Tải bản đầy đủ

Thi hành quyết định của tòa án về tranh chấp kinh doanh thương mại từ thực tiễn tỉnh thái bình

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN VỀ TRANH CHẤP
KINH DOANH THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN
TỈNH THÁI BÌNH

NGUYỄN VĂN TAM

HÀ NỘI – 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN VỀ TRANH CHẤP
KINH DOANH THƯƠNG MẠI TỪ THỰC TIỄN

TỈNH THÁI BÌNH
NGUYỄN VĂN TAM
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ:8380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN TRUNG TÍN

HÀ NỘI - 2018


i

LỜI CAM ĐOAN

Để hoàn thành một đề tài Luận văn Thạc sĩ luật học, tác giả phải tìm
hiểu, nghiên cứu nhiều tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau, như sách, giáo
trình, tạp chí, internet,… đồng thời thu thập các số liệu thực tế, qua đó thống
kê, phân tích và xây dựng thành một đề tài nghiên cứu hoàn chỉnh.
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên
cứu của tôi. Tất cả các nội dung và số liệu trong đề tài này do tôi tự tìm hiểu,
nghiên cứu và xây dựng, các số liệu thu thập là đúng và trung thực. Giải pháp
là do tôi rút ra từ quá trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn giải quyết tranh
chấp kinh doanh thương mại bằng tòa án và kết quả nghiên cứu trong luận
văn chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi cũng xin cam kết chắc chắn rằng, các thông tin trích dẫn trong luận
văn đều được chỉ rõ nguồn gốc. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam
đoan của mình trước Nhà trường và những quy định pháp luật.
Hà Nội, ngày 16 tháng 12 năm 2018
Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Tam


ii

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này cũng như hoàn thành cả quá trình học tập,
rèn luyện là nhờ sự giảng dạy, động viên và hướng dẫn nhiệt tình của các thầy


cô trong Khoa sau Đại học, Viện Đại học Mở Hà Nội cùng cơ quan, gia đình
và bạn bè. Nhân dịp này tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành của mình đến
Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa, các thầy giáo, cô giáo đã chỉ dẫn để tôi
có những kiến thức vô cùng quý giá giúp tôi có thể trưởng thành một cách
vững vàng.
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giáo trong Bộ
môn Luật, đặc biệt là thầy giáo PGS, TS Nguyễn Trung Tín, là người trực tiếp
hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài này.
Tôi xin chân thành cảm ơn TAND tỉnh Thái Bình, các Sở, Ban,
Ngành cùng một số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Thái Bình đã tạo điều
kiện cho tôi tiếp cận và thu thập những thông tin cần thiết để làm sáng tỏ
mục tiêu của đề tài.
Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè
đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu.
Hà nội, ngày 16 Tháng 12 Năm 2018
Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Tam


iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU................................................................................................................ 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH CỦA
TOÀ ÁNVỀ TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI .......................... 5
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của việc thi hành quyết định của toà
án về tranh chấp kinh doanh thương mại ........................................................ 5
1.1.1.Khái niệm thi hành quyết định của toà án về tranh chấp kinh doanh
thương mại ..................................................................................................... 5
1.1.2. Đặc điểm của thi hành quyết định của toà án về tranh chấp kinh doanh
thương mại ................................................................................................... 13
1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của việc thi hành quyết định của toà án về tranh chấp
kinh doanh thương mại ................................................................................. 15
1.2. Nguyên tắc của pháp luật và các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về thi
hành quyết định của toà án về tranh chấp kinh doanh thương mại ................ 24
1.2.1. Nguyên tắc của pháp luật về thi hành quyết định của toà án về tranh
chấp kinh doanh thương mại. ....................................................................... 24
1.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về thi hành quyết định của toà án
về tranh chấp kinh doanh thương mại ........................................................... 34
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH CỦA
TOÀ ÁN VỀ TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI TỪTHỰC
TIỄN TẠI TỈNH THÁI BÌNH............................................................................. 41
2.1.Nội dung các quy định pháp luật về thi hành quyết định của toà án về
tranh chấp kinh doanh thương mại ............................................................... 41
2.1.1.Những quyết định của tòa án được thi hành ......................................... 41


iv

2.1.2. Những quy định về tổ chức bộ máy cơ quan thi hành án..................... 42
2.1.3. Những quy định về thủ tục thi hành án ............................................... 46
2.2. Thực trạng, khó khăn, vướng mắc thi hành quyết định của toà án về
tranh chấp kinh doanh thương mại tại tỉnh Thái Bình ................................... 50
2.2.1. Thực trạng việc thực hiện quy định pháp luật về thi hành quyết định
của toà án về tranh chấp kinh doanh thương mại .......................................... 50
2.2.2.Nhữngkhó khăn, vướng mắc trong thực hiện các quy định pháp luật
về thi hành quyết định của toà án về tranh chấp kinh doanh thương mại ...... 68
Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN VỀ TRANH
CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI ............................................................. 73
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về thi hành quyết định của toà án về
tranh chấp kinh doanh thương mại ............................................................... 73
3.1.1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về thi hành quyết định của toà án về
tranh chấp kinh doanh thương mại ............................................................... 73
3.1.2. Yêu cầu đặt ra đối với pháp luật về thi hành quyết định của toà án về
tranh chấp kinh doanh thương mại ............................................................... 75
3.2. Giải pháp chủ yếu hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành
quyết định của toà án về tranh chấp kinh doanh thương mại......................... 78
3.2.1. Quán triệt, cụ thể hóa đường lối, quan điểm của Đảng, pháp luật của
Nhà nước vào việc thực hiện công tác thi hành án ........................................ 78
3.2.2. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật vềthi hành quyết
định của toà án về tranh chấp kinh doanh thương mại .................................. 80
3.2.3. Tôn trọng và bảo đảm thực hiện nghiêm ý thức pháp luật khi thi hành
quyết định của toà án về tranh chấp kinh doanh thương mại......................... 84
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


v

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

STT

Ký hiệu

Nguyên nghĩa

1

TCKDTM

Tranh chấp kinh doanh thương mại

3

QPPL

Quy phạm pháp luật

4

TA

Tòa án

5

BVQLNTD

Bảo vệ quyền lợi NTD


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thi hành bản án, quyết định của tòa án là giai đoạn cuối của quá trình tố
tụng, đảm bảo cho bản án, quyết định của tòa án được chấp hành và có hiệu
lực trên thực tế nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp
của tổ chức, cá nhân; góp phần đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật,
pháp chế xã hội chủ nghĩa, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội,
tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước. Việc đảm bảo
hiệu lực bản án, quyết định của Tòa án là một yêu cầu tất yếu khách quan, là
nguyên tắc chỉ đạo và chi phối trong toàn bộ tổ chức, hoạt động thi hành án
nói chung và hoạt động thi hành quyết định của tòa án về tranh chấp kinh
doanh thương mại nói riêng.
Thời gian qua, cùng với những thành tựu đạt được trong công cuộc cải
cách tư pháp thì việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định của tòa án ở
nước ta cũng đã có nhiều tiến bộ. Hầu hết các bản án, quyết định của tòa án đã
được các tổ chức, cá nhân tôn trọng và thực hiện nghiêm túc, bước đầu năng
cao nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật của cá nhân, tổ chức.
Tuy nhiên, do tác động của nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế,
các giao lưu về kinh tế giữa các chủ thể kinh doanh ngày càng mở rộng và đa
dạng dẫn tới tình trạng số vụ việc về tranh chấp kinh doanh thương mại ngày
càng tăng về số lượng và phức tạp về nội dung. Kết quả là các bản án, quyết
định phải thi hành ngày càng nhiều, nhiều vụ việc khó khăn phức tạp trong
việc thi hành; bên cạnh đó do nhiều nguyên nhân khác nhau mà vẫn còn nhiều
bản án, quyết định của tòa án mặc dù đã có hiệu lực pháp luật nhưng vẫn chưa
được thực hiện một cách nghiêm túc, triệt để gây thiệt hại cho đương sự và
bất bình trong nhân dân, ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội và niềm tin của nhân dân đối với pháp chế xã hội chủ nghĩa.Do đó, tiếp


tục nghiên cứu, phân tích, đánh giá làm rõ những vấn đề pháp lý và thực tiễn
về thi hành quyết định của toà án về tranh chấp kinh doanh thương mại đểđưa
ra các giải pháp khoa học xây dựng, hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả
thi hành quyết định của toà án về tranh chấp kinh doanh thương mại là vấn đề
cấp thiết. Vì vậy, tôi chọn đề tài “thi hành quyết định của toà án vềtranh chấp
kinh doanh thương mại từ thực tiễn tại tỉnh Thái Bình”làm đề tài luận văn tốt
nghiệp Thạc sĩ Luật tại khoa luật kinh tế, Viện Đại học Mở Hà Nội.
2. Tình hình nghiên cứu
Thi hành các bản án, quyết định của tòa án nói chung và thi hành quyết
định của toà án về tranh chấp kinh doanh thương mại là một lĩnh vực bức xúc,
nhạy cảm thu hút nhiều chuyên gia, học giả, các nhà khoa học nghiên cứuvà
tổng kết. Kết quả nghiên cứu đã được công bố trên sách, báo, tạp chí và trong
các báo cáo tại các cuộc hội thảo khoa học, trong các luận vănthạc sĩ,luận án
tiến sĩ. Trong đó, có thể nêu lên một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên
quan đến đề tài như sau:
- Bùi Thị Vân Anh: “thủ tục thi hành án dân sự trong pháp luật thi
hành án dân sự Việt Nam hiện nay”,Luận văn thạc sĩ Luật học, bảo vệ tại Đại
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2016.
- Đặng Đại Tình: “nguyên tắc bảo đảm hiệu lực bản án, quyết định của
tòa án theo quy định pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam”,Luận văn thạc sĩ,
bảo vệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội, 2013.
- Lê Quỳnh Nga: “thi hành án dân sự qua thực tiễn tỉnh Bắc Ninh”,Luận
văn thạc sĩ Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, Hà Nội, 2014.
- Lê Xuân Tùng: “các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự theo
pháp luật Việt Nam hiện nay từ thực tiễn thành phố Hà Nội”,Luận văn thạc sĩ
Luật học, bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội, 2014.


- Lê Vĩnh Châu: “thi hành bản án, quyết định của Tòa án về giải quyết
tranh chấp trong kinh doanh, thương mại ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến
sĩ Luật học, bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội, 2016.
- Phạm Văn Hùng: “pháp luật thi hành án dân sự thực trạng và giải
pháp, liên hệ thực tiễn ở tỉnh Hải Dương”, Luận văn thạc sĩ, bảo vệ tại Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2014.
Nhìn chung, các công trình, bài viết khoa học nêu trên đã đề cập đến
những vấn đề lý luận và thực hiện pháp luật về thi hành bản án, quyết định
của tòa án trong những khoảng thời gian khác nhau và từ những góc độ khác
nhau, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về thi hành bản án,
quyết định của tòa án trong thời gian qua. Tuy nhiên, cho đến nay các quy
định pháp luật về thi hành bản án, quyết định của tòa án nói chung và thi hành
quyết định của toà án về tranh chấp kinh doanh thương mạinói riêng có nhiều
đổi mới,cần đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện dưới góc độ một luận văn
khoa học pháp luật về thi hành quyết định của toà án về tranh chấp kinh
doanh thương mại.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Làm rõ thêm một số vấn đề lý luận thi hành quyết định của toà án về
tranh chấp kinh doanh thương mại từ thực tiễn tại tỉnh Thái Bình.
- Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về thi hành quyết định của
toà án về tranh chấp kinh doanh thương mại từ thực tiễn tại tỉnh Thái Bình.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích những vấn đề lý luận về thi hành quyết định của Tòa án về
tranh chấp kinh doanh thương mại;
- Phân tích thực trạng pháp luật về thi hành quyết của Tòa án về tranh
chấp kinh doanh thương mại;


- Đề xuất những giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về thi hành
quyết định của Tòa án về tranh chấp kinh doanh thương mại.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thi hành quyết định của Tòa án về
tranh chấp kinh doanh thương mại.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các quan hệ về thi hành quyết định
của Tòa án của Tòa án về tranh chấp kinh doanh thương mại được điều chỉnh
bằng pháp luật hiện hành từ thực tiễn tại tỉnh Thái Bình.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp
luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh và chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước trong lĩnh
vực tư pháp.
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn được sử dụng các phương pháp
nghiên cứu cụ thể như: Lịch sử - lôgíc, phân tích - tổng hợp, điều tra, khảo
sát, thống kê, so sánh và tổng kết thực tiễn.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu giúp các
cơ quan thi hành án thực hiện tốt hơn công tác thi hành án nói chung và nâng
cao vai trò, trách nhiệm, thẩm quyền của cơ quan thi hành án trong việc thi
hành quyết định của toà án về tranh chấp kinh doanh thương mại nói riêng.
- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho nghiên
cứu, giảng dạy và học tập bộ môn Luật Tố tụng dân sự tại cơ sở đào tạo.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kiến nghị, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu
tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 6 tiết.


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH CỦA TOÀ
ÁNVỀ TRANH CHẤP KINH DOANH THƯƠNG MẠI

1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của việc thi hành quyết
định của toà án về tranh chấp kinh doanh thương mại
1.1.1.Khái niệm thi hành quyết định của toà án về tranh chấp kinh
doanh thương mại
Căn cứ vào nội dung, chúng ta có thể phân chia thi hành án thành năm
loại hình cơ bản gồm thi hành án hình sự, thi hành án dân sự, thi hành án
kinh tế, thi hành án lao động, thi hành án hành chính. Tuy nhiên, trong các
văn bản luật có liên quan như Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004, Luật
Thi hành án dân sự năm 2008, Luật Tố tụng hành chính năm 2010, các khái
niệm thi hành án dân sự, thi hành án kinh tế, thi hành án lao động, thi hành
án hành chính cũng không được định nghĩa cụ thể. Luật Thi hành án hình sự
năm 2010 chỉ định nghĩa thi hành án hình sự theo từng hình phạt cụ thể ví dụ
như: thi hành án tử hình, thi hành án treo... mà cũng không có định nghĩa
tổng quát chung về thi hành án hình sự.
Theo từ điển tiếng Việt, "thi hành" có nghĩa là làm cho thành hiện thực
điều đã được chính thức quyết định. Như vậy, có thể định nghĩa thi hành án
là việc đưa các quyết định có hiệu lực của Tòa án ra thi hành. Thi hành án là
quá trình diễn ra sau quá trình xét xử của Tòa án. Quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật là cơ sở để tiến hành các hoạt động thi hành án. Vì vậy,
có thể nói không có kết quả của hoạt động xét xử thì cũng không có hoạt
động thi hành án. Tuy nhiên, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
không phải là cơ sở duy nhất để tiến hành các hoạt động thi hành án mà thi
hành án đòi hỏi những nguyên tắc, thủ tục và cách thức hoạt động riêng. Ví


dụ, cơ quan thi hành án dân sự chỉ có thể tiến hành các hoạt động thi hành án
khi có quyết định thi hành án, cơ quan thi hành án hình sự chỉ thi hành án đối
với người bị kết án phạt tù khi có quyết định thi hành án phạt tù của Tòa án;
việc thi hành án phải dựa trên những quy định cụ thể về thi hành án...
Hiện nay, có nhiều ý kiến cho rằng thi hành án là một giai đoạn tố tụng
độc lập, là giai đoạn tố tụng tiếp theo sau giai đoạn xét xử: "Có xét xử thì
phải có thi hành án, thi hành án dựa trên cơ sở của của công tác xét xử. Xét
xử và thi hành án là hai mặt thống nhất của quá trình bảo vệ lợi ích của
đương sự" hay “Thi hành án thực chất là hoạt động tố tụng của Tòa án, của
các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nhằm bảo đảm cho quyết định của Tòa
án được thi hành một cách chính xác, kịp thời”. Tuy nhiên theo tác giả, về
bản chất, thi hành án không phải là một giai đoạn tố tụng, mang tính tư pháp,
mà là một giai đoạn mang tính hành chính tư pháp. Bởi thi hành án có mục
đích khác với mục đích của tố tụng. Tố tụng là quá trình đi tìm sự thật của
các vụ việc đã diễn ra để trên cơ sở đó đưa ra cách giải quyết vụ việc theo
đúng các quy định của pháp luật. Với mục đích đó, toàn bộ quá trình tố tụng
diễn ra theo quy trình hết sức chặt chẽ và phải bảo đảm các nguyên tắc như
bình đẳng, công khai, dân chủ, tôn trọng quyền và lợi ích của người tham gia
tố tụng... và khi có phán quyết của Tòa án thì quá trình tố tụng kết thúc.
Trong khi đó, thi hành án là quá trình tiến hành các hoạt động nhằm thực
hiện các quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khác với trong thủ
tục tố tụng, mối quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động thi hành án là tổ
chức thi hành, có tính hành chính, mệnh lệnh liên quan. Theo đó, quan điểm
cho rằng thi hành án mang tính hành chính - tư pháp là thích hợp hơn cả, bởi
vì:
Thứ nhất,tính hành chính thể hiện ở chỗ: thi hành án là dạng hoạt động
chấp hành, quản lý. Là dạng hoạt động chấp hành vì thi hành án chỉ được tiến


hành trên cơ sở các quyết định đã có hiệu lực pháp luật và trong khuôn khổ
luật định; toàn bộ quá trình thi hành án với những hoạt động, biện pháp, cách
thức khác nhau đều nhằm thực hiện những nội dung đã được thể hiện trong
các quyết định của Tòa án và theo các quy định cụ thể của pháp luật. Là dạng
hoạt động quản lý vì thi hành án là sự tác động của pháp luật, của các cơ
quan thi hành án tới đối tượng phải thi hành án để họ tự giác thi hành hoặc áp
dụng các biện pháp buộc họ phải thi hành nghĩa vụ đã được xác định trong
các quyết định của Tòa án; phải tuân theo các quy định của pháp luật; giáo
dục họ có ý thức tôn trọng pháp luật, tôn trọng lợi ích của cá nhân, tôn trọng
kỉ luật nhà nước và trở thành người lương thiện (đối với những người bị kết
án phạt tù).
Thứ hai, tính tư pháp thể hiện ở chỗ: căn cứ để thi hành án là các quyết
định của Tòa án và có sự tham gia của các cơ quan tư pháp vào quá trình thi
hành án. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng tính tư pháp trong thi hành án là tư
pháp hiểu theo nghĩa rộng. Trong thực tiễn ở nước ta, cơ quan tư pháp
thường được hiểu bao gồm Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, cơ
quan điều tra, cơ quan thi hành án. Theo tác giả điều này là không đúng. Về
mặt lý luận, nhiều quốc gia trên thế giới đều xem quyền tư pháp là quyền
xem xét và phán quyết về các vi phạm pháp luật, các tranh chấp; Tòa án là cơ
quan tư pháp độc lập duy nhất. Viện Kiểm sát nhân dân chỉ là cơ quan tham
gia các hoạt động tư pháp. Ngay cả Bộ Tư pháp về tên gọi là như thế nhưng
vẫn không có quyền tư pháp (quyền phán quyết) mà chỉ là cơ quan quản lý
nhà nước về một số lĩnh vực liên quan trong hoạt động tư pháp (luật sư, thi
hành án dân sự...). Tương tự như vậy, cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án
cũng thuộc nhóm cơ quan hành pháp. Hệ quả là không thể dựa vào tính tư
pháp trong thi hành án để cho rằng thi hành án là một giai đoạn của tố tụng


hành chính. Vì vậy, có thể dùng "cái gạch ngang" giữa hành chính và tư pháp
để phản ánh bản chất của thi hành án.
Tính chất hành chính - tư pháp là một đặc điểm rất quan trọng cần lưu ý
trong khi quy định về tổ chức và hoạt động của thi hành án. Là hoạt động
thuộc trách nhiệm của hệ thống cơ quan hành pháp nên trong các quy định
của pháp luật thi hành án phải xác định rõ trách nhiệm chính trong tổ chức,
quản lý, chỉ đạo công tác thi hành án phải thuộc về Chính phủ và Ủy ban
nhân dân các địa phương. Với đặc điểm là hoạt động mang tính chất tư pháp
thì những tổ chức và cá nhân có thẩm quyền trực tiếp thi hành án (thủ trưởng
cơ quan thi hành án, chấp hành viên) phải có tính độc lập tương đối, hoạt
động theo luật và chịu trách nhiệm trước Nhà nước. Thật khó có thể xác định
rõ được mức độ (liều lượng) của tính hành chính và tính tư pháp trong thi
hành án. Tuy nhiên, trong thực tiễn, đặc điểm của mỗi loại hình thi hành án
cũng như của mỗi nhóm vụ việc trong từng loại hình thi hành án sẽ quy định
mức độ của tính hành chính và tính tư pháp và thông thường trong thi hành
án, tính tư pháp luôn thể hiện ở mức độ hạn chế hơn so với tính hành chính.
Như vậy, có thể hiểu thi hành án là thủ tục tố tụng tư pháp do cơ quan,
tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành để thi hành quyết định của Toà án
hoặc quyết định của cơ quan Nhà nước, tổ chức khác do pháp luật quy định,
hoặc nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các
cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Thi hành án bao gồm thi hành án hình sự, thi hành án hành chính và thi
hành án dân sự, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn về thi hành quyết
định của Toà án trong tranh chấp kinh doanh thương mại là một loại của thi
hành án dân sự, các quan điểm về thi hành án nói chung đều có điểm hợp lý
và cũng có những điểm đặc thù riêng của thi hành án dân sự.


Xuất phát từ bản chất của các quan hệ dân sự trong đời sống xã hội và
quá trình Toà án giải quyết các tranh chấp dân sự phát sinh thì quyết định dân
sự - kết quả giải quyết của Toà án nhân danh Nhà nước - là sự xác nhận
quyền và nghĩa vụ dân sự của các đương sự có liên quan. Vì vậy, theo quy
định của Điều 106 Hiến pháp năm 2013: “bản án, quyết định của Toà án
nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn
trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp
hành”thì quyết định dân sự có hiệu lực của Toà án phải được đảm bảo thi
hành theo những trình tự, thủ tục thi hành án dân sự [16].
Theo nguyên tắc hiến định nêu trên và yêu cầu khách quan trong hoạt
động của Nhà nước, hoạt động thi hành án dân sự nhằm đảm bảo thực thi
nghiêm chỉnh các quyết định dân sự. Xuất phát từ các quy định pháp luật
hiện hành và thực tiễn công tác thi hành án dân sự ở nước ta, nhiều ý kiến
đồng tình với quan điểm cho rằng thi hành án dân sự là hoạt động đặc thù,
vừa có tính chất của hoạt động hành chính, vừa có tính chất của hoạt động tư
pháp. Điều này thể hiện ở một số điểm sau đây:
(1) Cơ sở của hoạt động thi hành án là các quyết định dân sự của Toà
án; các cơ quan tham gia vào quá trình thi hành án chủ yếu là cơ quan tư
pháp (theo nghĩa rộng).
(2) Thi hành án dân sự là giai đoạn kế tiếp sau giai đoạn xét xử, có mối
quan hệ mật thiết, đan xen với các giai đoạn tố tụng trước đó (ví dụ: việc thi
hành các quyết định khẩn cấp tạm thời của Toà án; trong quá trình thi hành
án, Chánh án Toà án, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền yêu cầu cơ
quan thi hành án hoãn việc thi hành án, quyết định tạm đình chỉ thi hành án
để xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm...). Tuy
nhiên, thi hành án lại có tính độc lập tương đối thể hiện ở chỗ hoạt động này
được bắt đầu bằng quyết định của Thủ trưởng cơ quan thi hành dân sự đối


với thi hành án dân sự. Những quyết định này mang tính bắt buộc chấp hành
đối với tất cả các chủ thể có trách nhiệm và nghĩa vụ liên quan đến việc thi
hành án. Các cơ quan, tổ chức, công dân, trong phạm vi trách nhiệm của
mình có nghĩa vụ chấp hành và phối hợp thực hiện để thi hành án đạt hiệu
quả. Tính chấp hành trong thi hành án phản ánh một đặc trưng chứng tỏ nó
không đơn thuần là hoạt động tố tụng thuần tuý. Bên cạnh các chủ thể là Tòa
án, Viện kiểm sát, chúng ta có thể thấy các chủ thể tham gia vào giai đoạn thi
hành án đông đảo và đa dạng hơn so với các giai đoạn tố tụng trước đó, ví dụ
UBND địa phương nơi người phải thi hành án cư trú; cơ quan, tổ chức nơi
người phải thi hành án làm việc...
(3) Thi hành án và các giai đoạn tố tụng trước đó có mối quan hệ nhân
quả với nhau. Trong lĩnh vực thi hành án hình sự, nếu ở giai đoạn điều tra,
các cơ quan tiến hành tố tụng không kiên quyết áp dụng đầy đủ, kịp thời các
biện pháp ngăn chặn như thu giữ, kê biên, phong tỏa tài sản... thì đến giai
đoạn thi hành án, cơ quan thi hành án sẽ gặp rất nhiều khó khăn do đương sự
cất giấu, tẩu tán tài sản dẫn đến tình trạng án tồn đọng không thể thi hành
được. Hoặc nếu một quyết định được Tòa án tuyên một cách công bằng, thấu
tình, đạt lý, rõ ràng, cụ thể, được dư luận ủng hộ, đồng tình thì việc thi hành
án sẽ dễ dàng, nhanh chóng hơn nhiều. Ngược lại, nếu quyết định của Tòa án
được tuyên không khách quan, toàn diện và công bằng, thiếu tính khả thi sẽ
gây cản trở cho việc thi hành án, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với các
cơ quan nhà nước. Đồng thời, việc thi hành án nhanh chóng, kịp thời sẽ có
tác động tích cực trở lại đối với hoạt động xét xử, củng cố, tăng cường uy tín
của cơ quan xét xử.
(4) Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức Viện Kiểm
sát nhân dân thì Viện Kiểm sát nhân dân không thực hiện chức năng kiểm sát
chung như trước đây, có nghĩa là không thực hiện chức năng kiểm sát đối với


hoạt động hành chính mà chỉ kiểm sát đối với hoạt động tư pháp. Tuy nhiên,
trong Luật tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân hiện hành vẫn có một chương với
nhiều điều quy định về kiểm sát thi hành án. Trong thực tiễn, Viện Kiểm sát
nhân dân các cấp đã ban hành nhiều kháng nghị đối với các quyết định về thi
hành án. Tuy nhiên, tính chất của kháng nghị trong giai đoạn thi hành án có
nhiều điểm không giống với kháng nghị trong giai đoạn xét xử... Điều này
cho thấy rõ mối quan hệ mật thiết, đan xen giữa các cơ quan tiến hành tố tụng
với cơ quan thi hành án, giữa pháp luật tố tụng tư pháp với pháp luật về thi
hành án, giữa quan hệ pháp luật tố tụng với quan hệ pháp luật về thi hành án.
(5) Quá trình thi hành án nhằm khôi phục lại tình trạng ban đầu về
quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, do đó, các trình tự, thủ tục thi hành án
cũng được quy định chặt chẽ bởi pháp luật giống như những thủ tục tố tụng
trước đó vì đều liên quan đến quyền con người, quyền công dân. Hơn nữa,
yêu cầu đặt ra đối với những người tiến hành các trình tự, thủ tục thi hành án,
kể cả Chấp hành viên trong thi hành án dân sự cũng không thấp hơn những
người tiến hành tố tụng trước đó là phải độc lập và tuân theo pháp luật để bảo
đảm duy trì sự thật trong quyết định của Tòa án và tiến tới đạt được sự thật
trên thực tế; nếu không độc lập và chỉ tuân theo pháp luật thì giá trị sự thật
mà quyết định của Tòa án đã xác định sẽ không còn nguyên nghĩa của nó, trừ
trường hợp các đương sự có sự thỏa thuận tự nguyện khác trong quá trình thi
hành án.
(6) Bản chất của thi hành án là dạng hoạt động chấp hành nhưng là chấp
hành phán quyết của cơ quan xét xử với các cách thức và biện pháp khác
nhau nhằm buộc người có nghĩa vụ được xác định trong quyết định của Tòa
án phải thực hiện đúng các nghĩa vụ của mình. Mục đích cuối cùng của thi
hành án là bảo đảm cho các quyết định của Tòa án được ghi trong quyết định
được thực thi trên thực tế chứ không phải là ra văn bản áp dụng pháp luật


hoặc quyết định có tính điều hành - nét đặc trưng của hoạt động hành chính.
Mặt khác, tính chất chấp hành không chỉ là yêu cầu trong hoạt động thi hành
án mà còn là yêu cầu bắt buộc trong các giai đoạn tố tụng trước đó với ý
nghĩa cao nhất là chấp hành các quy định của pháp luật, bản thân pháp luật
được Nhà nước ban hành có tính bắt buộc chung mà mọi người phải tôn
trọng thực hiện.
Hiện nay, không có quy định cụ thể về khái niệm Quyết định của Tòa
án. Tuy nhiên, dựa vào tính chất và mục đích ban hành các loại văn bản này
ta có thể hiểu rằng Quyết định là các văn bản pháp lý mang tính quyền lực do
Tòa án có thẩm quyền ban hành nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ pháp
lý cụ thể của các cá nhân, tổ chức hoặc xác định những biện pháp trách
nhiệm pháp lý đối với người vi phạm pháp luật. Quyết định của Tòa án chỉ
được áp dụng một lần duy nhất.
Về sự khác nhau, Bản án là văn bản ghi nhận phán quyết của Tòa án sau
khi xét xử một vụ án; đối với vụ án hình sự, Tòa án ra Bản án để tuyên bố
một người là phạm tội hay không phạm tội. Trong khi đó đối với vụ án hành
chính và dân sự, Bản án thể hiện việc chấp nhận hay không chấp nhận, cho
hưởng hoặc không cho hưởng một quyền nào đó của đương sự, buộc đương
sự thực hiện các nghĩa vụ nếu các đương sự không thỏa thuận được toàn bộ
vấn đề của vụ án.
Đối với Quyết định, Tòa án sẽ ban hành Quyết định trong trường hợp
công bố một sự kiện hoặc giải quyết một vấn đề, một yêu cầu cụ thể nào đó,
ví dụ: Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định đình chỉ vụ án, Quyết định
công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Quyết định tuyên bố 1 người mất
tích, Quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự...
Quyết định của Tòa án thường có 2 trường hợp:


Một là, Quyết định cá biệt của Tòa án nhằm đưa ra giải quyết, công bố 1
sự kiện, 1 quyết định nào đó của mình. . .ví dụ: Quyết định đưa vụ án ra xét
xử, Quyết định giải quyết khiếu nại của Chánh án, Quyết định tuyên bố 1
người mất tích, mất năng lực hành vi dân sự. . .theo thẩm quyền.
Hai là, Quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự: khi có tranh
chấp, Tòa án tiến hành hòa giải và các đương sự thỏa thuận được tất cả các
vấn đề của vụ án. Lúc này Tòa án ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của
các đương sự.
Như vậy, thi hành quyết định của Toà án trong tranh chấp kinh doanh
thương mại là một loại của thi hành án dân sự, là một giai đoạn tố tụng độc
lập, nó kết thúc và đánh giá kết quả Tòa án giải quyết tranh chấp mà chủ yếu
trong quan hệ tranh chấp thương mại là các thương nhân; ngoài thương nhân
là chủ thể chủ yếu của tranh chấp thương mại, một bên chủ thể của tranh
chấp thương mại có thể là thành viên của thương nhân với nhau hoặc với
thương nhân; giữa thương nhân với các bên có liên quan không phải là
thương nhân tuy thuộc vào từng quan hệ thương mại cụ thể.
Theo tác giả, dù tiếp cận ở góc độ nào cũng cần phải thấy và có thể định
nghĩa rằng: thi hành án quyết định của Toà án trong tranh chấp kinh doanh
thương mại là giai đoạn xuất hiện sau khi quyết định giải quyết vụ án dân sự
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, là tổng thể các hoạt động nhằm mục
đích là làm cho quyết định của Tòa án được thực hiện nghiêm chỉnh trong
thực tế. Tuy nhiên, tác giả không cho rằng thi hành án quyết định của Toà án
trong tranh chấp kinh doanh thương mại cũng như thi hành án nói chung, là
một giai đoạn tố tụng độc lập như các định nghĩa nêu trên mà là một hoạt
động mang tính chất hành chính - tư pháp với lý do như đã trình bày ở trên.
1.1.2. Đặc đ iểm của thi hành quyết định của toà án về tranh chấp
kinh doanh thương mại


Thi hành án kinh doanh, thương mại là một hình thức cụ thể của thi hành
án dân sự, mang đầy đủ những đặc điểm của thi hành án dân sự. Tuy nhiên, thi
hành án kinh doanh, thương mại cũng có một số đặc điểm riêng để nhận định
như chủ thể của thi hành án chủ yếu là các doanh nghiệp, tranh chấp trong các
vụ án kinh doanh, thương mại thường được xác định là giữa các chủ thể kinh
doanh với nhau vì mục đích lợi nhuận (hiện nay thì chủ yếu là tranh chấp giữa
một bên là ngân hàng, tổ chức tín dụng với một bên là doanh nghiệp), trong đó,
mục đích lợi nhuận là yếu tố quan trọng nhất để phân biệt vụ án dân sự với vụ
án kinh doanh, thương mại, ngoài ra, trong thi hành án kinh doanh, thương mại,
tài sản đưa ra thi hành thường có giá trị rất lớn...
Thi hành án quyết định của Toà án trong tranh chấp kinh doanh thương
mại cũng có những đặc điểm chung của thi hành án dân sự và được thể hiện
trên một số điểm cụ thể sau:
Thứ nhất, là một dạng hoạt động mang tính chất hành chính – tư pháp
của Nhà nước nhằm thực hiện quyền lực Nhà nước trong lĩnh vực tư pháp,
bảo đảm thực hiệu lực thực tế của quyết định cảu Toà án. Hoạt động này do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền (bao gồm các cơ quan quản lý nhà nước về
thi hành án và cơ quan trực tiếp thi hành án) thực hiện.
Thứ hai, hoạt động thi hành quyết định của Toà án trong tranh chấp kinh
doanh thương mại được tiến hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp
luật quy định từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc, trên một cơ sở pháp lý đầy
đủ, rõ ràng, đảm bảo sự công bằng trong thực hiện quyền và nghĩa vụ của các
bên.
Thứ ba, thi hành quyết định của Toà án trong tranh chấp kinh doanh
thương mại có tính chất bắt buộc đối với cá nhân, tổ chức, cơ quan có liện quan
đến quyết định của Toà án. Việc không chấp hành, chấp hành không nghiêm


chỉnh quyết định của Toà án trong tranh chấp kinh doanh thương mại sẽ dẫn
đến những hậu quả pháp lý nhất định và có thể bị xử lý bằng chế tài.
Thứ tư, trong quá trình thi hành quyết định của Toà án trong tranh chấp
kinh doanh thương mại, những người phải thi hành quyết định và những
người được thi hành quyết định vẫn có thể tự thoả thuận với nhau để tự thi
hành quyết định phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội. Cơ quant hi hành
án dân sự có trách nhiệm theo dõi, giám sát và ghi nhận việc tự thoả thuận thi
hành của các bên đương sự. Đây là một hành lang pháp lý “mở” nhằm tiếp
tục bảo đảm nguyên tắc tự định đoạt của các đương sự trong tố tụng dân sự ở
giai đoạn thi hành án. Chính tính “mở” này tạo ra những điều kiện quan trọng
cho chủ trương xã hội hoá một số mặt hoạt động thi hành án dân sự, giảm
thiểu can thiệp, hỗ trợ từ phía Nhà nước, tang tính chủ động của các đương
sự, phù hợp với những yêu cầu của Nhà nước về nâng cao tính tích cực của
công dân.
Thứ năm, tuỳ từng trường hợp cụ thể, cơ quan thi hành án dân sự được
lựa chọn biện pháp thích hợp, chủ động giải quyết các vấn đề nảy sinh trong
quá trình thi hành án (cưỡng chế, kê biên tài sản, uỷ thác thi hành…) sao cho
việc thi hành án đạt được mục đích và hiệu quả.
1.1.3. Vai trò, ý nghĩa của việc thi hành quyết định của toà án về
tranh chấp kinh doanh thương mại
Hoạt động thi hành án dân sự là hoạt động thực thi phán quyết của Tòa
án liên quan đến các vấn đề về tài sản và nhân thân về hình sự, dân sự, kinh
tế, lao động, hành chính, hôn nhân và gia đình...có thể nói hoạt động thi hành
án dân sự là giai đoạn cuối cùng của hoạt động tố tụng. Để quyết định của
Tòa án nói chung và quyết định của Toà án trong tranh chấp kinh doanh
thương mại được thực thi trên thực tế, công tác thi hành án dân sự đóng vai
trò rất quan trọng, đặc biệt trong điều kiện kinh tế, xã hội phát triển, các hoạt


động sản xuất, kinh doanh, thương mại diễn ra ở hầu hết các lĩnh vực, chính
vì thế các tranh chấp dân sự, kinh tế, lao động, thương mại ngày càng gia
tăng, tính chất vụ việc phức tạp, gây nhiều khó khăn cho hoạt động thi hành
án dân sự. Hoạt động thi hành án dân sự đối tượng liên quan đến thi hành án
lại là tài sản, nhân thân, trong đó tài sản có tài sản vô hình, tài sản hữu hình,
tài sản cố định và tài sản có thể dịch chuyển được; tài sản có thể ở nhiều địa
bàn, nhiều địa phương khác nhau; tài sản có tài sản thuộc sở hữu chung, tài
sản thuộc sở hữu riêng; có loại tài sản phân chia được, có loại tài sản không
thể phân chia, tồn tại ở nhiều hình thức khác nhau.
Do tính chất của hoạt động thi hành án dân sự, trực tiếp liên quan đến
quyền và lợi ích của người được thi hành án, người phải thi hành án, người
có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến quyết định thi hành án, ở nhiều lĩnh vực
khác nhau, mỗi lĩnh vực đều có những quy định riêng, đặc thù. Để xác minh,
truy tìm tài sản của người phải thi hành án là việc làm không đơn giản đối
với các Chấp hành viên, cơ quan Thi hành án dân sự, chưa kể đến những khó
khăn từ phía các đương sự, do những đối tượng này không cộng tác đối với
các Chấp hành viên, cơ quan Thi hành án dân sự, như tẩu tán, che giấu tài sản
nhằm trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, thậm chí là chống đối Chấp hành viên
trong quá trình tác nghiệp. Mặt khác kết quả của hoạt động thi hành án dân
sự, không chỉ đơn thuần phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Chấp hành viên,
cơ quan Thi hành án dân sự mà còn lệ thuộc rất nhiều vào hoạt động của các
cơ quan tiến hành tố tụng, vai trò của cơ quan điều tra Công an, chức năng
kiểm tra, giám sát của Viện kiểm sát các cấp, chất lượng xét xử của Thẩm
phán. Một quyết định không nghiêm minh, không đúng pháp luật, chưa thấu
tình đạt lý thì hậu quả giải quyết ở giai đoạn thi hành án dân sự vô cùng khó
khăn, phức tạp; ngoài ra hiệu quả hoạt động còn phụ thuộc cả vào sự phối
hợp của các cấp, các ngành hữu quan, sự đồng tâm, hợp lực của cả hệ thống


chính trị, cần thiết phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, thì công tác Thi
hành án dân sự mới thực sự đem lại hiệu quả thiết thực, xứng đáng với sự
mong đợi của toàn xã hội.
Đất nước thực hiện công cuộc đổi mới, các giá trị kinh tế của thi hành
án dân sự từng bước được nhìn nhận. Thi hành án dân sự có vai trò trực tiếp
góp phần giải phóng các nguồn lực “đóng băng” trong các tranh chấp để đưa
trở lại thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. Năm 2016, thi hành án dân sự đã
giải phóng trên 29 nghìn tỷ đồng; 09 tháng đầu năm 2017 THADS đã giải
phóng trên 30 nghìn tỷ đồng cho nền kinh tế. Đặc biệt, trong lĩnh vực tín
dụng, ngân hàng, thi hành án dân sự đã góp phần tích cực xử lý nợ xấu, qua
đó góp phần lành mạnh hóa nền kinh tế, giảm lãi suất cho vay, khơi thông
nguồn lực tài chính. Năm 2016, toàn quốc đã thi hành xong gần 20 nghìn tỷ
đồng; 06 tháng năm 2017 thi hành xong trên 10 nghìn tỷ đồng đối với các vụ
việc loại này.
Khi đất nước ta đẩy mạnh công cuộc xây dựng và hoàn thiện thể chế
kinh tế thị trường định hướng XHCN, ở một khía cạnh khác, thi hành án dân
sự được xác định là công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu
tư, nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản trong phá sản, góp phần cải thiện môi
trường sản xuất, kinh doanh, thu hút các nhà đầu tư và khuyến khích phong
trào khởi nghiệp. Vì vậy, Nghị quyết Trung ương 5 vừa qua khẳng định pháp
luật về hợp đồng và giải quyết tranh chấp dân sự phải được hoàn thiện theo
hướng thống nhất, đồng bộ; các thiết chế giải quyết tranh chấp dân sự, trong
đó có thi hành án, phải được đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả với các quy
trình, thủ tục đơn giản, công khai, minh bạch để kịp thời bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của người dân và doanh nghiệp.
Để cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh
quốc gia, Chính phủ đã ban hành 04 Nghị quyết số 19 (ngày 18/3/2014, ngày


12/3/2015, ngày 28/4/2016 và ngày 06/02/2017). Mục tiêu, nhiệm vụ và giải
pháp đề ra của Nghị quyết dựa trên cách tiếp cận đánh giá môi trường kinh
doanh của Ngân hàng thế giới, trong đó có 2 tiêu chí quan trọng là “Giải
quyết tranh chấp hợp đồng” và “Phá sản doanh nghiệp”.
Theo Ngân hàng thế giới, một cơ chế giải quyết tranh chấp hợp đồng
hiệu quả là hết sức thiết yếu đối với phát triển kinh tế và tăng trưởng bền
vững. Các nền kinh tế có hệ thống tư pháp hiệu lực với các toà án đủ năng
lực bảo đảm việc thực thi các nghĩa vụ hợp đồng sẽ thúc đẩy mạnh mẽ hơn
các thị trường tín dụng, bảo vệ các quyền tài sản, cải thiện môi trường kinh
doanh, thúc đẩy đổi mới và đặc biệt là thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Theo đánh giá, “Giải quyết tranh chấp hợp đồng” của Việt Nam xếp hạng
69/190 nền kinh tế. Thời gian giải quyết tranh chấp của các tòa án tại Việt
Nam năm 2016 là 400 ngày, trong đó thụ lý của tòa án là 50 ngày, xét xử và
phán quyết là 200 ngày và thực thi phán quyết của tòa án là 150 ngày; với chi
phí 29% giá trị tài sản tranh chấp, trong đó chi phí luật sư chiếm 21%, án phí
chiếm 5% và phí thi hành án là 3%. Tuy nhiên, thứ hạng thời gian thực thi
phán quyết của tòa án tại Việt Nam trong khối các quốc gia ASEAN còn khá
khiêm tốn, đứng thứ 6/10.
Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đòi hỏi Nhà
nước phải nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, hiện đại hoá các
dịch vụ hành chính công để tiết kiệm thời gian, giảm chi phí tiếp cận công lý
và tuân thủ thủ tục hành chính, không tạo gánh nặng tâm lý đối với người dân
và doanh nghiệp. Với định hướng nêu trên, cùng với việc bảo đảm an ninh,
trật tự, an toàn xã hội, thi hành án dân sựnói chung và thi hành quyết định
của Toà án về tranh chấp kinh doanh thương mại nói riêng cần góp phần tích
cực cho môi trường thuận lợi cho phát triển sản xuất kinh doanh. Nghị quyết
số 19-2017/NQ-CP của Chính phủ vừa qua đã kiến nghị các cơ quan tư pháp


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×