Tải bản đầy đủ

Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng mối tương quan giữa bộ luật dân sự năm 2015 và luật thương mại năm 2005

ĐẶNG XUÂN TÚ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬT KINH TẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

TRÁCH NHIỆM VI PHẠM HỢP ĐỒNG: MỐI TƯƠNG QUAN
GIỮA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 VỚI LUẬT THƯƠNG MẠI

ĐẶNG XUÂN TÚ
2016 - 2018

HÀ NỘI - 2018

1



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
TRÁCH NHIỆM VI PHẠM HỢP ĐỒNG: MỐI TƯƠNG QUAN
GIỮA BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 VỚI LUẬT THƯƠNG MẠI

ĐẶNG XUÂN TÚ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ:

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. BÙI ĐĂNG HIẾU
HÀ NỘI - 2018

2


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu
trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và
trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Vậy tôi xin viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Đào tạo Sau đại học - Viện đại học
Mở Hà Nội xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đặng Xuân Tú

3


LỜI CẢM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự nỗ lực
cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của quý Thầy Cô, cũng nhờ sự động
viên ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và thực hiện
luận văn thạc sĩ.
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy PGS.TS. Bùi Đăng Hiếu người đã hết


lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này. Xin chân thành
bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý thầy cô trong khoa đào tạo sau đại học Viện Đại học
mở Hà Nội đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện
thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề
tài luận văn.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn đến gia đình, các anh chị và các bạn đồng
nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề
tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh.

Hà Nội, tháng 10 năm 2018
Học viên thực hiện

Đặng Xuân Tú

4


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU:………………………………………………………………..….

1

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM DO VI
PHẠM HỢP ĐỒNG……………………………………………………..….

9

1.1. Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng ……...…

9

1.1.1. Khái niệm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng……………...….…..…

9

1.1.2. Khái niệm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng……………...….…..… 15
1.2. Căn cứ phát sinh trách nhiệm do vi phạm hợp đồng ………………

17

Chương 2: NỘI DUNG TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG
THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 VÀ LUẬT
THƯƠNG MẠI NĂM 2005 VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN……..……

29

2.1. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân
sự năm 2015……………………………………………………..………….

29

2.1.1. Căn cứ phát sinh trách nhiệm do vi phạm……………..………….

29

2.1.2. Quy định về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng…………..…………. 30
2.1.3. Quy định về miễn trừ trách nhiệm………..………………..……….

39

2.2. Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng theo quy định của Luật Thương
mại năm 2005…………………………………………………..………….

41

2.1.1. Căn cứ phát sinh trách nhiệm do vi phạm……………..………….

41

2.1.2. Quy định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng…………….

42

2.1.3. Quy định về miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng…..……….

46

2.3. Những điểm tương đồng và khác biệt trong các quy định về trách
5


nhiệm do vi phạm hợp đồng theo quy định của Bộ Luật Dân sự năm
2015 với Luật Thương mại năm 2005……………………..…….…….

50

2.3.1. Những điểm tương đồng……………..……………………….…….

50

2.1.2. Những điểm khác biệt…………………………………………..….

51

2.4. Thực tiễn áp dụng……………………………………………….…….

56

Chương 3: NỘI DUNG TRÁCH NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG
THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 VÀ LUẬT
THƯƠNG MẠI NĂM 2005 VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN……..……

64

3.1. Về căn cứ phát sinh trách nhiệm do vi phạm hợp đồng.…….…….

64

3.2. Về hậu quả pháp lý do vi phạm hợp đồng.………………….…….

66

3.2.1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng……………..………………….……. 66
3.2.2. Phạt vi phạm……………………………………………………..….

67

3.2.3. Buộc bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng…..………..…….

70

3.2.4. Biện pháp trách nhiệm trả lãi do chậm thanh toán..………..…….

71

3.2.5. Tạm ngừng thực hiện hợp đồng..……………………….…..…….

72

3.3. Một số nội dung cụ thể khác của hoàn thiện Luật Thương mại
trong mối tương quan với Bộ luật Dân sự năm 2015………………….

74

KẾT LUẬN……………………………………………………………..….

80

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢ………………………………..….

82

6


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS

Bộ luật Dân sự

BTTH

Bồi thường thiệt hại

HĐXX

Hội đồng xét xử

TAND

Tòa án nhân dân

7


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Hợp đồng là công cụ pháp lý không thể thiếu để xác lập quan hệ giao lưu kinh tế,
dân sự, khoa học…giữa các cá nhân và tổ chức với nhau. Trong cuộc sống hàng ngày của
chúng ta, mỗi con người, mỗi tổ chức để thực hiện những nhu cầu thiết yếu của mình, họ
phải thiết lập các hợp đồng giao dịch. Tuy nhiên, không phải hợp đồng nào sau khi giao
kết đều được các bên tự nguyện thực hiện một cách ngay thẳng, nghiêm túc và trung thực
mà sẽ có những trường hợp vi phạm hợp đồng như không thực hiện hoặc thực hiện không
đúng, không đầy đủ các nghĩa vụ đã được ghi nhận trong hợp đồng.
Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển,
chúng ta đã hội nhập và thay đổi cùng với nền kinh tế thế giới thì các quan hệ về dân sự kinh tế diễn ra ngày càng đa dạng và phức tạp, kéo theo là các tranh chấp do vi phạm hợp
đồng. Khi có hành vi vi phạm hợp đồng xảy ra, chúng ta phải giải quyết các tranh chấp và
vi phạm đó, một trong những biện pháp mà chúng ta áp dụng khi có chủ thể vi phạm hợp
đồng mua bán đó là trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng, được ghi nhận tại Bộ luật
Dân sự năm 2015 và Luật Thương Mại năm 2005. Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp
đồng là một hình thức chế tài do Nhà nước quy định để áp dụng đối với các hành vi vi
phạm các quyền và nghĩa vụ mà các bên đã thỏa thuận trong một hợp đồng dân sự. Đó là
việc khi mà các cá nhân, pháp nhân buộc phải thực hiện trách nhiệm dân sự do vi phạm
hợp đồng thì hoặc (1) các chủ thể này buộc phải tiếp tục thực hiện hợp đồng; và (2) các
chủ thể này buộc phải BTTH bằng tài sản cho các chủ thể bị vi phạm.
Pháp luật về hợp đồng ở nước ta có quá trình phát triển qua từng giai đoạn, phù
hợp với hoàn cảnh kinh tế, chính trị, xã hội của từng thời kỳ. Đi cùng với đó hàng loạt
các văn bản pháp luật mới được ra đời điều chỉnh lĩnh vực hợp đồng. Hiện nay, khi đất
nước chuyển sang nền kinh tế thị trường, đặc biệt là sau khi gia nhập WTO, các quan hệ
kinh tế ngày càng pháp triển mạnh mẽ. Những giao dịch, hợp tác mà chúng ta tham gia

1


ký kết ngày càng nhiều. Những hợp đồng trong và ngoài nước ngày càng được ký kết một
cách đa dạng hơn.
Tuy nhiên, nghiên cứu về hợp đồng nói chung, và nghiên cứu về vấn đề trách
nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng cần được nghiên cứu tổng thể trên nhiều khía cạnh
khác nhau. Hệ thống các quy định pháp luật về vấn đề trách nhiệm pháp lý do vi phạm
hợp đồng đang còn nhiều vướng mắc, bất cập. Bên cạnh đó, những quy định về trách
nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng trong BLDS năm 2015 và Luật Thương mại năm
2005 còn nhiều những vấn đề chưa thống nhất và cụ thể. Do đó đã dẫn đến có nhiều vụ
tranh chấp xảy ra kéo dài, giải quyết qua nhiều cấp nhưng không thành bởi lẽ có nhiều
nhận thức khác nhau về vấn đề này.
Bên cạnh đó, hàng năm, có hàng chục nghìn vụ án tranh chấp về trách nhiệm dân
sự được tòa án nhân dân các cấp thụ lý và giải quyết nhưng lại lại gặp phải sự thiếu đồng
bộ và chưa thống nhất trong các quy định pháp luật hiện hành khiến nhiều vụ án phải xét
xử nhiều lần hoặc tính thuyết phục của bản án chưa cao. Từ thực tiễn đó đặt ra nhu cầu
phải nghiên cứu làm rõ các quy định của BLDS năm 2015 Luật Thương mại năm 2005 về
các hình thức trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua bán, để phát hiện những quy
định bất hợp lý, hạn chế từ đó đề xuất khắc phục, để các biện pháp trách nhiệm pháp lý
này có thể đi vào các quan hệ dân sự, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế thị trường.
Có thể thấy rằng, hoạt động phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi vi phạm hợp đồng
nhằm bảo đảm trật tự và tạo sự công bằng giữa các chủ thể trong quan hệ hợp đồng là yêu
cầu cần thiết trong việc thiết lập và xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh nhằm
thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển theo xu hướng hội nhập quốc tế.
Trong những năm vừa qua, vi phạm hợp đồng có xu hướng gia tăng nhanh chóng, đặc
biệt xuất hiện những hành vi vi phạm mang tính chất phức tạp, nghiêm trọng và vi phạm
những hợp đồng có giá trị kinh tế cao. Điều đó chứng tỏ rằng, một phần nguyên nhân là
do việc nhận thức, quy định và thực thi về chế độ trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp
đồng chưa hợp lý và đây có thể xem là một trong những tác nhân gây ra tình trạng vi
phạm hợp đồng nghiêm trọng trong giai đoạn hiện nay. Để ngăn chặn hành vi vi phạm
2


hợp đồng, chúng ta có thể thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như đề cao đạo đức,
nâng cao ý thức pháp luật, tuyên truyền phổ biến pháp luật cho các chủ thể khi tham gia
giao kết hợp đồng. Trong đó, xác định và áp dụng đúng trách nhiệm pháp lý là biện pháp
pháp luật đặc biệt, góp phần trong việc ngăn chặn hiệu quả các hành vi vi phạm.
Vì vậy, trong các văn bản pháp luật, nhà nước luôn có những quy định khá cụ thể
về chế định trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng thương mại. Hiện nay, quy định về
trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng tiếp tục được khẳng định trong Luật Thương
mại năm 2005 và BLDS năm 2015. Tuy nhiên, một số quy định về trách nhiệm pháp lý
do vi phạm hợp đồng vẫn còn bộc lộ một số bất cập gây khó khăn trong công tác áp dụng
pháp luật và giải quyết tranh chấp có liên quan. Các hành vi vi phạm hợp đồng, căn cứ áp
dụng trách nhiệm, các biện pháp trách nhiệm, các trường hợp miễn trừ trách nhiệm vẫn là
các vấn đề còn tranh cãi trong giới luật học, đặc biệt là cách thức áp dụng các biện pháp
trách nhiệm pháp lý cho từng hành vi vi phạm hợp đồng. Những vấn đề này cần phải tiếp
tục được làm rõ và đề xuất giải pháp pháp lý nhằm khắc phục, hoàn thiện.
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam hội nhập sâu rộng như hiện nay đòi hỏi phải
cần sửa đổi, bãi bỏ một số quy định pháp luật chưa phù hợp và ban hành những quy định
mới về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mang tính thích ứng cao theo xu hướng
tiếp thu có chọn lọc những điểm tiến bộ của các văn bản pháp luật của quốc tế. Về lý
luận, có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, phân tích về trách nhiệm pháp
lý do vi phạm hợp đồng, đặc biệt là trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng.
Từ những lý do trên tác giả lựa chọn đề tài “Trách nhiệm vi phạm hợp đồng: Mối
tương quan giữa Bộ luật dân sự 2015 với Luật Thương mại” làm luận văn thạc sĩ luật
học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong khoa học pháp lý Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới
các vấn đề khác nhau của hợp đồng nói chung và trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp ở
các khía cạnh khác nhau.
3


Trong số các công trình nghiên cứu về vấn đề này, các tác giả đã có một số ý kiến
tương đồng về mặt lý luận, về các quy định pháp luật, tuy nhiên còn một số nội dung về
trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng vẫn chưa thống nhất quan điểm với nhau.
Ngoài ra, việc quy định và áp dụng trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng cho các
thương nhân phải xác định ở mức độ khác biệt so với việc áp dụng trách nhiệm do một cá
nhân bình thường (không phải là thương nhân) vi phạm hợp đồng dân sự. Theo đó, luật
pháp hiện hành quy định chưa hoàn toàn nhất quán về hai hoạt động này.
Có thể kể đến các công trình nghiên cứu sau:


Tác giả Trương Văn Dũng với luận văn tiến sĩ “Trách nhiệm do vi phạm hợp
đồng mua bán hàng hóa quốc tế và vấn đề hoàn thiện pháp luật Việt Nam”
(năm 2003)



Tác giả Đỗ Văn Đại với bài viết “Vi phạm cơ bản hợp đồng”.



Tác giả Võ Sỹ Mạnh với bài viết “Vi phạm cơ bản hợp đồng trong pháp luật
Việt Nam: Một số bất cập và định 10 hướng hoàn thiện”. (năm 2014)



Tác giả Lê Thị Tuyết Hà với công trình nghiên cứu: “Trách nhiệm pháp lý do
vi phạm hợp đồng thương mại ở Việt Nam hiện nay”. (Luận án tiến sĩ học năm
2016)

Tất cả các bài viết đều đã nghiên cứu một góc độ nào đó về vấn đề trách nhiệm
pháp lý do vi phạm hợp đồng. Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào ở cấp độ luận
văn thạc sĩ luật học về vấn đề trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng xét trong mội
tương quan giữa Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật thương mại năm 2005. Do đó, việc
nghiên cứu đề tài càng có ý nghĩa quan trọng hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, khảo sát thực trạng quy định của Bộ luật dân sự
2015, Luật thương mại năm 2005 và thực tiễn áp dụng pháp luật về trách nhiệm pháp lý
4


do vi phạm hợp đồng. Luận văn đặt mục đích nghiên cứu là những vấn đề lý luận về hợp
đồng, những quy định của Pháp luật về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng trong
mối tương quan giữa BLDS năm 2015 và Luật Thương mại năm 2005. Đặc biệt, luận văn
tập trung chủ yếu ở việc nghiên cứu hoàn thiện trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng
trong mối tương quan giữa BLDS năm 2015 và Luật Thương mại 2005. Tác giả nghiên
cứu dựa trên cơ sở kế thừa, tiếp thu có chọn lọc các vấn đề lý luận, các quy định của pháp
luật Trên cơ sở các quy định về hành vi vi phạm hợp đồng và trách nhiệm pháp lý do vi
phạm hợp đồng gây ra của BLDS năm 2015 và Luật Thương Mại năm 2005, luận văn sẽ
chỉ ra những vướng mắc, khó khăn trong thực tế áp dụng các hình thức trách nhiệm.
Từ đó, tác giả hy vọng góp phần làm phong phú thêm về cơ sở lý luận, hoàn thiện
các quy định pháp luật, thực tiễn thực thi về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng và
đề xuất một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này để góp phần điều
chỉnh các quan hệ hợp đồng tốt hơn.


Nhiệm vụ:

Đề tài có nhiệm vụ giải quyết các vấn đề sau đây:
Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận chung về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp
đồng như sau: Khái niệm và đặc điểm về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng; Làm
rõ căn cứ phát sinh trách nhiệm do vi phạm hợp đồng; các biện pháp trách nhiệm pháp lý;
miễn trừ trách nhiệm do vi phạm hợ đồng.
Nghiên cứu các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật thương mại năm
2005 về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng và thực tế áp dụng các quy định này.
Nghiên cứu mối quan hệ giữa bộ luật dân sự năm 2015 và Luật thương mại năm 2005,
đánh giá thực trạng quy định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng, chỉ ra được
mối tương quan giữa BLDS năm 2015 và Luật thương mại năm 2005. Để từ đó chỉ ra
được những bất cập của BLDS năm 2015 và Luật thương mại năm 2005 đồng thời đưa ra
các giải pháp hoàn thiện quy định trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng trong mối
tương quan giữa BLDS năm 2015 và Luật thương mại năm 2005.
5


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng: mối tương
quan gữi Bộ luật dân sự 2015 và Luật thương mại 2005. Cụ thể là: các tư liệu có liên
quan đến trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng; vấn đề lý luận về trách nhiệm pháp
lý do vi phạm hợp đồng; các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật thương mại
năm 2005 về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng: mối tương quan giữa Bộ luật dân
sự năm 2015 và Luật thương mại năm 2005.
4. 2. Phạm vi nghiên cứu
Về mặt nội dung: Tên đề tài nghiên cứu là "Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng:
Mối tương quan giữa Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật thương mại" tuy nhiên trong
phạm vi nghiên cứu đề tài tác giả tập chung nghiên cứu "Trách nghiệm pháp lý do vi
phạm hợp đồng: Mối tương quan giữa Bộ luật dân sự năm 2015" theo đó, (i)Nghiên cứu
các quy định của Bộ Luật dân sự năm 2015 và Luật thương mại 2005 về trách nhiệm
pháp lý do vi phạm hợp đồng để từ đó chỉ ra mối tương quan giữa Bộ Luật dân sự năm
2015 và Luật thương mại 2005. (ii) Không nghiên cứu các quy định về trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng của các Bộ luật dân sự và các Luật và Văn bản quy phạm pháp luật ban
hành trước Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật thương mại năm 2005.
Về không gian: Tác giả tập chung nghiên cứu những quy định của Bộ luật dân sự
năm 2015 và Luật thương mại năm 2005 về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng.
Thực tế áp dụng các quy định về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng. Phân tích
mối tương quan giữa Bộ luật dân sự năm 2015 và Luật thương mại 2005 về quy định
trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng.
Về mặt thời gian: Tác giả nghiên cứu các quy định của Bộ luật dân sự 2015 và
Luật Thương mại 2005 về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng: Mối tương quan
giữa Bộ luật dân sự 2015 và Luật thương mại; thực tế áp dụng dựa trên các bản án của
các tòa án khi gải quyết các tranh chấp về hợp đồng.
6


5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, quan điểm chung về nhà
nước và pháp luật, Bộ luật Dân sự hiện hành của Việt Nam, các cơ sở khoa học về lịch sử
pháp luật, xã hội học pháp luật, các văn bản pháp luật có liên quan, các công trình nghiên
cứu, các sách chuyên khảo và các bài viết đăng trên các bài báo và tạp chí. Trong quá
trình nghiên cứu luận văn, tác giả cũng kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu: so
sánh, tổng hợp, lịch sử, khảo sát thực tiễn, logic để phân tích, tổng hợp các chi thức khoa
học luật dân sự về trách nhiệm dân sự. Tác giả đã tiến hành so sánh những quy định về
trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng và so sánh những quy định trong BLDS năm
2015 và Luật Thương mại 2005.
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng những phương pháp phân tích và bình luận các bản
án, những quy định của pháp luật cũng như trong thực tiễn áp dụng pháp luật để giải
quyết những tranh chấp phát sinh đối với những trường hợp vi phạm hợp đồng trong bối
cảnh Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế để làm rõ hơn các nội dung được
nghiên cứu.
6. Cơ sở lý luận và khoa học của đề tài - Cơ sở lý luận:
Cơ sở lý luận: với phương pháp luận là Chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới, xây dựng nền kinh tế hàng hóa
nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, các chính sách pháp luật, chính sách
kinh tế giúp cho tư duy và góc độ nghiên cứu luôn đi đúng hướng và có hiệu quả.
Cơ sở khoa học: Đề tài được nghiên cứu dựa trên các cơ sở các ngành khoa học
chuyên ngành luật đặc biệt là chuyên ngành dân sự và luật thương mại. Từ đó, sử dụng
những phương pháp phân tích, so sánh, đánh giá những quy định của pháp luật một cách
khách quan và chính xác nhất.
7. Điểm mới của đề tài

7


Luận văn có một số đóng góp mới về lý luận và thực tiễn như sau: nghiên cứu về
vấn đề trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng một cách toàn diện và có hệ thống trên
cơ sở lý luận và thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật kinh doanh, hợp đồng
kinh doanh và thương mại và luật dân sự. Phân tích, luận giải các quy định về vấn đề
trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng, đồng thời từ đó chỉ ra những thiếu sót, bất cập
của Pháp luật hiện hành đối với trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng trong tình hình
hiện nay. Đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về trách
nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng, cụ thể cần sửa đổi những điều khoản nào của các
văn bản pháp luật có liên quan.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo luận văn được kết
cấu thành 3 chương.
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng.
Chương 2: Nội dung trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng theo quy định của
BLDS năm 2015 và Luật Thương Mại năm 2005 và thực tiễn thực hiện.
Chương 3: Hoàn thiện chế định trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng trong
mối tương quan giữa BLDS năm 2015 và Luật Thương Mại năm 2005.

8


Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH
NHIỆM DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG
1.1. Khái niệm và đặc điểm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
1.1.1. Khái niệm trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
Trước khi tìm hiểu về khái niệm “trách nhiệm do vi phạm hợp đồng”, ta cần tìm
hiểu kỹ về khái niệm cũng như đặc điểm của “vi phạm hợp đồng”.
Ngày nay, hợp đồng là công cụ pháp lý quan trọng và phổ biến để con người thực
hiện các giao dịch nhằm thỏa mãn hầu hết mọi nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hội.
Tuy vậy, trong lịch sử lập pháp của nhân loại, để tìm ra một thuật ngữ chính xác, như
thuật ngữ “hợp đồng” đang được sử dụng ở nhiều quốc gia hiện nay là việc không mấy dễ
dàng.
Ở Việt Nam, trong thực tế đời sống, có rất nhiều thuật ngữ khác nhau được sử
dụng để chỉ về hợp đồng như: khế ước, giao kèo, văn tự, văn khế, tờ giao ước, tờ ưng
thuận, chấp thuận… Sau này, các văn bản hiện hành của nhà nước ta không còn được sử
dụng thuật ngữ “khế ước”, hay “hiệp ước” như trước đây mà sử dụng các thuật ngữ có
tính “chức năng”, “công cụ” như hợp đồng dân sự, hợp đồng lao động, hợp đồng thương
mại. Đây là điểm cá biệt bởi trong pháp luật của nhiều nước, người ta chỉ sử dụng thuật
ngữ “hợp đồng” nói chung, chứ không sử dụng thuật ngữ HĐDS, HĐTM, HĐLĐ… một
cách cụ thể như pháp luật Việt Nam
Hợp đồng dân sự là một khái niệm có nguồn gốc lâu đời và thông dụng nhất, là
một trong những chế định quan trọng của pháp luật Dân sự. Có rất nhiều cách định nghĩa
“Hợp đồng dân sự”, chẳng hạn:
Theo phương diện chủ quan: Hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà các bên
cùng đưa ra sự thỏa thuận, cùng thống nhất ý chí với nhau nhằm xác lập, thay đổi hoặc
chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự cho nhau.

9


Theo phương diện khách quan: Hợp đồng dân sự là một loại quan hệ xã hội được
quy phạm pháp luật dân sự điều chỉnh và thể hiện dưới một hình thức nhất định.
Khác với BLDS 2005 khái niệm về HĐDS thì BLDS 2015 đưa ra khái niệm về
hợp đồng nói chung, theo Điều 385 BLDS 2015: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các
bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự”.
Hợp đồng được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa các chủ thể nhằm xác lập, thay
đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong những quan hệ xã hội cụ thể. Định nghĩa trên
được xem là hợp lý và thuyết phục nhất từ trước đến nay vì có nội dung ngắn gọn, chính
xác mà lại mang tính khái quát cao, phản ánh đúng bản chất của thuật ngữ “hợp đồng”.
Đây là sự thống nhất khi không còn phân biệt giữa hợp đồng dân sự, hợp đồng thương
mại hay hợp đồng lao động. Bởi lẽ thuật ngữ “dân sự” vừa có thể được hiểu theo nghĩa
rộng vừa có thể được hiểu theo nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, khái niệm “dân sự” bao hàm
cả lĩnh vực dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hôn nhân gia đình. Còn theo nghĩa
hẹp, khái niệm “dân sự” chỉ được dùng trong quan hệ dân sự khi có sự phân biệt với các
quan hệ khác như hành chính, hình sự. Nội hàm khái niệm hợp đồng được quy định tại
Điều 385 BLDS năm 2015 tiếp cận hợp đồng theo nghĩa rộng (là khái niệm chung để chỉ
mọi loại hợp đồng chứ không phải để dành riêng cho hợp đồng dân sự) [30, tr.379].
Dù được hình thành trong lĩnh vực quan hệ xã hội nào thì hợp đồng luôn có những
điểm chung sau đây:
Thứ nhất, yếu tố cơ bản nhất là sự thỏa hiệp giữa các ý chí, tức là có sự thỏa thuận
giữa các bên với nhau. Người ta thường gọi nguyên tắc này là nguyên tắc hiệp ý. Nguyên
tắc hiệp ý là kết quả tất yếu của tự do hợp đồng: khi giao kết hợp đồng các bên được tự
do xây dựng, quy định nội dung hợp đồng, tự do xác định phạm vi quyền và nghĩa vụ của
các bên. Đây là kết quả của quá trình thảo luận và thống nhất ý chí giữa các bên nhằm
phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau. Đương nhiên,
tự do hợp đồng không phải là tự do tuyệt đối. Nhà nước buộc các bên khi giao kết hợp
đồng phải tôn trọng đạo đức, trật tự xã hội, trật tự công cộng. Trong những trường hợp
thật cần thiết, nhân danh tổ chức quyền lực công, nhà nước có thể can thiệp vào việc ký
10


kết hợp đồng và do đó giới hạn quyền tự do giao kết hợp đồng. Tuy nhiên sự can thiệp
này phải là sự can thiệp hợp lý và được pháp luật quy định chặt chẽ để tránh sự lạm dụng,
vi phạm quyền tự do hợp đồng.
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay yếu tố thỏa thuận trong giao kết hợp đồng
được đề cao. Tất cả các hợp đồng đều là sự thỏa thuận. Tuy nhiên, không phải cứ có hai
bên chủ thể bày tỏ ý chí thì có thể hình thành nên hợp đồng. Hợp đồng chỉ có thể được
hình thành nếu sự thỏa thuận của các bên đạt được đến sự thống nhất tức là ý chí của hai
bên đã đồng thuận và cùng chấp nhận một hậu quả pháp lý sẽ hình thành khi hợp đằng
được giao kết. Hợp đồng phải là giao dịch hợp pháp do vậy sự ưng thuận ở đây phải là sự
ưng thuận hợp lẽ công bằng, hợp pháp luật, hợp đạo đức. Các hợp đồng được giao kết
dưới tác động của sự lừa dối, cưỡng bức hoặc mua chuộc là không có sự ưng thuận đích
thực. Những trường hợp có sự lừa dối, đe dọa, cưỡng bức thì dù có sự ưng thuận cũng
không được coi là hợp đồng, tức là có sự vô hiệu của hợp đồng. Như vậy, một sự thỏa
thuận không thể hiện ý chí thực của các bên thì không phát sinh các quyền và nghĩa vụ
pháp lý của các bên.
Thứ hai, yếu tố không thể thiếu của hợp đồng chính là sự thỏa thuận đó phải làm
phát sinh hậu quả pháp lý do việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân
sự. Không phải mọi sự thỏa thuận và có sự thống nhất ý chí của hai hay nhiều bên thì đều
hình thành nên hợp đồng. Ví dụ như thỏa thuận một vụ đi chơi, thỏa thuận cuộc hẹn…
không phải là hợp đồng vì nó không hề làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt bất kỳ sự
kiện pháp lý nào. Chỉ khi những thỏa thuận có hậu quả pháp lý mới hình thành nên hợp
đồng.
Ngoài ra, thỏa thuận chỉ làm phát sinh hiệu lực pháp ký rằng buộc các bên nếu
thỏa thuận đó tuân thủ các yêu cầu do pháp luật quy định như điều kiện về chủ thể, điều
kiện về nội dung và mục đích, điều kiện về sự tự nguyện và về hình thức của hợp đồng
trong trường hợp pháp luật có quy định. Chẳng hạn như ý chí chỉ phát sinh các quyền và
nghĩa vụ pháp lý khi người giao kết có đầy đủ năng lực hành vi để xác lập hợp đồng. Hay
về đối tượng của hợp đồng. Sự thống nhất ý chí của các bên phải nhằm vào một đối
11


tượng cụ thể. Mọi hợp đồng phải có đối tượng xác định. Đối tượng của hợp đồng phải
được xác định rõ rệt và không bị cấm đưa vào các giao dịch dân sự - kinh tế. Chẳng hạn,
đối tượng của hợp đồng mua bán phải là những thứ không bị cấm. Nếu đối tượng của hợp
đồng là bất hợp pháp thì hợp đồng bị coi là vô hiệu. Về mục đích, mục đích của hợp đồng
dân sự là lợi ích hợp pháp, không trái đạo đức xã hội mà các bên cùng hướng tới. Chỉ khi
mục đích của hợp đồng dân sự được chứng minh hoặc được thừa nhận là hợp pháp,
không trái đạo đức xã hội thì hợp đồng dân sự mới phát sinh hiệu lực, qua đó quyền và
nghĩa vụ của các bên mới có thể thực hiện được trên thực tế.
Như vậy, mọi hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên nhưng không phải sự thỏa
thuận nào giữa các bên cũng hình thành nên hợp đồng, chỉ những thỏa thuận tạo ra một
sự ràng buộc pháp lý mới được coi là hợp đồng. Bởi vậy, “ sự thỏa thuận” và “ sự tạo ra
một ràng buộc pháp lý” là hai dấu hiệu cơ bản tạo nên bản chất của hợp đồng.
Trong khi đó, theo từ điển Tiếng Việt, vi phạm “là không tuân theo hoặc làm trái
lại những điều quy định” [32, tr.1112]. Theo đó, vi phạm thể hiện dưới dạng “không tuân
theo” hoặc “làm trái lại” nghĩa là buộc phải thực hiện nhưng không thực hiện hoặc quy
định không được làm thì lại làm.Vì thế, nếu áp dụng nội dung của khái niệm trên vào
trong quan hệ hợp đồng thì có thể hiểu rằng khi một bên không tuân theo hoặc làm trái lại
những gì mà các bên đã quy định trong hợp đồng được gọi là vi phạm hợp đồng.
Theo một số công trình nghiên cứu, vi phạm hợp đồng là “hành vi vi phạm hợp
đồng là hành vi của một bên đã xử sự trái với những quy định của pháp luật hoặc trái với
nội dung đã cam kết” [20, tr.353] hoặc “Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực
hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận giữa
các bên hoặc theo quy định của Luật này”(khoản 12 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005).
Qua đó, có thể thấy vi phạm hợp đồng là việc các bên thực hiện hành vi trái với
cam kết, xâm phạm quyền lợi hợp pháp của bên còn lại trong hợp đồng, theo đó bên có
hành vi vi phạm sẽ phải chịu áp dụng các biện pháp trách nhiệm tương ứng.

12


Từ khái niệm “vi phạm hợp đồng”, có thể thấy được vi phạm hợp đồng có những
đặc điểm chung cơ bản như thực hiện những hành vi trái với cam kết trong hợp đồng,
trong pháp luật về hợp đồng có liên quan; Bên vi phạm xâm phạm đến quyền và lợi ích
hợp pháp của bên còn lại trong hợp đồng mà không phải xâm phạm đến quyền lợi của các
bên ngoài hợp đồng, nhà nước, xã hội; Xâm phạm đến đối tượng mà các bên trong hợp
đồng hướng đến, đối tượng này được các bên trong hợp đồng xác định rõ ràng mà không
phải là ngẫu nhiên ngoài xã hội. Hơn nữa, vi phạm hợp đồng là việc thực hiện những
hành vi trái với cam kết hoặc với pháp luật hợp đồng thông qua những hành vi cụ thể như
không thực hiện hợp đồng như không giao hàng, không thanh toán, không mua hàng hoặc
thực hiện nhưng không đầy đủ như giao hàng thiếu, không đúng chất lượng, thanh toán
thiếu, nhận hàng không đầy đủ; chậm giao hàng… Đây chính là các biểu hiện của hành vi
vi phạm hợp đồng nói chung.
Sau khi đã hiểu rõ về khái niệm và đặc điểm của “vi phạm hợp đồng”, ta sẽ nghiên
cứu về khái niệm trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng.
Theo Từ điển Tiếng Việt, trách nhiệm có thể được hiểu theo hai nghĩa: một là
“phần việc được giao cho hoặc coi như được giao cho, phải bảo đảm làm tròn, nếu kết
quả không tốt thì phải gánh chịu phần hậu quả”, hai là “sự ràng buộc đối với lời nói,
hành vi của mình, bảo đảm đúng đắn, nếu sai trái thì phải gánh chịu phần hậu quả”.
Theo hai cách định nghĩa như trên thì trách nhiệm có nhiều điểm tương đồng với
nghĩa vụ, nhưng nó cũng hàm chứa một điểm khác biệt quan trọng, đó là yếu tố “hậu
quả”. Với trách nhiệm pháp lý, tức trách nhiệm đã được điều chỉnh và bảo vệ bới các quy
phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, các “hậu quả” này sẽ là “hậu quả bất lợi” được áp
đặt lên những người phải chịu trách nhiệm pháp lý. Trách nhiệm pháp lý luôn là một chế
định quan trọng đối với mọi hệ thống luật, vì nó chính là bảo đảm cho sự tuân thủ pháp
luật của các thành viên trong xã hội, Trách nhiệm pháp lý xuất hiện khi có sự vi phạm
pháp luật, là hậu quả của hành vi vi phạm và thể hiện sự răn đe của Nhà nước đối với
những hành vi vi phạm.

13


Trách nhiệm pháp lý được hiểu là: “hậu quả bất lợi (sự trừng phạt) đối với chủ
thể vi phạm pháp luật, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa Nhà nước với các chủ thể vi
phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và điều chỉnh, trong đó chủ thể vi
phạm pháp luật phải chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế được quy
định ở chế tài các quy phạm pháp luật” [49].
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng là trách nhiệm phát sinh do một bên vi
phạm nghĩa vụ được quy định trong hợp đồng. Khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ trong
hợp đồng mà người có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ
nghĩa vụ thì sẽ phát sinh trách nhiệm pháp lý với người có quyền theo quy định trong hợp
đồng. Tuy nhiên, nếu sự vi phạm này chưa gây thiệt hại, thì người vi phạm chỉ có trách
nhiệm thực hiện đúng nghĩa vụ. Mặt khác, nếu vi phạm nghĩa vụ đã gây ra một thiệt hại
cho người bị vi phạm, thì người vi phạm phải chịu trách nhiệm BTTH. Vì vậy, tùy thuộc
vào tính chất, hậu quả của sự vi phạm mà trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng sẽ là
trách nhiệm buộc phải thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng, trách nhiệm BTTH (nếu đã
gây thiệt hại), và có thể là trách nhiệm phạt vi phạm nếu các bên có thỏa thuận.
Về phân loại, qua tìm hiểu và nghiên cứu, có thể chia trách nhiệm pháp lý thành
bốn loại khác nhau, cụ thể đó là:
- Trách nhiệm pháp lý hình sự là loại trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất do
Tòa án nhân danh Nhà nước áp dụng đối với những người có hành vi phạm tội được quy
định trong Bộ luật hình sự.
- Trách nhiệm pháp lý hành chính là loại trách nhiệm pháp lý do cơ quan quản lý
nhà nước áp dụng đối với mọi chủ thể khi họ vi phạm pháp luật hành chính.
- Trách nhiệm pháp lý dân sự là loại trách nhiệm pháp lý do Tòa án áp dụng đối
với mọi chủ thế khi họ vi phạm pháp luật dân sự.
- Trách nhiệm pháp lý kỷ luật là loại trách nhiệm pháp lý do thủ trưởng các cơ
quan, xí nghiệp,… áp dụng đối với cán bộ, công nhân viên của cơ quan xí nghiệp mình
khi họ vi phạm nội quy, quy chế của nội bộ cơ quan.
14


1.1.2. Đặc điểm trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng
Trách nhiệm pháp lý là loại trách nhiệm do pháp luật quy định. Đây là điểm khác
biệt cơ bản giữa trách nhiệm pháp lý với các loại trách nhiệm xã hội khác như trách
nhiệm đạo đức, trách nhiệm tôn giáo, trách nhiệm chính trị [47]… Khi xem xét đặc điểm
của trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng chúng ta nhận thấy có nhiều yếu tố ảnh
hưởng đến việc xác nhận đặc điểm của chúng:
- Xét về bản chất, loại trách nhiệm này là một quan hệ pháp luật giữa các các bên
khi tham gia giao kết hợp đồng trong đó có bên vi phạm và bên bị vi phạm, bên vi phạm
phải chịu trách nhiệm trước bên bị vi phạm nếu không tự nguyện thi hành sẽ bị cơ quan
nhà nước cưỡng chế thực hiện.
- Xét về chức năng, ngoài những chức năng phòng ngừa còn có chức năng xử lý vi
phạm, với mục đích chính là khôi phục - đền bù ngang bằng không mang tính trừng phạt,
ngoài ra còn có chức năng điều tiết các hoạt động trong quan hệ dân sự phát triển theo
một trật tự nhất định.
- Xét về phương pháp điều chỉnh các quan hệ là phương pháp bình đẳng - thỏa
thuận và tự định đoạt. Với những ảnh hưởng từ những yếu tố này, trách nhiệm pháp lý do
vi phạm hợp đồng có các đặc biểm cơ bản sau:
Thứ nhất, yếu tố quan trọng nhất của trách nhiệm pháp lý là “hậu quả bất lợi” hay
nói cách khác là chế tài. Trách nhiệm pháp lý luôn là hậu quả pháp lý bất lợi đối với chủ
thể vi phạm pháp luật thể hiện qua việc họ phải gánh chịu những sự thiệt hại về tài sản,
về nhân thân, về tự do hoặc những thiệt hại khác do pháp luật quy định. Là một biện pháp
cưỡng chế mang tính chất pháp lý, do đó được đảm bảo thi hành bởi pháp luật và bộ máy
cưỡng chế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Thái độ của Nhà nước đối với các hành
vi vi phạm pháp luật được thể hiện qua việc áp dụng các chế tài và các chế tài này được
đảm bảo thực hiện bằng bộ máy cưỡng chế của Nhà nước. Các biện pháp trách nhiệm
pháp lý là một loại biện pháp cưỡng chế nhà nước đặc thù : mang tính chất trừng phạt

15


hoặc khôi phục lại những quyền và lợi ích bị xâm hại và đồng thời được áp dụng chỉ trên
cơ sở những quyết định của cơ quan hoặc người có thẩm quyền.
Thứ hai, đặc điểm thứ hai là tính đền bù, bởi mục đích của trách nhiệm pháp lý
không chỉ là trừng trị hành vi vi phạm mà bên cạnh đó còn là sự khôi phục lại tình trạng
tương ứng với phần hậu quả mà người vi phạm đã gây ra do không thực hiện nghĩa vụ
của mình, bao gồm:
Trách nhiệm buộc phải thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng: Trách nhiệm buộc phải
thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng là khi người có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện
không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trong hợp đồng thì bên có quyền có quyền yêu cầu
cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế để buộc người có
nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ. Với trách nhiệm này, người vi phạm nghĩa vụ phải tiếp
tục thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của bên kia. Nếu bên có quyền đã yêu cầu mà bên có
nghĩa vụ vẫn không thực hiện, thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước áp dụng những
biện pháp cưỡng chế buộc bên kia phải thực hiện nghĩa vụ dân sự theo hợp đồng.
Trách nhiệm BTTH do vi phạm hợp đồng: Khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp
lý của mình gây tổn hại cho người khác thì chính người đó phải chịu bất lợi do hành vi
của mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho người
khác được hiểu là bồi thường thiệt hại (BTTH). Tóm lại, có thể hiểu trách nhiệm BTTH
là một loại trách nhiệm Dân sự mà theo đó thì khi một người vi phạm nghĩa vụ pháp lý
của mình gây tổn hại cho người khác phải bồi thường những tổn thất mà mình gây ra.
Thứ ba, cơ sở thực tế của trách nhiệm pháp lý là vi phạm pháp luật. Chỉ khi có vi
phạm pháp luật mới áp dụng trách nhiệm pháp lý. Bên cạnh đó, Chủ thể phải gánh chịu
trách nhiệm pháp lý là chủ thể vi phạm pháp luật. Căn cứ phát sinh trách nhiệm là hành vi
vi phạm pháp luật dân sự và chỉ áp dụng với người thực hiện hành vi vi phạm đó;
Như vậy, trách nhiệm pháp lý luôn gắn liền với các biện pháp cưỡng chế nhà nước
được quy định trong phần chế tài của các quy phạm pháp luật. Đây là điểm khác biệt giữa
trách nhiệm pháp lý với các biện pháp cưỡng chế khác của nhà nước như bắt buộc chữa
16


bệnh, giải phóng mặt bằng…Trách nhiệm pháp lý luôn là hậu quả pháp lý bất lợi đối với
chủ thể phải gánh chịu thể hiện qua việc chủ thể phải chịu những sự thiệt hại nhất định về
tài sản, về nhân thân, về tự do… mà phần chế tài của các quy phạm pháp luật đã quy
định. Trách nhiệm pháp lý phát sinh khi có vi phạm pháp luật hoặc có thiệt hại xảy ra do
những nguyên nhân khác được pháp luật quy định [47]
1.2. Căn cứ phát sinh trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
Theo Điều 292. Các loại chế tài trong thương mại Luật, Thương mại năm 2005 đã
quy định rõ ràng, cụ thể về các loại trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, bao gồm 6 loại
trách nhiệm như sau:
“1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng.
2. Phạt vi phạm.
3. Buộc bồi thường thiệt hại.
4. Tạm ngừng thực hiện hợp đồng.
5. Đình chỉ thực hiện hợp đồng.
6. Huỷ bỏ hợp đồng”.
Thứ nhất, khi một hợp đồng thương mại được giao kết hợp pháp và phát sinh hiệu
lực pháp luật thì các bên phải thực hiện nghĩa vụ mà mình đã thỏa thuận trong hợp đồng.
Việc vi phạm các nghĩa vụ trong hợp đồng dẫn đến hậu quả bên vi phạm phải chịu các
hình thức trách nhiệm chế tài.
Buộc thực hiện đúng hợp đồng là một hình thức chế tài được áp dụng phổ biến khi
có hành vi vi phạm, theo đó bên bị vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mua bán phải tiếp tục thực
hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của bên vi phạm. Buộc thực hiện đúng hợp đồng nhằm đảm
bảo thực hiện trên thực tế hợp đồng đã kí kết.
Khoản 1 Điều 297 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Buộc thực hiện đúng
hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc
dùng các biện pháp khác để hợp đồng được thực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí
17


phát sinh”. Khoản 2 của Luật Thương mại năm 2005 quy định: “ Trường hợp bên vi
phạm giao thiếu hàng hoặc cung ứng dịch vụ không đúng hợp đồng thì phải giao đủ hàng
hoặc cung ứng dịch vụ theo đúng thoả thuận trong hợp đồng. Trường hợp bên vi phạm
giao hàng hoá, cung ứng dịch vụ kém chất lượng thì phải loại trừ khuyết tật của hàng
hoá, thiếu sót của dịch vụ hoặc giao hàng khác thay thế, cung ứng dịch vụ theo đúng hợp
đồng. Bên vi phạm không được dùng tiền hoặc hàng khác chủng loại, loại dịch vụ khác
để thay thế nếu không được sự chấp thuận của bên bị vi phạm”.
Khoản 3 quy định: “Trong trường hợp bên vi phạm không thực hiện theo quy định
tại khoản 2 Điều này thì bên bị vi phạm có quyền mua hàng, nhận cung ứng dịch vụ của
người khác để thay thế theo đúng loại hàng hoá, dịch vụ ghi trong hợp đồng và bên vi
phạm phải trả khoản tiền chênh lệch và các chi phí liên quan nếu có; có quyền tự sửa
chữa khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ và bên vi phạm phải trả các chi phí
thực tế hợp lý”.
Khi tham gia vào quan hệ hợp đồng, mục đích của các bên là quyền và nghĩa vụ
phát sinh từ hợp đồng được thực hiện một cách đầy đủ và thiện chí chứ không phải xuất
phát từ mục đích nhằm đạt được lợi ích từ việc nộp phạt hay bồi thường thiệt hại bởi
trong kinh doanh, thời cơ và uy tín là điều tối quan trọng. Khi đó, việc áp dụng chế tài
buộc thực hiện đúng hợp đồng là không thể thiếu.
Bên cạnh Luật Thương mại năm 2005, BLDS năm 2015 cũng quy định về trách
nhiệm phái thực hiện nghĩa vụ. Theo đó, phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu
của bên kia, nếu không thực hiện có thể nhờ cơ quan nhà nước áp dụng biện pháp cưỡng
chế. Trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ được quy định tại các Điều 351, Điều 352,
Điều 353, Điều 355 đến Điều 359 bao gồm: trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trách
nhiệm do không thực hiện nghĩa vụ giao vật, trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả
tiền, chậm tiếp nhận thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm do không thực hiện hoặc không
được thực hiện một công việc.

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×