Tải bản đầy đủ

Hợp đồng ủy quyền và ủy quyền lại trong các quan hệ kinh doanh thương mại

TỐNG THỊ THU THỦY

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

LUẬT KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

HỢP ĐỒNG UỶ QUYỀN VÀ ỦY QUYỀN LẠI
TRONG CÁC QUAN HỆ KINH DOANH THƯƠNG MẠI

TỐNG THỊ THU THỦY

2016 - 2018

HÀ NỘI – 2018



BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

HỢP ĐỒNG UỶ QUYỀN VÀ ỦY QUYỀN LẠI
TRONG CÁC QUAN HỆ KINH DOANH THƯƠNG MẠI

TỐNG THỊ THU THỦY

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ NHUNG

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận văn “ Hợp đồng ủy quyền và ủy quyền lại trong các quan
hệ kinh doanh thương mại” Xin cam đoan:
- Đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tác giả.
- Luận văn được thực hiện độc lập dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.
Nguyễn Thị Nhung
- Những thông tin, số liệu trong luận văn được trích dẫn trong luận văn
đầy đủ, trung thực, chính xác và có nguồn gốc rõ ràng.
- Các kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được công bố trong
các luận văn khác.

Xác nhận của GVHD

Tác giả luận văn

PGS.TS. Nguyễn Thị Nhung

Tống Thị Thu Thủy


LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến tất cả quý thầy


cô đã giảng dạy trong chương trình Cao học Luật Kinh tế - Viện Đại học Mở
Hà Nội, những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức hữu ích làm cơ sở
cho tôi thực hiện tốt luận văn này.
Với lòng biết ơn sâu sắc, Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Nguyễn
Thị Nhung đã tận tình hướng dẫn cho tôi trong thời gian thực hiện luận văn.
Cô đã hướng dẫn, chỉ bảo cho tôi rất nhiều kinh nghiệm trong thời gian thực
hiện đề tài.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các Thầy, cô Khoa đào tạo Sau đại học
- Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học
tập. Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè những người
đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong suốt quá trình thực hiện
luận văn. Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa
nhiều nên luận văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được ý kiến góp ý của
Thầy/Cô và các bạn học viên./.
Hà Nội, ngày … tháng… năm 2018
Học viên

Tống Thị Thu Thủy


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG UỶ QUYỀN
VÀ UỶ QUYỀN LẠI TRONG QUAN HỆ KINH DOANH THƯƠNG
MẠI ............................................................................................................... 6
1.1. Bản chất pháp lý về hợp đồng uỷ quyền và uỷ quyền lại trong quan
hệ kinh doanh thương mại........................................................................ 6
1.1.1. Khái niệm hợp đồng uỷ quyền và uỷ quyền lại .............................. 6
1.1.2. Đặc điểm hợp đồng uỷ quyền và uỷ quyền lại .............................. 12
1.1.2.1. Đặc điểm chung của hợp đồng uỷ quyền và ủy quyền lại ....... 12
1.1.2.2. Đặc điểm đặc trưng của hợp đồng uỷ quyền và ủy quyền lại
trong quan hệ kinh doanh thương mại ................................................ 15
1.2. Mối quan hệ giữa hợp đồng uỷ quyền và hợp đồng uỷ quyền lại
trong quan hệ kinh doanh thương mại .................................................. 17
1.3. So sánh hợp đồng uỷ quyền với một số hợp đồng dân sự khác...... 20
1.3.1. Hợp đồng uỷ quyền với hợp đồng dịch vụ ................................... 20
1.3.2. Hợp đồng uỷ quyền với hợp đồng môi giới .................................. 22
1.3.3. Hợp đồng uỷ quyền với hợp đồng uỷ thác trong thương mại ........ 24
1.4. Kinh nghiệm quốc tế về vấn đề uỷ quyền trong hoạt động thương
mại ........................................................................................................... 25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG UỶ
QUYỀN VÀ UỶ LẠI TRONG QUAN HỆ KINH DOANH THƯƠNG
MẠI ............................................................................................................. 43
2.1. Quy định pháp luật hiện hành về hợp đồng uỷ quyền và uỷ quyền
lại trong quan hệ kinh doanh thương mại ............................................. 43
2.1.1. Nguồn luật điều chỉnh .................................................................. 43
2.1.1.1. Các văn bản trực tiếp ............................................................ 43
2.1.1.2. Các văn bản gián tiếp ............................................................ 44


2.1.2. Quy định về chủ thể của hợp đồng ............................................... 44
2.1.3. Bên ủy quyền ............................................................................... 46
2.1.4. Bên nhận ủy quyền ...................................................................... 48
2.1.5. Quy định về nội dung của hợp đồng............................................. 50
2.1.5.1. Quyền và nghĩa vụ cơ bản giữa các bên trong quan hệ ủy
quyền và ủy quyền lại ......................................................................... 50
2.1.5.2. Quy định về thời hạn uỷ quyền ............................................... 54
2.1.6. Quy định về hình thức của hợp đồng............................................ 54
2.1.7. Quy định về hiệu lực của hợp đồng .............................................. 59
2.1.8. Quy định về chấm dứt hợp đồng .................................................. 60
2.1.8.1. Hợp đồng ủy quyền hết hạn ................................................... 60
2.1.8.2. Công việc ủy quyền hoàn thành ............................................. 61
2.1.8.3. Đơn phương chấm dứt hợp đồng ........................................... 62
2.1.8.4. Bên ủy quyền hoặc bên được ủy quyền chết, bị Tòa án tuyên bố
mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất
tích hoặc là đã chết. ........................................................................... 64
2.2. Thực trạng áp dụng quy định pháp luật về hợp đồng uỷ quyền và
uỷ quyền lại trong quan hệ kinh doanh thương mại ............................. 65
2.2.1. Chủ thể hợp đồng uỷ quyền ......................................................... 66
2.2.2. Đối tượng của hợp đồng uỷ quyền ............................................... 70
CHƯƠNG 3:

PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ HỢP ĐỒNG ỦY QUYỀN VÀ ỦY QUYỀN
LẠI TRONG QUAN HỆ KINH DOANH THƯƠNG MẠI ..................... 73
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng uỷ quyền và uỷ
quyền lại .................................................................................................. 73
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật hiện hành về hợp đông uỷ
quyền và uỷ quyền lại ............................................................................. 75
3.2.1. Quy định về chủ thể của hợp đồng ............................................... 75


3.2.2. Quy định về hình thức của hợp đồng uỷ quyền ............................ 77
3.2.3. Quy định về nội dung của hợp đồng uỷ quyền ............................. 80
3.2.4. Quy định về chấm dứt hợp đồng ................................................. 83
KẾT LUẬN ................................................................................................. 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 88


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội loài người luôn vận động, cuộc sống cũng không ngừng thay
đổi. Con người ngày càng phải có mối liên hệ tác động lẫn nhau nhiều hơn.
Đời sống dân sự cũng không là ngoại lệ, xã hội phát triển thì giao dịch dân sự
nói chung đặc biệt là hoạt động kinh doanh thương mại cũng phát triển theo.
Tuy nhiên trong đời sống hiện nay, không phải chủ thể nào cũng có thể tự
mình tham gia vào các giao dịch dân sự đó. Vì vậy pháp luật cho phép một
chủ thể có quyền trao quyền đó cho một người khác để thực hiện công việc
thay mình để đạt được mục đích mong muốn bằng cơ chế ủy quyền. Có thể
nói hợp đồng ủy quyền diễn ra thường ngày gắn liền với nhu cầu công việc
và đời sống của mỗi người, mỗi gia đình và toàn xã hội. Đối với hợp đồng ủy
quyền, do tính chất phổ biến, đa dạng nên Nhà nước và pháp luật luôn tạo
điều kiện đảm bảo và tôn trọng quyền tự do thỏa thuận của các chủ thể. Cụ
thể, Bộ luật Dân sự Việt Nam 2015, trên cơ sở kế thừa và phát triển pháp luật
về dân sự (Pháp lệnh hợp đồng dân sự 1991, Bộ luật Dân sự 1995, Bộ luật
Dân sự 2005), đã tiếp tục bổ sung và hoàn thiện quy định về hợp đồng ủy
quyền để tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, thuận tiện cho các chủ thể áp dụng. Tuy
nhiên, có nhiều chủ thể khi tham gia hợp đồng ủy quyền đã không tôn trọng
pháp luật khi có những hành vi sai trái trong quá trình áp dụng pháp luật làm
xâm hại đến lợi ích của cá nhân, tổ chức, gây thiệt hại cho Nhà nước và ảnh
hưởng đến xã hội. Thực tiễn cho thấy, vì phạm vi ủy quyền và ủy quyền lại do
các bên tự thỏa thuận nên nhiều người đã lợi dụng quan hệ ủy quyền trong
việc định đoạt tài sản để chiếm đoạt tài sản người khác một cách dễ dàng
hoặc che đậy quan hệ chuyển nhượng nhằm trốn thuế, gây thiệt hại cho
nguồn thu ngân sách Nhà nước. Thực trạng này diễn ra sôi nổi trong lĩnh vực
bất động sản như ủy quyền mua bán, thế chấp nhà ở, quyền sử dụng đất, ủy
quyền giao dịch chứng khoán. Đồng thời người dân cũng chưa có hiểu biết
đầy đủ, chưa có nhận thức sâu sắc những quy định pháp luật về hợp đồng ủy


2

quyền nên họ sẵn sàng chấp nhận tham gia vào quan hệ ủy quyền mà không
lường trước được những rủi ro khi người khác lợi dụng hợp đồng ủy quyền
để trục lợi. Bên cạnh đó, thực tiễn công chứng, chứng thực hợp đồng ủy
quyền cũng phát sinh nhiều bất cập, có những điểm nhập nhằng giữa quy định
về công chứng hợp đồng ủy quyền trong Luật Công chứng 2014 với quy định
hợp đồng ủy quyền trong Bộ luật Dân sự 2015. Trong lĩnh vực kinh doanh
thương mại, hợp đồng ủy quyền cũng bị lợi dụng làm công cụ để cá nhân hay
công ty kiếm lợi một cách bất chính. Một thực trạng khác là việc áp dụng chế
định pháp luật về ủy quyền lại trong pháp nhân khá tùy tiện, dẫn đến nhiều
giao dịch, hợp đồng mà pháp nhân là chủ thể có nguy cơ bị tuyên bố vô hiệu.
Ngoài ra, chế định pháp lý về hợp đồng ủy quyền chưa được hoàn thiện ở
mức độ tuyệt đối, hơn nữa trong bối cảnh các quan hệ pháp luật dân sự diễn ra
ngày càng phổ biến, đa dạng và phức tạp nên thấy được sự cần thiết của việc tiếp
tục hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng ủy quyền. Do đó, để nhận dạng
những rủi ro và tìm hiểu những vướng mắc của hợp đồng ủy quyền và ủy quyền lại
trong thực tế, đặc biệt là trong hoạt động kinh daonh thương mại hiện nay, trên cơ
sở phân tích những chế định pháp lý về hợp đồng ủy quyền để đưa ra những ý kiến
đề xuất giải quyết vướng mắc, tác giả đã lựa chọn đề tài “Hợp đồng ủy quyền và ủy
quyền lại trong các quan hệ kinh doanh thương mại” để đi sâu nghiên cứu.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Trên nền tảng quy định pháp luật về hợp đồng ủy quyền, người viết
nghiên cứu đề tài “Hợp đồng ủy quyền và ủy quyền lại trong các quan hệ kinh
doanh thương mại” để chỉ ra được những vướng mắc thực tế khi áp dụng
pháp luật để ủy quyền cho người khác thực hiện công việc. Đồng thời người
viết đề xuất những ý kiến góp phần giải quyết những bất cập ấy. Từ đó, có thể
giúp các chủ thể áp dụng pháp luật có kiến thức vững vàng hơn để bảo vệ lợi
ích chính đáng của bản thân cũng như tránh gây phương hại cho bên còn lại
khi tham gia vào hợp đồng ủy quyền. Ngoài ra còn giúp các cơ quan thi hành
pháp luật có những biện pháp hạn chế tiêu cực của loại hợp đồng này.


3

3. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Các vấn đề pháp lý về uỷ quyền thực sự vô cùng phức tạp trong đời
sống xã hội, là mảnh đất màu mỡ đối với hoạt động nghiên cứu. Xuất phát từ
lý do này, trước khi bài nghiên cứu này được thực hiện cũng đã có một số
công trình nghiên cứu đã được tiến hành thực hiện, có thể kể đến như:
- Luận văn thạc sĩ “Quan hệ đại diện theo uỷ quyền trong hoạt động
thương mại” do Ths. Định Thị Thanh Thuỷ do Tiến sĩ luật học Nguyễn Am
Hiểu hướng dẫn năm 2004.
- Luận văn thạc sĩ “Hợp động uỷ quyền theo pháp luật Việt Nam” do
Ths. Nguyễn Thị Lan Hương thực hiện năm 2008.
- Luận văn thạc sĩ “Hợp đồng uỷ quyền theo pháp luật Việt Nam và
pháp luật nước ngoài” của Ths. Nguyễn Thị Hạ do TS. Trần Minh Ngọc
hướng dẫn năm 2012.
- Luận văn thạc sĩ “Pháp luật Việt Nam về đại diện trong quan hệ hợp
đồng” của Ths. Đỗ Hoàn Yến do TS. Ngô Huy Cương hướng dẫn năm 2012.
Ngoài ra còn một số cuốn sách, bài viết chuyên ngành nghiên cứu về
quan hệ uỷ quyền như: “Pháp luật về hợp đồng” của TS Nguyễn Mạnh Bách
(1995), “Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng ở Việt Nam” của PGS.TS Dương
Đăng Huệ (2002), “Chế định hợp đồng kinh tế - Tồn tại hay không tồn tại”
của GS.TS Lê Hồng Hạnh (2003), “Một số vấn đề liên quan đến việc sửa đổi
pháp luật Việt Nam về hợp đồng” (2004), “Dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi)
và vấn đề cải cách pháp luật hợp đồng ở Việt Nam” của PGS.TS Phạm Hữu
Nghị (2005), “Hoàn thiện chế định hợp đồng” của TS Phan Chí Hiếu,….
Các công trình nghiên cứu này đã được thực hiện từ lâu, hoàn cảnh xã
hội hiện nay đã không còn phù hợp và cần phải có những sự nghiên cứu
chuyên sâu hơn, mặt khác thì những sự nghiên cứu chuyên sâu pháp luật về
uỷ quyền vấn chưa thực sự nhiều. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu tập
trung, chuyên sâu về quan hệ uỷ quyền thì chưa có nhiều,các công trình khoa
học liên quan chỉ dừng lại ở nghiên cứu khái quát, nghiên cứu vấn đề này


4

trong cái tổng thể, hay trong phạm vi hẹp pháp luật về uỷ quyền, đặc biệt là
vấn đề ủy quyền lại trong các quan hệ kinh doanh thương mại.
4. Phạm vi nghiên cứu
Dựa trên chế định pháp lý về hợp đồng ủy quyền trong Bộ luật Dân sự
2015 như quy định về quyền và nghĩa vụ của người ủy quyền, người được ủy
quyền, quy định về chấm dứt hợp đồng ủy quyền, cơ chế ủy quyền lại, kết
hợp với các quy định pháp luật về công chứng, chứng thực hợp đồng, và có
liên hệ với chế định đại diện, đề tài nghiên cứu thực tiễn chủ yếu trong hoạt
động công chứng, chứng thực hợp đồng ủy quyền, lĩnh vực ủy quyền định
đoạt tài sản như nhà ở, quyền sử dụng đất, ủy quyền giao dịch chứng khoán,
đồng thời trong phạm vi nghiên cứu còn là thực tiễn hợp đồng ủy quyền
trong pháp nhân vì đây là những lĩnh vực hợp đồng ủy quyền được áp dụng
khá phổ biến và còn tồn tại những vướng mắc tiêu biểu.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là: Những vấn đề lý luận khái
quát về uỷ quyền, ủy quyền lại; những quy định pháp luật cụ thể về uỷ quyền
trong hoạt động kinh doanh thương mại; và tình hình thực tiễn hoạt động áp
dụng pháp luật về lĩnh vực này.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung vào nghiên cứu các khía cạnh
của uỷ quyền, ủy quyền lại trong hoạt động kinh doanh thương mại. Tuy
nhiên, luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu sâu về uỷ quyền cho các quan hệ hợp
đồng trong lĩnh vực kinh doanh thương mại. Trên cơ sở những nghiên cứu
này sẽ đưa ra những nhận định sâu sắc, từ đó góp phần vào việc phát triển
quan hệ hợp đồng (có hoạt động uỷ quyền và ủy quyền lại) trong nền kinh tế
thị trường hiện nay.
6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật của Chủ nghĩa
Mác – Lênin và các quan điểm, đường lối của Đảng cộng sản Việt Nam về
phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.


5

Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như:
Phương pháp tổng hợp, phân tích, nghiên cứu lý luận kết hợp với thực tiễn.
7. Những đóng góp mới của luận văn
Một là, nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về
uỷ quyền, ủy quyền lại trong hoạt động kinh doanh thương mại. Từ đó luận giải
về một số những vấn đề cơ bản và đưa ra cách nhìn mới về những vấn đề này.
Hai là, đánh giá một cách khách quan thực trạng pháp luật Việt Nam
điều chỉnh về uỷ quyền và ủy quyền lại trong hoạt động kinh doanh thương
mại. Trên cơ sở chỉ ra những điểm bất cập, hạn chế, luận văn khẳng định sự
cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật Việt Nam về vấn đề này, tạo ra
một hành lang pháp lý an toàn cho quan hệ uỷ quyền cũng như hạn chế phần
nào những tranh chấp liên quan có thể xảy ra.
Ba là, trên cơ sở nghiên cứu xu hướng phát triển và thực tiễn áp dụng
pháp luật về uỷ quyền và ủy quyền lại trong hoạt động kinh doanh thương mại
ở một số nước trên thế giới, luận văn đề xuất những phương hướng và giải
pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động ủy quyền, ủy quyền lại trong quan hệ
hợp đồng ở Việt Nam.
Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và
phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về hợp đồng uỷ quyền và uỷ quyền lại
trong quan hệ kinh doanh thương mại
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng uỷ quyền và uỷ lại trong
quan hệ kinh doanh thương mại
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về hợp đồng ủy quyền và ủy quyền lại trong quan hệ kinh doanh thương mại


6

CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG UỶ QUYỀN VÀ
UỶ QUYỀN LẠI TRONG QUAN HỆ KINH DOANH THƯƠNG MẠI

1.1. Bản chất pháp lý về hợp đồng uỷ quyền và uỷ quyền lại trong quan
hệ kinh doanh thương mại
1.1.1. Khái niệm hợp đồng uỷ quyền và uỷ quyền lại
a, Khái niêm hợp đồng ủy quyền
Qua nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, các vấn đề về kinh tế, chính trị,
văn hóa dần có nhiều thay đổi. Để tồn tại và phát triển, con người phải thỏa
mãn những nhu cầu thiết yếu của mình. Nhưng tự bản thân mỗi người không
thể tự đáp ứng những nhu cầu phong phú, đa dạng của mình. Do đó con người
tất yếu phải tham gia vào rất nhiều quan hệ xã hội. Trong quan hệ trao đổi,
việc mỗi chủ thể bày tỏ ý chí riêng của mình và rồi cuối cùng thống nhất ý chí
với nhau để đạt được mục đích nhất định gọi là hợp đồng. Hợp đồng là công
cụ chủ yếu để xác lập quan hệ giữa người với người liên quan đến tài sản
trong một xã hội có tổ chức. Khi các bên phải chuyển giao tài sản, thực hiện
hoặc không thực hiện một công việc nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu của
nhau trong sinh hoạt, tiêu dùng hoặc trong sản xuất kinh doanh thì giữa họ
hình thành hợp đồng dân sự.
Trong thực tế không bao giờ cá nhân hay pháp nhân cũng có thể trực tiếp
tham gia vào quan hệ hợp đồng. Việc không tham gia trực tiếp có thể do
nhiều lý do khác nhau hoặc khi đã tham gia vào một quan hệ hợp đồng nhất
định nhưng không có đủ điều kiện thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Vì
vậy, pháp luật cho phép họ có thể ủy quyền cho người thứ ba thay mặt mình
giao kết hay thực hiện hợp đồng dân sự. Sự cho phép đó thể hiện bằng hợp
đồng ủy quyền. Trong luật La Mã, hợp đồng ủy quyền được định nghĩa:
“Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận theo đó một người (gọi là người ủy


7

quyền) giao cho một người khác (gọi là người được ủy quyền) trách nhiệm
thực hiện một công việc vì lợi ích của người ủy quyền. Công việc có thể mang
tính chất tổng quát hay cụ thể”. Qua đó ta thấy hợp đồng ủy quyền trong luật
La Mã là một hợp đồng hữu hảo, không có thù lao và được giao kết vì lợi ích
của người ủy quyền1.
Cơ sở pháp lý của ủy quyền là hợp đồng ủy quyền. Hợp đồng uỷ quyền
là một loại hợp đồng dân sự thông dụng và được xây dựng trên những
nguyên tắc cơ bản của hợp đồng dân sự. Đó là, hợp đồng ủy quyền thể ý chí
của các bên, tự do, bình đẳng khi tham gia giao kết hợp đồng. Nội dung của
hợp đồng ủy quyền là cơ sở pháp lý để các bên thực hiện những quyền cũng
như nghĩa vụ của mình, đồng thời nó cũng là căn cứ pháp lý để giải quyết
tranh chấp khi một trong hai bên vi phạm hợp đồng.
Hợp đồng ủy quyền là một chế định pháp lý cơ bản trong luật dân sự,
do tầm quan trọng của hợp đồng ủy quyền, nên luật dân sự của hầu hết các
nước trên thế giới đều có những quy định rất cụ thể và chi tiết đồng thời đưa
ra định nghĩa về hợp đồng ủy quyền. Có thể kể đến như Bộ luật dân sự Pháp
năm 1804, Bộ luật dân sự Đức năm 1900, Bộ luật Dân sự Nhật Bản, Bộ luật
Dân sự và Thương mại Thái Lan,… đều có những chương, mục riêng quy
định về hợp đồng ủy quyền.
Theo quy định tại Điều 1184 BLDS Pháp năm 1804 thì: “Hợp đồng uỷ
quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó một hoặc nhiều người cam kết
với một hoặc nhiều người khác về việc chuyển giao một vật, làm hoặc không
làm một công việc nào đó”. Định nghĩa hợp đồng ủy quyền trên có tính chất
mở, cho thấy, luật dân sự Pháp cho phép mở rộng phạm vi ủy quyền, theo đó
lĩnh vực được ủy quyền bao hàm hầu hết đời sống xã hôi.
Bộ Luật dân sự Đức năm 1900, Chế định đại diện được dựa trên cơ sở:

1

https://123doc.org/document/2597999-hop-dong-uy-quyen-theo-phap-luat-viet-nam.htm


8

"Sự thể hiện ý chí được thực hiện bởi một người trong khuôn khổ thẩm quyền
được trao cho anh ta nhân danh người đại diện, trực tiếp hành động”. Xét
về tính chất, về ý nghĩa hợp đồng uỷ quyền, người được uỷ quyền tiếp nhận
uỷ quyền tức là đã nhận về mình những nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ vì lợi
ích của người uỷ quyền, không được tính đến thù lao cho công việc này. Với
quy định trên, BLDS Đức cho phép coi hợp đồng uỷ quyền là một dạng hợp
đồng không đền bù có đối tượng là những hành vi pháp lý. Bên cạnh đó, nó
cũng chỉ ra tính chất nhân thân của quan hệ uỷ quyền hay nói cách khác
người được uỷ quyền phải trực tiếp thực hiện công việc, nếu chuyển giao cho
người khác thì phải được sự đồng ý của người uỷ quyền. Trong trường hợp
người uỷ quyền và người được uỷ quyền chết thì hợp đồng uỷ quyền chấm
dứt. Việc đơn phương chấm dứt hợp đồng thì cả hai bên đều có quyền như
nhau. Tuy nhiên, trong một số trường hợp người được uỷ quyền khi đơn
phương chấm dứt hợp đồng thì phải hoàn trả lại những chi phí.
BLDS Nhật Bản cũng phân chia chế định đại diện và chế định uỷ quyền
Cũng như quy định của các nước khác, BLDS Nhật Bản coi việc uỷ quyền là
một công việc mang tính chất tương trợ, hai bên nếu như không có thoả
thuận riêng thì người được uỷ quyền không được phép yêu cầu người uỷ
quyền trả thù lao. Việc trả thù lao không được coi là sự trả công như những
hợp đồng dân sự có đền bù khác. Nếu hợp đồng không có thù lao thì coi là
hợp đồng đơn vụ, còn hợp đồng có thù lao thì coi là hợp đồng song vụ.
Theo quy định tại Điều 797 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan thì
Hợp đồng uỷ quyền là một hợp đồng trong đó một người gọi là người thụ uỷ
(đại diện uỷ quyền), được quyền hành động cho một người khác gọi là người
chủ uỷ và người đó chấp nhận cho làm như vậy.
Ở nước ta, trước khi BLDS năm 1995 ra đời, việc ủy quyền được quy
định rải rác ở một số văn bản pháp luật có giá trị pháp lý khác nhau. Từ khi
BLDS năm 1995 được ban hành, hợp đồng ủy quyền được quy định một


9

cách hệ thống từ Điều 585 đến Điều 594. Theo quy định tại Điều 585 BLDS
năm 1995 thì: Hợp đồng ủy quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên
được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, còn
bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật
có quy định. Tuy nhiên, quá trình áp dụng những quy định của BLDS năm
1995 về hợp đồng nói chung và hợp đồng ủy quyền nói riêng cho thấy có
nhiều điểm bất cập. Vì vậy, việc sửa đổi bổ sung những quy định của BLDS
năm 1995 là yêu cầu tất yếu. BLDS năm 2005 ra đời, những quy định về hợp
đồng ủy quyền được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn cũng như
pháp luật quốc tế. Điều 581 BLDS năm 2005 đưa ra khái niệm về hợp đồng
ủy quyền theo đó: Hợp đồng uỷ quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó
bên uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ quyền, còn
bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có sự thoả thuận hoặc pháp luật có quy
định. So với BLDS năm 1995 thì khái niệm hợp đồng ủy quyền trong BLDS
năm 2005 không có sự thay đổi, tuy nhiên những quy định khác liên quan
đến hợp đồng uỷ quyền có sửa đổi, bổ sung.
Theo quy định tại điều Điều 562 BLDS 2015 thì: “Hợp đồng ủy quyền
là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực
hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao nếu
có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định” như vậy, bản chất của ủy quyền là
việc một người giao cho người khác sử dụng một số quyền mà pháp luật đã
trao cho mình. Vấn đề ủy quyền là vấn đề cơ bản trong các quan hệ giao dịch
mà không dừng lại ở quan hệ hợp đồng dân sự thông thường, nó điều chỉnh tư
cách của người được uỷ quyền và thẩm quyền của người ủy quyền mà vấn đề
này không dừng lại trong lĩnh vực dân sự mà sẽ điều chỉnh hết tất cả các lĩnh
vực khác bao gồm cả hoạt động kinh doanh thương mại.
Như vậy, trong quan hệ ủy quyền, người được ủy quyền thay mặt
người ủy quyền thực hiện công việc mà việc thực hiện công việc này làm


10

phát sinh hậu quả pháp lý liên quan đến quyền và nghĩa vụ của bên ủy
quyền cũng như bên thứ ba hoặc chính người được ủy quyền. Không phải
mọi việc đều là đối tượng của hợp đồng ủy quyền, mà đối tượng của ủy
quyền là những việc mà pháp luật không cấm và không trái đạo đức xã hội.
Cùng với đó, trong quan hệ ủy quyền, người được ủy quyền thay mặt
người ủy quyền thực hiện những công việc vì lợi ích của người ủy quyền.
Như vậy, trong quan hệ ủy quyền, tồn tại các mối quan hệ pháp lý cơ bản
đó là: Mối quan hệ giữa người ủy quyền với người được ủy quyền; mối
quan hệ giữa người được ủy quyền với người thứ ba; mối quan hệ giữa
người ủy quyền với người thứ ba do người được ủy quyền tham gia.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm về hợp đồng ủy quyền
như sau: “Hợp đồng ủy quyền là sự thoả thuận của các bên, theo đó một bên
(bên uỷ quyền), trao cho người khác (bên được uỷ quyền) thực hiện những
công việc mà bên uỷ quyền có quyền hoặc có nghĩa vụ phải thực hiện”.
b. Khái niệm hợp đồng ủy quyền lại
Về nguyên tắc, người được ủy quyền phải trực tiếp thực hiện những
công việc được ủy quyền. Tuy nhiên, không phải trường hợp nào sau khi
giao kết hợp đồng ủy quyền, người được ủy quyền cũng có thể trực tiếp
thực hiện công việc. Pháp luật cho phép trong một số trường hợp nhất định,
người được ủy quyền có thể ủy quyền lại cho người thứ ba thực hiện công
việc ủy quyền - đó gọi là ủy quyền lại. Ủy quyền lại là một trong những
quyền của người được ủy quyền. Trước hết BLDS 2015 quy định tại Điều
138. "Cá nhân, pháp nhân có thể uỷ quyền cho cá nhân, pháp nhân khác
xác lập, thực hiện giao dịch dân sự". Bên cạnh đó luật cũng quy định về
hình thức của việc ủy quyền đó là thể hình thức hợp đồng theo điều 562
BLDS 2015 "Hợp đồng uỷ quyền là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó
bên được uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ
quyền, bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao nếu có thoả thuận hoặc pháp luật
có quy định".


11

Bên cạnh đó điều 565 BLDS quy định về các nghĩa vụ của người ủy quyền,
một trong số đó là nghĩa vụ: "Báo cho người thứ ba trong quan hệ thực hiện uỷ
quyền về thời hạn, phạm vi uỷ quyền và việc sửa đổi, bổ sung phạm vi uỷ quyền".
Pháp luật không có hạn chế về số người được nhận ủy quyền hay nói
cách khác một người có thể ủy quyền cho nhiều người khác thực hiện một
công việc nhưng bắt buộc người đo phải báo cho người thứ ba trong quan
hệ thực hiện ủy quyền. Tuy nhiên, việc người nhận ủy quyền lần một có
được ủy quyền lại cho người thứ hai và những người tiếp theo hay không
phụ thuộc vào phạm vi ủy quyền ban đầu nếu hợp đồng ủy quyền ban đầu
có cho phép việc ủy quyền lại và các lần ủy quyền sau cũng vậy.
Điều 564 BLDS 2015 có quy định: “Bên được ủy quyền được ủy
quyền lại cho người khác trong trường hợp có sự đồng ý của bên ủy quyền
hoặc do sự kiện bất khả kháng nếu không áp dụng ủy quyền lại thì mục đích
xác lập, thực hiện giao dịch dân sự vì lợi ích của người ủy quyền không thể
thực hiện được”. Như vậy hợp đồng ủy quyền là hợp đồng thực hiện một
công việc nhân danh người khác, do đó việc ủy quyền lại phải được bên ủy
quyền đồng ý hoặc pháp luật có quy định. Ở đây cần chú ý là pháp luật phải
quy định rõ là được ủy quyền lại mà không cần sự đồng ý của bên ủy
quyền. Tuy nhiên, dù có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định việc ủy
quyền lại thì người được ủy quyền vẫn phải chịu trách nhiệm đối với việc
thực hiện công việc trước người ủy quyền.
Hình thức của hợp đồng ủy quyền lại cũng phải phù hợp với hình thức
của hợp đồng ủy quyền ban đầu, nghĩa là nếu các bên thỏa thuận hợp đồng
ủy quyền ban đầu được ký kết bằng văn bản có công chứng, chứng thực thì
hợp đồng ủy quyền lại cũng phải có công chứng hoặc chứng thực.
Phạm vi của ủy quyền lại không được vượt quá phạm vi của ủy quyền
ban đầu, nghĩa là chỉ được ủy quyền lại cái mà mình đã được ủy quyền. Nếu
vượt quá phạm vi ủy quyền ban đầu thì phần vượt quá đó không có hiệu lực
đối với người ủy quyền ban đầu.


12

Từ những phân tích trên, có thể kết luận rằng: “Hợp đồng ủy quyền lại
là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền lại có nghĩa vụ
thực hiện công việc nhân danh bên được ủy quyền, bên được ủy quyền chỉ
phải trả thù lao nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Bên ủy
quyền lại sẽ nhân danh chính bên được ủy quyền tham gia vào các giao
dịch trong phạm vi ủy quyền theo quy định của pháp luật”.
1.1.2. Đặc điểm hợp đồng uỷ quyền và uỷ quyền lại
1.1.2.1. Đặc điểm chung của hợp đồng uỷ quyền và ủy quyền lại
Hợp đồng uỷ quyền và ủy quyền lại có những đặc điểm riêng biệt.
Những đặc điểm riêng biệt của loại hợp đồng này là căn cứ để phân biệt hợp
đồng ủy quyền, ủy quyền lại đối với những hợp đồng khác. Đặc trưng của
hợp đồng này thể hiện ở những nội dung sau đây:
Thứ nhất, công việc uỷ quyền là những công việc mang tính pháp lý
Căn cứ vào các khái niệm hợp đồng uỷ quyền được quy định trong
BLDS 2015, cho thấy trong hợp đồng ủy quyền tồn tại mối quan hệ cơ bản đó
là mối quan hệ giữa người ủy quyền và người được ủy quyền. Mục đích của
uỷ quyền đó là trao quyền thực hiện công việc của một người cho người được
ủy quyền. Công việc được ủy quyền là những công việc mà cá nhân hoặc tổ
chức được phép thực hiện trong một thời hạn nhất định; do vậy, người được
uỷ quyền sẽ thay thế người uỷ quyền để thực hiện công việc trong khoảng
thời gian mà người ủy quyền lẽ ra phải thực hiện. Hành vi của người được ủy
quyền nhân danh người được ủy quyền, có thể xác lập với người thứ ba và nó
sẽ phát sinh hậu quả pháp lý đối với người ủy quyền. Do vậy, công việc được
ủy quyền thường là những công việc mang tính pháp lý mà việc thực hiện
công việc này sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với người được ủy
quyền. Trong đời sống xã hội, công việc mang tính pháp lý rất đa dạng có thể
là việc ký kết hợp đồng, làm đại diện trước Tòa án hoặc trước cơ quan tổ chức
khác và rất nhiều công việc khác. Do vậy, khi giao kết hợp đồng uỷ quyền,


13

người được uỷ quyền phải tìm hiểu xem những công việc được uỷ quyền
người uỷ quyền có được phép thực hiện hay không. Nếu biết công việc đó mà
người ủy quyền không được phép thực hiện thì người được ủy quyền phải từ
chối thực hiện.
Thứ hai, hợp đồng uỷ quyền là hợp đồng song vụ
Hợp đồng song vụ là hợp đồng mà các bên trong hợp đồng đều có nghĩa
vụ. Nói cách khác, mỗi bên chủ thể của hợp đồng song vụ vừa là người có
quyền vừa là người có nghĩa vụ. Trong mối quan hệ giữa các bên trong hợp
đồng song vụ thì quyền của bên này tương ứng với nghĩa vụ của bên kia.
Hợp đồng uỷ quyền là hợp đồng song vụ, nên quyền của bên uỷ quyền sẽ
tương ứng với nghĩa vụ của bên được uỷ quyền. Đây là vấn đề cơ bản quyết
định đến nội dung của hợp đồng uỷ quyền; bên uỷ quyền có quyền yêu cầu
bên được uỷ quyền thực hiện công việc ủy quyền một cách nghiêm túc, trung
thực, đúng thời hạn; bên được uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc theo
đúng yêu cầu của bên uỷ quyền. Bên được uỷ quyền có quyền yêu cầu bên
uỷ quyền cung cấp toàn bộ hồ sơ, tài liệu,... để bên được uỷ quyền thực hiện
công việc. Trong trường hợp hợp đồng uỷ quyền có điều khoản về tiền thù
lao thì bên uỷ quyền có nghĩa vụ trả tiền thù lao và bên được uỷ quyền có
quyền nhận tiền thù lao như đã thoả thuận trong hợp đồng.
Thứ ba, hợp đồng uỷ quyền là hợp đồng ưng thuận.
Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi
và chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự. Hợp đồng ủy quyền là một trong
những hợp đồng dân sự thông dụng. Do đó, sự tự nguyện, bình đẳng là điều
kiện bắt buộc trong giao kết hợp đồng, sự tự nguyện của các bên là điều kiện
có hiệu lực của hợp đồng ủy quyền. Xét về thời điểm phát sinh hiệu lực của
hợp đồng, thì hợp đồng uỷ quyền uỷ quyền là hợp đồng ưng thuận. Bởi lẽ,
quyền và nghĩa vụ của các bên chỉ phát sinh ngay sau khi các bên thoả thuận
xong những nội dung cơ bản của hợp đồng. Bên uỷ quyền có trách nhiệm đáp
ứng mọi điều kiện để bên được uỷ quyền thực hiện công việc; bên được ủy


14

quyền chỉ được thực hiện trong phạm vi ủy quyền. Vì vậy, bên uỷ quyền có
trách nhiệm cung cấp các thông tin, tài liệu cần thiết cho bên được uỷ quyền
thực hiện công việc được giao. Còn bên được uỷ quyền có trách nhiệm tiến
hành thực hiện công việc như đã cam kết. Trong trường hợp hợp đồng uỷ
quyền không được giao kết dưới hình thức văn bàn thì quyền và nghĩa vụ của
các bên khi bên nhận uỷ quyền thực hiện hành vi mà bên uỷ quyền giao cho.
Thứ tư, hợp đồng uỷ quyền là hợp đồng có đền bù hoặc không có đền bù
Hợp đồng ủy quyền có đền bù và không có đền bù sẽ căn cứ vào tính
chất có đi có lại về lợi ích của các chủ thể trong hợp đồng. Hợp đồng ủy
quyền có đền bù là hợp đồng mà trong đó mỗi chủ thể sau khi thực hiện cho
bên kia một lợi ích thì sẽ nhận được từ bên còn lại một lợi ích tương ứng.
Sự tương ứng trong hợp đồng có đền bù chỉ mang tính chất tương đối,
không phải lúc nào sự tương ứng cũng có thể so sánh bằng những đại lượng
đo lường cụ thể. Hợp đồng ủy quyền không có đền bù là hợp đồng mà trong
đó một bên nhận được từ bên kia một lợi ích nhưng không phải giao lại một
lợi ích nào cho bên còn lại. Thông thường hợp đồng song vụ là hợp đồng có
đền bù. Bản chất của hợp đồng uỷ quyền là hợp đồng mà trong đó các bên có
mục đích tương trợ giúp đỡ nhau. Pháp luật của những nước trên trên thế
giới thường quy định hợp đồng uỷ quyền là hợp đồng không có thù lao, trừ
trường hợp hai bên có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định khác. Về
nguyên tắc, bất kỳ hợp đồng song vụ nào cũng xét đến tính đền bù. Lý giải
vấn đề này các nhà làm luật cho rằng, để đảm bảo bao quát được những hoạt
động dịch vụ theo tính chất khác nhau, công việc được thực hiện bởi nhiều
phương án khác nhau. Người được uỷ quyền nhân danh người uỷ quyền có
thể triển khai khai những công việc mang tính chất thông thường trong đời
sống hàng ngày. Bởi vậy, ở các thời điểm khác nhau tính chất đền bù được
giải quyết theo nhiều phương án khác nhau mà không giống như những hợp
đồng có đền bù khác.


15

Mặt khác, do bản chất của quan hệ ủy quyền là sự tương trợ, giúp đỡ
lẫn nhau, nên hợp đồng uỷ quyền có thể là hợp đồng song vụ nhưng không
có đền bù. Đây là một đặc điểm riêng chỉ có ở hợp đồng ủy quyền mà ít thấy
ở những loại hợp đồng dân sự khác. Về nguyên tắc, hợp đồng uỷ quyền chỉ
được coi là hợp đồng có đền bù, khi bên uỷ quyền đồng ý trả thù lao cho bên
được uỷ quyền và được ghi nhận trong hợp đồng. Nếu không được ghi nhận
trong hợp đồng thì bên được ủy quyền không có quyền yêu cầu bên ủy quyền
trả thù lao.
Thứ năm, hợp đồng uỷ quyền vì lợi ích của người uỷ quyền và người
được uỷ quyền
Khi thực hiện công việc được uỷ quyền, người được uỷ quyền nhân
danh người uỷ quyền, thực hiện thay công việc của người uỷ quyền. Người
được uỷ quyền thực hiện công việc vì lợi ích của người được uỷ quyền; do
vậy, người uỷ quyền không thể là người trung gian trong hợp đồng uỷ quyền.
Tuy nhiên, ngày nay việc thực hiện công việc do uỷ quyền đã trở thành một
nghề có tính chất chuyên nghiệp. Do đó, không loại trừ khả năng người được
uỷ quyền vì lợi ích của chính mình chứ không hẳn vì người uỷ quyền. Như
vậy, hợp đồng ủy quyền có thể vì lợi ích của người được ủy quyền hoặc vì
lợi ích của người được ủy quyền.
1.1.2.2. Đặc điểm đặc trưng của hợp đồng uỷ quyền và ủy quyền lại trong
quan hệ kinh doanh thương mại
Thứ nhất, về bản chất: Đại diện thương mại là quan hệ trung gian
thương mại, quan hệ đại diện theo ủy quyền. Hoạt động này chỉ được diễn ra
khi một chủ thể có nhu cầu giao công việc cho một chủ thể khác thay mình
thực hiện. Đây cũng là một trong bốn hoạt động trung gian thương mại
Thứ hai, về chủ thể của quan hệ đại diện cho thương nhân bao gồm bên
đại diện và bên giao đại diện. Bên giao đại diện có quyền thực hiện các hoạt
động thương mại nhất định theo quy định của pháp luật, tiến hành ủy quyền


16

công việc đó cho một thương nhân khác. Bên đại diện là thương nhân thực
hiện hoạt động trung gian thương mại, cung ứng dịch vụ, đại diện một cách
chuyên nghiệp để kiếm lợi nhuận.
Thứ ba, tư cách pháp lý trong giao dịch với người thứ ba: Trong quan
hệ đai diện thương mại, bên đại diện nhân danh bên giao dịch với chủ thể thứ
ba. Giao dịch với bên thứ ba sẽ do bên đại diện thực hiện thông qua sự ủy
quyền của bên giao đại diện.
Thứ tư, trong phạm vi ủy quyền, bên đại diện được giao dịch với bên
thứ ba, mọi hành vi bên đại diện trực tiếp đem lại hậu quả pháp lý cho bên
giao đại diện. Vì thế, mối quan hệ và sự ràng buộc giữa bên giao đại diện và
bên đại diện là vô cùng chặt chẽ.
Thứ năm, mục đích của hoạt động đại diện thương mại là sinh lời. Do
đó, quan hệ đại diện thương mại luôn mang tính song vụ, đền bù.
Thứ sáu, nội dung và phạm vi của hoạt động đại diện thương mại do
các bên tham gia quan hệ thỏa thuận, bao gồm một phần hoặc tòa bộ các hoạt
động thương mại thuộc phạm vi hoạt động của bên giao đại diện. Nội dung
phamjvi đại diện gắn với các hoạt động thương mại. Hoạt động đại diện
thương mại thường khá rộng, được tiến hành trong suốt thời gian đại diện,
không giới hạn vào một vụ việc cụ thể. Bên đại diện được có thể được ủy
quyền tiến hành một hoặc nhiều hoạt động từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư như
nghiên cứu thị trường, lựa chọn, đàm phán với đối tác đến giai đoạn ký kết,
thực hiện hợp đồng.
Thứ bảy, cơ sở pháp lý xuất phát từ hợp đồng đại diện thương mại. Hợp
đồng đại diện thương mại là hợp đồng dịch vụ trung gian thương mại. Bên
cung cấp dịch vụ trung gian thương mại là bên đại diện, bên sử dụng dịch vụ
là bên giao đại diện. Hợp đồng đại diện thương mại bắt buộc phải được lập
thành văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Pháp
luật hiện nay không có quy định về các điều khoản bắt buộc của hợp đồng đại


17

diện thương mại mà các bên có quyền tự do thỏa thuận khi giao kết hợp đồng.
Tuy nhiên, các bên khi giao kết cần thỏa thuận về các điều khoản: phạm vi đại
diện, thời hạn, thù lao, quyền và nghĩa vụ của các bên, trách nhiệm do vi
phạm hợp đồng, hình thức giải quyết tranh chấp.
1.2. Mối quan hệ giữa hợp đồng uỷ quyền và hợp đồng uỷ quyền lại trong
quan hệ kinh doanh thương mại
Ngày 24-11-2015, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Dân sự mới, thay thế
cho Bộ luật Dân sự 2005 và có hiệu lực kể từ ngày 1-1-2017. Văn bản pháp
luật này có khá nhiều quy định mới liên quan đến chế định đại diện, ủy quyền
- vốn là một mảng pháp luật có khá nhiều tranh chấp, đặc biệt trong bối cảnh
có nhiều giao dịch tài chính và thương mại bị tòa án tuyên vô hiệu với lý do
người ký kết hợp đồng không có thẩm quyền thực hiện các hành vi này.
Trong thực tế có rất nhiều giao dịch có thể làm phát sinh quan hệ ủy quyền và
ủy quyền lại giữa các pháp nhân, từ đó đặt ra nhu cầu chính đáng về hành
lang pháp lý cho mối quan hệ đại diện này.
Bộ luật Dân sự mới đã chính thức cho phép một pháp nhân (chẳng hạn
một công ty) có thể ủy quyền cho một pháp nhân khác xác lập và/hoặc thực
hiện giao dịch cho mình. Thực vậy, khoản 1 điều 134 BLDS 2015 quy định đại
diện là việc cá nhân, pháp nhân (người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của cá
nhân hoặc pháp nhân khác (người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch
dân sự.
Đây là một điểm tiến bộ đáng ghi nhận so với quy định cũ. Bộ luật Dân
sự 2005 dường như chỉ cho phép cá nhân là người đại diện cho cá nhân hay
pháp nhân khác. Để tránh việc trái với quy định của bộ luật gốc này, một số
văn bản pháp luật chuyên ngành (chẳng hạn về giao dịch bảo đảm hay chứng
khoán) chỉ công nhận một cách dè dặt hoặc hàm ý khả năng một pháp nhân có
thể đại diện cho một pháp nhân khác trong việc thực hiện một số giao dịch cụ
thể. Điều này là một rào cản pháp lý vô hình trong khá nhiều trường hợp. Các


18

quy định có liên quan trong Bộ luật dân sự 2015, không đặt ra các yêu cầu đặc
biệt nào về mặt hình thức đối với việc ủy quyền, ngoại trừ trường hợp việc ủy
quyền được thể hiện thông qua một hợp đồng ủy quyền thì khi ủy quyền lại,
hình thức hợp đồng ủy quyền lại phải phù hợp với hình thức ủy quyền ban
đầu (điều 564). Như vậy, về nguyên tắc việc ủy quyền: (i) có thể được thể
hiện dưới dạng lời nói hoặc văn bản (hợp đồng ủy quyền, giấy ủy quyền, thư
ủy quyền, văn bản ủy quyền, công văn ủy quyền, quyết định ủy quyền...); (ii)
việc ủy quyền chỉ phải tuân thủ các điều kiện về mặt hình thức trong các văn
bản pháp luật chuyên ngành nếu có.
Xu hướng phát triển của pháp luật hiện nay là đơn giản hóa các điều kiện
về mặt hình thức của việc ủy quyền. Chẳng hạn, Luật nhà ở 2014 nêu rõ việc
ủy quyền quản lý nhà ở không bắt buộc phải công chứng (khoản 2, điều 122).
Trong thực tế, các bên có thể lựa chọn công chứng văn bản ủy quyền, để tạo
tính trang trọng cho văn bản ủy quyền, cũng như bảo đảm tính xác thực của
ngày tháng, ghi trên văn bản này và giá trị chứng cứ trong tố tụng.
Tuy vậy, liên quan tới việc ký kết giao dịch, khoản 3, điều 141, Bộ luật
dân sự 2015 vẫn giữ cách tiếp cận của Bộ luật dân sự cũ khi quy định một cá
nhân, pháp nhân có thể đại diện cho nhiều cá nhân, hoặc pháp nhân khác nhau
nhưng không được nhân danh người được đại diện để xác lập, thực hiện giao
dịch dân sự với chính mình, hoặc với bên thứ ba mà mình cũng là người đại
diện của người đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Quy định cấm
này dẫn tới việc, khi một người là đại diện theo pháp luật của nhiều công ty
khác nhau và các công ty này tham gia ký kết một hợp đồng, thì theo cách làm
phổ biến là người đại diện theo pháp luật này ủy quyền cho một người khác ký
kết hợp đồng, chứ không cùng một lúc ký hơn một chữ ký trên hợp đồng. Cách
làm này về bản chất cũng khá khiên cưỡng và không giải quyết triệt để vấn đề.
Thiết nghĩ, do Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26 tháng 11 năm
2014 (Luật doanh nghiệp) đã bỏ quy định cấm giám đốc (thường là người đại


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×