Tải bản đầy đủ

Thủ tục thi hành các bản án kinh doanh, thương mại từ thực tiễn tỉnh nam định

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

THỦ TỤC THI HÀNH CÁC BẢN ÁN KINH DOANH
THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN TỈNH NAM ĐỊNH

HOÀNG PHƯƠNG LAN

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
THỦ TỤC THI HÀNH CÁC BẢN ÁN KINH DOANH
THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN TỈNH NAM ĐỊNH


HOÀNG PHƯƠNG LAN

CHUYÊN NGÀNH
MÃ SỐ

: LUẬT KINH TẾ
: 8380107

Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN PHƯƠNG THẢO

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả
nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số
liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung
thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài
chính theo qui định của Viện Đại học Mở Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề
nghị Viện Đại học Mở Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân
thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 21 tháng 12 năm 2018
NGƯỜI CAM ĐOAN

Hoàng Phương Lan


LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo Viện Đại học Mở Hà Nội
đã tận tình dạy dỗ em trong thời gian vừa qua. Em xin chân thành cảm ơn TS. Trần
Phương Thảo đã hướng dẫn tận tình để em hoàn thành luận văn đề tài "Thủ tục thi
hành các bản án kinh doanh, thương mại từ thực tiễn tỉnh Nam Định". Em xin chân
thành cảm ơn bạn bè, đồng nghiệp đã cung cấp số liệu, giúp đỡ em để em có thể
phản ánh chính xác thực tiễn thi hành các bản án kinh doanh, thương mại trên địa
bàn tỉnh Nam Định.

Học viên


Hoàng Phương Lan


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ THỦ TỤC THI HÀNH CÁC
BẢN ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI .......................................................... 8
1.1. Khái niệm, đặc điểm của thủ tục thi hành án kinh doanh, thương mại ... 8
1.1.1. Khái niệm thủ tục thi hành án kinh doanh, thương mại ............................ 8
1.1.2. Đặc điểm của thủ tục thi hành án kinh doanh, thương mại ..................... 13
1.1.3. Ý nghĩa của thủ tục thi hành án kinh doanh, thương mại ....................... 17
1.2. Cơ sở của việc quy định thủ tục thi hành các bản án kinh doanh,
thương mại........................................................................................................ 19
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của việc thi hành các bản án kinh
doanh, thương mại ........................................................................................... 20
Kết luận chương 1 ............................................................................................... 25
Chương 2. QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ
THỦ TỤC THI HÀNH CÁC BẢN ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI ........ 26
2.1. Thủ tục làm đơn yêu cầu thi hành án kinh doanh, thương mại .............. 26
2.2. Thủ tục ra quyết định, thông báo thi hành án kinh doanh, thương
mại .................................................................................................................... 29
2.2.1. Thẩm quyền ra quyết định thi hành án kinh doanh, thương mại ............. 29
2.2.2. Thủ tục thông báo thi hành án kinh doanh, thương mại ......................... 31
2.3. Thủ tục xác minh và áp dụng các biện pháp thi hành án kinh doanh,
thương mại........................................................................................................ 32


2.3.1. Thủ tục xác minh thi hành các bản án kinh doanh, thương mại .............. 32
2.3.2. Thủ tục áp dụng các biện pháp thi hành các bản án kinh doanh,
thương mại ...................................................................................................... 34
2.4. Thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo các bản án kinh doanh, thương
mại .................................................................................................................... 42
2.5. Đánh giá quy định của pháp luật về thủ tục thi hành án bản án kinh
doanh, thương mại ........................................................................................... 45
2.5.1. Những vướng mắc, bất cập trong quy định của pháp luật về thủ tục
THAKDTM .................................................................................................... 45
2.5.2. Thiếu các qui định về phối kết hợp của các cơ quan chức năng trong
công tác THAKDTM ...................................................................................... 50
Kết luận chương 2 ............................................................................................... 53
Chương 3. THỰC TIỄN THI HÀNH CÁC BẢN ÁN KINH DOANH,
THƯƠNG MẠI TẠI TỈNH NAM ĐỊNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG THI HÀNH ÁN KINH
DOANH, THƯƠNG MẠI ................................................................................... 54
3.1. Kết quả, những hạn chế khó khăn khi thi hành án kinh doanh,
thương mại tại tỉnh Nam Định......................................................................... 54
3.1.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện thủ tục thi hành án kinh
doanh, thương mại tại tỉnh Nam Định ............................................................. 54
3.1.2. Những kết quả đạt được ........................................................................ 57
3.1.3 Những hạn chế, khó khăn của thi hành các vụ án kinh doanh, thương
mại ở tỉnh Nam Định ...................................................................................... 73
3.1.4. Nguyên nhân của hạn chế, vướng mắc trong thi hành các vụ án kinh
doanh, thương mại ở tỉnh Nam Định ............................................................... 80
3.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành án kinh doanh, thương mại
tại tỉnh Nam Định ............................................................................................. 83


3.2.1 Giải pháp hoàn thiện các qui định pháp luật về thủ tục thi hành các vụ
án kinh doanh, thương mại .............................................................................. 83
3.2.2. Những giải pháp bảo đảm thực hiện quy định của pháp luật về thủ tục
thi hành án kinh doanh, thương mại ................................................................ 86
Kết luận chương 3 ............................................................................................... 92
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 93
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 95


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHV

Chấp hành viên

2. CQTHA

Cơ quan thi hành án

3. CQTHADS

Cơ quan thi hành án dân sự

4. TAND

Tòa án nhân dân

5. THA

Thi hành án

6. THADS

Thi hành án dân sự

7. VKSND

Viện Kiểm sát nhân dân

8. THAKDTM

Thi hành án kinh doanh thương mại

9.BA

Bản án

10 TNHH

Trách nhiêm hữu hạn


DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1. Kết quả thi hành án dân sự tính bằng việc .............................................. 59
Bảng 2.2. Kết quả thi hành án KDTM tính bằng việc............................................. 60
Bảng 2.3. Kết quả thi hành án dân sự tính bằng tiền .............................................. 62
Bảng 2.4. Kết quả thi hành án KDTM tính bằng tiền ............................................. 63


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, khi nền kinh tế nước ta bước vào giai đoạn hội nhập quốc tế, các
tranh chấp về kinh doanh, thương mại đang diễn ra với chiều hướng gia tăng, nội
dung tranh chấp đa dạng, phức tạp. Chính vì vậy nhu cầu giải quyết tranh chấp
trong lĩnh vực này cần nhanh chóng và kịp thờisẽ tránh được tình trạng nợ xấu ngày
càng gia tăng và tác động tiêu cực đến việc phát triển trong nền kinh tế, ảnh hưởng
trực tiếp đến tính an toàn, hiệu quả kinh doanh của chính các tổ chức tín dụng.Mặc
dù, Nhà nước luôn khuyến khích các chủ thể có mâu thuẫn tự giải quyết với nhau
nếu không giải quyết được có thể thông qua các thể chế khác nhau như trọng tài
thương mại và con đường cuối cùng với là Tòa án.Hiệu quả của việc giải quyết các
tranh chấp kinh doanh, thương mại (KDTM) bằng con đường Trọng tài thương mại
hay Tòa án là các Quyết định, Bản án KDTM phải được thi hành để đảm bảo quyền
lợi tối đa cho các bên. Chính vì lẽ đó việc Thi hành các Bản án (BA) KDTM có ý
nghĩa vô cùng to lớn, nó thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và đảm bảo quyền
lợi của các bên. Để thi hành tốt công tác thi hành các bản án KDTM thì cần phải có
các qui định pháp luật đảm bảo các BA KDTM được thi hành một các triệt để tránh
tình trạng kéo dài.
Những năm gần đây, cả nước số vụ việc THA KDTM ngày càng nhiều, số
tiền phải thi hành chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số tiền thi hành án dân sự (THADS).
Việc tổ chức thi hành loại án này gặp rất nhiều khó khăn phức tạp, như: người phải
thi hành án hầu hết đều liên quan đến doanh nghiệp, tài sản phải xử lý cũng hết sức
đa dạng, phong phú, mang tính đặc thù, như: nhà xưởng, thiết bị máy móc, nguyên
vật liệu, đất đai… Để thi hành tốt loại án này cần có các qui định pháp luật rành
mạch, thuận lợi để công tác thi hành án luôn đạt hiệu quả cao. Chính vì lẽ đó hiện
nay Luật thi hành án dân sự (THADS) năm 2008 ra đời quy định đầy đủ, chi tiết và
khoa học hơn các vấn đề về THADS, vì vậy đã điều chỉnh hiệu quả hơn các quan hệ
phát sinh trong THADS và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội hiện

1


nay. Tuy nhiên, sau hơn sáu năm triển khai thực hiện, Luật THADS cũng đã bộc lộ
những bất cập và đến năm 2014 Luật THADS đã được sửa đổi, bổ sung, đặt ra
nhiều vấn đề cần được nghiên cứu, làm rõ thêm, Luật THADS trong đó đã có quy
định về công tác thi hành án kinh doanh, thương mại. THAKDTM là một hình thức
cụ thể của thi hành án dân sự, mang đầy đủ những đặc điểm của thi hành án dân sự.
Tuy nhiên, thi hành án kinh doanh, thương mại cũng có một số đặc điểm riêng để
nhận định như chủ thể của thi hành án chủ yếu là các doanh nghiệp, tranh chấp
trong các vụ án kinh doanh, thương mại thường được xác định là giữa các chủ thể
kinh doanh với nhau vì mục đích lợi nhuận (hiện nay thì chủ yếu là tranh chấp giữa
một bên là ngân hàng, tổ chức tín dụng với một bên là doanh nghiệp), trong đó mục
đích lợi nhuận là yếu tố quan trọng nhất để phân biệt vụ án dân sự với vụ án
KDTM, ngoài ra, trong thi hành án kinh doanh, thương mại tài sản đưa ra thi hành
thường có giá trị rất lớn...
Nam Định là một trong những tỉnh mà trong thời gian qua, bên cạnh những
yếu tố tích cực và những kết quả đạt được như thúc đẩy sản xuất, kinh tế phát triển
thì những tác động tiêu cực cũng ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống, xã hội. Các
tranh chấp hoạt động KDTM ngày càng phát sinh nhiều vụ việc phức tạp theo
hướng gia tăng về số lượng. Cùng với việc giải quyết các tranh chấp thì thủ tục thi
hành án đối với các bản án kinh doanh, thương mại cũng gặp nhiều những khó khăn
vì nhiều lý do khác nhau. Công tác thi hành án luôn trong tình trạng án “tồn đọng”
kéo dài, với lượng án lớn và qua các năm đều tăng và chưa có các giải pháp để giải
quyết tình trạng thi hành án dân sự nói chung cũng như công tác thi hành án kinh
doanh, thương mại. Bản chất của các bản án KDTM là rất phức tạp (do số tiền phải
thi hành án là rất lớn), các qui định của pháp luật về thi hành án còn chưa đầy đủ
rờm rà, nhận thức về công tác THAKDTM của các cấp, các ngành còn hạn chế; tại
một số địa phương, các cấp chính quyền chưa thực sự quan tâm chỉ đạo thực hiện
công tác này; tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ, công chức cơ quan thi hành án dân sự
(CQ THADS) được kiện toàn, đào tạo và bồi dưỡng kịp thời, cơ sở vật chất, trang
thiết bị và phương tiện làm việc chưa được đầu tư tương xứng với nhiệm vụ mới

2


được giao.
Để giải quyết dứt điểm tình hình trạng án tồn đọng và nâng cao hiệu quả
công tác thi hành án dân sự nói chung và thi hành các BA KDTM thì cần phải có
các giải pháp, đề xuất từ thực tiễn thi hành các bản án KDTM để tránh tình trạng án
thi hành án KDTM kéo dài.
Xuất phát từ những lý do trên tôi đã lựa chọn đề tài: "Thủ tục thi hành các
bản án kinh doanh, thương mại từ thực tiễn tỉnh Nam Định" làm luận văn thạc sỹ
luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Các đề tài nghiên cứu liên quan đến thi hành án các bản ản kinh doanh,
thương mại luôn thu hút được sự quan tâm không những của các nhà làm kinh tế mà
còn của cả các nhà nghiên cứu khoa học. Thủ tục thi hành án các bản án kinh
doanh, thương mại không phải là một vấn đề mới trong khoa học pháp lý Việt Nam.
Từ trước đến nay có nhiều công trình nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau và ở nhiều
khía cạnh khác nhau, như:
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Triển khai áp dụng Luật Thi hành án
dân sự trong công tác đào tạo nghiệp vụ thi hành án” (2010) do TS.Lê Thu Hà,
Trưởng Khoa Đào tạo Chấp hành viên và các chức danh tư pháp khác làm chủ
nhiệm.
- Giáo trình luật thi hành án dân sự (2018), Trường Đại học Luật Hà Nội,
,Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản, Hà Nội;
- Những điểm mới của Luật Thi hành án dân sự 2008, Trường Đại học Luật
Hà Nội (2008),Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Hà Nội;
- Luật Thi hành án dân sự Việt Nam những vấn đề lí luận và thực tiễn
Nguyễn Công Bình (chủ biên), Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản, Hà Nội;
- Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay (2013) Trần
Mạnh Quân, Luận án tiến sĩ, Hà Nội.

3


- Kê biên xử lý tài sản trong thi hành án kinh doanh thương mại qua thực
tiễn tỉnh Thái Bình (2016) Lê Thanh Tình, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội.
-Pháp luật thi hành án doanh, thương mại thực tiễn trên địa bàn thành phố
Hà Nội(2014) Lê Dương Hưng, Luận văn thạc sĩ, Hà Nội.
- Những vướng mắc từ thực tiễn thi hành Luật Thi hành án dân sự (2010)
Nguyễn Thị Khanh , Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 05, Hà Nội;
- Thi hành án kinh doanh thương mại thực trạng và giải pháp( 2017) Kiều
Nhung, Trang thông tin Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội ngày 17/2/2017.
- Thi hành án kinh doanh, thương mại – Thực trạng và những giải pháp nâng
cao kết quả trong thời gian tới (2018) Nguyễn Thị Nhàn Tạp chí Dân chủ và pháp
luật, số 03, Hà Nội;
Các công trình nghiên cứu trên đã làm rõ một số vấn đề lý luận về thi hành
án dân sự. Tuy nhiên THA KDTM là một phần cụ thể của thi hành án dân sự, là cơ
sở lý luận về thi hành án dân sự; việc phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật về
THA KDTM cũng như thực tiễn thực hiện, chỉ ra nguyên nhân của những bất cập,
hạn chế và đưa ra một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự.
Ngoài những công trình trên, còn có thể kể đến một số các công trình khác
có liên quan đến đề tài cũng đã đề cập đến thủ tục tố tụng giải quyết tranh chấp
thương mại dưới nhiều góc độ với những khía cạnh khác nhau như :
- Sổ tay Chấp hành viên của Nhà xuất bản Nhà xuất bản Tư pháp năm 2012;
Tài liệu tập huấn triển khai các nội dung mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Thi hành án dân sự, các văn bản hướng dẫn thi hành 2015; một số bài viết
đăng trên các tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Luật học, Tạp chí Nhà nước và
pháp luật…
Tuy nhiên, những công trình được nghiên cứu cách đây nhiều năm nên
không tránh khỏi chưa cập nhật được những thay đổi về mặt pháp luật và chưa có
điều kiện để đánh giá đầy đủ, sâu sắc thực trạng pháp luật, thực tiễn giải quyết thi

4


hành các bản án kinh doanh, thương mại trong thời gian gần đây. Đặc biệt từ khi
Luật thi hành án dân sự năm 2008 và Sửa đổi Luật thi hành án dân sự năm 2014 đã
thể hiện một số những bất cập, hạn chế khi áp dụng trong thực tiễn.
Theo tác giả thì, thi hành án kinh doanh, thương mại là một hình thức cụ thể
của thi hành án dân sự, mang đầy đủ những đặc điểm của thi hành án dân sự. Tuy
nhiên, thi hành án kinh doanh, thương mại cũng có một số đặc điểm riêng để nhận
định như chủ thể của thi hành án chủ yếu là các doanh nghiệp, tranh chấp trong các
vụ án kinh doanh, thương mại thường được xác định là giữa các chủ thể kinh doanh
với nhau vì mục đích lợi nhuận (hiện nay thì chủ yếu là tranh chấp giữa một bên là
ngân hàng, tổ chức tín dụng với một bên là doanh nghiệp), trong đó, mục đích lợi
nhuận là yếu tố quan trọng nhất để phân biệt vụ án dân sự với vụ án kinh doanh,
thương mại, ngoài ra, trong thi hành án kinh doanh, thương mại, tài sản đưa ra thi
hành thường có giá trị rất lớn... Bài viết này nêu lên thực trạng việc thi hành án kinh
doanh, thương mại trong giai đoạn hiện nay và nguyên nhân khách quan, nguyên
nhân chủ quan dẫn tới việc thi hành án kinh doanh, thương mại đạt kết quả thấp.
Nội dung bài viết khẳng định, thủ tục Thi hành án dân sự, thủ tục
THAKDTM là một khâu trong hoạt động tư pháp, góp phần quan trọng trong việc
thực thi các Bản án đã có hiệu lực của Tòa án, nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của
pháp luật và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, Nhà nước và
thực tiễn thi hành các bản án KDTM trên địa bàn tỉnh Nam Định từ đó đưa ra các
giải pháp cụ thể.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
- Mục đích nghiên cứu:
Làm rõ những vấn đề lý luận, phân tích đánh giá các quy định của pháp luật
về thủ tục thi hành các bản án kinh doanh, thương mại. Từ kết quả thi hành các BA
KDTM tại tỉnh Nam Định, luận văn đưa ra các giải pháp, kiến nghị bảo đảm thực
hiện thủ tục thi hành các bản án kinh doanh, thương mại trên địa bàn tỉnh Nam Định
và hoàn thiện pháp luật về thủ tục thi hành án các bản án kinh doanh, thương mại.

5


- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được những mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ làm rõ các vấn đề
cơ bản sau đây:
- Giải quyết được một số vấn đề lý luận về thủ tục thi hành án các bản án
kinh doanh, thương mại như: khái niệm kinh doanh, thương mại và đặc biệt là thủ
tục Thi hành các bản án kinh doanh, thương mại...
- Giải quyết được một số quy định của pháp luật về thủ tục thi hành án các
bản án kinh doanh, thương mại, chỉ ra những bất cập trong quy định của pháp luật
làm cơ sở cho việc đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật;
- Khảo sát việc làm rõ thực trạng thi hành các bản án kinh doanh, thương mại
trên địa bàn tỉnh Nam Định, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế, vướng
mắc làm cơ sơ cho việc đưa ra các giải pháp bảo đảm thực hiện tốt thủ tục thi hành
các bản án kinh doanh thương mại trên địa bàn tỉnh Nam Định.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
- Đối tượng nghiên cứu:Đề tài này chủ yếu tập trung vào việc nghiên cứu
làm rõ những vấn đề lý luận; quy định của pháp luật hiện hành về thủ tục thi hành
các bản án kinh doanh, thương mại và thực trạng khi thi hành các bản án kinh
doanh, thương mại trên địa bàn tỉnh Nam Định;
- Phạm vi nghiên cứu:
Về nội dung, luận văn chỉ nghiên cứu quy định của pháp luật về thủ tục thi
hành các bản án kinh doanh, thương mại, không nghiên cứu thủ tục thi hành án đối
với các bản án dân sự, lao động...;
Về không gian và thời gian: Luận văn chỉ nghiên cứu thực trạng thực hiện
thủ tục thi hành các bản án kinh doanh, thương mại trên địa bàn tỉnh Nam định
trong thời gian từ năm 2015 đến 9 tháng năm 2018.

6


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nước về xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ
nghĩa. Đồng thời, sử dụng các phương pháp như: phân tích, tổng hợp, diễn dịch,
quy nạp, so sánh, khảo sát..
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu
Ý nghĩa lí luận: Luận văn góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận về thi
hành án các bản án KDTM nhằm nhận thức rõ được các qui định về thi hành án dân sự,
qui định về kinh doanh, thương mại, qui định về thủ tục thi hành các bản án KDTM
làm phong phú thêm cho hoạt động nghiên cứu khoa học về pháp luật trong THADS.
Ý nghĩa thực tiễn: Dựa trên thực tiễn thi hành các bản án KDTM thấy được
những khó khăn vướng mắc, thực trạng trong quá trình thi hành án KDTM tại tỉnh
Nam Định và đưa ra các đề xuất góp góp vào quá trình hoàn thiện các qui định thi
hành án dân sự trong các bản án KDTM. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể
được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu đối với sinh viên
và những cán bộ làm công tác thực tiễn có liên quan đến việc thi hành án đối với
các bản án kinh doanh, thương mại.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về thủ tục thi hành các bản án kinh doanh,
thương mại.
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về thủ tục thi hành
các bản án kinh doanh, thương mại.
Chương 3: Thực tiễn thi hành án các bản án kinh doanh, thương mại trên địa
bàn tỉnh Nam Định và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của việc thi hành
án kinh doanh, thương mại.
7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ THỦ TỤC THI HÀNH
CÁC BẢN ÁN KINH DOANH, THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm, đặc điểm của thủ tục thi hành án kinh doanh, thương mại
1.1.1. Khái niệm thủ tục thi hành án kinh doanh, thương mại
Để thi hành các BA, QĐ KDTM của Tòa án được nghiêm minh, bảo vệ
quyền lợi của Nhà nước, của công dân thì việc có nhiều quy phạm pháp luật ra đời
điều chỉnh các mối quan hệ nêu trên trong đó có các qui phạm về thi hành án, thủ
tục thi hành án, thi hành án KDTM, thủ tục THAKDTM.
Theo cách hiểu thông thường thì thi hành án là hoạt động của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền được tiến hành theo thủ tục, trình tự được pháp luật quy định,
nhằm thực hiện các bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật.1
Trong khoa học pháp lý, “thi hành án” được hiểu là việc đưa các bản án,
quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế. Bản án, quyết
định của Tòa án là văn bản pháp lý của Tòa án nhân danh Nhà nước tuyên tại phiên
tòa, giải quyết về các vấn đề trong vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao
động, kinh tế, hành chính... Có thể nói, thi hành án được coi là một trong những
hoạt động quan trọng của Nhà nước. Bởi lẽ, thi hành án một mặt bảo đảm việc thực
hiện quyền lực của Nhà nước, mặt khác lại là công cụ hữu hiệu để đảm bảo quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân khi khi bị xâm hại.
Theo Giáo trình Thi hành án dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội có đưa
ra định nghĩa: Thi hành án dân sự là thực hiện bản án, quyết định dân sự của Tòa
án, trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh đã có hiệu lực.2
Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả nghiên cứu thi hành án kinh doanh

1
2

Nganhangphapluat.thukyluat.vn, truy cập ngày 9/10/2018.
Xem thêm: Giáo trình Luật Thi hành án dân sự, NXB Công an nhân dân, Hà Nội 2018,tr 9,10

8


thương mại dưới góc độ là hoạt động thực hiện các bản án, quyết định kinh doanh
thương mại của tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Để tìm hiểu rõ về khái niệm thủ tục thi hành các bản án kinh doanh, thương
mại ta phải hiểu rõ khái niệm về kinh doanh thương mại, hoạt động kinh doanh
thương mại, án kinh doanh thương mại để đưa ra khái niệm rõ nhất về thủ tục thi
hành án kinh doanh, thương mại.
Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì phạm
vi điều chỉnh của Luật chưa có các quy định rõ yếu tố “ kinh doanh, thương mại”
được thể hiện rõ chỉ có quy định tại Điều 36 Luật thi hành án dân sự. Hiện nay
trong tất cả các hội nghị tổng kết công tác thi hành án qua các năm thì công tác thi
hành các bản án kinh doanh, thương mại luôn được đề cao (qua các năm thi hành
các bản án kinh doanh, thương mại ngày càng gia tăng về việc và về tiền) và nắm vị
trí quan trọng trong lĩnh vực thi hành án tính từ giá trị việc và tiền. Do vậy để có
căn cứ thụ lý các bản án, quyết định có yếu tố kinh doanh, thương mại để thi hành
cơ quan Thi hành án dân sự phải dựa vào yếu tố nào?
Mấy năm trở lại đây, do những diễn biến phức tạp của đời sống xã hội nên
các tranh chấp kinh doanh, thương mại cũng ngày càng nhiều và phức tạp hơn. Các
qui định về tranh chấp kinh doanh, thương mại được qui định tại Luật Thương Mại
2005 và Tố tụng dân sự (TTDS) năm 2015 và rất nhiều văn bản pháp luật khác. Tại
Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005 "hoạt động thương mại là hoạt động nhằm
mục đích sinh lợi nhuận, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc
tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác"3. Có thể khái quát
trong hoạt động kinh doanh, thương mại như sau: Tranh chấp trong hoạt động kinh
doanh, thương mại là những mâu thuẫn phát sinh giữa các chủ thể kinh doanh do
không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trong hợp đồng.
Tại Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 qui định về Những tranh chấp
về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án bao gồm:
3

Luật thương mại 2005, NXB Công an nhân dân

9


Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân,
tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận;
Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ
chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận;
Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch
về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty;
Tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa
công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội
đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên
của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập,
hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của
công ty;
Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm
quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật;
Sau đó tại Điều 31 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 cũng qui định Những
yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
bao gồm:
Yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, nghị quyết của Hội
đồng thành viên theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp;
Yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh
chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại;
Yêu cầu bắt giữ tàu bay, tàu biển theo quy định của pháp luật về hàng không
dân dụng Việt Nam, về hàng hải Việt Nam, trừ trường hợp bắt giữ tàu bay, tàu biển
để bảo đảm giải quyết vụ án;
Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản
án, quyết định kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài hoặc không công
nhận bản án kinh doanh, thương mại của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi

10


hành tại Việt Nam;
Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết kinh doanh,
thương mại của Trọng tài nước ngoài;
Các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm
quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật;
Từ các qui định trên của pháp luật cho chúng ta thấy pháp luật điều chỉnh về
tranh chấp KDTM chưa có qui định nào về các bản án KDTM nhưng có thể hiểu tất
cả các bản án, quyết định dân sự mà Luật thi hành án điều chỉnh bao hàm cả bản án
về kinh doanh, thương mại. Do Luật thi hành án dân sự không có các qui định điều
chỉnh trực tiếp và do tính chất tương đồng giữa vụ án và việc dân sự với vụ án và
việc kinh doanh, thương mại nên pháp luật THADS không tách bạch giữa pháp luật
THADS với pháp luật THAKDTM. Những quy định của pháp luật THADS cũng
chính là các quy định của pháp luật THAKDTM. Do đó, không tồn tại một hệ thống
pháp luật THAKDTM chuyên biệt, độc lập so với hệ thống pháp luật thi hành án
dân sự nói chung.
Như vậy Thi hành án kinh doanh, thương mại là hoạt động cụ thể của
THADS do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục do
pháp luật quy định nhằm bảo đảm thi hành phần giá trị tài sản, lợi ích của các bên
trong bản án của Tòa án trong vụ án kinh doanh, thương mại.
Để THA KDTM được thống nhất khách quan, công bằng bình đẳng trong
các bên thì việc THA KDTM phải được tiến hành theo một thủ tục nhất định. Theo
từ điển Tiếng Việt thì “thủ tục” là những việc cụ thể phải làm theo một trật tự quy
định để tiến hành một công việc có tính chất chính thức, là những quy định, quy ước
về trình tự, cách thức tiến hành để làm một việc gì đó.4Trong thủ tục thi hành án
KDTM chính là trình tự, cách thức thực hiện bản án kinh doanh thương mại.
Dựa vào khái niệm Thi hành án kinh doanh, thương mại ta sẽ làm rõ khái

4

Từ điển Tiếng việt – Sơn hà

11


niệm thủ tục thi hành án KDTM, những vấn đề chung về trình tự, thủ tục thi hành
án KDTM, như trách nhiệm chuyển giao và giải thích bản án KDTM của toà án,
thời hiệu yêu cầu thi hành án KDTM, phí thi hành án KDTM, thẩm quyền ra quyết
định thi hành án KDTM, thẩm quyền, điều kiện, thủ tục uỷ thác, hoãn, tạm đình chỉ,
đình chỉ, trả đơn yêu cầu thi hành án KDTM, thông báo về thi hành án KDTM ... đã
có những qui định khá cụ thể phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của
đất nước, với tiến trình cải cách tư pháp và cải cách hành chính trong giai đoạn hiện
nay. Liên quan đến vấn đề này, hiện nay đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu và
đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về thủ tục THA KDTM. Cụ thể:
Quan điểm 1: Thủ tục Thi hành án KDTM không phải một thủ tục tố tụng
dân sự mà là hoạt động mang tính chất chấp hành và điều hành.Tại khoản 3 Điều 36
Luật Thi hành án dân sự năm 2008 có qui định “Trong thời hạn 02 ngày làm việc,
kể từ ngày ra quyết định thi hành án, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải
phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành quyết định thi hành án đó”. Thủ trưởng
cơ quan thi hành án căn cứ vào thời gian Luật định từ khi nhận được Bản án KDTM
của Toà án tiến hành ra Quyết định thi hành án KDTM sau đó phân công Chấp hành
viên tổ chức thi hành. Hình thức phân công có thể bằng nhiều hình thức như ký
nhận sổ giao nhận hồ sơ thi hành án, giữa Thủ trưởng cơ quan thi hành án với Chấp
hành viên hoặc người được Thủ trưởng cơ quan ủy quyền, với Chấp hành viên được
phân công trực tiếp tổ chức thi hành hoặc các hình thức khác. Trong quá trình kiểm
sát các hoạt động thực thi pháp luật của Chấp hành viên, Cơ quan thi hành án, Viện
kiểm sát cho rằng việc phân công Chấp hành viên tổ chức thi hành vụ việc thi hành
án, theo khoản 3 Điều 36 phải được thể hiện bằng một Quyết định của Thủ trưởng
cơ quan thi hành án. Thiết nghĩ đây là một trong rất nhiều các tác nghiệp của Cơ
quan thi hành án, Chấp hành viên cơ quan thi hành án, việc phân công Chấp hành
viên tổ chức thi hành vụ việc thi hành án không nhất thiết phải ban hành bằng một
Quyết định; Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản hướng dẫn nghiệp
vụ về thi hành án dân sự cũng không có Điều khoản nào qui định việc phân công
Chấp hành viên tổ chức thi hành vụ việc thi hành án, Thủ trưởng Cơ quan thi hành

12


án phải ban hành bằng một Quyết định.
Quan điểm 2: Có quan điểm xem thủ tục thi hành án KDTM là một giai
đoạn tố tụng, đây là bước tiếp theo của quá trình xét xử không thể thiếu trong quá
trình bảo vệ quyền lợi của đương sự. Quan điểm cho rằng thi hành án là giai đoạn
kết thúc của tố tụng mà trong đó cơ quan thi hành án đưa các bản án, quyết định đã
có hiệu lực thi hành ra thi hành nhằm bảo vệ quyền lợi của cá nhân, cơ quan, tổ
chức.
Dựa các quan điểm trên tác giả đồng nhất với quan điểm cho rằng thủ tục thi
hành án KDTM là một thủ tục tố tụng tư pháp. Do đó thủ tục THA KDTM sẽ là
trình tự các công việc bắt buộc mà cơ quan tổ chức có thẩm quyền THA phải thực
hiện để thi hành bản án, quyết định của Tòa án theo quy định của pháp luật trong
việc giải quyết những mâu thuẫn phát sinh giữa các chủ thể kinh doanh do không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trong hợp đồng nhằm bảo đảm lợi
ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp cả các cơ quan, tổ chức và cá nhân.Từ
sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm thủ tục thi hành án kinh doanh thương mại
như sau:
Thủ tục thi hành án KDTM là trình tự các công việc có tính chất bắt buộcđể
thi hành các BA về tài sản trong bản án về KDTM và quyết định khác do Cơ quan,
tổ chức thi hành án dân sự thực hiện theo qui định pháp luật.
1.1.2. Đặc điểm của thủ tục thi hành án kinh doanh, thương mại

Thủ tục THAKDTM là một hình thức cụ thể của thủ tục THADS và mang
đầy đủ những đặc điểm của thủ tục THADS. Tuy nhiên, thủ tục thi hành án kinh
doanh, thương mại cũng có một số đặc điểm riêng để nhận định như :
Thứ nhất, thủ tục thi hành án KDTM là cách thức, trình tự tổ chức thi hành
BA KDTM có hiệu lực thi hành được pháp luật quy định, bao gồm nhiều thủ tục
khác nhau. Thủ tục THA KDTM do pháp luật quy định, Chấp hành viên (CHV)
cũng không được đặt ra trình tự, thủ tục và không tùy tiện trong quá trình tổ chức

13


thực hiện THA mà phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Quá trình THA
KDTM thực hiện thông qua nhiều thủ tục và theo một trình tự nhất định. Thủ tục
THA KDTM bao gồm nhiều bước để đưa một bản án, quyết định của Tòa án ra thi
hành. Đầu tiên là thủ tục cấp, chuyển giao bản án, quyết định KDTM của Tòa án
cho đương sự và cơ quan THADS để thi hành; cùng với đó là thủ tục gửi và giải
thích bản án, quyết định KDTM của Tòa án nhằm mục đích để các cơ quan thực thi
pháp luật có cách hiểu thống nhất đối với các BA KDTM đảm bảo cho việc
CQTHA thực thi đúng bản chất của sự việc, đúng pháp luật, đúng phán quyết của
Tòa án và các cơ quan khác. Tiếp theo đến thủ tục yêu cầu THA của đương sự, nộp
đơn yêu cầu THA, thủ tục nhận hoặc từ chối nhận đơn của CQTHADS. Và bước
quan trọng là thủ tục ra quyết định THAKDTM của thủ trưởng CQTHADS, trong
quá trình THA KDTM có thể phát sinh các thủ tục như hoãn, tạm đình chỉ, đình chỉ
THA, trả lại đơn yêu cầu THA, xác minhTHA… cho đến chuyển giao quyền và
nghĩa vụ THA, nộp phí thi hành án, cưỡng chế thi hành án… rồi cuối cùng kết thúc
THA KDTM. Trong quá trình THADS, ở mỗi giai đoạn thực hiện từng thủ tục là
khác nhau và các thủ tục này liên kết toàn bộ quá trình thi hành án dân sự. Tuy
nhiên, trong quá trình thi hành án, có những thủ tục không phải thực hiện hoặc có
những thủ tục phải thực hiện ngay ở giai đoạn đầu, giữa hoặc sau khi đã thi hành
xong việc thi hành án, ví dụ như thủ tục giải quyết khiếu nại hoặc thực hiện kháng
nghị của Viện kiểm sát.
Thứ hai, thủ tục thi hành án KDTM là thủ tục nhằm thi hành phán quyết của
các cơ quan như Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh về các vụ
việc KDTM. Thủ tục Thi hành án KDTM gắn liền với hoạt động xét xử, xét xử
chính là tiền đề của thi hành án KDTM. Thủ tục thi hành án KDTM lệ thuộc và chịu
sự chi phối của hoạt động xét xử, bởi lẽ thi hành án được tiến hành dựa trên BA
KDTM đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh
tranh. Nói cách khác, căn cứ pháp lý để thi hành án KDTM là bản án của các cơ
quan nói trên đã có hiệu lực pháp luật. Ngược lại, thủ tục THA KDTM tiếp nối với
xét xử làm cho BA được thực hiện trên thực tế. Sau khi có bản án của tòa án, trọng

14


tài, hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh trên cơ sở của bản án do Tòa án và các cơ
quan này chuyển giao hoặc đơn yêu cầu THA KDTM của đương sự, CQTHADS ra
quyết định thi hành KDTM và thụ lý, tổ chức việc thực hiện thi hành án. Thủ tục
THA KDTM là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, có mối quan hệ mật thiết, đan
xen với các giai đoạn tố tụng trước đó (ví dụ: việc thi hành các quyết định khẩn cấp
tạm thời của Toà án; trong quá trình thi hành án KDTM, Chánh án Toà án, Viện
trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền yêu cầu CQTHA hoãn việc THAKDTM, quyết
định tạm đình chỉ THA KDTM để xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm
hoặc tái thẩm...). Tuy nhiên, THA KDTM lại có tính độc lập tương đối thể hiện ở
chỗ hoạt động này được bắt đầu bằng quyết định của Thủ trưởng CQTHADS đối
với THA KDTM. Những quyết định này mang tính bắt buộc chấp hành đối với tất
cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc THA KDTM. Các cơ
quan, tổ chức, công dân, trong phạm vi trách nhiệm của mình có nghĩa vụ chấp
hành và phối hợp thực hiện để thi hành án KDTM đạt hiệu quả. Nhằm bảo đảm hiệu
lực thi hành của các bản án, quyết định của các cơ quan Tòa án, Trọng tài, Hội đồng
xử lý vụ việc cạnh tranh, hiện nay, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan này được
quy định tại các Điều từ Điều 465 đến Điều 467 Bộ Luật TTDS năm 2015, Điều 66,
67 Luật trọng tài thương mại, từ Điều 134 đến Điều 135 NĐ số 116/NĐ-CP quy
định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh và các Điều 26, 27, 28, 48, 49
và 179 Luật THADS đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Với ý nghĩa có mối quan hệ hữu cơ, mật thiết với giai đoạn khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử - thi hành án là bước tiếp theo thi hành phán quyết của các cơ quan
như Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh. Cụ thể, khoản 2 Điều
121 Luật cạnh tranh năm 2004 quy định“Trường hợp quyết định xử lý vụ việc
cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành thì bên được thi hành
có quyền yêu cầu cơ quan THADS tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương nơi có
trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải THA KDTM tổ chức thực hiện
quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh”. Đối với việc thi hành quyết định của Trọng tài
thương mại cũng được quy định tại Điều 66, 67 Luật Trọng tài thương mại năm

15


2010: “Phán quyết của trọng tài được thi hành theo quy định của Pháp luật
về THADS”. Như vậy, nếu mục đích của thi hành án không đạt được thì toàn
bộ hoạt động của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử trước đó cũng trở nên vô
nghĩa. Nếu như một bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật không được thi hành
hoặc thi hành không nghiêm thì trật tự kỷ cương xã hội bị vi phạm, quyền lực Nhà
nước bị xem thường. Chính vì vậy, việc bảo đảm hiệu lực của các bản án, quyết
định của Tòa án là một yêu cầu khách quan trong hoạt động quản lý Nhà nước.
Thứ ba, thủ tục thi hành án KDTM do cơ quan, tổ chức thi hành án thực
hiện theo qui định của pháp luật Việt Nam về THADS. Mặc dù có sự lệ thuộc và
chịu sự chi phối vào giai đoạn xét xử, nhưng THA KDTM cũng mang tính độc lập,
đây là đặc trưng của hoạt động tư pháp. Ở giai đoạn THA KDTM, tính chất tố tụng
đã chấm dứt, bởi vì khi BA KDTM của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì có nghĩa
là chức năng xét xử đã hoàn thành, có tội hay vô tội, đúng hay sai đã được phân xử
rõ ràng. Để đảm bảo hiệu quả của THA KDTM thì cơ quan thi hành án (CQTHA)
và CHV phải thực hiện thủ tục THA KDTM một cách độc lập và không có cá nhân,
cơ quan, tổ chức nào được can thiệp trái pháp luật vào quá trình thi hành án KDTM.
Cơ quan, tổ chức THA phải tuân thủ đúng thủ tục THA KDTM trong quá trình tổ
chức việc THAKDTM. Bên cạnh đó, cơ sở của hoạt động thi hành án là các BA
KDTM có hiệu lực thi hành; các cơ quan tham gia vào quá trình THA KDTM chủ
yếu là cơ quan tư pháp. Tuy nhiên, các BA KDTM do các cơ quan như Tòa án,
Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh sau khi được tuyên sẽ được
CQTHADS thi hành. Các nước trên thế giới có các mô hình khác nhau về cơ quan,
tổ chức thi hành án. Ở Việt Nam, ngoài cơ quan thi hành án dân sự của Nhà nước
còn có tổ chức Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh và hiện
nay nhân rộng ra phạm vi cả nước theo nghị quyết số 107 ngày 26/11/2015, thì một
số thủ tục THA KDTM do văn phòng thừa phát lại thực hiện như: Thực hiện việc
tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc CQTHADS; lập vi bằng theo yêu cầu của cá
nhân, cơ quan, tổ chức; xác minh điều kiện THA KDTM theo yêu cầu của đương
sự; trực tiếp tổ chức THA các BA KDTM của Tòa án theo yêu cầu của đương sự.

16


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×