lượng
của một luận văn thạc sĩ, một số vấn đề như xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về
việc làm, giải quyết việc làm sẽ không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin với phép duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử để nghiên cứu về pháp luật việc làm trong mối quan
hệ với các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội khác.
Ngoài ra, luận văn còn áp dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như: phương
pháp khảo cứu tài liệu và kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có, phương pháp tổng
hợp, phương pháp phân tích, so sánh, suy luận logic trong quá trình nghiên cứu và
trình bày vấn đề.
5. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện pháp
luật về việc làm tại tỉnh Thái Bình. Trên cơ sở đánh giá những kết quả đạt được và
những hạn chế của pháp luật hiện hành để đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp
luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong điều kiện thực tế hiện nay.
Với mục đích đó, nhiệm vụ của luận văn được xác định cụ thể như sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến việc làm, giải quyết việc làm;


- Phân tích thực trạng các quy định pháp luật về việc làm, giải quyết việc làm
- Phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật của Việt Nam về việc làm, giải
quyết việc làm tại tỉnh Thái Bình;
- Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về việc làm, giải
quyết việc làm và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về việc làm tại tỉnh Thái
Bình.
6. Kết cấu của luận văn
Với đề tài “Pháp luật việc làm, giải quyết việc làm từ thực tiễn tỉnh Thái Bình”, ngoài
phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 3
chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về việc làm, giải quyết việc làm và nội dung pháp
luật hiện hành về vấn đề này
Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật về việc làm, giải quyết việc làm tại tỉnh Thái
Bình
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
về việc làm, giải quyết việc làm tại tỉnh Thái Bình.


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ
VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM TẠI TỈNH THÁI BÌNH

1.1 Một số vấn đề lý luận về việc làm và giải quyết việc làm
1.1.1 Quan niệm về việc làm, giải quyết việc làm
Lao động là quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và việc làm chính là nội dung
thực tiễn để công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Dưới nhiều góc độ khác
nhau, có nhiều cách hiểu về khái niệm việc làm nhưng về cơ bản đó là các hoạt động
nhằm tạo ra lợi ích vật chất nhất định.
Dưới góc độ ngôn ngữ học, việc làm được định nghĩa là công việc được giao theo
nghề nghiệp, có thù lao và chế độ, đảm bảo đời sống lâu dài. Tuy nhiên, khái niệm
việc làm đã được cụ thể hóa trong phạm vi nghề nghiệp với những đặc điểm, điều kiện
tiên quyết đối với quan hệ việc làm theo pháp lý và trên thực tế đời sống.
Dưới góc độ kinh tế-xã hội, hoạt động kiếm sống của con người được coi là việc làm.
Việc làm trước hết là vấn đề của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu mưu sinh của các
cá nhân. Con người vì muốn được thỏa mãn các nhu cầu của bản thân nên tiến hành
các hoạt động lao động nhất định. Người có việc làm chính là khái niệm dùng để chỉ
những người hiện đang tham gia các hoạt động đó. Tùy theo mức độ tham gia và thu
nhập từ những hoạt động này mà có thể chia đối tượng này thành hai loại là: người có
việc làm đầy đủ và người có việc làm không đầy đủ. Trong đó, người có việc làm đầy
đủ là người làm việc với mức thu nhập ổn định, thường xuyên và toàn thời gian theo
quy định, người có việc làm không đầy đủ là các nhân công lao động thời vụ, lao động
theo công việc. Việc làm luôn gắn liền với vấn đề sản xuất. Hiệu quả của việc giải
quyết tốt vấn đề việc làm cũng chính là hiệu quả của sản xuất. Kinh tế phát triển sẽ tạo
điều kiện để giải quyết tốt vấn đề việc làm và ngược lại, nếu không giải quyết tốt vấn
đề việc làm và thất nghiệp thì đó sẽ là những yếu tố kìm hãm sự tăng trưởng của kinh
tế.
Theo Tổ chức lao động quốc tế việc làm là một mục tiêu quan trong trọng tôn chỉ hoạt
động của tổ chức này, thể hiện qua việc ILO đã có nhiều Công ước và Khuyến nghị


liên quan đến việc làm, trong đó có một số Công ước quan trong như Công ước số 47
về duy trì tuần làm việc 40 giờ, Công ước số 88 vể tổ chức dịch vụ việc làm, Công ước
số 122 về chính sách việc làm …Theo quan niệm của ILO, người có việc làm là những
người thực hiện một công việc để được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán
bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự tạo việc
làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật. ILO
cho rằng người có việc làm gồm những người trên một độ tuổi xác định nào đó, trong
một khoảng thời gian cụ thể được trả lương hay tự trả lương cho mình.
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm việc làm được thống nhất ghi nhận trong Bộ Luật Lao
động năm 2012 và Luật Việc làm năm 2013, cụ thể tại khoản 2 điều 3 Luật Việc làm
năm 2013 quy định: “Việc làm là hoạt động lao động tạo ra thu nhập mà không bị
pháp luật cấm”. Theo đó, việc làm trên phương diện pháp lý hay phương diện kinh tế
đều được hình dung là một hoạt động lao động nhằm tạo ra thu nhập và các hoạt động
này không bị pháp luật cấm. Định nghĩa việc làm dưới góc độ pháp lý là phương
hướng xác định được mối quan hệ cũng như hoạt động thực tiễn của mỗi cá nhân trong
phạm trù lao động qua đó có những quy định về phạm vi điều chỉnh và xác định cụ thể
được đối tượng điều chỉnh trong quan hệ này.
Giải quyết việc làm có thể hiểu là quá trình tạo ra điều kiện và môi trường bảo đảm
cho những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và có nhu cầu tìm việc
làm có cơ hội làm việc.
1.1.2. Phân loại việc làm
Việc làm trên nhiều góc độ phân tích khác nhau có thể chia ra thành nhiều loại công
việc khác nhau nhằm cụ thể hóa cũng như tạo ra sự rõ ràng trong quá trình phân tích
và nắm bắt các thông tin về việc làm.
- Việc làm bình thường và việc làm nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm được phân loại
dựa trên tính chất của công việc mà người lao động thực hiện. Trong đó, việc làm bình
thường là những công việc mà cá nhân làm việc trong môi trường lao động bình
thường, không có các yếu tố gây nguy hại tới sức khỏe của bản thân, đồng thời đối với
các công việc này không đòi hỏi ở người sử dụng lao động phải có đãi ngộ đặc biệt
cũng như các yêu cầu khắt khe đối với trang bị an toàn lao động cho người làm việc
trong điều kiện công việc bình thường. Ngược lại, đối với việc làm nặng nhọc, độc hại,


nguy hiểm đòi hỏi cá nhân làm công việc này sẽ phải đáp ứng các điều kiện cụ thể đối
với từng loại công việc khác nhau. Bên cạnh đó, ngưười sử dụng lao động phải đảm
bảo được các yêu cầu khắt khe đối với an toàn, vệ sinh lao động cho người làm việc
trong điều kiện việc làm nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Ngoài ra, đối với các cá nhân
thực hiện công việc này sẽ có những chế độ đãi ngộ đặc biệt. Cụ thể như họ sẽ được
hưởng một số loại phụ cấp độc hại, nguy hiểm, được bồi dưỡng bằng hiện vật để phục
hồi sức khỏe…
- Việc làm cho đối tượng lao động bình thường và việc làm cho đối tượng lao động
động đặc thù. Xuất phát từ những đặc điểm riêng của các chủ thể tham gia quan hệ lao
động hoặc xuất phát từ những đặc điểm của công việc, tính chất của ngành nghề, tính
chất của doanh nghiệp dẫn tới quy định về đối tượng lao động đặc thù, là đối tượng lao
động đặc biệt và được áp dụng các chế độ ưu tiên khác so với người lao động bình
thường, gồm: phụ nữ, lao động chưa thành niên, lao động cao tuổi, người khuyết tật .
Trong đó, phụ nữ là người lao động được ưu tiên trong việc hạn chế không thực hiện
các công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, áp dụng chế độ thai sản; hay lao động
nữ sẽ không bị áp dụng các hình thức kỷ luật lao động nếu người đó đang mang thai
hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi…
Người lao động chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi, thể lực và trí lực của họ
đang phát triển và chưa ổn định. Vì vậy, người lao động chưa thành niên cần có sự ưu
tiên và quan tâm đặc biệt trong quá trình làm việc để đảm bảo cho quyền lợi của họ
như: thời gian làm việc của người lao động chưa thành niên không được quá 7 giờ một
ngày hoặc 42 giờ một tuần; người sử dụng lao động chỉ được sử dụng nguời lao động
chưa thành niên làm thêm giờ, làm việc ban đêm trong một số nghề, công việc do Bộ
Lao động – Thương binh và Xã hội quy định…
Đối với người lao động cao tuổi, có chế độ ưu đãi cho những người đã nghỉ hưu là
được phép giao kết hợp đồng lao động, nếu họ có nguyện vọng và người sử dụng lao
động có nhu cầu. Người khuyết tật do bị thương hoặc dị tật bẩm sinh, bị khiếm khuyết
hoặc sút giảm khả năng của một hoặc nhiều bộ phận cơ thể mà khả năng lao động bị
suy giảm từ 21% trở lên do khuyết tật, được Hội đồng Y khoa giám định và xác nhận.
Như vậy, đối với các đối tượng lao động đặc thù này sẽ được áp dụng những việc làm


phù hợp với khả năng lao động, thời gian làm việc hợp lý, đồng thời có chế độ đãi ngộ
đặc biệt phù hợp với từng nhóm đối tượng.
- Việc làm chân tay, việc làm trí óc là các công việc được phân loại dựa trên điều kiện
đối với công việc đó. Việc làm chân tay đòi hỏi yếu tố lành nghề, sức khỏe tốt như:
việc làm về xây dựng, việc làm về thủ công mỹ nghệ như mây tre đan… Việc làm trí
óc đòi hỏi các yếu tố điều kiện về khả năng hiểu biết, phải qua đào tạo và chủ yếu vận
dụng các kiến thức đó trong công việc hàng ngày mà không phải vận động sức lực
nhiều như: việc làm tại văn phòng, việc làm hành chính, việc làm liên quan đến giáo
dục, y tế ….
- Việc làm trọn ngày làm việc và việc làm không trọn ngày làm việc: được xác định
dựa trên yếu tố thời gian làm việc yêu cầu đối với công việc đó. Trong đó, việc làm
trọn ngày là việc người lao động làm việc theo chế độ thời gian làm việc bình thường,
đối với cá nhân được quy định trong pháp luật lao động là 08 giờ trên một ngày. Bên
cạnh đó, việc làm không trọn ngày làm việc là việc thực hiện công việc với ít thời gian
hơn so với thời gian được quy định trong điều kiện làm việc bình thường, đây là những
công việc thường được gọi là việc làm linh hoạtvà thời gian thường áp dụng khoảng
02 đến 03 giờ trên ngày.

1.1.3. Tầm quan trọng của việc làm và giải quyết việc làm
Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, đây là hoạt động liên quan chặt
chẽ tới đời sống xã hội, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế xã hội, chi phối toàn bộ
mọi hoạt động của cá nhân và xã hội.
Đối với mỗi cá nhân, việc làm tạo ra nguồn thu nhập phục vụ cho nhu cầu cuộc sống
của họ, vì vậy việc làm cũng sẽ chịu ảnh hưởng bởi ngành nghề cũng như sự phát triển
chung của vùng kinh tế tại nơi đối tượng sinh sống (vùng đông dân cư, vùng có khó
khăn về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng…), đối với những nhóm người nhất định (lao
động không có trình độ tay nghề, lao động có trình độ tay nghề cao….) Việc không có
việc làm trong thời gian dài không chỉ gây trở ngại tới sự phát triển chung của xã hội
mà còn làm mai một kiến thức cũng như khả năng chuyên môn nghề của người lao
động, dẫn tới việc không đáp ứng được yêu cầu của công việc đồng thời dẫn tới nguy
cơ kéo dài hiện tượng thất nghiệp.


Đối với nền kinh tế, việc làm là một trong những nguồn lực quan trọng vì vậy nó là
nhân tố tạo nên tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân, nền kinh tế luôn đảm bảo
tạo cầu và việc làm cho từng cá nhân sẽ giúp cho việc duy trì mối quan hệ hài hòa giữa
việc làm và kinh tế, duy trì nền kinh tế có xu hướng phát triển bền vững đồng thời nó
cũng mang lại lợi ích và phát huy tiềm năng của người lao động.
Đối với xã hội, việc làm cũng tác động trực tiếp tới mỗi cá nhân, gia đình - những
nhân tố, tế bào của xã hội. Khi tất cả các cá nhân trong xã hội có việc làm thì xã hội sẽ
được duy trì và phát triển do không có mâu thuẫn nội sinh trong xã hội, không tạo ra
các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con người được dần hoàn thiện về cả nhân cách và trí
tuệ … Ngược lại khi nền kinh tế không đảm bảo đáp ứng về việc làm cho người lao
động có thể dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội và ảnh hưởng xấu đến sự
phát triển nhân cách con người. Khi con người lao động, ngoài mục đích nhằm đảm
bảo nhu cầu đời sống còn hướng đến các nhu cầu về phát triển và tự hoàn thiện tính
cách trong môi trường cộng đồng xã hội. Vì vậy trong nhiều trường hợp tình trạng
thất nghiệp sẽ ảnh hưởng tới nhân cách con người, như khiến con người thiếu tự tin
trong giao tiếp xã hội, tự ti về khả năng của mình, bất mãn với xã hội…dẫn đến những
ảnh hưởng xấu phát sinh như tệ nạn xã hội. Ngoài ra, tình trạng không có việc làm còn
làm gia tăng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, là nguyên nhân nảy sinh ra các mâu
thuẫn và có ảnh hưởng lớn đến tình hình chính trị.
Qua đó, có thể thấy vai trò của việc làm trong đời sống xã hội là vô cùng lớn, ảnh
hưởng trực tiếp tới sự phát triển chung của kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất
nước. Chính vì thế, vấn đề việc làm cần được đánh giá đúng mức, có sự quan tâm đặc
biệt và định hướng cụ thể cho sự phát triển.
1.2. Nội dung quy định pháp luật hiện hành về việc làm và giải quyết việc làm
1.2.1. Các nguyên tắc về việc làm và giải quyết việc làm
Một là, nguyên tắc bình đẳng trong lĩnh vực việc làm.
Khoản 1 Đ. 8 BLLĐ đã xác định rõ, một trong các hành vi bị nghiêm cấm là việc phân
biệt đối xử về giới tính, dân tộc, màu da, thành phần xã hội, tình trạng hôn nhân, tín
ngưỡng, tôn giáo, nhiễm HIV, khuyết tật hoặc vì lý do thành lập, gia nhập và hoạt
động công đoàn. Đây cũng là sự cụ thể hóa Khoản 1 Đ. 16 Hiến pháp năm 2013 “Mọi
người đều bình đẳng trước pháp luật”. Theo đó, mọi người đều có quyền bình đẳng về


cơ hội có việc làm và được trả công ngang nhau khi làm những công việc như nhau,
không bị phân biệt đối xử về các lý do đã được xác định, ảnh hưởng đến quyền có việc
làm của mỗi người.
Hai là, nguyên tắc cấm cưỡng bức, ngược đãi người lao động
Khác với quan hệ dân sự hoặc một số quan hệ khác, trong quan hệ lao động, NLĐ
thông thường là bên yếu thế hơn so với NSDLĐ do họ phải chịu sự quản lý, điều hành
của chủ thể này (một đặc trưng của quan hệ hợp đồng lao động) nên dễ dẫn đến việc
NLĐ bị cưỡng bức, phải làm những công việc trái với ý muốn hoặc bị xúc phạm, đánh
đập… Do vậy nguyên tắc nêu trên được đặt ra, thể hiện tại khoản 2, 3 Đ. 8 BLLĐ.
Theo đó, một trong các hành vi bị pháp luật nghiêm cấm là ngược đãi, cưỡng bức
NLĐ…Trường hợp xảy ra tình trạng trên, NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt
HĐLĐ (Kh. 1 điểm c Đ. 37 BLLĐ).
Ba là, nguyên tắc ưu tiên đối với một số lao động đặc thù
Lao động đặc thù là những NLĐ có đặc điểm riêng biệt về tâm, sinh lý, giới tính, tuổi
tác, sức khỏe... Đó ví dụ là lao động nữ, lao động chưa thành niên, lao động là người
khuyết tật…Nhìn chung, do có những đặc điểm riêng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe,
điều kiện lao động nên cơ hội tìm kiếm việc làm hoặc duy trì việc làm của những đối
tượng này thường khó khăn hơn những NLĐ khác, nhất là trong bối cảnh sự cạnh
tranh về việc làm giữa những NLĐ ngày càng cao, “cung” lao động luôn lớn hơn
“cầu”. Do vậy, cần phải có những ưu tiên nhất định đối với những NLĐ này trong lĩnh
vực việc làm và giải quyết việc làm nhằm tạo cho họ cơ hội việc làm, khắc phục
những yếu thế đặc thù của họ, giúp họ hòa nhập hơn với cộng đồng. Để tránh tình
trạng kỳ thị, phân biệt đối xử, tạo ra rào cản dẫn đến hạn chế cơ hội việc làm đối với
người khuyết tật, khoản 1 Đ. 176 BLLĐ quy định chính sách của Nhà nước đối với LĐ
là người khuyết tật là “khuyến khích và ưu đãi NSDLĐ tạo việc làm và nhận LĐ là
người khuyết tật vào làm việc…”. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường lao động hiện
nay và trong điều kiện của nền kinh tế thị trường nói chung, khi cung lao động luôn
lớn hơn cầu lao động thì việc chỉ khuyến khích NSDLĐ tạo việc làm và nhận LĐ là
người khuyết tật vào làm việc liệu có đạt được mục đích ưu đãi? Đối với lao động nữ,
một trong những điều luật thể hiện nguyên tắc nêu trên là khoản 2 Đ. 153 BLLĐ:
“Khuyến khích NSDLĐ tạo điều kiện để lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp


dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn thời
gian…”. Đồng thời pháp luật quy định việc ưu đãi đối với DN sử dụng nhiều LĐ nữ,
như taị kh. 4 Đ. 153 BLLĐ quy định Nhà nước: “có chính sách giảm thuế đối với
NSDLĐ có sử dụng nhiều LĐ nữ theo quy định của PL về thuế”. Ngoài ra, Đ. 160
BLLĐ quy định công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh đẻ và nuôi con theo
danh mục do BLĐ-TB và XH chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành. Trên cơ sở đó,
Thông tư số 26/2013/TT-BLĐTBXH ngày 18/10/2013 đã ban hành danh mục công
việc không được sử dụng lao động nữ. Tuy nhiên, việc ban hành danh mục công việc
này có thể lại có tác dụng “ngược” trong lĩnh vực việc làm đối với lao động nữ nên cần
xem xét thêm về vấn đề này.
Bốn là, nguyên tắc khuyến khích mọi hoạt động tạo ra việc làm và hỗ trợ tạo việc làm
Khác với cơ chế kinh tế tập trung bao cấp trước đây, trong cơ chế kinh tế thị trường,
lao động vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của mọi người dân. Nhà nước không có trách
nhiệm phải đảm bảo việc làm cho từng cá nhân NLĐ mà tổ chức, quản lý các hoạt
động phát triển kinh tế nhằm tạo điều kiện cơ hội về việc làm ngày càng tăng cho
NLĐ. Ngoài ra, Nhà nước có các biện pháp bảo đảm và duy trì việc làm như đào tạo
nghề, đào tạo lại, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề, chế độ bảo hiểm thất nghiệp…
Đồng thời, Nhà nước khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức tự tạo việc làm cho mình và
cho cộng đồng. Tóm lại, nguyên tắc này vừa thể hiện trách nhiệm của Nhà nước, của
bản thân mỗi NLĐ và của cả xã hội trong vấn đề việc làm và giải quyết việc làm.
1.2.2. Trách nhiệm của các chủ thể trong lĩnh vực việc làm và giải quyết việc làm
1.2.2.1. Trách nhiệm của Nhà nước trong lĩnh vực việc làm và giải quyết việc làm
Điều 57 Hiến pháp năm 2013 quy định:
1. Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người
lao động.
2. Nhà nước bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao
động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định”.
Nhà nước là chủ thể đặc biệt không chỉ đóng vai trò là một người quản lý các hoạt
động việc làm, điều phối việc làm, mà còn là chủ thể đảm bảo quyền lợi chung cho các
chủ thể từ người lao động đến người sử dụng lao động nhằm đạt được sự ổn định, cân


bằng giữa các nhu cầu cung cầu của thị trường việc làm, quan trọng hơn là tạo được
việc làm phù hợp cho người lao động, thúc đẩy kinh tế của người sử dụng lao động
phát triển.
Luật Việc làm năm 2013 quy định:
Điều 7. Thẩm quyền quản lý nhà nước về việc làm
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về việc làm trong phạm vi cả nước
2. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện
quản lý nhà nước về việc làm.
Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm
phối hợp với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện quản lý Nhà nước về
việc làm.
3. Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi, quyền hạn của mình, thực hiện quản lý nhà
nước về việc làm tại địa phương.
Như vậy, pháp luật lao động quy định trách nhiệm trực tiếp thuộc về Chính phủ và các
cơ quan hành chính Nhà nước, trách nhiệm trước hết thuộc về Quốc hội và hệ thống
các cơ quan quyền lực (Hội đồng nhân dân các cấp) với nội dung của việc giải quyết
việc làm cho người lao động bao gồm:
Thứ nhất, Nhà nước quy định chỉ tiêu tạo việc làm mới trong kế hoạch phát triển kinh
tế- xã hội 5 năm và hàng năm (Đ. 12 BLLĐ). Nhà nước có chính sách hỗ trợ tài chính,
cho vay vốn, giảm, miễn thuế và các biện pháp khuyến khích đề người có khả năng lao
động tự giải quyết việc làm, để các tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh
tế phát triển nhiều nghề mới nhằm tạo việc làm cho người lao động.
Thứ hai, Nhà nước có chính sách bảo hiểm thất nghiệp, các chính sách khuyến khích
để NLĐ tự tạo việc làm, ưu đãi về giải quyết việc làm để thu hút và sử dụng lao động
là người dân tộc thiểu số, chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân
trong và ngoài nước, bao gồm cả người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư phát
triển kinh doanh nhằm tạo nhiều việc làm cho người lao động.
Thứ ba, Nhà nước đóng vai trò là chủ thể quản lý, giải quyết các vấn đề tranh chấp nảy
sinh giữa các chủ thể tham gia vào quan hệ việc làm để duy trì sự ổn định đối với quan
hệ pháp luật này.


Ở cấp địa phương, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương lập chương trình và
quỹ giải quyết việc làm của địa phương trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định.
1.2.2.2. Trách nhiệm của người sử dụng lao động trong lĩnh vực việc làm, giải quyết
việc làm
Người sử dụng lao động là chủ thể góp phần tạo nên việc làm cho thị trường lao động
nói riêng và xã hội nói chung, do đó pháp luật có quy định cụ thể về trách nhiệm của
người sử dụng lao động trong việc tạo điều kiện làm việc cũng như tạo việc làm
(khoản 3 điều 8 Luật Việc làm năm 2013). Bên cạnh đó, người sử dụng lao động có
trách nhiệm tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề và sử dụng
lao động theo phương án đã được phê duyệt, sử dụng nguồn kinh phí đúng đối tượng,
đúng mục đích và thực hiện báo cáo kết quả tổ chức đào tạo cho cơ quan nhà nước có
thẩm quyền sau khi kết thúc khóa đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.
Mặt khác, người sử dụng lao động có quyền trực tiếp hoặc thông qua các phiên giao
dịch việc làm do tổ chức dịch vụ việc làm tổ chức để tuyển chọn người lao động theo
nhu cầu tuyển dụng.
Về cơ bản, trong lĩnh vực việc làm và giải quyết việc làm, NSDLĐ có trách nhiệm khá
toàn diện trong cả một chu trình từ khi tuyển dụng NLĐ đến trong cả quá trình sử
dụng lao động, thậm chí cả khi chấm dứt quan hệ lao động.
Một mặt, trách nhiệm của NSDLĐ khi tuyển dụng, bố trí, sắp xếp lao động cần phải
đảm bảo tính hợp pháp và tính lâu dài của việc làm. Bởi vì, như đã đề cập, một hoạt
động lao động (một công việc) chỉ được coi là việc làm khi nó là công việc không bị
pháp luật cấm. Đảm bảo tính hợp pháp của công việc là trách nhiệm chung của các bên
quan hệ lao động nhưng trước tiên thuộc về NSDLĐ vì chính họ là người tạo ra việc
làm và phát sinh nhu cầu tuyển dụng lao động để thực hiện việc làm nên họ phải có
nghĩa vụ biết rõ về tính hợp pháp của việc làm. Ngoài ra, khi giao kết HĐLĐ với
NLĐ, NSDLĐ phải căn cứ vào tính chất công việc (chứ không phải do ý chỉ chủ quan)
mà quyết định loại hợp đồng được giao kết. Chẳng hạn, đối với công việc phải thực
hiện thường xuyên, lâu dài nên hai bên không xác định được thời hạn, thời điểm chấm
dứt hợp đồng thì khi đó phải ký kết hợp đồng không xác định thời hạn (Kh. 1 Đ. 22
BLLĐ). Đối với NLĐ, khi làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn họ sẽ có
nhiều lợi ích hơn so với các loại hợp đồng khác, một mặt sẽ có công việc thường


xuyên, ổn định; mặt khác khi họ muốn đơn phương chấm dứt hợp đồng vì một lý do
nào đó thì chỉ cần báo trước với NSDLĐ mà không cần phải có căn cứ hợp pháp (Kh.
3 Đ. 37 BLLĐ).
Mặt khác, trong quá trình sử dụng lao động, NSDLĐ có trách nhiệm trong việc thực
hiện đúng và đầy đủ các cam kết trong thỏa ước lao động tập thể và trong HĐLĐ với
NLĐ. Theo đó, NSDLĐ phải bố trí đúng công việc, địa điểm làm việc và các điều kiện
làm việc như đã thỏa thuận. Trường hợp phải điều chuyển NLĐ làm công việc khác so
với HĐLĐ, NSDLĐ phải đảm bảo các điều kiện như lý do điều chuyển, thời gian điều
chuyển, tiền lương trong thời gian điều chuyển như pháp luật đã quy định (Đ. 31
BLLĐ). Điều này là do việc điều chuyển sang làm công việc khác so với HĐLĐ
thường ảnh hưởng đến tính ổn định của việc làm và quyền lợi của NLĐ. Pháp luật đã
cho phép NSDLĐ được điều chuyển NLĐ (nghĩa là đơn phương thay đổi việc làm so
với các cam kết trước đó) để thích ứng kịp thời với sự biến động của sản xuất kinh
doanh trong nền kinh tế thị trường, thì NSDLĐ cũng phải đảm bảo ở mức độ nhất định
quyền lợi cho NLĐ (Đ. 31 BLLĐ). Thực hiện quy định này cũng là để đảm bảo sự ổn
định của việc làm, tránh tình trạng NLĐ bị chuyển việc bất hợp pháp.
Ngoài ra, NSDLĐ còn có trách nhiệm trong việc chấm dứt HĐLĐ theo đúng quy định
pháp luật. Đây là trách nhiệm đặc biệt quan trọng của NSDLĐ trong việc đảm bảo việc
làm cho NLĐ, bởi chấm dứt HĐLĐ đồng nghĩa với việc không còn việc làm. Do vậy,
để đảm bảo sự ổn định của việc làm, đảm bảo quyền lợi của NLĐ trong trường hợp
mất việc làm do chấm dứt hợp đồng, pháp luật quy định khá chặt chẽ các điều kiện để
NSDLĐ có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng, thể hiện ở các quy định về căn cứ
chấm dứt, thủ tục chấm dứt, những trường hợp NSDLĐ không được chấm dứt hợp
đồng dù có đầy đủ căn cứ hoặc làm đúng thủ tục (Đ. 36, 38, 39 BLLĐ). Điều này
nhằm hạn chế sự chấm dứt việc làm do NSDLĐ chủ động, hoặc để bảo vệ NLĐ trước
sự chấm dứt việc làm đột ngột, bất ngờ, để họ có thể có kế hoạch dự liệu cho cuộc
sống của mình trước khi việc làm bị chấm dứt. Khi bắt buộc phải mất việc làm do hợp
đồng lao động bị NSDLĐ đơn phương chấm dứt (hợp pháp), NLĐ phải được NSDLĐ
đảm bảo những quyền lợi nhất định. Đó là khoản trợ cấp thôi việc nhằm bù đắp một
phần mất mát do mất việc làm (Đ. 48 BLLĐ). Trường hợp NSDLĐ đơn phương chấm
dứt HĐLĐ trái pháp luật, nghĩa là làm cho NLĐ bị mất việc làm một cách bất hợp


pháp, ngoài việc phải khôi phục việc làm cho NLĐ thông qua việc nhận NLĐ trở lại
làm việc, NSDLĐ còn phải bồi thường một khoản nhất định (Đ. 42 BLLĐ).
Đặc biệt, trong các trường hợp phải chấm dứt việc làm của NLĐ do những lý do thuộc
yếu tố khách quan hoặc phải thay đổi để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh trong
nền kinh tế thị trường đầy biến động (thay đổi cơ cấu, công nghệ, vì lý do kinh tế hoặc
sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp…), NSDLĐ cũng phải đáp ứng các điều
kiện nhất định (xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động, trao đổi với tổ
chức đại diện lao động tại cơ sở, thông báo trước cho cơ quan quản lý nhà nước về lao
động), đồng thời phải trả khoản trợ cấp mất việc làm khi NLĐ đủ điều kiện (Đ. 44, 45,
46, 49 BLLĐ). Điều này cũng nhằm mục đích hạn chế sự chấm dứt việc làm một cách
tùy tiện từ phía NSDLĐ.
1.2.2.3 Trách nhiệm của người lao động và các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác
trong lĩnh vực việc làm và giải quyết việc làm
Song song với những nghĩa vụ mà người sử dụng lao động phải thực hiện nhằm đảm
bảo quyền lợi của người lao động, người lao động cũng đồng thời phải có trách nhiệm
trong việc thực hiện các nghĩa vụ của mình đối với người sử dụng lao động trên cơ sở
hợp đồng lao động được điều chỉnh bởi pháp luật lao động. Cụ thể, trong các nội dung
tại Bộ Luật Lao động năm 2012 về nghĩa vụ của người lao động khi đang làm việc,
đang thực hiện các nội dung của hợp đồng lao động như: Thực hiện hợp đồng lao
động, thỏa ước lao động tập thể; chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động, tuân
theo sự điều hành hợp pháp của người sử dụng lao động; thực hiện các quy định của
pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế” (khoản 2 Điều 5 Bộ Luật
Lao động năm 2012). Ngoài ra, Khoản 2 Đ. 8 Luật Việc làm cũng xác định trách
nhiệm của cá nhân trong việc chủ động tìm kiếm việc làm và tham gia tạo việc làm.
Họ có thể liên hệ trực tiếp với NSDLĐ hoặc thông qua tổ chức dịch vụ việc làm để tìm
việc làm theo nguyện vọng, khả năng, trình độ nghề nghiệp và sức khỏe của mình (Đ.
10 BLLĐ).
Ngoài Nhà nước, NSDLĐ và NLĐ, các cơ quan, tổ chức khác cũng có trách nhiệm
nhất định về việc làm. Khoản 1 Điều 8 Luật Việc làm xác định: Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách
nhiệm tuyên truyền, vận động cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị, tổ chức và cá nhân tạo
việc làm cho NLĐ. Ngoài ra các tổ chức này còn tham gia với cơ quan nhà nước trong


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×