Tải bản đầy đủ

Pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư từ thực tiễn tỉnh vĩnh phúc

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI, HỖ TRỢ ĐẦU TƯ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH VĨNH PHÚC

NGUYỄN ĐÌNH TUẤN

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI, HỖ TRỢ ĐẦU TƯ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH VĨNH PHÚC


NGUYỄN ĐÌNH TUẤN

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN THỊ BẢO ÁNH

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả số liệu nêu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, chính xác
của các cơ quan chức năng đã công bố. Những kết luận khoa học của luận văn là
mới và chưa có tác giả công bố trong bất cứ công trình khoa học nào.
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị khoa Đào tạo Sau Đại học xem xét để
tôi có thể được bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.

XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI HƯỚNG

NGƯỜI CAM ĐOAN

DẪN KHOA HỌC

TS. Trần Thị Bảo Ánh

Nguyễn Đình Tuấn


LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được thực hiện tại Viện đại học Mở Hà Nội. Để hoàn thành
được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của các thầy
cô giáo trong trường.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Trần Thị Bảo Ánh đã
hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình.
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, người đã đem


lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong thời gian học vừa qua.
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa Đào tạo sau
đại học, Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những
người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề
tài nghiên cứu của mình.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Nguyễn Đình Tuấn


MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ƯU ĐÃI, HỖ TRỢ ĐẦU
TƯ VÀ PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI, HỖ TRỢ ĐẦU TƯ ..................................... 6
1.1. Những vấn đề lý luận về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư.............................................. 6
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm ưu đãi, hỗ trợ đầu tư............................................. 6
1.2. Pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư ............................................................... 11
1.2.1. Hình thức áp dụng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư.............................................. 13
1.2.2. Đối tượng áp dụng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư ............................................. 17
1.2.3. Thủ tục áp dụng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư ................................................. 18
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI, HỖ TRỢ ĐẦU
TƯ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI, HỖ TRỢ
ĐẦU TƯ TẠI TỈNH VĨNH PHÚC .................................................................... 20
2.1. Thực trạng pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư............................................ 20
2.1.1. Hình thức ưu đãi, hỗ trợ đầu tư ........................................................... 20
2.1.2. Đối tượng được áp dụng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư .................................... 30
2.1.3. Thủ tục áp dụng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư ................................................. 32
2.2. Điều kiện kinh tế- xã hội và thực tiễn thực hiện ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
của tỉnh Vĩnh Phúc .............................................................................................. 33
2.2.1. Điều kiện kinh tế- xã hội của tỉnh Vĩnh Phúc ....................................... 33
2.2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư tại tỉnh
Vĩnh Phúc ..................................................................................................... 37
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI, HỖ TRỢ ĐẦU TƯ TẠI TỈNH
VĨNH PHÚC ........................................................................................................ 49


3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư tại tỉnh
Vĩnh Phúc ............................................................................................................ 49
3.1.1. Hoàn thiện quy đinh về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư ở Vĩnh Phúc phải
thống nhất và phù hợp với khung khổ pháp lý về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
của Luật Đầu tư và văn bản pháp luật chuyên ngành về đầu tư..................... 49
3.1.2. Đảm bảo tính phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội và bảo vệ môi
trường của địa phương.................................................................................. 51
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư ........................... 53
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật về ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đầu tư .......................... 53
3.3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về ưu đãi, hỗ
trợ đầu tư tại tỉnh Vĩnh Phúc ......................................................................... 56
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 64


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Môi trường đầu tư hấp dẫn, thu hút các nhà đầu tư là sự tổng hợp của rất
nhiều yếu tố khách quan và chủ quan trong đó có pháp luật đầu tư nói chung và
pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư nói riêng. Với mong muốn thực hiện các hoạt
động đầu tư, các nhà đầu tư cần có cái nhìn tổng thể về môi trường đầu tư. Sự lựa
chọn môi trường đầu tư bao gồm: vấn đề an toàn về vốn, tài sản cho nhà đầu tư; sự
ổn định chính sách, pháp luật cho nhà đầu tư; cơ chế giải quyết tranh chấp khách
quan cho các nhà đầu tư; các quy định về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư… để nhà đầu tư
được tiến hành đầu tư trong môi trường đầu tư ổn định, an toàn, nhanh thu hồi vốn
đầu tư và có lãi.
Các biện pháp ưu đãi đầu tư và hỗ trợ đầu tư được coi là những biện pháp
khuyến khích đầu tư. Dưới góc độ pháp lý, đó là những quy định do Nhà nước ban
hành nhằm tạo điều kiện thuận lợi hoặc tạo ra những lợi ích nhất định cho các nhà
đầu tư về tài chính, đất đai, hạ tầng kỹ thuật, khoa học công nghê, đào tạo nhân
lực…Các biện pháp ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đầu tư được ban hành trên cơ sở kết hợp
hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước, lợi ích nền kinh tế- xã hội và lợi ích của nhà đầu
tư.

Các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư được thiết kế hợp lý sẽ góp phần thu hút

đầu tư có hiệu quả. Đặc biệt trong bối cảnh hợp tác quốc tế đang mở rộng thì các
quốc gia đều nhận thức được về tầm quan trọng của các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ
đầu tư nhằm tạo lập môi trường đầu tư có sức cạnh tranh lớn trong lĩnh vực thu hút
đầu tư. Và trong mỗi một quốc gia thì các địa phương cũng mong muốn có lợi thế
cạnh tranh nhằm thu hút các nhà đầu tư đem các dự án đầu tư vào địa phương mình.
Vĩnh Phúc là một tỉnh gần thủ đô và được coi là "bến đỗ" của nhiều nhà đầu
tư lớn đến từ nhiều quốc gia như: Toyota, Honda, Sumitomo (Nhật Bản), Piaggio
(Italia), De Hus (Hà Lan), Patron Vina, Heasung Vina, Bangjoo, Cammsys (Hàn
Quốc), Prime Group (Thái Lan)…Không phải nghiễm nhiên mà trong một vài năm

1


trở lại đây, Vĩnh Phúc có bước nhảy vọt trên bảng xếp hạng PCI, từ vị trí 26 (năm
2013) lên thứ 6 (năm 2014) và lên thứ 4 (năm 2015). Đặc biệt, sau thành công của
Hội nghị xúc tiến đầu tư được tổ chức với quy mô lớn nhất từ trước đến nay vào
tháng 12/2016, Vĩnh Phúc tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư nước
ngoài. Tác giả là người đang công tác trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, vì vậy tác giả đã
lựa chọn nghiên cứu đề tài: "Pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư từ thực tiễn tỉnh
Vĩnh Phúc" làm luận văn Cao học Luật với mong muốn góp phần hoàn thiện các
quy định pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư nhằm thu hút các nhà đầu tư đưa nhiều
hơn các dự án đầu tư về Vĩnh Phúc để Vĩnh Phúc ổn định vị trí là "bến đỗ" cho các
nhà đầu tư.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Các nghiên cứu về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư không phải là vấn đề mới trong
khoa học pháp lý ở Việt Nam trong hơn 10 năm qua kể từ thời điểm Việt Nam
chuẩn bị gia nhập WTO. Có thể kể đến một số công trình khoa học sau: Luận văn
Luật học năm 2005 của Nguyễn Thị Lan Phương "Hoàn thiện pháp luật về khuyến
khích đầu tư ở Việt Nam"; Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2008 "Pháp luật của
Việt Nam về ưu đãi đầu tư với thực tiễn ở tỉnh Quảng Ngãi"; Luận văn thạc sĩ
Luật học của Lưu Thị Tuyết năm 2012 "Pháp luật về ưu đãi thuế thu nhập doanh
nghiệp tại Việt Nam"; Luận văn thạc sĩ Luật học năm 2017 của Nguyễn Thành
Thái "Pháp luật về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa từ
thực tiễn thành phố Đà Nẵng"…
Ngoài ra trên các tạp chí chuyên ngành về pháp luật cũng có một số bải viết
về đề tài này như bài viết Quả đắng ưu đãi đầu tư: Việt Nam thành bãi rác công
nghiệp ngày 23/06/2017 của tác giả Bích Diệp đăng trên báo Dân chí; bài viết Ưu
đãi đầu tư và câu hỏi về sự công bằng đăng trên báo Đầu tư của tác giả Nguyên
Đức ngày 22/11/2017; bài viết Pháp luật về ưu đãi hỗ trợ đầu tư của một số nước
Asean và gợi mở cho Việt Nam trên Tạp chí Công thương năm 22/01/2018 của các
tác giả Nguyễn Thị Hưng, Phạm Thị Hiền, Nguyễn Thị Thùy Linh…

2


Có thể nhận thấy vấn đề về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư không phải là vấn đề mới
nhưng các công trình nghiên cứu trên được nghiên cứu trước khi Quốc hội ban hành
Luật Đầu tư năm 2014. Có công trình nghiên cứu về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư khi đã có
Luật Đầu tư năm 2014 nhưng chỉ nghiên cứu các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đối
với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Hoặc có công trình nghiên cứu về ưu đãi, hỗ trợ đầu
tư chỉ tiếp cận trong phạm vi một bài báo nên nội dung nghiên cứu sẽ không bao
quát hết các nội dung pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư được.
Từ thực tế nghiên cứu về đề tài như vậy nên tác giả cho rằng vấn đề về ưu
đãi, hỗ trợ đầu tư vẫn cần được nghiên cứu theo hướng áp dụng các biện pháp ưu
đãi, hỗ trợ đầu tư đối với tất cả các doanh nghiệp, đặc biệt là việc nghiên cứu này
được gắn với một địa phương nhất định. Đó cũng là cơ hội để tác giả luận văn có
thể đóng góp cho khoa học pháp lý những nghiên cứu mới, thiết thực với thực tiễn.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu, giải quyết những vấn đề lý
luận và thực tiễn của pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư; thực tiễn thực thi pháp
luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư tại tỉnhVĩnh Phúc, luận văn hướng đến mục đích đề
xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư tại
tỉnh Vĩnh Phúc.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất, phân tích; đánh giá những vấn đề lý luận về pháp luật về ưu đãi,
hỗ trợ đầu tư;
Thứ hai, đánh giá những tồn tại, bất cập của pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu
tư và thực trạng thực hiện những quy định của pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư tại
tỉnh Vĩnh Phúc;
Thứ ba, đề xuất định hướng và một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện
pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về ưu
đãi, hỗ trợ đầu tư tại tỉnh Vĩnh Phúc.

3


4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư của
Việt Nam và tình hình thực thi các quy định này tại tỉnh Vĩnh Phúc.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật về ưu đãi,
hỗ trợ đầu tư theo Luật Đầu tư năm 2014 và có so sánh với một số quy định tương
ứng trong các văn bản pháp luật về đầu tư trước đó. Luận văn nghiên cứu các quy
định pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư theo pháp luật của Việt Nam và có sự so
sánh với quy định về ưu đãi, đầu tư của một vài quốc gia khác để rút ra bài học kinh
nghiệm trong việc thực hiện pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư cho Việt Nam nói
chung và tỉnh Vĩnh Phúc nói riêng.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy
vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng nền kinh tế thị trường;
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu,
phương pháp lịch sử; Phương pháp thống kê, thu thập kế thừa các nghiên cứu, các
tài liệu đã có… để giải quyết vấn đề đặt ra của đề tài. Trong đó, chương 1 sử dụng
chủ yếu phương pháp phân tích, tổng hợp; chương 2 sử dụng phương pháp phân
tích, thống kê, so sánh; chương 3 sử dụng phương pháp quy nạp, tổng hợp.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu
Dự kiến kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ có những đóng góp sau:
- Làm rõ hơn nội dung pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư trong sự so sánh đối
chiếu với pháp luật một số quốc gia khác;
- Phân tích, đánh giá được thực trạng thực hiện pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ
đầu tư tại tỉnh Vĩnh Phúc những thành công, những khó khăn và cơ hội trong việc
thu hút đầu tư tại Vĩnh Phúc;

4


- Đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về ưu
đãi, hỗ trợ đầu tư tại tỉnh Vĩnh Phúc.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và pháp luật về ưu
đãi, hỗ trợ đầu tư.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư và thực tiễn thực
hiện pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư tại tỉnh Vĩnh Phúc.
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật
về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư tại tỉnh Vĩnh Phúc.

5


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ƯU ĐÃI,
HỖ TRỢ ĐẦU TƯ VÀ PHÁP LUẬT VỀ ƯU ĐÃI,
HỖ TRỢ ĐẦU TƯ

1.1. Những vấn đề lý luận về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
* Có nhiều cách hiểu khác nhau về ưu đãi đầu tư. Trên thế giới theo định
nghĩa của Diễn đàn của Liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) thì
ưu đãi đầu tư được hiểu như khuyến khích đầu tư. Đó là các biện pháp được Chính
phủ sử dụng để thu hút đầu tư, hướng các dự án đầu tư vào các ngành, các khu vực
cần thiết hoặc ảnh hưởng đến tính chất của đầu tư. Theo một cách tiếp cận khác, ưu
đãi đầu tư là biện pháp xúc tác rất đa dạng và phong phú để thu hút đầu tư. Ưu đãi
đầu tư có thể quy về hai nhóm chính: chính sách thuế khóa (tax policy) và chính
sách khác không phải là thuế (non- tax policy) [12, tr.5]. Với định nghĩa của
UNCTAD thì ưu đãi đầu tư bao gồm cả ưu đãi và hỗ trợ đầu tư.
Tương tự như cách hiểu của UNCTA, giáo trình Luật Đầu tư Đại học Luật
Hà Nội định danh khuyến khích đầu tư bao gồm cả biện pháp ưu đãi và biện pháp
hỗ trợ đầu tư [5, tr.92].
Tuy nhiên, cũng có tác giả phân tách cụ thể các khái niệm ưu đãi và hỗ trợ
đầu tư. Giáo trình Luật Đầu tư của Viện Mở định nghĩa: Ưu đãi đầu tư là tất cả các
quy định do Nhà nước ban hành nhằm tạo ra những lợi ích nhất định cho các nhà
đầu tư trong nước cũng như nước ngoài khi tiến hành đầu tư vào nền kinh tế, trên cơ
sở kết hợp hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước của nền kinh tế - xã hội và các nhà đầu
tư [13, tr.8].

6


* Khái niệm hỗ trợ đầu tư được định nghĩa trong một công trình nghiên cứu
khoa học của tác giả Nguyễn Thị Ánh Nguyệt được hiểu là những quy định về việc
nhà nước tham gia hỗ trợ toàn bộ hoặc một phần một số hạng mục công việc mà lẽ
ra thuộc trách nhiệm của nhà đầu tư nhằm tạo điều kiện dễ dàng hơn, thuận lợi hơn,
hiệu quả hơn cho nhà đầu tư trong việc triển khai dự án đầu tư [1313, tr.9]. So chiếu
với quy định pháp luật đầu tư của Việt Nam có thể thấy pháp luật không định nghĩa
về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư mà chỉ quy định về các hình thức được hưởng ưu đãi, hỗ
trợ đầu tư; đối tượng được hưởng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư. Từ những quan điểm khác
nhau về ưu đãi và đầu tư đầu tư, tác giả luận văn xây dựng khái niệm ưu đãi, hỗ trợ
đầu tư như sau:
Các biện pháp ưu đãi đầu tư là những cam kết bằng pháp luật của nước tiếp
nhận đầu tư nhằm tạo ra các lợi ích kinh tế nhất định cho các nhà đầu tư trong,
ngoài nước khi tiến hành đầu tư vào nền kinh tế, trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa lợi
ích của Nhà nước, của nền kinh tế xã hội và của các nhà đầu tư.
Các biện pháp hỗ trợ đầu tư là những cam kết bằng pháp luật của nước tiếp
nhận đầu tư nhằm tạo điều kiện thuận lợi về kinh tế- xã hội cho các nhà đầu tư khi
tiến hành đầu tư vào nền kinh tế, trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa lợi ích của Nhà
nước, của nền kinh tế xã hội và của các nhà đầu tư.
* Ưu đãi, hỗ trợ đầu tư có các đặc điểm sau:
Thứ nhất: Chủ thể ban hành các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư là Nhà nước
và các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư được ghi nhận trong các văn bản pháp luật;
Chủ thể được hưởng các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư là các nhà đầu tư
Ưu đãi, hỗ trợ đầu tư là những cam kết của nước tiếp nhận đầu tư đối với các
nhà đầu tư. Việc cam kết của chủ thể Nhà nước đối với các nhà đầu tư là sự cam kết
có giá trị chính thức và có độ tin cậy cao vì chủ thể cam kết là tổ chức có quyền lực
và đại diện cho quốc gia tiếp nhận đầu tư. Những cam kết về đầu tư nói chung và ưu
đãi, hỗ trợ đầu tư nói riêng cần phải được thể hiện trong những văn bản pháp luật để
tạo cơ sở pháp lý ổn định, có giá trị pháp lý, có phạm vi áp dụng rộng, từ đó khuyến
khích và động lực, niềm tin cho các nhà đầu tư.

7


Chủ thể được hưởng các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư là các nhà đầu tư
nhưng không phải tất cả các nhà đầu tư đều được hưởng các biện pháp ưu đãi, hỗ
trợ đầu tư. Chỉ khi các nhà đầu tư đầu tư phù hợp với các tiêu chí mà Nhà nước cần
khuyến khích đầu tư thì nhà đầu tư mới được hưởng các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ
đầu tư. Đặc điểm về chủ thể được hưởng các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư khi đáp
ứng những tiêu chí khuyến khích đầu tư là điểm khác bảo đảm đầu tư. Vì chủ thể
được hưởng các biện pháp bảo đảm đầu tư là tất cả các nhà đầu tư không phân biệt
quốc tịch, sở hữu, ngành nghề, địa bàn đầu tư đều được Nhà nước bảo vệ quyền lợi,
ích hợp pháp cho họ.
Thứ hai: Bản chất của ưu đãi, hỗ trợ đầu tư là tạo ra những điều kiện thuận
lợi hoặc các lợi ích cao hơn cho các nhà đầu tư
Ưu đãi, hỗ trợ đầu tư có bản chất là việc nhà đầu tư được hưởng các điều
kiện kinh tế thuận lợi hơn so với các nhà đầu tư khi thực hiện đầu tư ở địa bàn hoặc
ngành nghề đầu tư khác.Thường ưu đãi đầu tư là những ưu đãi về tài chính và ưu
đãi về đất đai. Cam kết về khung ưu đãi đầu tư được áp dụng thống nhất trong phạm
vi quốc gia và việc áp dụng mức ưu đãi đầu tư cụ thể đối với mỗi dự án đầu tư phải
phù hợp với khung pháp luật về ưu đãi đầu tư, ví dụ mức thuế ưu đãi đối với dự án
đáp ứng các tiêu chí ưu đãi đầu tư giống nhau phải thống nhất trên phạm vi cả nước.
"Bản chất của ưu đãi đầu tư là dành cho các nhà đầu tư những chính sách ưu đãi đặc
biệt. Nhà nước không thể tùy tiện đưa ra các chính sách ưu đãi và không thể dành
sự ưu đãi cho nhà đầu tư này mà không dành ưu đãi cho nhà đầu tư khác, một chính
sách ưu đãi thống nhất và bình đẳng sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh đầu tư lành
mạnh" [12, tr.5].
Hỗ trợ đầu tư là những hỗ trợ mang tính chất ưu đãi về đào tạo, khoa học,
công nghệ, chuyển giao công nghệ, hỗ trợ tín dụng và có thể khác biệt ở mỗi địa
phương… Từ tiền đề cam kết và áp dụng các hỗ trợ đầu tư cho các nhà đầu tư nhằm
hướng đến mục đích là thu hút đầu tư vào Việt Nam, mỗi địa phương lại có quy
định hỗ trợ đầu tư riêng để cạnh tranh với nhau nhằm thu hút nhiều hơn các nhà đầu
tư đưa dự án đầu tư vào địa phương mình.

8


Thứ ba: Đối tượng hưởng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư phải đáp ứng các tiêu chí ưu
đãi, hỗ trợ đầu tư theo quy định của pháp luật
Tiêu chí ưu đãi đầu tư có thể thay đổi trong từng thời kỳ khác nhau và có thể
có sự khác biệt ở mỗi quốc gia. Tiêu chí ưu đãi, hỗ trợ đầu tư được xác định cụ thể
và thông tin công khai tới các nhà đầu tư. Tiêu chí ưu đãi, hỗ trợ đầu tư phải được
tính toán trên hiệu quả kinh tế- xã hội của Nhà nước, của nhà đầu tư và đảm bảo
phát triển bền vững môi trường, các vấn đề an sinh xã hội. Sự biến đổi của thực tiễn
phát triển kinh tế và các vấn đề xã hội đòi hỏi điều chỉnh pháp luật phải thay đổi để
đạt hiệu quả và có tính khả thi cao.
Thứ tư: Mục đích của ưu đãi, hỗ trợ đầu tư là nhằm mục đích thu hút các dự
án đầu tư và lợi ích kinh tế của nhà đầu tư
Ưu đãi, hỗ trợ đầu tư thực chất là phản ánh mối quan hệ lợi ích giữa Nhà
nước cà nhà đầu tư. Trong mối quan hệ này, Nhà nước là chủ thể quyết định các
biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư; Nhà đầu tư là chủ thể nhận ưu đãi, hỗ trợ đầu tư.
Mục đích của việc ban hành các ưu đãi, hỗ trợ đầu tư là Nhà nước mong
muốn chủ thể được nhận ưu đãi, hỗ trợ đầu tư sẽ đầu tư vào một số địa bàn và lĩnh
vực nhất định theo định hướng phát triển kinh tế trong mỗi thời kỳ của Nhà nước.
Định hướng phát triển kinh tế của Nhà nước bao hàm các tính toán về lợi ích kinh tế
của quốc gia và lợi ích của cộng đồng xã hội.
Về phía các nhà đầu tư thì ưu đãi, hỗ trợ đầu tư giúp nhà đầu tư tiết kiệm
được các chi phí đầu tư. Chi phí đầu tư một trong những yếu tố quan trọng để các
nhà đầu tư cân nhắc, tính toán khi lựa chọn địa bàn, ngành nghề và quy mô dự án
đầu tư. Về phía các nhà đầu tư khi được hưởng các ưu đãi, hỗ trợ đầu tư sẽ tiết kiệm
được chi phí đầu tư, đó là lợi ích kinh tế mà nhà đầu tư được thụ hưởng. Cùng với
bảo đảm đầu tư, các biện pháp ưu đãi và hỗ trợ đầu tư sẽ là những công cụ chủ yếu
hữu hiệu và thường được sử dụng nhất nhằm thể hiện ý chí và thông điệp của nước
tiếp nhận đầu tư đối với việc khuyến khích hoặc hạn chế đầu tư.

9


1.1.2. Tác động của ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đến nền kinh tế- xã hội
Một là: Ưu đãi, hỗ trợ đầu tư là những biện pháp khuyến khích đầu tư góp
phần nhằm mục đích thu hút các nhà đầu tư đầu tư và có vai trò chủ động cơ cấu lại
nền kinh tế theo định hướng phát triển của Nhà nước; góp phần nâng cao lợi thế
cạnh tranh.
Thông thường các nhà đầu tư sẽ lựa chọn ngành nghề, địa bàn đầu tư có khả
năng sinh lời cao thay vì đầu tư vào những ngành nghề hướng đến việc giải quyết
các vấn đề xã hội hoặc địa bàn đầu tư có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn. Nhà
nước ban hành các quy định về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư chính là để giải quyết mục đích
cơ cấu lại nền kinh tế, thu hút vốn đầu tư vào những ngành, địa bàn.
Chia sẻ lợi ích kinh tế với các nhà đầu tư qua các quy định của pháp luật về
ưu đãi đầu tư, hỗ trợ đầu tư sẽ là một yếu tố quan trọng để thu hút dự án đầu tư vào
nước tiếp nhận đầu tư. Ưu đãi, hỗ trợ đầu tư có vai trò tích cực: (i) Thu hút các dự
án đầu tư lớn đóng góp cho nguồn thu ngân sách; (ii) Góp phần chuyển dịch cơ cấu
kinh tế và cơ cấu lao động, nâng cao năng lực sản xuất công nghiệp: tạo ra nhiều
ngành công nghiệp mới và tăng cường năng lực của nhiều ngành công nghiệp (iii)
Thu hút đầu tư cũng góp phần hình thành và phát triển hệ thống các khu công
nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao tương đối đồng bộ và hiện đại, đem lại
hiệu quả sử dụng đất cao hơn ở một số địa phương; (iv) Thúc đẩy chuyển giao công
nghệ tiên tiến nếu nước tiếp nhận đầu tư giám sát có hiệu quả hoạt động chuyển
giao công nghệ. Tập đoàn Intel đầu tư 1 tỷ đô la Mỹ vào Việt Nam trong dự án sản
xuất linh kiện điện tử cao cấp, đã gia tăng số lượng các dự án đầu tư vào lĩnh vực
công nghệ cao của các tập đoàn đa quốc gia (Canon, Panasonic, Ritech.v.v); (v)
Nhìn chung, trình độ công nghệ của khu vực ĐTNN cao hơn hoặc bằng các thiết bị
tiên tiến đã có trong nước và tương đương các nước trong khu vực; (vi) Nước tiếp
nhận đầu tư được áp dụng phương thức quản lý tiên tiến của nhà đầu tư ở các quốc
gia phát triển.

10


Ưu đãi, hỗ trợ đầu tư góp phần nâng cao lợi thế cạnh tranh giữa các địa
phương trong một quốc gia và giữa các quốc gia với nhau; Góp phần mở rộng quan
hệ đối ngoại, chủ động hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới. Tác động lan tỏa
của các nhà đầu tư có uy tín trên thế giới sẽ tác động đến các nhà đầu tư khác phải
chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo động lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp nhằm thích ứng trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Hai là: Bên cạnh những tác động tích cực đến nền kinh tế- xã hội thì ưu đãi, hỗ
trợ đầu tư cũng có những "mặt trái" tác động không tốt đến nền kinh tế- xã hội. Áp
dụng khuyến khích đầu tư quá mức, không coi trọng chất lượng vốn đầu tư có thể ảnh
hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế; gia tăng sự phụ thuộc của nước tiếp
nhận đầu tư. Việc định dự án đầu tư được áp dụng thuế suất ưu đãi có những khó khăn
và thường tạo cơ hội tránh thuế do các doanh nghiệp phải chịu thuế suất cao đã chuyển
lợi nhuận sang các doanh nghiệp chịu thuế thấp hơn qua phương thức chuyển giá. Ưu
đãi về thời gian miễn thuế và giảm thuế là hình thức ưu đãi thuế phổ biến nhất nhưng
nếu thời kỳ ưu đãi kéo dài sẽ tăng áp lực cho thu ngân sách. Ngược lại, nếu thời gian
ưu đãi ngắn - chỉ thu hút được các dự án ngắn hạn và dễ gây nên tình trạng chuyển vốn
sang đầu tư ở một nước khác để hưởng thời kỳ ưu đãi thuế mới. Mặt khác, áp dụng
hình thức này có thể gây ra hiện tượng trốn thuế (các công ty mới sẽ được thành lập để
hưởng thời kỳ ưu đãi thuế mới thay vì mở rộng đầu tư) [1].
Ngoài ra, thực tế cho thấy, các nước đang phát triển do nhu cầu về vốn rất
lớn để phục vụ cho quá trình phát triển kinh tế đất nước đã thực thi chính sách thu
hút vốn đầu tư kém chọn lọc, chấp nhận cả vốn đầu tư có chất lượng thấp. Thu hút
vốn đầu tư có thể ảnh hưởng đến vấn đề môi trường và an sinh xã hội. Trung Quốc
hiện đang là một quốc gia phải trả giá đắt về môi trường cho nhiều thập kỷ tăng
trưởng kinh tế chóng mặt với những chính sách ưu đãi thu hút vốn đầu tư nước
ngoài [1313, tr.29].
1.2. Pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
Pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư được hiểu là hệ thống các quy phạm pháp
luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong

11


lĩnh vực ưu đãi, hỗ trợ đầu tư. Sự cần thiết phải ban hành các quy định của pháp luật
về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư là:
(i) Nhằm tạo lập môi trường pháp lý thống nhất và bình đẳng
Xuất phát từ vai trò của các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư thì pháp luật về
ưu đãi, hỗ trợ đầu tư cần thiết phải xuất hiện để tạo lập khung khổ pháp lý cho hoạt
động đầu tư. Pháp luật đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện một định hướng
chính sách, đặc biệt là đối với những quốc gia đang trong công cuộc đổi mới như ở
Việt Nam. "Vai trò của luật có ý nghĩa rất lớn đối với sự thành bại của công cuộc
đổi mới gắn liền với sự đổi mới của bản thân hệ thống pháp luật. Pháp luật tạo môi
trường pháp lý an toàn, bảo đảm cho các hoạt động đầu tư được điều chỉnh theo một
trật tự nhất định. Quyền lợi và hoạt động của nhà đầu tư chỉ có thể phát triển trong
một môi trường chính trị, kinh tế- xã hội ổn đinh, tin cậy" [15, tr.11] nhằm thu hút
các nhà đầu tư và tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng.
Ưu đãi, hỗ trợ đầu tư có mục đích thu hút đầu tư. Việc thu hút đầu tư được
thể hiện bằng các quy định của pháp luật sẽ tạo niềm tin và sự yên tâm cho các
nhà đầu tư, là công cụ để thúc đẩy các hoạt động đầu tư phát triển. Pháp luật đầu
tư nói chung và pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư nói riêng được xây dựng trên
những tiêu chí phù hợp với đặc điểm kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia sẽ tạo lập
môi trường cạnh tranh bình đẳng vì được hình thành trên cơ sở vận động nội tại
của các quan hệ đầu tư.
Ở Việt Nam, xét về cấu trúc hình thức, pháp luật về ưu đãi đầu tư được quy
định trong các hệ thống văn bản pháp luật về đầu tư và các văn bản pháp luật có liên
quan điều chỉnh về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư như Luật Đầu tư năm 2014; Luật thuế thu
nhập doanh nghiệp năm 2008 sửa đổi năm 2013; Luật thuế xuất nhập khẩu năm
2016; Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2018; Các điều ước quốc tế về đầu
tư kinh doanh… Như vậy, pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư được quy định rải rác
trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
Ở góc độ cấu trúc nội dung, pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư bao gồm
những nội dung cơ bản sau:

12


1.2.1. Hình thức áp dụng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
Một là: Hình thức ưu đãi về thuế
Ưu đãi thuế được hiểu là hình thức mà một quốc gia, một vùng lãnh thổ, một
khu vực hành chính thuế dành những điều kiện, những quyền lợi đặc biệt về thuế
cho các tổ chức và cá nhân nộp thuế hơn so với các quốc gia, vùng lãnh thổ hoặc
khu vực hành chính thuế khác khi đáp ứng được những điều kiện nhất định của
chính sách ưu đãi. Có thể chia làm hai nhóm chính là ưu đãi thuế trực tiếp và ưu đãi
thuế gián tiếp:
* Ưu đãi thuế trực tiếp
- Áp dụng thuế suất ưu đãi: Với hình thức này, Chính phủ có thể giảm mức
thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp cho một số hoạt động cụ thể để khuyến khích
phát triển một số lĩnh vực nhất định.
- Ưu đãi về thời gian miễn thuế và giảm thuế: Đây là hình thức ưu đãi thuế
phổ biến nhất. Hình thức này đơn giản, dễ thực hiện đối với doanh nghệp và cơ
quan thuế, tuy nhiên, nếu thời kỳ ưu đãi kéo dài sẽ tăng áp lực cho thu ngân sách.
Ngược lại, nếu thời gian ưu đãi ngắn thì chỉ thu hút được các dự án ngắn hạn và dễ
gây nên tình trạng chuyển vốn sang đầu tư ở một nước khác để hưởng thời kỳ ưu
đãi thuế mới.
- Giảm gánh nặng lỗ: Lỗ của doanh nghiệp có thể được phân bổ khấu trừ vào
các năm tiếp theo để giảm thu nhập tính thuế, giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp
mà các doanh nghiệp phải nộp. Hình thức này được xem như là hình thức hỗ trợ
vốn cho các doanh nghiệp và có lợi cho những dự án lớn đầu tư vào sản xuất. Tuy
nhiên, nó cũng gây ra những gánh nặng về quản lý và nếu không có quy định đúng
đắn về khấu hao có thể dẫn đến giảm hiệu quả của hình thức ưu đãi này.
* Ưu đãi thuế gián tiếp
Chính phủ sử dụng các hình thức chủ yếu là miễn giảm thuế nhập khẩu và
thuế giá trị gia tăng. Các nước sử dụng hình thức miễn giảm thuế nhập khẩu và thuế
giá trị gia tăng và trong một số trường hợp cả thuế tiêu thụ đặc biệt cho các nhà đầu

13


tư được khuyến khích trong việc nhập khẩu máy móc hoặc các nhà xuất khẩu đều
hưởng thuế suất 0%, theo đó được hưởng chế độ hoàn thuế giá trị gia tăng.
Việc áp dụng chính sách ưu đãi có thể được quy định trong luật thuế hoăc ở
trong các luật khác liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Tại nhiều quốc gia
chính sách miễn giảm thuế được thực hiện cho các doanh nghiệp hoạt động ở các
khu kinh tế đặc biệt như đặc khu kinh tế, khu chế xuất hay khu công nghệ cao…
Mỗi hình thức ưu đãi thuế đều có ưu và nhược điểm. Việc lựa chọn hình thức nào là
tùy thuộc vào thực tế mỗi quốc gia và mỗi thời kỳ phát triển.
Từ giai đoạn những năm 1980 đến nay, ưu đãi thuế đã được xem là công cụ
linh hoạt và cần thiết để thực hiện khuyến khích đầu tư ở nhiều quốc gia trên thế
giới (Zee, Stotsky và Ley, 2005). Theo nghiên cứu của James (2013), trong số 12
quốc gia trong khu vực Đông Á và Thái Bình Dương, có 92% các quốc gia áp dụng
miễn giảm thuế có thời hạn hoặc miễn thuế; có 72% các quốc gia áp dụng hình thức
giảm thuế suất thuế TNDN và 67% các quốc gia áp dụng hình thức giảm trừ nghĩa
vụ thuế cho đầu tư [7].
Hai là: Hình thức hỗ trợ đầu tư
Hỗ trợ đầu tư là những biện pháp hỗ trợ của các địa phương tiếp nhận đầu tư.
Hỗ trợ đầu tư có các hình thức hỗ trợ đa dạng như hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng;
Hỗ trợ về khoa học; Hỗ trợ về đào tạo; Hỗ trợ về tín dụng; Hỗ trợ đầu tư về thủ tục
hành chính….
Nhìn chung quy định các hình thức ưu đãi, hỗ trợ đầu tư của pháp luật Việt
Nam cũng tương tự quy định về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư của một số quốc gia trong khu
vực châu Á như Thái Lan. Malaysia, Indonexia…
* Thái Lan ưu đãi về thuế bằng việc miễn, giảm thuế nhập khẩu máy móc,
thiết bị; giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp;
Ví dụ: giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp; khấu trừ hai lần chi phí vận chuyển,
điện và nước; Bổ sung 25% khấu trừ chi phí xây dựng và lắp đặt cơ sở hạ tầng của
doanh nghiệp; Miễn thuế nhập khẩu đối với nguyên liệu và nguyên liệu thiết yếu sử

14


dụng để sản xuất hàng xuất khẩu. Bên cạnh đó còn có các hình thức ưu đãi khác
nhằm thu hút đầu tư, như:
- Cho phép công dân nước ngoài vào Thái Lan để nghiên cứu cơ hội đầu tư;
cho phép đưa vào Thái Lan những lao động kỹ năng cao và chuyên gia để thực hiện
việc xúc tiến đầu tư;
- Cho phép sở hữu nhà và công trình xây dựng trên đất do chủ đầu tư thuê.
Điều này được quy định tại Điều 97, 98 Luật Đất đai Thái Lan. Như vậy, nhà đầu tư
nước ngoài không được quyền sở hữu đất ở Thái Lan, nhưng có thể thực hiện hình
thức thuê đất và có thể sở hữu đối với cơ sở hạ tầng xây trên đất thuê.
- Thái Lan cũng cho phép nhà đầu tư mang lợi nhuận ra nước ngoài bằng
ngoại tệ.
* Malaysia: Các ưu đãi cụ thể như giảm 10% thuế giá trị gia tăng cho sản
phẩm xuất khẩu, giảm 5% giá nguyên liệu đầu vào nội địa để sản xuất hàng xuất
khẩu, cũng như chi phí quảng cáo, nghiên cứu thị trường. Với mục tiêu tạo việc làm
và khuyến khích đầu tư mở rộng của doanh nghiệp FDI, Malaysia đã đưa ra điều
kiện để được hưởng ưu đãi là lao động thường xuyên từ 500 người trở lên hoặc vốn
giải ngân đạt từ 25 triệu Ringit (RM) trở lên. Nhằm khuyến khích các doanh nghiệp
đầu tư vào phát triển nguồn nhân lực, Malaysia đã cấp ưu đãi cho phép các doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đào tạo hướng nghiệp cho người lao động hoặc xây
dựng các trường đào tạo. Malaysia cũng có những hình thức ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
nước ngoài thông qua thuế và các biện pháp phi thuế. Malaysia đưa ra chính sách
ưu đãi cho các nhà đầu tư tiên phong và trợ cấp thuế đầu tư để áp dụng cho các
nhà đầu tư ở các lĩnh vực như: Chế biến sản phẩm nông nghiệp; sản xuất các sản
phẩm cao su; các sản phẩm từ dầu cọ; hóa chất và hóa phẩm dầu khí; dược phẩm;
đồ gỗ; bột giấy, giấy và bảng giấy; các sản phẩm từ bông vải sợi; may mặc;… với
các điều kiện về việc áp dụng công nghệ, về mức độ giá trị gia tăng và các mối
liên kết công nghiệp của dự án. Những lĩnh vực trên đều là những ngành có thế
mạnh của Malaysia, Chính phủ Malaysia muốn thúc đẩy phát triển những ngành

15


thuộc thế mạnh của mình nên đã có chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư nước ngoài nhằm
nâng cao công nghệ sản xuất và chất lượng sản phẩm. Không chỉ đưa ra các chính sách
ưu đãi nhằm thu hút đầu tư vào các ngành có thế mạnh, Malaysia còn khuyến khích
đầu tư cho các ngành công nghệ cao, dự án chiến lược, máy móc thiết bị công nghiệp.
Nhà nước liên bang này cũng đẩy mạnh chủ trương miễn thuế nhập khẩu đối với máy
móc thiết bị cho các khu chế xuất và các dự án hướng vào xuất khẩu.
Chính sách hỗ trợ đầu tư: Malaysia áp dụng chính sách đào tạo lao động theo
yêu cầu của chủ đầu tư, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động.
Gần đây, nước này có qui định, các nhà chuyên môn, chuyên gia quản lý và kỹ thuật
đóng thuế thu nhập thì không phải trả thuế sử dụng nhân công nước ngoài.
* Ưu đãi, hỗ trợ đầu tư tại Indonesia
Ưu đãi bằng thuế: Chính quyền Indonesia dành ưu đãi về thuế cho các dự án
đầu tư lần đầu trong các ngành công nghiệp như: kim loại cơ bản, lọc dầu công
nghiệp máy móc; ngành công nghiệp tài nguyên tái tạo; thiết bị viễn thông…Ngoài
ra, Indonesia còn dỡ bỏ các hạn chế và thuế đối với việc sử dụng người lao động
nước ngoài. Gần đây, Nhà nước đã quy định bất kỳ người nước ngoài nào phải đóng
thuế xuất cảnh thì được khấu trừ vào thuế thu nhập.
Ưu đãi ngoài thuế: Indonesia có một số chính sách ưu đãi đầu tư khác như về
lãi suất tín dụng, chính sách xuất khẩu hàng hóa khá thông thoáng. Ví dụ, đối với
hàng xuất khẩu, lãi suất tín dụng phục vụ xuất khẩu là 9%/năm, trong khi lãi suất
khác là 18-24%/năm [77].
Có thể nhận thấy quy định về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư cho nhà đầu tư tại Việt
Nam được đánh giá là hấp dẫn so với các nước trong khu vực. Theo ông Bùi Ngọc
Tuấn: Chính sách ưu đãi đầu tư của Việt Nam so với khu vực có nhiều tiến bộ và có
thể nói là có ưu điểm khá mạnh so với các nước. Đặc biệt, mức thuế suất thuế thu
nhập doanh nghiệp 20% của Việt Nam là rất hấp dẫn trong khu vực, gần ở mức thấp
nhất, chỉ cao hơn so với Singapore.

16


1.2.2. Đối tượng áp dụng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
Đối tượng được áp dụng ưu đãi đầu tư ở mỗi quốc gia theo những tiêu chí
khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế, xã hội và nhu cầu thu hút đầu tư của mỗi
quốc gia. Đối tượng áp dụng ưu đãi đầu tư ở mỗi quốc gia cũng có thể thay đổi
trong từng thời kỳ để phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế ở mỗi thời kỳ.
Pháp luật đầu tư ở Việt Nam quy định tiêu chỉ chủ yếu để áp dụng ưu đãi đầu
tư là ngành nghề kinh doanh và địa bàn kinh doanh. Những ngành nghề và địa bàn
được ưu đãi đầu tư phải dựa trên những khảo sát và tổng hợp những kết quả đánh
gia thực tế về nhu cầu thu hút đầu tư, đặc thù phát triển kinh tế- xã hội ở mỗi địa
phương. Danh mục các ngành nghề và địa bàn ưu đãi đầu tư phải được công bố
công khai. Có như vậy ưu đãi đầu tư mới phát huy tác dụng và có tính khả thi.
Ngoài tiêu chí địa bàn và ngành nghề đầu tư, các tiêu chí ưu đãi đầu tư có thể là quy
mô vốn của dự án đầu tư hoặc số lượng lao động mà dự án đầu tư sử dụng hoặc một
số tiêu chí cụ thể khác.
Luật Đầu tư năm 2015 ở Việt Nam quy định dự án đầu tư thuộc ngành, nghề
ưu đãi đầu tư theo quy định tại khoản 1 Điều 16 Luật Đầu tư; Dự án đầu tư tại địa
bàn ưu đãi đầu tư theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Luật Đầu tư; Dự án đầu tư có
quy mô vốn từ 6000 tỷ đồng trở lên, thực hiện giải ngân tối thiểu 6000 tỷ đồng
trong thời hạnh 03 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hoặc
quyết định chủ trương đầu tư; Dự án đầu tư tại vùng nông thôn sử dụng từ 500 lao
động trở lên; Doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, tổ
chức khoa học và công nghệ
Địa bàn ưu đãi đầu tư ở Việt Nam là những địa bàn có điều kiện kinh tế xã
hội khó khăn và địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Đại bàn có
điều kiện kinh tế xã hội khó khăn là địa bàn vùng dân tộc thiểu số, miền núi; vùng
có kết cấu hạ tầng chưa phát triển, vùng có điều kiện tự nhiên không thuận lợi. Địa
bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn là địa bàn vùng dân tộc thiểu số ở
miền núi cao; hải đảo, vùng có kết cấu hạ tầng yếu kém; vùng có điều kiện tự nhiên
rất không thuân lợi [19].

17


Tương tự như Việt Nam, các quốc gia khác cũng xây dựng danh sách khuyến
khích đầu tư. Ví dụ ở Brunei đưa ra một danh sách khuyến khích thuế để thúc đẩy
đầu tư theo thông tư về khuyến khích đầu tư được ban hành năm 2001. Trong hầu
hết các phần những khuyến khích này là dành cho tất cả nhà đầu tư không chỉ là nhà
đầu tư nước ngoài; Ở Campuchia: Luật Đầu tư quy định rõ ràng nguyên tắc cơ bản
là Campuchia thông qua khuyến khích bằng cách cấp danh hiệu dự án đầu tư có
chất lượng [21].
Ưu đãi đầu tư ở một số quốc gia được hiểu bao gồm cả hỗ trợ đầu tư, do vậy
đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư là đối tượng được hưởng hỗ trợ đầu tư. Ở Việt
Nam, Luật Đầu tư chỉ quy định về đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư mà không
có quy định cụ thể về đối tượng được hưởng biện pháp hỗ trợ đầu tư. Tuy nhiên, xét
về bản chất ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đều có mục đích khuyến khích thu hút đầu tư khi
đáp ứng các tiêu chí nhất định liên quan đến sự phát triển kinh tế- xã hội nên có thể
hiểu thực chất đối tượng được hưởng ưu đãi đầu tư theo quy định của pháp luật
cũng là đối tượng được hưởng hỗ trợ đầu tư.
1.2.3. Thủ tục áp dụng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
Pháp luật đầu tư phải quy định về thủ tục để áp dụng các ưu đãi, hỗ trợ đầu
tư và cơ quan có thẩm quyền quản lý về áp dụng các hình thức ưu đãi, hỗ trợ đầu tư
cho các nhà đầu tư. Ở Việt Nam, cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư là cơ quan
quản lý chung về hoạt động đầu tư và hoạt động ưu đãi, hỗ trợ đầu tư được tổ chức
từ Trung ương xuống tới địa phương. Một vấn đề cần lưu ý khi áp dụng thủ tục ưu
đãi đầu tư đó là nguyên tắc áp dụng ưu đãi đầu tư được xác định cụ thể khi nhà đầu
tư đáp ứng được đồng thời nhiều tiêu chí ưu đãi đầu tư.
Ở Thái Lan có một cơ quan chuyên trách về ưu đãi đầu tư, các dự án đầu tư
muốn được hưởng các chính sách ưu đãi thì đều phải thông qua cơ quan này, đó là
Ủy ban Đầu tư Thái Lan (BOI). Về thủ tục đầu tư, theo BOI có khoảng trên 20 cơ
quan của Chính phủ Thái Lan tham gia vào quy trình thẩm định, thành lập doanh
nghiệp của nhà đầu tư nước ngoài tại Thái Lan. Quá trình thành lập doanh nghiệp

18


có vốn đầu tư nước ngoài tại Thái Lan trải qua hai bước: đăng ký Giấy phép kinh
doanh nước ngoài và đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Một nhà đầu tư nước ngoài tiến hành đầu tư, kinh doanh tại Malaysia cần
phải đăng ký thành lập doanh nghiệp với Ủy ban Doanh nghiệp của Malaysia. Sau
khi nhận được Giấy đăng ký doanh nghiệp, nhà đầu tư phải thực hiện các thủ tục
khác như mở tài khoản ngân hàng, đăng ký với cơ quan thuế thu nhập của Malaysia
và đăng ký để xin cấp giấy phép văn phòng từ cơ quan địa phương nơi doanh
nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh. Tiếp đó là phải xin phê duyệt giấy phép sản
xuất của Cơ quan Phát triển đầu tư Malaysia [7].

19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×