Tải bản đầy đủ

Pháp luật về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực thông tin và truyền thông

PHẠM THỊ THU HUYỀN

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ NGÀNH, NGHỀ ĐẦU TƯ KINH DOANH CÓ ĐIỀU
KIỆN TRONG LĨNH VỰC THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

PHẠM THỊ THU HUYỀN

2016 - 2018

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI


LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ NGÀNH NGHỀ ĐẦU TƯ KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN
TRONG LĨNH VỰC THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG

PHẠM THỊ THU HUYỀN

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. VÕ THANH LÂM

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả
nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy
định.
Tác giả luận văn

Phạm Thị Thu Huyền


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt bài luận văn nghiên cứu với đề tài: “Bảo vệ quyền sở hữu công
nghiệp đối với nhãn hiệu trước hành vi cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sử
dụng tên miền quốc gia”cùng với sự nỗ lực cố gắng của bản thân, em xin bày tỏ lời cảm
ơn sâu sắc đến TS. Võ Thanh Lâm, Vụ trưởng Vụ Pháp chế - Bộ Thông tin và Truyền
thông đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp.
Đồng thời, Em cũng xin cảm ơn các Thầy cô giáo Khoa Đào tạo Sau Đại học Viện Đại học mở Hà Nội, các Thầy cô giáo phụ trách giảng dạy chuyên ngành Luật Kinh
tế, Viện Đại học mở Hà Nội, Trường Đại học Luật Hà Nội, các Anh chị đồng nghiệp, gia
đình và các bạn đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo, đóng góp ý kiến quý báu, tạo điều kiện thuận
lợi cho em hoàn thành đề tài luận văn này.
Do thời gian có hạn và kiến thức, kinh nghiệm còn nhiều thiếu sót, hạn chế, tác giả
mong muốn các Quý thầy, cô giáo, nhà khoa học, chuyên gia và độc giả quan tâm tham
gia đóng góp để luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 16 tháng 10 năm 2018


Tác giả luận văn

Phạm Thị Thu Huyền


MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU

1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ KINH

8

DOANH VÀ NGÀNH, NGHỀ ĐẦU TƯ KINH DOANH CÓ ĐIỀU
KIỆN
1.1. Một số vấn đề lý luận về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều

7

kiện trong lĩnh vực thông tin và truyền thông
1.1.1. Ngành, nghề đầu tư kinh doanh

7

1.1.2. Điều kiện kinh doanh

7

1.1.3. Ngành, nghề đầu tư có điều kiện

8

1.1.4. Đặc điểm của ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện

10

1.1.5. Đặc điểm của ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong 16
lĩnh vực thông tin và truyền thông
1.2. Pháp luật về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong 20
lĩnh vực thông tin và truyền thông
1.2.1. Khái niệm pháp luật về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện 20
đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực thông tin và truyền thông
1.2.2. Nội dung cơ bản của pháp luật về ngành, nghề đầu tư kinh doanh 22
có điều kiện trong lĩnh vưc thông tin và truyền thông
1.3. Kinh nghiệm quốc tế về điều kiện kinh doanh đối với ngành, nghề 23
đầu tư kinh doanh có điều kiện
1.3.1. Pháp luật về điều kiện kinh doanh đối với ngành, nghề đầu tư kinh 23
doanh có điều kiện ở Mỹ
1.3.2. Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh 26
doanh ở Singapore
1.3.3. Các quy định ở Trung Quốc

28


1.3.4. Bài học kinh nghiệm tại Việt Nam

29

Chương 2: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT 32
TRONG LĨNH VỰC THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG
2.1. Rà soát các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong 32
lĩnh vực thông tin và truyền thông
2.2. Nghiên cứu các quy định về ngành nghề đầu tư kinh doanh có 34
điều kiện trong lĩnh vực thông tin và truyền thông
2.2.1. Lĩnh vực bưu chính

35

2.2.2. Lĩnh vực viễn thông

36

2.2.3. Lĩnh vực viễn thông, tần số vô tuyến điện

38

2.2.4. Lĩnh vực Phát thanh truyền hình và thông tin điện tử

39

2.2.5. Lĩnh vực Internet

41

2.2.6. Lĩnh vực an toàn thông tin

42

2.2.7. Lĩnh vực chữ ký số

43

2.2.8. Lĩnh vực xuất bản, In và Phát hành

45

2.2.9. Lĩnh vực công nghệ thông tin

48

2.3. Nghiên cứu cam kết về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều 49
kiện trong lĩnh vực thông tin và truyền thông theo cam kết WTO
2.3.1. Dịch vụ viễn thông

49

2.3.2. Lĩnh vực báo chí và Xuất bản, In và Phát hành

51

2.4. Đánh giá sự phù hợp của pháp luật trong lĩnh vực thông tin và 51
truyền thông về điều kiện đầu tư kinh theo theo quy định của Luật
đầu tư
2.4.1. Kết quả đạt được

51

2.4.2. Khó khăn, vướng mắc

53

Chương III: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH 56
PHÁP LUẬT VỀ NGÀNH, NGHỀ ĐẦU TƯ KINH DOANH CÓ


ĐIỀU KIỆN TRONG LĨNH VỰC THÔNG TIN VÀ TRUYỀN
THÔNG
3.1. Mục tiêu và những yêu cầu cơ bản

57

3.2. Một số giải pháp hoàn thiện các quy định về ngành, nghề đầu tư 58
kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực thông tin và truyền thông
3.2.1. Tiếp tục rà soát, đánh giá tổng thể và tiếp thu ý kiến phản biện của 58
xã hội đối với các văn bản quy phạm pháp luật có nội dung quy định có
liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực thông tin và
truyền thông
3.2.2. Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các quy định theo hướng đối với các 59
quy định liên quan đến ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện mà
chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp
được thuận lợi hơn trong quá trình triển khai các hoạt động đầu tư, kinh
doanh.
3.2.3. Đề xuất bổ sung ngành nghề kinh doanh chưa được quy định tại 60
danh mục ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo Phụ lục 4 Luật
đầu tư mà thực tế quản lý cần thiết phải quy định điều kiện đối với ngành
nghề này.
3.2.4. Đề xuất sửa đổi tên ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện tại 60
Phụ lục 4 Luật đầu tư cho thống nhất với các quy định về tên ngành điều
kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực thông tin và truyền thông
3.2.5. Tiếp tục đề xuất cắt giảm các quy định về điều kiện đầu tư kinh 61
doanh và các thủ tục hành chính theo các Nghị quyết của Chính phủ nhằm
cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt
Nam.
3.2.6. Tiếp tục nghiên cứu, đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy 62
định của pháp luật chuyên ngành liên quan đến điều kiện đầu tư kinh


doanh cho phù hợp với quy định của Luật đầu tư để đảm bảo các quy định
của pháp luật chuyên ngành thông tin và truyền thông theo thẩm quyền
nhằm hoàn thiện, đồng bộ thống nhất với hệ thống pháp luật nói chung
và pháp luật về đầu tư, kinh doanh nói riêng.
3.2.7. Tiếp tục đề xuất Chính phủ trình Quốc hội sửa đổi các luật (đầu tư, 63
thương mại, doanh nghiệp) nhằm thống nhất các quy định của pháp luật
về điều kiện đầu tư, kinh doanh đối với ngành, nghề đầu tư, kinh doanh
có điều kiện
3.2.8. Tiếp tục rà soát, đánh giá toàn bộ các cam kết trong lĩnh vực thông 63
tin và truyền thông có liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh điều
chỉnh hệ thống pháp luật ngành thông tin và truyền thông nhằm thực hiện
các cam kết về đầu tư và dịch vụ đồng thời tạo cơ sở pháp lý cho việc tiếp
tục đàm phán các vấn đề này trong khuôn khổ WTO
3.2.9. Hoàn thiện các chế định xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi 65
vi phạm liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh
KẾT LUẬN

69

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

70

PHỤ LỤC


LỜI NÓI ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay, quyền tự do kinh doanh là một bộ
phận hợp thành trong hệ thống các quyền tự do của con người. Một trong những dấu
ấn của công cuộc cải cách môi trường kinh doanh trong những năm gần đây là việc
Quốc hội thông qua Luật Đầu tư năm 2014 thay thế cho Luật Đầu tư năm 2005. Luật
Đầu tư năm 2014 đã cụ thể hóa chủ trương về quyền tự do kinh doanh của người dân.
Giá trị to lớn của quyền tự do kinh doanh thể hiện ở chỗ nó là tự do trong hoạt động
kinh tế, tức là khả năng mà cá nhân hay pháp nhân có thể xử sự như: tự do đầu tư tiền
vốn để thành lập doanh nghiệp, tự do lựa chọn mô hình tổ chức kinh doanh, tự do lựa
chọn đối tác để thiết lập các quan hệ kinh tế, tự do cạnh tranh, tự do định đoạt trong
việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh... 1. Tuy nhiên, để
hiện thực các quyền này thì đòi hỏi Nhà nước phải ghi nhận và bảo đảm quyền bằng
pháp luật. Theo đó, từ yêu cầu quản lý xã hội, vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia,
trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, bằng pháp luật, Nhà nước
có thể xác định phạm vi “quyền tự do kinh doanh” thông qua việc quy định các ngành
nghề cấm đầu tư kinh doanh và ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Việc ban hành Luật đầu tư năm 2014 đã thể hiện nỗ lực và quyết tâm mới của
Quốc hội và Chính phủ trong việc hoàn thiện và nâng cao chất lượng các quy định
của pháp luật về điều kiện kinh doanh. Những cải cách quan trọng của Luật này đã
bước đầu phát huy hiệu quả, được cộng đồng doanh nghiệp và người dân đón nhận
tích cực, đặc biệt là lần đầu tiên đã cập nhật và công khai hóa danh mục ngành nghề
đầu tư kinh doanh có điều kiện. Điều này góp phần lớn vào minh bạch hóa môi trường
đầu tư kinh doanh và hiện thực hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền tự

Bùi Ngọc Cường (2004), Một số vấn đề về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật kinh tế hiện
hành ở Việt Nam, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 19-20.
1

1


do kinh doanh của người dân trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm,
những ngành nghề không quy định là ngành nghề kinh doanh có điều kiện.
Để triển khai thống nhất và nghiêm túc các chủ trương của Chính phủ và Thủ
tướng Chính phủ được thể hiện tại một số văn bản như Nghị quyết 19-2016/NQ-CP
ngày 28/4/2016; Nghị quyết 35/NQ-CP ngày 16/5/2016 về hỗ trợ và phát triển doanh
nghiệp đến năm 2020; Nghị quyết 19-2017/NQ-CP ngày 6/2/2017 về giải pháp cải
thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2017, định
hướng đến năm 2020; Nghị quyết 19-2018/NQ-CP ngày 15/5/2018 về giải pháp cải
thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2018 và
những năm tiếp theo; Nghị quyết số 16/NQ-CP ngày 27/2/2018 của Chính phủ đơn
giản hóa thủ tục hành chính, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư thuộc
phạm vi chức năng quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông; Chỉ thị số
20/CT-TTg ngày 13/7/2018 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường cải cách hoạt
động kiểm tra chuyên ngành và cắt giảm, đơn giản hóa điều kiện kinh doanh... yêu
cầu thực hiện rà soát toàn diện các quy định pháp luật để từ đó đề xuất sửa đổi, bổ
sung văn bản pháp luật theo hướng cắt giảm các điều kiện đầu tư kinh doanh rườm
rà, không cần thiết và không còn phù hợp trong lĩnh vực thông tin và truyền thông
phải được thực hiện khẩn trương và nghiêm túc. Bên cạnh đó, để đảm bảo các nội
dung quy định của Luật đầu tư liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh được triển
khai thống nhất thì việc sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh
vực thông tin và truyền thông là một yêu cầu cấp thiết và coi là một nhiệm vụ quan
trọng nhằm hoàn thiện các quy định liên quan đến lĩnh vực thông tin và truyền thông
nói riêng phù hợp với yêu cầu đảm bảo sự thống nhất các quy định của hệ thống pháp
đầu tư nói chung.
Với những lý do trên, học viên đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Pháp luật về
ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực thông tin và truyền thông”
đề nghiên cứu, rà soát, đánh giá, phân tích một cách tổng thể và toàn diện nhằm đề
xuất hoàn thiện quy định pháp luật về ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong

2


lĩnh vực thông tin truyền thông, đảm bảo phù hợp với Luật đầu tư 2014 và các văn bản
có liên quan đến đầu tư, kinh doanh.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến luận văn
Hiện nay, chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về Pháp luật quy
định điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực thông tin và truyền thông.
Ở Việt Nam, đã có những công trình nghiên cứu về pháp luật điều kiện kinh
doanh trong các lĩnh vực khác hoặc nghiên cứu pháp luật về ngành, nghề đầu tư kinh
doanh có điều kiện: Luận văn thạc sỹ “Điều kiện đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam đối
với các nhà đầu tư nước ngoài trong bối cảnh gia nhập WTO” của Trịnh Thị Thúy
Hằng năm 2016; Luận văn thạc sĩ “Pháp luật kinh doanh có điều kiện về an ninh trật
tự và thực tiễn thi hành tại tỉnh Sơn La” của Nguyễn Trọng Hạnh năm 2016; Luận
văn thạc sĩ “Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Việt Nam” của Vũ Thị
Hiền năm 2014; Luận văn thạc sĩ “Pháp luật và điều kiện kinh doanh ở Việt Nam Thực trạng và hướng hoàn thiện” của Nguyễn Huyền Trang năm 2014; Luận văn thạc
sĩ “Pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo ở Việt
Nam” của Trần Thu Giang năm 2017; Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về dịch vụ công
chứng ở Việt Nam” của Trần Thanh Loan năm 2017.
Ngoài ra, còn có các công trình nghiên cứu tiêu biểu khác như: “Thực thi quy
định về ngành nghề cấm kinh doanh và ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo Luật
Đầu tư năm 2014” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Dung trên tạp chí Luật học - Trường Đại
học Luật Hà Nội số 01/2016; "Pháp luật về công cụ hỗ trợ bảo vệ an ninh, trật tự từ góc độ kiểm soát ngành nghề kinh doanh có điều kiện" của Tiến sĩ Nguyễn Thị
Dung trên tạp chí Luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội số 08/2016; "Pháp luật về
ngành nghề kinh doanh có điều kiện và kiến nghị hoàn thiện" của Tiến sĩ Nguyễn Thị
Yến, Thạc sĩ Trần Thị Bảo Ánh trên tạp chí Luật học - Trường Đại học Luật Hà Nội
số 04/2012...
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu mới chỉ nghiên cứu các quy định chung
của pháp luật về điều kiện kinh doanh ở Việt Nam, hoặc nghiên cứu về một ngành,

3


nghề cụ thể nhưng không phải lĩnh vực thông tin và truyền thông. Hiện nay, chưa có
một công trình nghiên cứu chuyên sâu pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong
lĩnh vực thông tin và truyền thông ở Việt Nam. Do đó, tác giả đã nghiên cứu, rà soát,
đánh giá các quy định của pháp luật về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện
trong lĩnh vực thông tin và truyền thông cũng như kinh nghiệm thực tiễn từ kết quả
mà tác giả tham gia với tư cách chủ trì, phối hợp cùng với các cơ quan, đơn vị chuyên
môn thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông triển khai xây dựng và hoàn thiện các quy
định pháp luật thông tin và truyền thông nhằm phát hiện những bất cập, không phù
hợp thực tiễn và không phù hợp với các quy định pháp luật mới để đề xuất sửa đổi
một cách đồng bộ và thống nhất các quy định pháp luật về đầu tư, kinh doanh để hoàn
thiện luận văn này.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là nghiên cứu cơ sở lý luận về pháp luật
điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực thông tin và truyền thông; dựa trên cơ sở
lý luận đó để đánh giá về thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành và
đưa ra được những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi
hành pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực thông tin và truyền
thông.
- Thứ nhất, nghiên cứu các quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp và
các quy định pháp luật chung có liên quan đến ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều
kiện.
- Thứ hai, hệ thống hóa các văn bản và nghiên cứu, đánh giá thực trạng các quy
định của pháp luật về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong các lĩnh vực
của ngành thông tin và truyền thông.
- Thứ ba, đề xuất việc sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật
chuyên ngành thông tin và truyền thông liên quan đến ngành, nghề kinh doanh có điều
kiện để hoàn thiện khung pháp lý và hiệu quả đảm bảo các quy định pháp luật thông

4


tin và truyền thông theo kịp sự phát triển, đồng bộ, thống nhất với các quy định của
Luật đầu tư 2014.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận cơ bản và thực tiễn áp dụng hệ
thống các văn bản quy phạm pháp luật và những quy định liên quan đến ngành, nghề đầu
tư, kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực thông tin và truyền thông.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu và phân tích các quy định
về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực thông tin và truyền thông
trong phạm vi hệ thống các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, cụ thể:
+ Khái niệm và đặc điểm ngành, nghề đầu tư kinh doanh theo quy định của
pháp luật đầu tư, doanh nghiệp.
+ Rà soát, nghiên cứu và phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp
luật về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực thông tin và truyền
thông.
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm kiến nghị xây dựng và hoàn thiện các quy
định của pháp luật về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực thông
tin và truyền thông, theo hướng đảm bảo phù hợp với Luật Đầu tư 2014 và các văn
bản có liên quan đến đầu tư, kinh doanh.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch
sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng chủ nghĩa Mác-Lênin, quan điểm
của Đảng, Nhà nước ta về pháp luật. Ngoài ra, để làm rõ các vấn đề nghiên cứu luận
văn, tác giả đã áp dụng một số phương pháp cụ thể như sau: Phương pháp tổng hợp,
phân tích làm sáng tỏ những nội dung thuộc phạm vi nghiên cứu. Phương pháp này
được tác giả sử dụng xuyên suốt từ đầu đến cuối của luận văn. Ngoài ra phương pháp
so sánh cũng được sử dụng khá nhiều trong luận văn nhằm làm rõ mức độ tương quan
giữa các quy định, quan điểm để từ đó có những đánh giá, nhận định khách quan về
nội dung nghiên cứu.
5


6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu
Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên khảo tương đối toàn diện và có hệ
thống về thực tiễn các quy định pháp luật về ngành, nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện
trong lĩnh vực thông tin và truyền thông. Luận văn có những đóng góp khoa học như
sau:
Thứ nhất, đưa ra những luận giải được luận điểm cơ bản về đầu tư kinh doanh
có điều kiện là: khái niệm, đặc điểm đầu tư kinh doanh, ngành, nghề đầu tư kinh
doanh có điều kiện (đặc điểm, tiêu chí xác định ngành, nghề kinh doanh có điều kiện),
quy định về kiểm soát ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện v.v.
Thứ hai, từ thực trạng trong việc thi hành pháp luật về đầu tư liên quan đến
quy định về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực thông tin và
truyền thông, Luận văn đã phân tích và nhận dạng đươc những nguyên nhân và vấn
đề còn tồn tại.
Thứ ba, trên cơ sở luận cứ khoa học và thực tiễn, Luận văn đưa ra giải pháp
kiến nghị xây dựng và hoàn thiện quy định pháp luật về ngành, nghề đầu tư kinh
doanh có điều kiện trong lĩnh vực thông tin truyền thông phù hợp với Luật đầu tư
2014 và các văn bản có liên quan đến ngành nghề, đầu tư kinh doanh có điều kiện
trong lĩnh vực thông tin và truyền thông.
7. Cơ cấu của luận văn
Luận văn gồm ba chương:
- Chương 1. Một số vấn đề lý luận về đầu tư kinh doanh và ngành, nghề đầu tư
kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật đầu tư.
- Chương 2. Đánh giá thực trạng quy định về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có
điều kiện trong lĩnh vực thông tin và truyền thông.
- Chương 3. Đề xuất giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về ngành, nghề
đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực thông tin truyền thông phù hợp với Luật
Đầu tư và các văn bản có liên quan đến đầu tư, kinh doanh.

6


Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NGÀNH, NGHỀ ĐẦU TƯ
KINH DOANH CÓ ĐIỀU KIỆN

1.1. Một số vấn đề lý luận về ngành nghề đầu tư kinh doanh và điều kiện kinh
doanh trong lĩnh vực thông tin và truyền thông
1.1.1. Ngành, nghề đầu tư kinh doanh
Ngành nghề đầu tư kinh doanh do nhà đầu tư quyết định lựa chọn khi thành
lập doanh nghiệp hoặc khi đăng ký kinh doanh với những loại hình tổ chức kinh
doanh khác nhau. Tuỳ thuộc khả năng, nhu cầu kinh doanh, nhà đầu tư có thể lựa
chọn lại, lựa chọn bổ sung ngành nghề kinh doanh thông qua việc thay đổi nội dung
kinh doanh trong quá trình hoạt động. Tự do lựa chọn ngành nghề kinh doanh là một
nội dung quan trọng của quyền tự do kinh doanh. Hiến pháp năm 2013 và Luật doanh
nghiệp năm 2014 cho phép doanh nghiệp được quyền tự do kinh doanh trong những
ngành nghề mà pháp luật không cấm. Với nguyên tắc này, việc xác định ngành nghề
bị cấm kinh doanh là rất quan trọng bởi ngoài phạm vi đó, quyền tự do lựa chọn ngành
nghề kinh doanh của nhà đầu tư được xác lập và đảm bảo thực hiện, ngay cả khi
ngành nghề đó chưa được liệt kê trong danh mục hệ thống ngành kinh tế quốc dân.
Mặt khác, doanh nghiệp cũng sẽ không gặp rắc rối khi sáng tạo ra những ngành nghề
kinh doanh mới, những cách tìm kiếm lợi nhuận đa dạng, phong phú không có trong
hướng dẫn thực hiện thủ tục đăng kí kimh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Để kiểm soát ngành nghề kinh doanh thuộc phạm vi được phép hay vượt ra
ngoài giới hạn, việc kê khai thông tin về ngành nghề kinh doanh khi đăng ký kinh
doanh là tất yếu, cho dù giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp khi dược cấp không
ghi thông tin này. Như vậy, có thể khẳng định: Tổ chức, cá nhân có quyền quyết định
lựa chọn ngành nghề kinh doanh còn Nhà nước giữ quyền kiểm soát sự lựa chọn đó
thông qua các quy định thủ tục hành chính cần thực hiện khi gia nhập thị trường.
1.1.2. Điều kiện kinh doanh
7


Điều kiện kinh doanh được quy định nhằm đảm bảo cân bằng lợi ích kinh
doanh của doanh nghiệp và lợi ích của toàn xã hội. Pháp luật hiện hành không quy
định khái niệm về điều kiện kinh doanh mà chỉ quy định về ngành nghề kinh doanh
có điều kiện, theo đó, “ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề
mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng
điều kiện vì lí do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã
hội, sức khỏe của cộng đồng”. Như vậy, điều kiện kinh doanh là những tiêu chuẩn
đòi hỏi người kinh doanh phải đáp ứng trong quá trình hoạt động với sự giám sát,
kiểm tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm mục tiêu đảm bảo an ninh, trật
tự an toàn xã hội, sức khoẻ cộng đồng... Điều kiện kinh doanh là yêu cầu mà doanh
nghiệp phải đáp ứng hoặc phải thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được
thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng
chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp
định hoặc yêu cầu khác. Điều kiện kinh doanh được quy định tại các luật, pháp lệnh,
nghị định và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Điều kiện kinh doanh gồm hai loại:
1) Loại điều kiện kinh doanh cần được xác nhận bằng văn bản: giấy chứng
nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, giấy phép kinh doanh. Văn bản
xác nhận đủ điều kiện kinh doanh do cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành cấp
như: giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh trật tự do cơ quan công an cấp, chứng
chỉ hành nghề kiểm toán viên do Bộ tài chính cấp...;
2) Loại điều kiện kinh doanh do doanh nghiệp tự cam kết, tự đảm bảo thực
hiện các điều kiện pháp luật quy định trong quá trình hoạt động kinh doanh. Ví
dụ: Doanh nghiệp có nghĩa vụ đảm bảo điều kiện về vốn pháp định từ khi thành lập
và trong suốt quá trình hoạt động.
1.1.3. Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và điều kiện đầu tư kinh doanh
Về “điều kiện đầu tư kinh doanh”, hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau.
Dưới góc độ ngôn ngữ, điều kiện đầu tư kinh doanh có thể được hiểu là những yếu tố

8


tác động đến đến hoạt động đầu tư, kinh doanh hay còn gọi đó là môi trường kinh
doanh . Điều kiện đầu tư kinh doanh cũng có thể hiểu là những yêu cầu, đòi hỏi mà
chủ thể kinh doanh phải có hay phải thực hiện trước khi tiến hành các hoạt động kinh
doanh nhất định như sản xuất, phân phối, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích thu lợi
nhuận . Theo ý kiến của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa thì “Điều kiện kinh doanh là mọi
sự can thiệp của cơ quan hành chính vào quyền tự do kinh doanh của người dân,
thường được cụ thể hóa bằng những hành vi của nhân viên hành chính có quyền chấp
nhận, hạn chế hoặc khước từ việc đăng kí hoặc tổ chức những hoạt động kinh doanh
cụ thể2” . Trong đó, việc chấp nhận, hạn chế hoặc khước từ việc đăng ký hoặc tổ chức
những hoạt động kinh doanh cụ thể được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật
được biểu hiện thông qua hành vi chấp nhận hoặc từ chối cấp giấy phép, giấy chứng
nhận đủ điều kiện, chứng chỉ hành nghề... hoặc thông qua hành vi kiểm tra, giám sát
của cơ quan hành chính về việc tuân thủ các điều kiện kinh doanh của các chủ thể.
Về pháp luật quy định: Tại Luật Doanh nghiệp năm 2005 (Khoản 2 Điều 7) đã
quy định “ngành, nghề và điều kiện kinh doanh” như sau: “Đối với ngành, nghề mà
pháp luật về đầu tư và pháp luật có liên quan quy định phải có điều kiện thì doanh
nghiệp chỉ được kinh doanh ngành, nghề đó khi có đủ điều kiện theo quy định. Điều
kiện kinh doanh là yêu cầu mà doanh nghiệp phải có hoặc phải thực hiện khi kinh
doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận
đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm
nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác". Đến năm 2014, các quy
định về ngành, nghề và điều kiện kinh doanh không được quy định trong Luật Doanh
nghiệp năm 2014 mà quy định trong Luật Đầu tư năm 2014 và Nghị định số
118/2015/NĐ-CP ngày 12/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật Đầu tư. Cụ thể, Khoản 1 Điều 7 Luật đầu tư năm 2014 quy
định “Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà việc thực hiện
hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện vì lý do
Phạm Duy Nghĩa (2006), Giáo trình Luật kinh tế, (1), NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr
23-24.
2

9


quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của
cộng đồng” và Khoản 7 Điều 2 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP quy định: "Điều kiện
đầu tư kinh doanh là điều kiện mà cá nhân, tổ chức phải đáp ứng theo quy định của
luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế về đầu tư khi thực hiện hoạt động đầu
tư, kinh doanh trong các ngành, nghề quy định tại Phụ lục 4 Luật Đầu tư".
Mặc dù chưa được quy định rõ ràng, cụ thể trong Luật Đầu tư và cũng chưa
có một cách hiểu thống nhất, nhưng khái niệm về điều kiện đầu tư kinh doanh theo
quy định tại khoản 7 Điều 2 của Nghị định số 118/2015/NĐ-CP nêu trên có các đặc
điểm sau:
(1) Là yêu cầu, điều kiện của từng ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Như vậy, điều kiện đầu tư kinh doanh gắn chặt và tồn tại cùng với ngành, nghề đầu
tư kinh doanh có điều kiện và chính yêu cầu, điều kiện cụ thể của mỗi ngành nghề
đầu tư kinh doanh có điều kiện đó;
(2) Điều kiện đầu tư kinh doanh là điều kiện mà cá nhân, tổ chức phải đáp ứng
trước khi bắt đầu tiến hành hoạt động kinh doanh; đồng thời, cá nhân, tổ chức phải
duy trì các điều kiện kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động;
(3) Điều kiện kinh doanh có tính chất đặc thù, có tính chất, đặc điểm gắn với
ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Ngoài ra, pháp luật về điều kiện đầu tư kinh
doanh chỉ được quy định tại luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà không
được quy định ở các dạng văn bản pháp luật khác .
Từ những quan điểm khoa học và theo quy định của pháp luật nêu trên có thể
hiểu “điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực thông tin và truyền thông” là những
yêu cầu, đòi hỏi do Nhà nước quy định mà chủ thể đầu tư kinh doanh phải đáp ứng
các yêu cầu, đòi hỏi này khi thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực
thông tin và truyền thông.
1.1.4. Đặc điểm của ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện
Tiêu chí đánh giá sự cần thiết quy định ngành nghề đầu tư kinh doanh có
điều kiện
10


Ngành, nghề đầu tư kinh doanh là một trong những yếu tố dẫn đến sự thành
công hay thất bại của chủ thể kinh doanh. Do đó, việc quy định về ngành, nghề đầu
tư kinh doanh không những nhằm đảm bảo cho lợi ích của cộng đồng mà còn định
hướng cho các chủ thể kinh doanh phát triển các ngành nghề mà nhu cầu xã hội đặt
ra qua đó đảm bảo sự giám sát của Nhà nước đối với sự định hướng phát triển kinh
tế nói chung.
Trên thực tế, lĩnh vực ngành, nghề đầu tư kinh doanh vô cùng phong phú và
đa dạng sẽ đem lại nhiều sự lựa chọn cho chủ thể kinh doanh. Nhưng lựa chọn lĩnh
vực nào để đem lại lợi nhuận cho họ là một điều mà các chủ thể kinh doanh muốn lựa
chọn kinh doanh phải quyết định. Vì mục tiêu lợi nhuận mà chủ thể kinh doanh sẽ có
thể kinh doanh bất cứ lĩnh vực nghành nghề nào mà pháp luật không cấm. Như vậy,
việc đề ra điều kiện đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh là việc làm cần thiết cho
công tác quản lý nhà nước dưới các hình thức: (1) ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh;
(2) ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Thực tiễn ở Việt Nam, Luật doanh nghiệp 2014 có hiệu lực từ ngày 1/7/2015
thay thế cho Luật doanh nghiệp 2005. So với Luật doanh nghiệp 2005, Luật doanh
nghiệp 2014 có một điểm thay đổi liên quan đến ngành, nghề đầu tư kinh doanh là
toàn bộ nội dung quy định về ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được Luật
quy định dẫn chiếu sang nội dung quy định tại Luật đầu tư như sau: “Đáp ứng đủ điều
kiện kinh doanh khi kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy
định của Luật đầu tư và bảo đảm duy trì đủ điều kiện đầu tư kinh doanh đó trong suốt
quá trình hoạt động kinh doanh.”.
Theo đó, ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của Luật
đầu tư đã quy định về tiêu chí đánh gi
á sự cần thiết quy định ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, cụ thể:
Thay đổi quan trọng nhất của Luật đầu tư 2014 là việc tạo lập cơ sở pháp lý minh
bạch để bảo đảm thực hiện nguyên tắc Hiến định “Mọi người có quyền tự do kinh
doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm.” Điều 33 Hiến pháp 2013

11


thông qua các quy định về ngành, nghề cấm đầu tư đầu tư kinh doanh và ngành, nghề
đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Việc tập hợp, rà soát và quy định cụ thể Danh mục ngành, nghề cấm đầu tư
kinh doanh và đầu tư kinh doanh có điều kiện tại Luật Đầu tư 2014 theo phương pháp
loại trừ (chọn bỏ) đã góp phần đổi mới căn bản nguyên tắc áp dụng pháp luật, từ việc
nhà đầu tư chỉ được quyền thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong những ngành,
nghề mà pháp luật cho phép sang nguyên tắc “Nhà đầu tư được quyền thực hiện hoạt
động đầu tư kinh doanh trong các ngành, nghề mà Luật này không cấm” hoặc phải
đáp ứng các điều kiện đối với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh quy định phải có
điều kiện.
Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được quy định tại Điều 7 Luật
đầu tư năm 2014, theo đó ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề
mà việc thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng
điều kiện vì lí do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã
hội, sức khoẻ của cộng đồng. Có thể nhận thấy một số quy định mới là đặc điểm
chung của ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện như sau:
Một là, danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện được quy định
trong văn bản luật (Luật đầu tư năm 2014), gồm 267 ngành nghề, giảm 119 ngành
nghề trong tổng số 386 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện tính đến ngày 19/8/2014.
Danh mục này được quy định trong luật cũng có nghĩa là khi muốn sửa đổi đều thuộc
thẩm quyền của Quốc hội. Điều 8 Luật đầu tư năm 2014 cũng quy định rõ: “Căn cứ
điều kiện kinh tế-xã hội và yêu cầu quản lí nhà nước trong từng thời kì, Chính phủ rà
soát các ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh, Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh
doanh có điều kiện và trình Quốc hội sửa đổi, bổ sung”. Trước đây, mặc dù Nghị
định số 59/2006/NĐ-CP có quy định về danh mục hàng hoá, dịch vụ kinh doanh có
điều kiện nhưng bên cạnh đó, ngành nghề kinh doanh và điều kiện kinh doanh còn
được quy định rải rác trong nhiều văn bản pháp luật khác. Trước khi Luật đầu tư năm
2014 được ban hành, 386 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được quy định tại 391
văn bản, gồm: 56 luật, 08 pháp lệnh, 115 nghị định, 08 quyết định của Thủ tướng

12


Chính phủ, 176 thông tư, 26 quyết định của bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ
và 2 văn bản của bộ, theo đó, có 4.769 điều kiện kinh doanh. Tình trạng này tất yếu
dẫn đến việc thống kê, tổng hợp ngành, nghề kinh doanh có điều kiện thực sự rất khó
khăn và thường trực nguy cơ “phình” thêm giấy phép con, phình thêm điều kiện kinh
doanh mới. Việc quy định danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện
trong văn bản luật là giải pháp tốt để quản lí và kiểm soát vấn đề điều kiện kinh doanh.
Hai là, đã có sự đổi mới căn bản trong việc xác định thẩm quyền ban hành
văn bản quy định điều kiện kinh doanh đối với những ngành, nghề kinh doanh có điều
kiện
Hiện tại, toàn bộ ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và các điều kiện kinh
doanh đối với các ngành, nghề này được quy định tại nhiều văn bản quy phạm pháp
luật khác nhau. Theo thống kê từ các quy định của pháp luật hiện hành cho thấy, hiện
có khoảng 386 ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được quy định phân tán tại 391
văn bản pháp luật. Gồm 56 luật, 8 Pháp lệnh, 115 Nghị định, 176 Thông tư, 26 Quyết
định của các Bộ trưởng và 2 văn bản của Bộ. Các điều kiện kinh doanh được thể hiện
đa dạng dưới nhiều hình thức như giấp phép, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh
doanh, chứng chỉ hành nghề, xác nhận vốn pháp định, giấy đăng ký, chấp thuận...
Phần lớn các điều kiện kinh doanh được quy định dưới hình thức giấy phép hoặc giấy
chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh. Đây là loại điều kiện kinh doanh dễ phát sinh
tiêu cực trong quá trình xin cấp phép, cấp chứng nhận. Cụ thể: (1) Có 110 ngành nghề
yêu cầu phải có giấy phép kinh doanh với 171 loại giấy phép kinh doanh; (2) Có 83
ngành nghề yêu cầu phải có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh với 62 loại giấy
chứng nhận; (3) Có 44 loại ngành nghề cần có chứng chỉ hành nghề với 53 loại chứng
chỉ hành nghề; (4) Có 11 ngành nghề yêu cầu vốn pháp định; (5) Có 345 ngành nghề
yêu cầu phải có chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Tại Điều 7 Luật Đầu tư năm 2014, bên cạnh quy định mục tiêu của việc quản
lý nhà nước đối với các hoạt động đầu tư kinh doanh những ngành, nghề có điều kiện
(khoản 1) và danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (khoản 2) thì
khoản 3 quy định rõ: “Điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề quy định tại

13


khoản 2 Điều này được quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc
tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không được
ban hành quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh”. Quy định này đã hoàn toàn ngăn
chặn việc các Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp,
cơ quan, tổ chức, cá nhân khác ban hành quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh
một cách tùy tiện và chồng chéo. Tương ứng với các văn bản này, Quốc hội, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội, Chính phủ là cơ quan có thẩm quyền ban hành quy định về điều
kiện kinh doanh. Bộ, cơ quan ngang bộ, hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân các cấp,
cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không có thẩm quyền này. Quy định trên đây có ý
nghĩa kiểm soát hiệu quả vấn đề ban hành điều kiện kinh doanh trong mọi ngành
nghề, khắc phục tình trạng “lạm phát” điều kiện kinh doanh.
Ba là, Luật đầu tư năm 2014 quy định mục tiêu bảo đảm phù hợp, công khai,
minh bạch, khách quan, tiết kiệm thời gian, chi phí của nhà đầu tư khi quy định về
điều kiện kinh doanh. Hướng tới mục tiêu này, Bộ kế hoạch và đầu tư có trách nhiệm
đăng tải trên cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia thông tin về ngành, nghề
đầu tư kinh doanh có điều kiện và điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề
đó. Hiện tại, cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia đã đăng tải công khai
điều kiện kinh doanh đối với 267 ngành nghề, tuy rằng còn có một số ngành nghề
chưa có nội dung đăng tải do chưa có văn bản quy định về điều kiện kinh doanh. Bên
cạnh đó, Chính phủ có trách nhiệm quy định chi tiết việc công bố và kiểm soát điều
kiện đầu tư kinh doanh những điều kiện kinh doanh và số lượng ngành, nghề kinh
doanh có điều kiện theo quy định của luật mới đã giảm rất nhiều. Hơn nữa, các điều
kiện kinh doanh, những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện sẽ được đăng tải trên
Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, những điều kiện không được đăng tải
tại Cổng thông tin này sẽ không có hiệu lực. Quy định này nhằm tạo điều kiện thuận
lợi cho doanh nghiệp trong quá trình thành lập, hoạt động kinh doanh, minh bạch hóa
môi trường kinh doanh. Khi nghiên cứu Danh mục những ngành, nghề đầu tư, kinh
doanh có điều kiện chúng tôi cũng thấy rằng số lượng 267 ngành, nghề đó vẫn có thể
giảm thêm được nữa. Có những ngành, nghề không nhất thiết phải là ngành, nghề
14


kinh doanh có điều kiện, không cần thiết phải đưa vào danh mục này. Ví dụ: Kinh
doanh dịch vụ việc làm, kinh doanh hàng miễn thuế, kinh doanh dịch vụ xoa bóp...
Đặc biệt, có ngành “kinh doanh tiền chất công nghiệp” là ngành còn nhiều băn khoăn,
vì không hiểu nó là như thế nào.
Và như vậy có thể nhận thấy đặc điểm cơ bản của ngành, nghề đầu tư kinh
doanh có điều kiện gồm:
Thứ nhất: Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện là ngành, nghề mà việc
thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đó phải đáp ứng điều kiện
vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức
khỏe của cộng đồng.
Thứ hai: Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện chỉ được quy định tại
Luật đầu tư và điều kiện cụ thể đối với từng ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều
kiện được quy định tại luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên.
Thứ ba: Kể từ ngày Luật đầu tư 2014 có hiệu lực thi hành (1/7/2015) các
ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện quy định tại các văn bản quy phạm pháp
luật khác sẽ hết hiệu lực thi hành.
Thứ tư: Các điều kiện áp dụng đối với 267 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có
điều kiện ban hành kèm theo Luật đầu tư 2014 đang được quy định tại các văn bản
dưới nghị định tiếp tục được áp dụng cho đến ngày 01/7/2016.
Và từ 01/01/2017 danh mục các ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện
còn 243 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật
đầu tư 2016.
Cơ sở pháp lý này là một tiêu chí quan trọng để xác định sự cần thiết phải quy
định điều kiện đầu tư kinh doanh đối với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều
kiện, đòi hỏi các quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh phải bảo đảm công khai,
minh bạch, khách quan, toàn diện, tiết kiện thời gian và chi phí tuân thủ của nhà đầu
tư. Việc đưa ra các quy định này nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong

15


quá trình thành lập, hoạt động kinh doanh, minh bạch hóa môi trường đầu tư kinh
doanh, đảm bảo năng lực cạnh tranh trong hoạt động đầu tư của Việt Nam đối với
hoạt động đầu tư kinh doanh.
1.1.5. Đặc điểm của ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đầu tư trong lĩnh
vực thông tin và truyền thông
Ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực thông tin và truyền
thông có những đặc điểm chung của điều kiện đầu tư kinh doanh và những đặc điểm
riêng, cụ thể như sau:
Thứ nhất, về chủ thể có thẩm quyền quy định ngành, nghề kinh doanh có điều
kiện trong lĩnh vực thông tin và truyền thông
Điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực thông tin và truyền là yêu cầu, đòi
hỏi được Nhà nước đặt ra và quy định trong văn bản quy phạm pháp luật đối với từng
ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực thông tin và truyền thông
đã được đưa vào danh mục phụ lục 4 Luật đầu tư. Đây là điểm chung, giống như bất
kỳ ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong các lĩnh vực khác. Việc đặt ra
các điều kiện đầu tư kinh doanh là một trong các biện pháp quản lý của nhà nước, có
tác động đến quyền tự nhiên vốn có của mỗi cá nhân theo hướng “hạn chế quyền”.
Trước đây theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, ngành, nghề kinh doanh có điều
kiện và điều kiện kinh doanh được quy định trong các luật, pháp lệnh, nghị định hoặc
quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, trên thực tế, có rất nhiều điều kiện
kinh doanh được quy định tại văn bản của các Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân các cấp. Tình trạng này dẫn đến việc tràn lan giấy phép con,
gây khó khăn cho cá nhân, doanh nghiệp trong việc tiếp cận thị trường, thực hiện các
hoạt động đầu tư kinh doanh.
Khắc phục những hạn chế của Luật Doanh nghiệp năm 2005, đến năm 2014,
Quốc hội thông qua Luật đầu tư có quy định Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh
doanh có điều kiện (Phụ lục 4). Như vậy, Quốc hội là chủ thể duy nhất được đặt ra
các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Về điều kiện đầu tư kinh doanh đối

16


với các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thì tại Khoản 3 Điều 7 Luật Đầu
tư 2014 quy định “Điều kiện đầu tư kinh doanh đối với ngành, nghề quy định tại
khoản 2 Điều này được quy định tại các luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc
tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội
đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không
được ban hành quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh”. Như vậy, chủ thể có thẩm
quyền quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh chỉ bao gồm Quốc hội, Ủy ban thường
vụ Quốc hội hoặc Chính phủ (hiện nay, không có điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên quy định về điều kiện kinh doanh trong lĩnh
vực công chứng); các chủ thể khác như Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Hội đồng
nhân dân và Ủy ban nhân dân các cấp không có thẩm quyền ban hành quy định về
điều kiện đầu tư kinh doanh.
Theo đó, các điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực thông tin và truyền
thông cũng phải được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật, mà cụ thể là ngành,
nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực thông tin và truyền thông phải
"có tên" trong Danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện của Luật đầu
tư. Các điều kiện đầu tư kinh doanh đối với các ngành, nghề này phải được quy định
trong các luật, pháp lệnh hoặc nghị định hoặc các điều ước quốc kế mà Việt Nam ký
kết hoặc tham gia.
Thứ hai, về chủ thể áp dụng điều kiện đầu tư kinh doanh trong các ngành,
nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực thông tin và truyền thông
Hiện nay, với định hướng xây dựng nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội
chủ nghĩa và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước khuyến
khích khối tư nhân tham gia đầu tư kinh doanh hoạt động trong các lĩnh vực thông
tin và truyền thông. Pháp luật hiện hành không có quy định riêng về điều kiện chủ
thể, nói cách khác là không quy định chủ thể nào là chủ thể đầu tư kinh doanh ngành,
nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện trong lĩnh vực thông tin và truyền thông.
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì "Kinh doanh là việc thực
hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất
17


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×