Tải bản đầy đủ

Pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng từ thực tiễn tỉnh nam định

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
----------------------

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP THÔNG TIN
CỦA DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG
TỪ THỰC TIỄN TỈNH NAM ĐỊNH

NGUYỄN VĂN LƯƠNG

HÀ NỘI - 2018

1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
----------------------


LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP THÔNG TIN
CỦA DOANH NGHIỆP ĐỐI VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG
TỪ THỰC TIỄN TỈNH NAM ĐỊNH

NGUYỄN VĂN LƯƠNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN THỊ VÂN ANH

HÀ NỘI - 2018

2


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
I. Văn bản pháp luật:
1. Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.
2. Luật Doanh nghiệp năm 2014.
3. Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.
4. Bộ Luật Dân sự năm 2015.
5. Bộ luật Hình sự năm 2015.
6. Luật Cạnh tranh năm 2004.
7. Luật Thương mại số năm 2005.
8. Luật Kinh doanh Bảo hiểm năm 2000.
9.

Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007.

10. Luật Giá năm 2012.
11. Luật Quảng cáo năm 2012.
12. Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999.
13. Nghị định 51/2010/NĐ-CP ngày 14/5/2010 quy định về hóa đơn bán
hàng hóa, cung ứng dịch vụ.
14. Nghị định số 99/2011/NĐ-CP ngày 27/10/2011 quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật BVQLNTD.
15. Nghị định số 185/2013/NĐ-CP ngày 15/11/2013 quy định về xử phạt vi


phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả,
hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
16. Nghị định số 43/2017/NĐ-CP ngày 14/04/2017 về nhãn hàng hóa.
17. Nghị định số 15/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 quy định chi tiết thi hành
một số điều của luật an toàn thực phẩm.
18. Thông tư số 01/2018/TT-BYT của Bộ Y tế về hướng dẫn ghi nhãn thuốc.
19. Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg ngày 13/01/2012 về việc ban hành danh
mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện
giao dịch chung.
3


II. Sách, giáo trình tham khảo
20. Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và
pháp luật, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
21. Đại học Luật Hà Nội (2012), Giáo trình Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng, Nxb Công an nhân dân.
22. Nguyễn Thị Vân Anh (2014), Tăng cường năng lực các thiết chế thực thi
pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam, Đề tài NCKH cấp Bộ, Viện
Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp, Hà Nội.
23. Vũ Thị Lan Anh (2014), Thực trạng năng lực và giải pháp tăng cường
năng lực của hệ thống Tòa án trong công tác thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng, Chuyên đề Đề tài cấp Bộ, Viện Khoa học Pháp lý, Hà Nội.
24. Nguyễn Văn Cương (2016), Nhận diện thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng và vai trò của những thiết chế này trong việc bảo vệ
người tiêu dùng", Chuyên đề Đề tài cấp Bộ, Viện Khoa học Pháp lý, Hà Nội.
25. Chu Diệu Huyền (2015), Pháp luật về quyền được cung cấp thông tin của
người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay, thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc
sỹ, Trường Đại học Luật Hà Nội.
26. Nguyễn Thị Thư (2013), Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học
xã hội, Hà Nội.
27. Nguyễn Trọng Điệp (2013), Bồi thường thiệt hại trong pháp luật về bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Số
2/2014.
28. Đặng Thái Dương (2016), Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp
luật Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ, Viện Đại học mở Hà Nội.
III. Tài liệu tham khảo khác
29. Nguyễn Thị Vân Anh (2012), Bàn về một số quy định pháp luật bảo vệ
quyền lợi NTD, Tạp chí Luật học số 12/2012.
4


30. Nguyễn Văn Cương, (2013), “Một số vấn đề lý luận về quyền được thông
tin của người tiêu dùng”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (8), (304) – Viện
Nhà nước và Pháp luật.
31. UBND tỉnh Nam Định, (2014 - 2017), Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm
vụ phát triển KT-XH.
32. UBND tỉnh Nam Định, (2017), Báo cáo phòng chống buôn lậu, hàng giả.
33. Cục Thống kê tỉnh Nam Định, (2014 - 2017) niên giám thống kê.
34. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Nam Định, (2014 - 2017), số liệu thống kê.
35. Sở Công thương tỉnh Nam Định (2017), báo cáo quy hoạt phát triển
ngành công nghiệp.
36. Chi cục quản lý thị trường tỉnh Nam Định, (2016, 2017), Báo cáo công
tác quản lý thị trường.
37. Nguyễn Hương, (2018), Báo Nam Định online.
38. Sở Công thương tỉnh Nam Định, (2017), báo cáo đánh giá thị trường
hàng hóa.
IV. Website:
39. Nguồn: https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%B4ng_tin
40. Nguồn:
http://www.namdinh.gov.vn/ubndnamdinh/4/469/2251/71685/Gioi-thieuNam-Dinh/Tong-quan-ve-Nam -Dinh. aspx
41. Nguồn:
https://www.namdinh.gov.vn/Default.aspx?sname=ubndnamdinh&sid
42. Nguồn: http://namdinh.gso.gov.vn/chuyenmuc.aspx?TID=37
43. Nguồn: http://namdinh.gso.gov.vn/
44. Nguồn: http://sokhdt.namdinh.gov.vn/
45. Nguồn:http://socongthuong.namdinh.gov.vn/Default.aspx?sname=Socong
thuong&sid=1229&pageid=29424
http://www.qltt.gov.vn/default.aspx?page=organization&do=detail&id=71
5


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi, có sự hỗ trợ, giúp đỡ từ giảng viên hướng dẫn là PGS.TS. Nguyễn
Thị Vân Anh.
Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và không trùng lặp với các
công trình nghiên cứu có liên quan đã được công bố, có nguồn gốc rõ ràng,
được trích dẫn từ nguồn tài liệu cụ thể theo đúng quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
Hà Nội, ngày…..tháng…..năm 2018.
Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Lương

6


LỜI CẢM ƠN
Được sự phân công của Tổ bộ môn Khoa Luật Kinh tế- trường Đại học
Mở Hà Nội và sự đồng ý của cô giáo PGS.TS. Nguyễn Thị Vân Anh- giảng
viên trường Đại học Mở Hà Nội đã hướng dẫn để em thực hiện việc nghiên
cứu đề tài “Pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp
đối với người tiêu dùng từ thực tiễn tỉnh Nam Định”.
Để thực hiện đề tài này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã
tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và rèn
luyện trong thời gian qua. Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến cô giáo
hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thị Vân Anh đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ
em rất nhiều trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn. Em cũng xin
gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo Khoa Đào tạo sau Đại học và các thầy cô
giáo của trường Đại học Mở Hà Nội đã giúp đỡ em trong quá trình thực hiện
luận văn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài, song do lần đầu em mới
làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực tiễn thực thi
pháp luật cũng như còn nhiều hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên em
không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Em rất mong được sự góp ý
và giúp đỡ của quý thầy cô để luận văn được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Văn Lương

7


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong bối cảnh xã hội nước ta hiện nay, với chủ trương phát triển nền
kinh tế bền vững, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Đảng và
Nhà nước ta đã tạo nhiều chuyển biến tích cực cho nền kinh tế Việt Nam.
Hiện nay, chúng ta đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế
giới, đặc biệt kể từ khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150
của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), sự kiện này mở ra nhiều cơ hội
cũng như thách thức không chỉ đối với các doanh nghiệp Việt Nam mà còn
có cả với từng người dân Việt Nam với tư cách là những chủ thể tiêu dùng.
Sự phát triển như vũ bão của khoa học và công nghệ trong bối cảnh
toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã đặt người tiêu dùng vào một
khung cảnh mới, đó là sự đan xen giữa những tiện ích và phạm vi lựa chọn
rộng rãi với những phương thức kinh doanh gian dối, thiếu trung thực và
được ngụy trang dưới nhiều hình thức tinh vi hơn. Không hiếm các trường
hợp các doanh nghiệp đã sử dụng thị trường Việt Nam làm nơi giải quyết
hàng kém chất lượng, hàng tồn kho, hàng có chỉ dẫn gây nhầm lẫn cho
người tiêu dùng Việt Nam. Mặt khác, nhóm người tiêu dùng chưa có nhiều
cơ hội được giáo dục và đào tạo về tiêu dùng trong thời đại toàn cầu hóa..
Thực tế hiện nay cho thấy, người tiêu dùng (NTD) cả nước nói chung
và NTD tại tỉnh Nam Định nói riêng thường bị hạn chế về thông tin, về kiến
thức chuyên môn, đặc biệt là các kiến thức liên quan đến đặc tính kỹ thuật,
tính năng sử dụng, nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm cũng như hạn chế về
khả năng đàm phán hợp đồng và khả năng chịu rủi ro khi mua sản phẩm.
Vấn nạn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng cùng với các chiêu thức
quảng cáo, khuyến mãi và cạnh tranh giá cả đang ngày càng diễn ra phổ
biến. Sự phát triển của các sản phẩm công nghệ kỹ thuật và sự xuất hiện của
các phương thức kinh doanh mới như bán hàng online, bán hàng qua điện
8


thoại, các giao dịch thương mại điện tử khiến nảy sinh nhiều vấn đề gây ảnh
hưởng tới quyền lợi của NTD.
Vì vậy, các quốc gia trên thế giới cũng như tổ chức CI (Tổ chức bảo vệ
quyền lợi NTD thế giới) đã có các quy định cụ thể về quyền cơ bản của
NTD, trong đó Quyền được cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với
NTD là một trong những quyền được ưu tiên hàng đầu trong việc thực thi có
hiệu quả công tác bảo vệ quyền lợi NTD.
Với sự quan tâm của Nhà nước, trong thời gian qua nhiều văn bản quy
phạm pháp luật đã được ban hành nhằm bảo vệ quyền lợi NTD. Trong đó phải
kể tới Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010. Đây là đạo luật then
chốt trong việc kiểm soát hành vi sản xuất, buôn bán, kinh doanh hàng hóa
nhằm bảo vệ quyền lợi NTD. NTD là một bên trong quan hệ thương mại, dân
sự với tính chất là người tiêu thụ những sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ.
Tuy nhiên, trong mối quan hệ này NTD luôn ở vị thế yếu hơn và có nguy
cơ gánh chịu rủi ro, thiệt hại, quyền lợi của NTD vẫn đang và có nguy cơ tiếp
tục bị vi phạm nghiêm trọng. Mặc dù có nhiều tiến bộ, song vì nhiều lý do
khác nhau pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD vẫn chưa thực sự là một công cụ
bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của NTD hiện nay. Một trong các
lĩnh vực quan trọng mà NTD bị vi phạm quyền và lợi ích rất đáng quan tâm
hiện nay đó là thông tin hàng hóa.
Mặc dù có sự quan tâm của các cấp chính quyền, các cơ quan pháp luật,
nhưng công tác bảo đảm quyền được cung cấp thông tin của NTD ở tỉnh Nam
Định còn nhiều khó khăn, thách thức. Tình trạng hàng hóa kém chất lượng,
hàng giả xuất hiện trên thị trường có xu hướng gia tăng và ảnh hưởng không
nhỏ tới sức khoẻ cộng đồng. Sản xuất, kinh doanh hàng hóa tại Nam Định cơ
bản vẫn là nhỏ lẻ nên việc kiểm soát chất lượng sản phẩm rất khó khăn. Công
tác quản lý thị trường còn nhiều bất cập, hạn chế. Điều đó đã dễn đến thực
trạng vi phạm của các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa diễn ra khá nhiều,
9


đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng của người dân. Một trong
những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là việc điều chỉnh pháp luật chưa
đáp ứng được yêu cầu bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi quyền lợi của họ
bị xâm phạm.
Trên thực tế công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cho thấy, mặc dù
đã có Luật BVQLNTD và nhiều văn bản quy định liên quan nhưng chưa thực
thi có hiệu quả, chưa có chế tài đủ mạnh để phòng ngừa, xử phạt và bồi
thường thỏa đáng cho NTD. Các thiết chế Nhà nước và tổ chức BVLNTD có
vai trò khá mờ nhạt khi thực hiện chức năng bảo vệ quyền lợi cho NTD, thậm
chí còn chưa xác định được vai trò, chức năng cụ thể trong công tác quản lý
của mình.
Trước tình hình đó, việc nghiên cứu hệ thống pháp luật hiện hành về bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh
nghiệp đối với NTD là nhu cầu bức thiết đặt ra hiện nay. Nhận thức được tầm
quan trọng của “Quyền được cung cấp thông tin của NTD”, nghiên cứu đề
tài “Pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối
với NTD từ thực tiễn tỉnh Nam Định” có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực
tiễn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD là một vấn đề mới của pháp luật Việt
Nam, đặc biệt là đối với trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối
với NTD là nội dung chưa được quan tâm và nghiên cứu sâu sắc. Qua quá
trình tìm hiểu và tình hình nghiên cứu đề tài “Pháp luật về trách nhiệm cung
cấp thông tin của doanh nghiệp đối với NTD”, em nhận thấy chưa có một
luận văn nào nghiên cứu một cách hệ thống và đầy đủ vấn đề này.
Tuy nhiên hiện nay có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến
trách nhiệm của doanh nghiệp về cung cấp thông tin với NTD, đến các quyền
của NTD gồm các vấn đề như:
10


Nguyễn Thị Vân Anh, Bàn về một số quy định pháp luật bảo vệ quyền
lợi NTD, Tạp chí Luật học số 12/2012, Trường Đại học Luật Hà Nội;
Nguyễn Văn Cương, Chuyên đề Đề tài cấp Bộ: "Nhận diện thiết chế thực
thi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và vai trò của những thiết chế
này trong việc bảo vệ người tiêu dùng", Viện Khoa học Pháp lý, Hà Nội;
Đặng Thái Dương “ Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật
Việt Nam hiện nay” – luận văn Viện Đại học mở Hà Nội 2016;
Hầu hết các công trình nghiên cứu trên ít nhiều đề cập đến nghĩa vụ của
người kinh doanh dịch vụ, hàng hóa trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng, trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp với NTD.
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào đi sâu
nghiên cứu một cách cơ bản và hệ thống về trách nhiệm cung cấp thông tin
của doanh nghiệp đối với NTD hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật hiện hành
về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với NTD và thực tiễn
thi hành tại tỉnh Nam Định, từ đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện pháp luật
và nâng cao hiệu quả trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp trên
thực tế hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu trong giới hạn một đề tài luận văn Thạc sỹ Luật học
này, đề tài không có tham vọng nghiên cứu tất cả các khía cạnh chính trị, kinh
tế ảnh hưởng đến doanh nghiệp, đến quyền được cung cấp thông tin của NTD
mà chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về trách nhiệm
cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với NTD và thực tiễn thi hành tại
tỉnh Nam Định.
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của Luận văn này là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản
về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp với người tiêu dùng.
11


Nghiên cứu nội dung pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh
nghiệp đối với NTD ở Việt Nam; thực tiễn thực thi pháp luật về trách nhiệm
cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với NTD ở tỉnh Nam Định. Đánh giá
thực trạng pháp luật Việt Nam về lĩnh vực này và từ đó đề xuất một số giải
pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với NTD tại tỉnh
Nam Định. Với mục đích trên, Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản làm cơ sở xác định trách
nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với NTD.
- Nghiên cứu nội dung pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của
doanh nghiệp đối với NTD ở Việt Nam.
- Nghiên cứu thực tiễn thực thi pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông
tin của doanh nghiệp đối với NTD ở Việt Nam hiện nay.
- Đưa ra một số định hướng và giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật về
trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp với NTD.
- Nghiên cứu thêm một số quy định pháp luật của một số quốc gia trên
thế giới trong việc quy định trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp
đối với NTD để tham khảo.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng,
Nhà nước ta về phát triển kinh tế xã hội, về xây dựng và hoàn thiện pháp luật
trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Để đạt được mục tiêu làm sáng tỏ những nội dung cần nghiên cứu, trong
khi thực hiện đề tài, cần sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học
sau đây:
- Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp
luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
12


- Phương pháp nghiên cứu các văn bản, tài liệu: Trong quá trình nghiên
cứu đề tài, còn áp dụng các phương pháp cụ thể bao gồm: Phương pháp tổng
hợp, phương pháp này chủ yếu được sử dụng để khái quát các quy định của
pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp đối với NTD;
phương pháp so sánh được áp dụng trong quá tình tìm hiểu các quy định của
các văn bản pháp luật khác nhau như Luật BVQLNTD, Luật Quảng cáo, Luật
Thương mại, Bộ Luật Dân sự… và so sánh giữa các quy định của pháp luật
Việt Nam với pháp luật của một số quốc gia trên thế giới; phương pháp thống
kê được sử dụng trong quá trình lập bảng biểu, số liệu thống kê; phương pháp
tra cứu mạng internet nhằm tìm kiếm các thông tin có liên quan, các bài báo,
sự việc được đăng tải trên mạng internet.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành sẽ là công trình nghiên cứu toàn diện pháp
luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp với người tiêu dùng.
Từ những nghiên cứu lý luận và phân tích đánh giá về tình hình thực thi pháp
luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp với người tiêu dùng
hiện nay, trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm pháp luật của một số nước trên
thế giới. Luận văn đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật trong
lĩnh vực này.
Kết quả nghiên cứu của Luận văn có giá trị tham khảo cho các cơ quan
lập pháp trong quá trình nghiên cứu, xây dựng và hoàn thiện pháp luật về
trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp với người tiêu dùng, góp
phần xây dựng cơ chế chỉ đạo và điều hành công tác tổ chức thực hiện pháp
luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam.
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu,
giảng dạy tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành luật; có giá trị tham khảo đối
với các cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình thực thi, giải quyết các vấn
đề liên quan.
13


7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn được cơ cấu gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận pháp luật về trách nhiệm cung cấp
thông tin của doanh nghiệp với người tiêu dùng.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của
doanh nghiệp với người tiêu dùng từ thực tiễn tỉnh Nam Định.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi
pháp luật về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh nghiệp với người tiêu
dùng tại tỉnh Nam Định.

14


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT
VỀ TRÁCH NHIỆM CUNG CẤP THÔNG TIN CỦA DOANH NGHIỆP
ĐỐI VỚI NGƯỜI TIÊU DÙNG

15


1.1. Một số vấn đề lí luận về trách nhiệm cung cấp thông tin của doanh
nghiệp với người tiêu dùng
1.1.1. Khái niệm người tiêu dùng
Dưới góc độ kinh tế, NTD là một chủ thể (cá nhân, tổ chức) tiêu thụ
hàng hóa cho mục đích tiêu dùng không phải cho mục đích kinh doanh
kiếm lời. NTD là một khái niệm chỉ những chủ thể tiêu thụ của cải được
tạo ra bởi nền kinh tế. Người tiêu dùng là người mua nhưng khác với việc
mua nguyên liệu hoặt mua hàng hóa để bán lại, họ là những người sử
dụng hàng hóa, dịch vụ cuối cùng và làm chúng tiêu hao hoặc biến mất
qua việc sử dụng nó. Dưới góc độ này, khái niệm NTD khác xa so với khái
niệm người mua hàng là bất cứ ai mua hàng hóa, dịch vụ nhằm bất cứ
mục đích gì.
Dưới góc độ pháp lý, khái niệm NTD chỉ xuất hiện với tư cách là chủ
thể pháp luật từ khi lĩnh vực pháp luật về bảo vệ NTD ra đời. Việc xác
định chủ thể nào là NTD rất quan trọng vì đó là đối tượng được bảo vệ
theo pháp luật NTD. Như vậy, người tiêu dùng là các cá nhân hoặc pháp
nhân được đề nghị mua hàng hóa hoặc sử dụng hợp pháp hàng hóa không
nhằm mục đích kinh doanh. Người tiêu dùng không có nghĩa vụ phải
chứng minh mục đích mua hoặc sử dụng hàng hóa của mình. Do đó, NTD
là người mua sắm hàng hóa dịch vụ để phục vụ tiêu dùng cá nhân, gia
đình hoặc một nhóm người vì nhu cầu sinh hoạt. Việc tiêu dùng hàng hóa
của họ một mặt được xem như là việc sử dụng hay hủy bỏ một tài sản
kinh tế; một mặt khác cũng là cách thể hiện mình. Thị trường tiêu dùng
bao gồm các cá nhân, các hộ gia đình và nhóm người tập thể mua sắm
hàng hóa dịch vụ nhằm mục đích tiêu dùng.

16


Theo pháp luật bảo vệ NTD, NTD được hưởng sự ưu tiên hơn so với
chủ thể luật Dân sự khác trong các giao dịch với thương nhân kinh doanh
hành hóa, dịch vụ. Sở dĩ NTD được ưu tiên hơn bởi họ có nhiều yếu thế
hơn như thiếu thông tin hàng hóa, dịch vụ, yếu thế về khả năng đàm phán
khi giao kết hợp đồng, yếu về khả năng chịu rủi ro phát sinh trong quá
trình tiêu dùng. Bởi vậy, dưới góc độ pháp lý việc xác định chủ thể nào là
NTD và là đối tượng được bảo vệ của pháp luật bảo vệ NTD có vai trò vô
cùng quan trọng.
Luật pháp của đa số các nước trên thế giới quy định, NTD chỉ là các
cá nhân và không coi tổ chức là NTD. Các giao dịch mua bán hàng hóa,
dịch vụ mà tổ chức tham gia mặc dù đối tượng của giao dịch là hàng hóa,
dịch vụ tiêu dùng sẽ được bảo vệ theo pháp luật hợp đồng chứ không
được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ NTD.
Trong hệ thống pháp luật Hoa Kỳ, tuy các đạo luật cụ thể không quy
định khái niệm NTD, nhưng theo các chuyên gia pháp luật Hoa Kỳ thì: “NTD
là cá nhân tham gia giao dịch với mục đích chủ yếu vì nhu cầu cá nhân hoặc
sinh hoạt gia đình”. Chỉ thị số 1999/44/EC của EU về việc mua bán hàng hóa
tiêu dùng và các bảo đảm liên quan quy định: “NTD là bất cứ tự nhiên quy
định (tức cá nhân) tham gia vào các hợp đồng trong Chỉ thị này vì mục đích
không liên quan tới hoạt động kinh doanh hoặc nghề nghiệp của mình”.
Thêm vào đó, Điều 2 Luật Hợp đồng tiêu dùng của Nhật Bản năm 2000 chú
thích: “NTD là cá nhân không bao gồm trường hợp cá nhân trở thành một
bên của hợp đồng như một thương nhân hoặc vì mục đích thương mại”.
Có thể thấy, so với pháp luật của nhiều nước trên thế giới, đối tượng là
NTD được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ NTD của Việt Nam có sự mở rộng
hơn. Ngoài đối tượng là cá nhân được pháp luật bảo vệ như thông lệ quốc tế,
pháp luật Việt Nam còn coi các tổ chức cũng là NTD khi tổ chức đó mua, sử

17


dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng. Trong thực tế,
nhiều giao dịch thực hiện khi thương nhân mua hàng hóa của thương nhân
khác không phải để trực tiếp phục vụ kinh doanh mà để thưởng cho nhân viên
hay để phục vụ nhu cầu ăn uống, giải trí, nghỉ ngơi của nhân viên, theo tinh
thần của Luật BVQLNTD năm 2010, trong những trường hợp đó thương nhân
cũng được coi là NTD. Ví dụ: Công ty môi trường mua 1.000 chiếc bánh
Trung thu để tổ chức Tết Trung thu cho con em của cán bộ, nhân viên trong
công ty, trong trường hợp này theo Luật BVQLNTD năm 2010 tổ chức này
được bảo vệ với tư cách NTD.
Ở Việt Nam hiện nay, việc xác định tổ chức hay thương nhân có được
coi là NTD hay không là vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau. Một số ý kiến
cho rằng khi thương nhân mua hàng hóa không nhằm mục đích bán lại hoặc
kinh doanh thì vẫn được coi là NTD. Tuy nhiên, một số ý kiến khác cho rằng
trong mọi trường hợp thương nhân mua hàng hóa, dịch vụ đều là những hành
vi thương mại phụ thuộc, phục vụ cho hoạt động kinh doanh của thương nhân
nên đều phải được điều chỉnh theo pháp luật hợp đồng thương mại chứ không
được bảo vệ theo pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD.

18


1.1.2. Các quyền của người tiêu dùng:
Trên thế giới, vấn đề bảo vệ NTD bắt đầu được quan tâm sau chiến
tranh thế giới thứ hai. Khi đó xuất hiện ý tưởng cần thiết phải bảo vệ NTD
chống lại các hành vi lừa dối, gây nhầm lẫn, lạm dụng NTD, đảm bảo sự an
toàn cho NTD khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Điều này được chứng minh
bằng sự ra đời và phát triển của Tổ chức Quốc tế NTD (CI). Năm 1960,
tiền thân của CI là Liên hiệp các tổ chức Quốc tế NTD (IOCU –
International Union of consumers association) được thành lập với 5
thành viên ở 123 nước và vùng lãnh thổ. Ngay từ những ngày đầu thành
lập CI đã đưa vào trong hoạt động tuyên truyền, vận động chính sách của
mình về việc đấu tranh bảo vệ 8 quyền cơ bản của NTD. Các quyền của
NTD là phạm trù pháp lý xuất phát từ các quyền con người. Đây là vấn đề
quan trọng nhất của pháp luật bảo vệ NTD, vì việc xác định các quyền của
NTD là cơ sở pháp lý cốt lõi để định hướng cho quá trình xây dựng các
văn bản pháp luật, các đạo luật chuyên ngành, các chính sách liên quan đế
NTD nhằm bảo đảm cho các quyền của NTD được thực hiện trên thực tế.
Đồng thời việc xác định các quyền của NTD có ảnh hưởng trực tiếp đến
các quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh đối với NTD
cũng như trách nhiệm của các thiết chế bảo vệ NTD. Sau đó, với lỗ lực của
CI, năm 1985 Liên hiệp quốc ban hành “Bản hướng dẫn về bảo vệ NTD” kèm
theo nghị quyết của Đại hội đồng Liên hiệp quốc số A/RES/39/248 ngày 16
tháng 4 năm 1985, trong đó đã ghi nhận 8 quyền của NTD.
Tại Điều 8 Luật BVQLNTD năm 2010 của Việt Nam quy định tương
đối rõ ràng về các quyền cơ bản của NTD. Theo đó, NTD có các quyền cơ bản
sau:

19


Thứ nhất, được an toàn tính mạng, sức khỏe, tài sản, quyền, lợi ích
hợp pháp khác khi tham gia giao dịch, sử dụng hàng hóa, dịch vụ do tổ
chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp.
Thứ hai, được cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ về tổ chức, cá
nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ;
nguồn gốc, xuất xứ hàng hóa, được cung cấp hóa đơn, chứng từ, tài liệu
liên quan đến giao dịch và thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ
mà NTD đã mua, sử dụng.
Thứ ba, lựa chọn hàng hóa, dịch vụ, tổ chức, cá nhân kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình; quyết định
tham gia hoặc không tham gia giao dịch và các nội dung thỏa thuận khi
tham gia giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
Thứ tư, góp ý kiến với tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ
theo nhu cầu, điều kiện thực tế của mình; quyết định tham gia hoặc không
tham gia giao dịch và các nội dung thỏa thuận khi tham gia giao dịch với
tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Góp ý kiến với tổ chức, cá
nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ về giá cả, chất lượng hàng hóa, dịch
vụ, phong cách phục vụ, phương thức giao dịch và nội dung khác liên
quan đến giao dịch giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ.
Thứ năm, tham gia xây dựng và thực thi chính sách, pháp luật về bảo
vệ quyền lợi NTD.

20


Thứ sáu, yêu cầu bồi thường thiệt hại khi hàng hóa, dịch vụ không
đúng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng, số lượng, tính năng,
công dụng, giá cả hoặc nội dung khác mà tổ chức, cá nhân kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ đã công bố, niêm yết, quảng cáo hoặc cam kết.
Thứ bảy, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hoặc đề nghị tổ chức xã hội khởi
kiện để bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của Luật BVQLNTD và
các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Thứ tám, được tư vấn, hỗ trợ, hướng dẫn kiến thức về tiêu dùng
hàng hóa, dịch vụ.
Như vậy có thể thấy, Luật BVQLNTD năm 2010 của Việt Nam đã ghi
nhận khá đầy đủ các quyền của NTD theo hướng dẫn bảo vệ NTD của Liên
hiệp quốc. Đây là những quy định vô cùng quan trọng, là cơ sở pháp lý
vững chắc để các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức, những người cung cấp
dịch vụ, hàng hóa cụ thể được trách nhiệm của mình khi tham gia vào các
hoạt động kinh tế và trong mối quan hệ đối với NTD.
1.1.3. Khái niệm về thông tin và vai trò của thông tin trong quan hệ
tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường
1.1.3.1. Khái niệm về thông tin
Theo triết học phương Tây, “Thông tin được hiểu là thông báo những
tin tức, cung cấp kiến thức về một khía cạnh, lĩnh vực nào đó nhằm đưa ra
những hiểu biết nhất định cho người được cung cấp”.

21


Trong quan hệ tiêu dùng, thương nhân là chủ thể cung cấp những tin
tức cho NTD, để NTD nắm bắt và có những hiểu biết về hàng hóa, dịch vụ
mà mình có nhu cầu, từ đó đưa ra quyết định thực hiện giao dịch với
thương nhân. Những tin tức mà thương nhân cung cấp cho NTD bao gồm:
Thông tin về tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ; những thông
tin về nội dung giao dịch hàng hóa, dịch vụ (ví dụ giá cả, thời điểm giao
hàng, địa điểm giao hàng, số lượng, chất lượng hàng hóa theo tiêu
chuẩn…); những thông tin về nguồn gốc, xuất xứ của hàng hóa (hàng nhập
khẩu hay hàng sản xuất trong nước…); những hóa đơn, chứng từ, tài liệu
liên quan đến giao dịch chính là những hình thức cung cấp thông tin cho
NTD và những thông tin cần thiết khác về hàng hóa, dịch vụ mà NTD đã
mua, sử dụng (ví dụ thông tin về bảo hành sản phẩm, thông tin về đổi trả
sản phẩm trong thời gian bao lâu nếu sản phẩm có lỗi, thông tin về việc
bảo dưỡng sản phẩm…).
Đây là cách hiểu chung nhất về khái niệm thông tin mà NTD được pháp
luật quy định mà trách nhiệm của doanh nghiệp về cung cấp thông tin đối với
NTD.
1.1.3.2. Vai trò của thông tin trong quan hệ tiêu dùng trong nền kinh tế thị
trường
* Thông tin là yếu tố quyết định trong các giao dịch mua bán, trao đổi
hàng hó, dịch vụ trên thị trường:

22


Trong các phân tích về kinh tế thị trường và quan hệ thị trường
truyền thống (trước những năm 1970), người ta thường chỉ chú ý tới
định nghĩa thị trường là sự tương tác giữa người mua với người bán để
xác định hàng hóa, dịch vụ cần mua bán (đối tượng giao dịch) và giá cả
của hàng hóa, dịch vụ đó. Khía cạnh thông tin trong tương tác thị trường
ít được nhắc đến. Tuy nhiên, trong vài thập niên trở lại đây, nhất là trong
bối cảnh cuộc cách mạng thông tin và truyền thông, các nhà kinh tế ngày
càng ý thức rõ hơn tầm quan trọng của thông tin đối với sự vận hành của
thị trường, của tương tác cung cầu.
Thực chất tương tác cung cầu trong nền kinh tế thị trường chính là
chuỗi các quyết định của nhà sản xuất, kinh doanh, phân phối và NTD
thông qua các hành vi chọn lựa hàng hóa, dịch vụ để sản xuất, cung ứng,
hành vi định giá hàng hóa, dịch vụ, hành vi tiếp thị, khuyến mại… Có thể
nói, mọi tương tác (giao dịch mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên thị
trường) đều liên quan tới thông tin và đều dựa trên nền tảng thông tin
mà các chủ thể tham gia tương tác (doanh nghiệp, NTD…) có được. Ví dụ:
Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel thường xuyên nhắn tin tới thuê bao
của khách hàng đang sử dụng mạng Viettel các chương tình khuyến mại
tặng 20% giá trị của thẻ nạp. Chương trình khuyến mãi của Viettel chính
là hoạt động cung cấp, trao đổi, đưa thông tin từ doanh nghiệp kinh
doanh dịch vụ viễn thông Viettel tới NTD, những người nhận được thông
báo khuyến mãi của Viettel để nhằm kích thích nhu cầu tiêu dùng mạng di
động, thúc đẩy NTD sử dụng tiêu dùng sản phẩm của Viettel nhằm thu lợi
nhuận.

23


Thêm vào đó, bản thân các tương tác này đều là quá trình trao đổi
thông tin. Thiếu quá trình trao đổi thông tin, bên bán và bên mua không
thể biết đến nhau và không thể thực hiện được quá trình mua bán, trao
đổi. Bản thân hợp đồng giữa các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ
cũng là một tập hợp thông tin về các bên tham gia quan hệ, về đối tượng
mua bán, giá cả, các quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia quan hệ.
* Thông tin là nền tảng để NTD tiến tới quyết định mua bán, sử dụng
hàng hóa, dịch vụ của thương nhân:
Theo lý luận về Marketing hiện đại, có thể phân tích hành vi lựa chọn
mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của thương nhân này mà không phải của
thương nhân khác chủ yếu dựa trên nền tảng những thông tin liên quan
đến hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp cho NTD
và dựa trên những hiểu biết, khả năng thu thập những thông tin liên quan
từ nhiều nguồn khác nhau như sách, báo, phương tiện truyền thông của
NTD.
Một ví dụ rất cụ thể và thực tế dưới đây về quyết định mua hàng hóa
hoàn toàn dựa trên những thông tin, bà Liên – người dân huyện Xuân
Trường, qua một số nguồn cung cấp thông tin của người quen, qua thông
tin quảng cáo trên Website quảng cáo bà được biết chiếc vòng Titan có tác
dụng chữa bách bệnh, nâng cao sức khỏe, có tính năng đẩy lùi các sóng
điện từ có hại… Cập nhật một số trang web rao vặt cũng có vô vàn thông
tin về tác dụng của vòng Titan, trên một số phương tiện thông tin khác cũng
cho thấy, “vòng hộ mệnh Titan” được các minh tinh màn bạc Hollywood, quý
tộc Anh…tin dùng.

24


Như vậy, có thể thấy thông tin ảnh hưởng vô cùng lớn tới quyết định
mua sắm hàng hóa, sử dụng dịch vụ của NTD. NTD dựa trên những thông
tin mà họ được cung cấp từ nhà sản xuất, từ doanh nghiệp, thương nhân
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, từ các phương tiện truyền thông như Đài
truyền hình, mạng Internet, sách báo, điện tử. Thông tin lúc này là yếu tố
quyết định NTD trở thành NTD thông thái và sự thiếu thông tin trở thành
yếu tố đầu vào của quá tình ra quyết định mua sắm, sử dụng hàng hóa,
dịch vụ của NTD. Vì vậy, để các doanh nghiệp, thương nhân kinh doanh
hàng hóa, dịch vụ có trách nhiệm cung cấp thông tin đến NTD một các có
hiệu quả thì việc quản lý các nguồn thông tin từ nhà cung cấp thông tin là
hết sức quan trọng và cấp thiết. Theo các nhà kinh tế học, qua nghiên cứu,
thông thường một quyết định mua sắm của NTD hiện nay thường trải qua
6 bước sau đây:
Bước 1: Nhận diện cơ hội mua sắm.
Bước 2: Tìm kiếm hàng hóa, dịch vụ, đối tác để phục vụ việc mua
sắm.
Bước 3: Đánh giá các phương án lựa chọn khác nhau.
Bước 4: Quyết định việc mua sắm.
Bước 5: Thực hiện hành vi mua sắm.
Bước 6: Đánh giá, nhìn nhận lại việc mua sắm của mình để rút kinh
nghiệm.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×