Tải bản đầy đủ

Pháp luật về thành viên độc lập hội đồng quản trị ở việt nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ THÀNH VIÊN
ĐỘC LẬP HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ Ở VIỆT NAM

PHẠM MINH THẮNG

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ THÀNH VIÊN
ĐỘC LẬP HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ Ở VIỆT NAM


PHẠM MINH THẮNG

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN THỊ BẢO ÁNH

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả số liệu nêu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, chính xác
của các cơ quan chức năng đã công bố. Những kết luận khoa học của luận văn là
mới và chưa có tác giả công bố trong bất cứ công trình khoa học nào.
Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị khoa Đào tạo Sau Đại học xem xét để tôi
có thể được bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.

XÁC NHẬN CỦA NGƯỜI HƯỚNG

NGƯỜI CAM ĐOAN

DẪN KHOA HỌC

TS. Trần Thị Bảo Ánh

Phạm Minh Thắng


LỜI CẢM ƠN

Luận văn này được thực hiện tại Viện đại học Mở Hà Nội. Để hoàn thành
được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên, giúp đỡ của các thầy
cô giáo trong trường.
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Trần Thị Bảo Ánh đã
hướng dẫn tôi thực hiện nghiên cứu của mình.
Xin cùng bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo, người đã đem


lại cho tôi những kiến thức bổ trợ, vô cùng có ích trong thời gian học vừa qua.
Cũng xin gửi lời cám ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, Khoa Đào tạo sau
đại học, Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những
người đã luôn bên tôi, động viên và khuyến khích tôi trong quá trình thực hiện đề
tài nghiên cứu của mình.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Phạm Minh Thắng


MỤC LỤC

Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ THÀNH
VIÊN ĐỘC LẬP HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ CÔNG TY CỔ PHẦN ..................... 7
1.1. Khái quát về quản trị công ty cổ phần ........................................................... 7
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm công ty cổ phần .................................................... 7
1.1.2. Khái quát về quản trị công ty................................................................. 8
1.2. Khái niệm thành viên độc lập Hội đồng quản trị ........................................ 13
1.3. Vai trò của thành viên độc lập Hội đồng quản trị ....................................... 14
1.4. Khái quát chung pháp luật về thành viên độc lập Hội đồng quản trị ........ 20
1.4.1. Khái niệm và nội dung pháp luật về thành viên độc lập Hội đồng
quản trị ......................................................................................................... 20
1.4.2. Vai trò của pháp luật về thành viên độc lập Hội đồng quản trị ............ 21
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ THÀNH VIÊN ĐỘC LẬP HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ Ở
VIỆT NAM .......................................................................................................... 25
2.1. Thực trạng pháp luật về thành viên độc lập Hội đồng quản trị ................. 25
2.1.1. Tiêu chuẩn, điều kiện của thành viên độc lập Hội đồng quản trị.......... 25
2.1.2. Số lượng thành viên độc lập Hội đồng quản trị ................................... 32
2.1.3. Quy trình bầu và miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên độc lập Hội
đồng quản trị, nhiệm kỳ của thành viên độc lập Hội đồng quản trị................ 35
2.1.4. Quyền lợi và nghĩa vụ của thành viên độc lập Hội đồng quản trị......... 37
2.1.5. Thù lao của thành viên độc lập Hội đồng quản trị ............................... 40


2.2. Thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật vê thành viên độc lập Hội
đồng quản trị ở Việt Nam.................................................................................... 41
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN
PHÁP LUẬT VỀ THÀNH VIÊN ĐỘC LẬP HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ TẠI
VIỆT NAM .......................................................................................................... 48
3.1. Sự cần thiết và quan điểm hoàn thiện pháp luật về thành viên độc lập
Hội đồng quản trị ................................................................................................ 48
3.1.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về thành viên độc lập Hội
đồng quản trị ................................................................................................ 48
3.1.2. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về thành viên độc lập Hội đồng
quản trị ......................................................................................................... 50
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về thành viên độc lập Hội đồng
quản trị................................................................................................................. 51
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về thành viên độc lập
Hội đồng quản trị ................................................................................................ 57
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 64


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Lý thuyết và thực tiễn đã khẳng định cần thiết phải tìm ra mô hình tổ chức
quản lý doanh nghiệp phù hợp nhằm hạn chế những rủi ro cho doanh nghiệp, thành
viên doanh nghiệp và những tổ chức, cá nhân có liên quan tới doanh nghiệp. Bởi vì
về mặt lý luận, một tổ chức có sự tham gia của nhiều cá nhân, tổ chức sẽ tồn tại
nhiều lợi ích khác nhau. Lý thuyết trên được vận dụng trong hoạt động tổ chức hoạt
động quản lý doanh nghiệp. Thật vậy, doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của các
thành viên doanh nghiệp nhưng để duy trì hoạt động của doanh nghiệp phải có sự
quản lý của các cơ quan quản lý, sự điều hành của Ban giám đốc và sự đóng góp
của người lao động. Những người này không phải lúc nào cũng có chung ý chí và
quyền lợi, thậm chí còn xung đột lợi ích kinh tế với nhau. Đặc biệt với các doanh
nghiệp đối vốn như công ty cổ phần với số lượng cổ đông lớn, không có mối quan
hệ thân tín và luôn hướng đến lợi ích kinh tế thì các vấn đề tư lợi, không công bằng
trong quản trị doanh nghiệp tất yếu sẽ diễn ra với mức độ sâu và rộng hơn các
doanh nghiệp khác.
Mặt khác, ở Việt Nam "Khi luật và các văn bản dưới luật còn nhiều kẽ hở,
chưa thể ngăn chặn triệt để các hoạt động mờ ám, thao túng, xâm phạm lợi ích
thành viên, thì chính điều lệ và quy chế quản trị doanh nghiệp được xây dựng một
cách nghiêm túc sẽ đóng vai trò bọc lót, bịt kín những kẽ hở này để bảo vệ sự minh
bạch, công bằng trong doanh nghiệp. Nhất là với công ty cổ phần, những quy định
cụ thể, chặt chẽ và chi tiết hơn trong quy chế quản trị công ty về quyền lợi cổ đông,
về Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, về vấn đề ngăn ngừa
xung đột lợi ích, công bố thông tin... sẽ giúp công ty tránh được những tranh cãi bất
tận khi xảy ra những vấn đề liên quan mà luật không quy định hết" (Nguồn:
VnEconomy- Doanh nhân Việt Nam).

1


Các lý thuyết và thông lệ tốt về quản trị công ty đã khẳng định vai trò của
thành viên độc lập Hội đồng quản trị là rất quan trọng đối với chất lượng, hiệu quả
hoạt động quản trị của công ty cổ phần. Các thành viên độc lập Hội đồng quản trị có
thể đóng góp vào những quyết định quan trọng của quản trị công ty, đem lại hiệu
quả trong hoạt động kinh doanh của công ty vì những quyết định do thành viên độc
lập Hội đồng quản trị đưa ra có tính khách quan, minh bạch.
Tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu "Pháp luật về thành viên độc lập Hội
đồng quản trị" vì những lý do chủ yếu sau:
Thứ nhất, Luật Doanh nghiệp năm 2014 lần đầu tiên đã quy định về thành
viên độc lập Hội đồng quản trị và quyền quyết định lựa chọn mô hình tổ chức quản
lý có sự xuất hiện của thành viên độc lập Hội đồng quản trị cho công ty mình. Như
vậy, các quy định pháp luật về tổ chức quản lý doanh nghiệp ở Việt Nam đang trong
quá trình hoàn thiện và quy định về thành viên độc lập Hội đồng quản trị nói riêng
là nội dung mới trong Luật Doanh nghiệp ở Việt Nam. Vì vậy việc nghiên cứu về
đề tài này có tính gợi mở trong việc tìm ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ
chức quản lý công ty cổ phần ở Việt Nam.
Thứ hai, thực tiễn quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam bộc lộ nhiều tranh chấp,
vi phạm về việc ra các quyết định quản lý xâm phạm lợi ích các cổ đông và bên thứ ba
có liên quan. Trong các vụ án tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty thì yêu
cầu hủy biên bản nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông/Hội đồng quản trị/Hội đồng
thành viên chiếm tỷ lệ lớn nhất là 20/29 vụ án, tỷ lệ 69%, còn lại là các yêu cầu liên
quan đến việc công nhận hoặc hủy bỏ Hợp đồng chuyển nhượng cổ phần; xác định tỷ
lệ sở hữu, phần vốn góp trong công ty; yêu cầu trả cổ tức, họp Đại hội đồng cổ đông,
được mua cổ phần ưu đãi và yêu cầu thực hiện các nội dung trong biên bản họp Đại hội
đồng cổ đông... Vì vậy, nghiên cứu và đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả
quản trị công ty cổ phần nhằm giảm thiểu những rủi ro cho doanh nghiệp, chủ sở hữu
doanh nghiệp và những chủ thể có liên quan là cần thiết và có ý nghĩa.
2


2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Trong thời gian qua vấn đề quy chế pháp lý về thành viên Hội đồng quản trị
độc lập đã được nhiều học viên, chuyên gia quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ
khác nhau như Luận văn thạc sĩ Luật học "Quy chế pháp lý của thành viên độc lập
Hội đồng quản trị trong Ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam", Nguyễn
Hồng Ngọ, năm 2015; Luận văn thạc sĩ Luật học "Quy chế pháp lý thành viên Hội
đồng quản trị độc lập ở Việt Nam hiện nay", Lê Thị Bích Liên, năm 2015; Khóa
luận tốt nghiệp "Địa vị pháp lý của thành viên độc lập Hội đồng quản trị trong công
ty cổ phần niêm yết" Lê Thị Hồng Hạnh, năm 2016; bài viết " Thành viên độc lập
Hội đồng quản trị của công ty cổ phần" Đỗ Ngọc Thanh Thủy, Tạp chí Tài chính,
năm 2017; bài viết "Vai trò của thành viên độc lập Hội đồng quản trị trong công ty
cổ phần", Bùi Thu Thủy, Tạp chí Khoa học và Đào tạo Ngân hàng số 163/205
Ở nhiều góc độ khác nhau, các công trình khoa học này đã có những đóng
góp nhất định cho việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật về tổ chức
quản lý công ty cổ phần nói riêng. Những đóng góp này đã được làm cơ sở cho
việc hoàn thiện các quy định về công ty cổ phần. Các công trình khoa học trên
nghiên cứu về thành viên độc lập Hội đồng quản trị trong một loại hình doanh
nghiệp cụ thể như ở Ngân hàng, công ty cổ phần niêm yết hoặc chỉ dừng lại nội
dung nghiên cứu trong một bài báo với giới hạn số trang nên chưa bao quát được
các vấn đề cần trao đổi về thành viên độc lập Hội đồng quản trị. Có một công
trình nghiên cứu về thành viên Hội đồng quản trị ở cấp độ luận văn thạc sĩ Luật
học sẽ là nguồn tài liệu để tác giả kế thừa những nội dung lý luận phù hợp. Tuy
nhiên, tác giả luận văn này sẽ nghiên cứu sâu hơn về thực tiễn thực hiện các quy
định pháp luật về thành viên độc lập Hội đồng quản trị để từ đó làm tiền đề cho
việc đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả pháp luật về tổ chức quản lý công
ty cổ phần nói chung và hoàn thiện pháp luật về thành viên độc lập Hội đồng
quản trị công ty cổ phần nói riêng ở Việt Nam.
3


3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích tổng quát của việc nghiên cứu đề tài là phân tích, đánh giá pháp
luật về quy chế pháp lý về thành viên độc lập Hội đồng quản trị, đồng thời nhận
diện những tồn tại, bất cập của pháp luật về vấn đề này trên cơ sở đánh giá thực
trạng thi hành. Trên cơ sở đó sẽ đề xuất định hướng và một số giải pháp nhằm
góp phần hoàn thiện pháp luật về quy chế pháp lý về thành viên Hội đồng quản
trị độc lập.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích; đánh giá những quy định hiện hành của pháp luật về quy chế
pháp lý về thành viên độc lập Hội đồng quản trị;
- Đánh giá thực trạng việc thực hiện những quy định của pháp luật về quy
chế pháp lý về thành viên độc lập Hội đồng quản trị;
- Nhận diện những tồn tại, bất cập của pháp luật về quy chế pháp lý về thành
viên độc lập Hội đồng quản trị;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về quy chế
pháp lý về thành viên độc lập Hội đồng quản trị.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu về các quy định pháp luật điều
chỉnh về điều kiện trở thành thành viên độc lập Hội đồng quản trị; quyền, nghĩa vụ
thành viên độc lập Hội đồng quản trị; Chấm dứt tư cách thành viên độc lập Hội
đồng quản trị; Xử lý vi phạm đối với thanh viên độc lập Hội đồng quản trị.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu dưới góc độ pháp lý về thành viên
độc lập Hội đồng quản trị theo các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam. Tuy
nhiên, trong quá trình nghiên cứu, luận văn sẽ có so sánh, đối chiếu với quy định

4


của pháp luật một số quốc gia về thành viên độc lập Hội đồng quản trị để rút ra
những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam hoàn thiện pháp luật về tổ chức quản lý
công ty cổ phần.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu đề tài, luận văn sử dụng phương
pháp biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng
như quan điểm đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về quan hệ xây dựng
cơ chế thị trường nói chung và quan hệ về tổ chức quản lý công ty nói riêng để
nghiên cứu đánh giá vấn đề theo một quan điểm đúng đắn, biện chứng và khoa học.
Phương pháp tổng hợp, phân tích được sử dụng chủ yếu tại chương 1 luận
văn. Qua việc thu thập các tài liệu, so sánh, tổng hợp các quan điểm ý kiến khác
nhau để nhận diện về vai trò của thành viên độc lập Hội đồng quản trị.
Phương pháp phân tích, thống kê, so sánh được sử dụng chủ yếu trong
chương 2 luận văn để phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về thành
viên độc lập Hội đồng quản trị.
Chương 3 của luận văn được tác giả sử dụng phương pháp diễn giải, quy nạp
để đưa ra các quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thành
viên độc lập Hội đồng quản trị.
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu
Thứ nhất: Luận văn sẽ làm sáng tỏ lý luận về thành viên độc lập Hội đồng
quản trị và sự cần thiết phải có thành viên độc lập Hội đồng quản trị trong tổ chức
quản lý doanh nghiệp;
Thứ hai: Dự kiến kết quả nghiên cứu luận văn sẽ phân tích, đánh giá các quy
định pháp luật về thành viên Hội đồng quản trị độc lập ở Việt Nam, đồng thời nhận
diện những tồn tại, bất cập của pháp luật về vấn đề này trên cơ sở đánh giá thực
trạng thi hành quy định pháp luật;

5


Thứ ba: Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu
tham khảo tại cơ sở đào tạo và nghiên cứu về luật học. Một số giải pháp được đưa
ra trong đề tài có giá trị tham khảo đối với các mô hình công ty cổ phần và thực thi
pháp luật trong quá trình tổ chức, quản lý công ty cổ phần;
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật về thành viên độc lập Hội
đồng quản trị công ty cổ phần
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về thành
viên độc lập Hội đồng quản trị ở Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thành
viên độc lập Hội đồng quản trị ở Việt Nam.

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ
THÀNH VIÊN ĐỘC LẬP HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Khái quát về quản trị công ty cổ phần
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm công ty cổ phần
Các công ty cổ phần đầu tiên trên thế giới xuất hiện đầu tiên vào khoảng thế
kỷ XVIII. Tuy nhiên, sang thế kỷ XIX, công ty cổ phần mới phát triển nhờ sự phát
triển của nền đại công nghiệp cơ khí và sự phát triển của hệ thống ngân hàng. Ban
đầu, công ty cổ phần ra đời gắn liền với chính sách khai thác thuộc địa của chủ
nghĩa đế quốc. Vì vậy, hoạt động của công ty cổ phần luôn gắn liền với quyền lực
nhà nước và mang đặc điểm chủ yếu của luật công. Sau này, cùng với sự phát triển
của kinh tế thị trường, Nhà nước đã phải lùi bước và nhường bước trước nguyên tắc
tự do kinh doanh, hạn chế tối đa sự can thiệp hành chính vào hoạt động của công ty
cổ phần. Lịch sử công ty cổ phần đã trải qua nhiều bước thăng trầm trong mỗi giai
đoạn lịch sử. Từ đó đến nay, công ty cổ phần liên tục phát triển và có nhiều thay
đổi. Các công trình lớn, vĩ đại của nhân loại đề do "bàn tay" của các công ty cổ
phần tạo dựng nên [6, tr.167-168].
Công ty cổ phần là loại hình đầu tiên ra đời trong lịch sử hình thành và phát
triển của các loại hình công ty đối vốn. Công ty cổ phần có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, công ty cổ phần chủ yếu quan tâm đến phần vốn góp, vì vậy công
ty cổ phần có cấu trúc vốn mở.
Nếu công ty đối nhân quan tâm nhiều đến thân nhân người góp vốn thì công
ty đối vốn chỉ quan tâm đến phần vốn góp. Có thể nói quy mô của công ty cổ phần
lớn nhất trong các loại hình công ty kể cả về nguồn vốn, cơ cấu thành viên và cơ
chế quản lý.
7


Thứ hai, vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá
trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu. Các cổ đông cơ bản có quyền tự do
chuyển nhượng cổ phần trên thị trường chứng khoán. Cổ phần được coi là hàng hóa
trên thị trường chứng khoán, đây là ưu thế của công ty cổ phần về tính tự do chuyển
nhượng cổ phần.
Thứ ba, cổ đông công ty là tổ chức, cá nhân, không giới hạn tối đa và chịu
trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính của công ty trong phạm vi số cổ phần mà họ
sở hữu. Đó là giới hạn trách nhiệm tài sản cho cổ đông công ty và cũng là ưu thế
của công ty đối vốn so với công ty đối nhân.
Thứ tư, công ty cổ phần có khả năng huy động vốn lớn thông qua việc công
ty được phát hành chứng khoán. Công ty cổ phần là công ty có vốn mở nên khả
năng thu hút vốn trong công chúng ở quy mô lớn hơn so với các công ty khác.
Thứ năm, công ty cổ phần có tư cách pháp nhân là chủ thể pháp lý độc lập
và chịu trách nhiệm độc lập bằng tài sản của công ty.
Với những đặc điểm cổ đông không bị giới hạn tối đa, tính linh hoạt trong
chuyển nhượng cổ phần, khả năng huy động vốn mở, giới hạn trách nhiệm tài sản
cho cổ đông công ty đã đưa lại những ưu thế cho công ty cổ phần. Công ty cổ phần
là loại hình công ty thích hợp với mục tiêu kinh doanh quy mô lớn. Tuy nhiên,
chính vì quy định dễ dàng thay đổi cổ đông và số lượng cổ đông lớn, không quen
biết nhau có thể dẫn đến việc thâu tóm, tranh giành quyền quản trị công ty. Bên
cạnh đó, lợi thế phát hành cổ phần của công ty có thể gây rủi ro cho các nhà đầu tư
và nền kinh tế- xã hội nếu không có cơ chế quản lý, giám sát hoạt động quản trị
công ty cổ phần hiệu quả.
1.1.2. Khái quát về quản trị công ty
1.1.2.1. Khái niệm quản trị công ty
Không có một định nghĩa duy nhất về quản trị công ty (Corporate
governance) có thể áp dụng cho mọi trường hợp và mọi thể chế. Những định nghĩa
8


khác nhau về quản trị công ty hiện hữu phần nhiều phụ thuộc vào các tác giả, thể
chế cũng như quốc gia hay truyền thống pháp lý. Vào năm 1999, Tổ chức Hợp tác
và Phát triển Kinh tế (OECD - Organization for Economic Cooperation and
Development) đã xuất bản một tài liệu mang tên "Các nguyên tắc quản trị công ty"
(OECD Principles of Corporate Governance), trong đó đưa ra định nghĩa chi tiết về
quản trị công ty như sau: "Quản trị công ty là những biện pháp nội bộ để điều hành
và kiểm soát công ty, liên quan tới các mối quan hệ giữa Ban giám đốc, Hội đồng
quản trị và các cổ đông của công ty với các bên có quyền lợi liên quan. Quản trị
công ty cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty và xác định các
phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt
động của công ty. Quản trị công ty chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được
Ban giám đốc và Hội đồng quản trị theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và
của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động
của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực
một cách tốt hơn".
Một số khái niệm khác về quản trị doanh nghiệp là quá trình tác động của
thành viên tới hoạt động của doanh nghiệp nhằm đảm bảo quyền lợi của mình,
quyền lợi của những người có liên quan và xã hội. Hoặc quản trị doanh nghiệp là hệ
thống các quy tắc để đảm bảo cho doanh nghiệp được định hướng điều hành và
được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của chủ sở hữu doanh nghiệp và
những người có liên quan của doanh nghiệp. Hoạt động quản trị doanh nghiệp có sự
phân tách các hoạt động quản lý, điều hành và giám sát.
Cách hiểu khái niệm quản trị doanh nghiệp như các quan niệm trên tương đối
phù hợp với thông lệ quốc tế tốt nhất (best practices) về quản trị doanh nghiệp. Ở
đây, cần lưu ý rằng quản trị doanh nghiệp không chỉ liên quan đến thành viên mà
còn chi phối và ảnh hưởng đến các bên liên quan đến doanh nghiệp. Vì vậy, các
doanh nghiệp, khi xây dựng quy chế doanh nghiệp cần hết sức lưu ý đến những
người liên quan đến doanh nghiệp, bao gồm thành viên, khách hàng, đối tác, chủ
nợ, nhân viên, các cơ quan quản lý nhà nước, cộng đồng...
9


1.1.2.2. Các nguyên tắc, nội dung và mô hình quản trị công ty cổ phần
* Các nguyên tắc cơ bản của quản trị công ty cổ phần
Các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp là những tư tưởng chỉ đạo trong việc
xây dựng nội dung pháp lý về tổ chức pháp lý doanh nghiệp. Nói cách khác các quy
định về tổ chức quản lý doanh nghiệp phải đối chiếu với các nguyên tắc quản trị
doanh nghiệp, phải phán ánh các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp. Nguyên tắc
quản trị doanh nghiệp của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) được xem
như một chuẩn mực để xây dựng quy chế pháp lý về tổ chức quản lý doanh nghiệp.
Nguyên tắc quản trị doanh nghiệp của OECD phiên bản 2004 bao gồm:
- Đảm bảo một cơ cấu quản trị hiệu quả, đảm bảo khuôn khổ pháp lý về quản
trị doanh nghiệp;
- Đảm bảo quyền lợi của thành viên;
- Đối xử công bằng giữa các thành viên;
- Đảm bảo vai trò của những người có quyền lợi liên quan đến thành viên;
- Công bố và minh bạch thông tin trong hoạt động của doanh nghiệp;
Khi xây dựng quy chế quản trị doanh nghiệp, ban lãnh đạo doanh nghiệp
phải biết doanh nghiệp thực sự cần gì để hoạt động chuyên nghiệp, minh bạch và
hiệu quả, đảm bảo được sự công bằng trong cả quyền, nghĩa vụ và lợi ích của thành
viên và sự hài hòa với lợi ích của các bên liên quan khác. Quy chế quản trị doanh
nghiệp cần thực chất hơn là hình thức để đối phó với luật hoặc đòi hỏi của thành
viên hoặc các bên liên quan khác.
Một quy chế quản trị doanh nghiệp, ngoài việc phải đáp ứng các yêu cầu bắt
buộc trong pháp luật doanh nghiệp như Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán và
các văn bản dưới luật; quan trọng hơn, còn phải thể hiện được cách thức quản trị
doanh nghiệp chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả. Nếu như các yêu cầu bắt buộc
trong luật là điều kiện cần thì chính các yêu cầu từ thực tiễn hoạt động quản trị
10


doanh nghiệp, trong đó rất quan trọng là kỳ vọng của các thành viên và các bên liên
quan, mới là điều kiện đủ.
Tại Việt Nam, trong khuôn khổ quy định về quản trị công ty, Điều 2, Quy
chế quản trị công ty niêm yết ban hành kèm theo Quyết định số 12/2007/QĐ-BTC
ngày 13/03/2007 quy định "Quản trị công ty là hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho
công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì
quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty".
Như vậy, quản trị công ty trong đó có quản trị công ty cổ phần gắn với các
mối quan hệ đa chiều với các nhu cầu, lợi ích khác nhau. Quản trị công ty được quy
định trong các quy định của pháp luật và quy định của Điều lệ công ty. Quản trị
công ty vì vậy sẽ chịu sự tác động của các yếu tố như hệ thống luật pháp, đặc điểm
phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia, hệ thống văn hóa và lợi ích nhu cầu của
các thành viên công ty.
Hoạt động quản trị công ty cổ phần phải tuân thủ những nguyên tắc cơ bản
của quản trị công ty, theo đó:
- Các thành viên Hội đồng quản trị công ty phải là những người có đủ thẩm
quyền và vai trò để kiểm soát, kiềm chế quyền lực của Ban Giám đốc và bảo vệ
quyền lợi của cổ đông, những người có liên quan;
- Ban kiểm soát có thẩm quyền giám sát hoạt động của thành viên Hội đồng
quản trị (không phải là thành viên độc lập) và Ban Giám đốc để định hướng hoạt
động kinh doanh của công ty cổ phần tuân thủ quy định của pháp luật;
- Hội đồng quản trị phải có sự phân tích tài chính khách quan, chính xác để
hoạch định kế hoạch kinh doanh của công ty hiệu quả, hạn chế rủi ro.
Tuy nhiên, trên thực tế Hội đồng quản trị có thể lấn át quyền điều hành của
Ban giám đốc, cố tình lạm dụng các quyền quan trọng được giao để phục vụ lợi ích
cá nhân mà bỏ qua lợi ích chung của công ty. Hoặc ngược lại, nếu năng lực thành
viên Hội đồng quản trị kém sẽ không thực hiện hiệu quả quản lý công ty. Do đó,
11


việc lựa chọn các thành viên trong Hội đồng quản trị cũng như quyền hạn, nghĩa vụ
của các thành viên Hội đồng quản trị là vấn đề luôn được quan tâm.
* Nội dung cơ bản của tổ chức quản lý công ty cổ phần
Nội dung cơ bản của các yếu tố cấu thành quy chế pháp lý về tổ chức quản lý
công ty cổ phần, bao gồm bảy nội dung cơ bản sau:
(i) Mô hình tổ chức quản lý công ty cổ phần: Mỗi một doanh nghiệp sẽ có
những quy định pháp luật và Điều lệ khác nhau về mô hình tổ chức quản lý doanh
nghiệp. Các cơ quan quản lý, điều hành, kiểm soát hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp là những nhân tố cấu thành mô hình tổ chức quản lý doanh nghiệp (gọi
chung là cơ quan quản lý doanh nghiệp).
(ii) Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý công ty cổ phần;
(iii) Cách thức làm việc của các cơ quan quản lý công ty cổ phần doanh
nghiệp: các cơ quan quản lý công ty cổ phần thông qua các quyết định thuộc thẩm
quyền bằng hình thức, cách thức như thế nào?
(iv) Tiêu chuẩn, điều kiện trở thành người quản lý công ty cổ phần; quyền
hạn, nghĩa vụ của người quản lý công ty cổ phần; chế độ lương thưởng đối với
người quản lý công ty cổ phần.
(v) Xác định người đại diện theo pháp luật của công ty cổ phần.
(vi) Kiểm soát các giao dịch tư lợi trong công ty cổ phần nhằm bảo vệ lợi ích
của cổ đông như yêu cầu phê duyệt và công khai các giao dịch có liên quan; quy
định về trách nhiệm và nghĩa vụ của những người quản lý công ty; quy định về mức
độ dễ dàng, thuận lợi để khởi kiện cổ đông quản lý.
(vii) Bảo vệ quyền lợi của cổ đông sở hữu ít vốn trong công ty cổ phần.
* Các mô hình quản trị công ty cổ phần
Mô hình quản trị công ty công ty cổ phần tồn tại hai mô hình cơ bản sau:

12


Mô hình thứ nhất: Mô hình Hội đồng hai cấp có nguồn gốc từ Cộng hòa Liên
bang Đức với cấu trúc nội bộ gồm: Đại hội đồng cổ đông; Hội đồng quản lý, giám
sát và Ban quản trị điều hành.
Mô hình thứ hai: Mô hình Hội đồng một cấp có nguồn gốc từ Anh, Mỹ gồm
có Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị gồm có các thành
viên Hội đồng quản trị điều hành hoặc không điều hành. Mô hình thứ hai không có
cơ quan độc lập để giám sát hoạt động của thành viên Hội đồng quản trị.
Sau sự sụp đổ của các tập đoàn Enron, tập đoàn năng lượng, điện năng và khí
gas tự nhiên lớn nhất nước Mỹ thời điểm đó có nhiều nguyên nhân nhưng một trong
những nguyên nhân chính là tính độc lập của các thành viên Hội đồng quản trị đã bị
su yếu và hệ quả tất yếu là sự sụp đổ của cả tập đoàn Enron [12, tr.74]. Từ đó đã
hình thành quy định mới về thành viên độc lập Hội đồng quản trị, là thành viên độc
lập không điều hành của công ty cổ phần. Như vậy, Hội đồng quản trị công ty gồm:
Thành viên Hội đồng quản trị điều hành; Thành viên Hội đồng quản trị không điều
hành và thành viên độc lập Hội đồng quản trị.
Ở Việt Nam, mô hình quản trị công ty cổ phần được quy định tại Điều 134
Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản pháp luật khác như Điều 25 Luật
Chứng khoán năm 2006, sửa đổi năm 2010 có sự kết hợp giữa hai mô hình Hội
đồng hai cấp và một cấp đảm bảo sự phù hợp với sự phát triển của công ty cổ phần
trong nền kinh tế.công chúng và từ đó nâng cao được giá trị thương hiệu.
1.2. Khái niệm thành viên độc lập Hội đồng quản trị
Theo Bob Tricker, cha đẻ của "Corporate Governance", thành viên hội đồng
quản trị (HĐQT) độc lập (và không tham gia điều hành) là người mà ngoài quan hệ
là thành viên HĐQT, không có một mối quan hệ nào với công ty có ảnh hưởng hoặc
được coi là có thể ảnh hưởng lên các phán quyết độc lập của họ [8].
Tổ chức tài chính Quốc tế (IFC) định nghĩa thành viên Hội đồng quản trị độc
lập là một thành viên Hội đồng quản trị đáp ứng được tất cả các yêu cầu về tính độc
lập trong quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu, tài sản (tr21, luận văn thạc sĩ Quy
13


chế pháp lý của thành viên Hội đồng quản trị độc lập trong ngân hàng thương mại
cổ phần ở Việt Nam, khoa Luật, Đại học Quốc gia, 2016)
Hội đồng các nhà đầu tư tổ chức, một nhóm các nhà đầu tư có tổ chức lớn
nhất thế giới định nghĩa thành viên Hội đồng quản trị độc lập như sau: Nói một
cách đơn giản, một thành viên Hội đồng quản trị độc lập là một cá nhân mà tư
cách thành viên Hội đồng quản trị là yếu tố duy nhất kết nối cá nhân ấy với với
công ty [12, tr.21].
Ở Việt Nam, Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, Luật Doanh nghiệp năm
2014 không đưa ra định nghĩa về thành viên Hội đồng quản trị độc lập mà chỉ quy
định về các tiêu chuẩn, điều kiện đối với thành viên Hội đồng quản trị độc lập. Luật
Doanh nghiệp năm 2014 thay thế cụm từ "thành viên Hội đồng quản trị độc lập
bằng cụm từ "thành viên độc lập Hội đồng quản trị" được sử dụng tại các văn bản
pháp luật khác. Về bản chất, việc sử dụng cụm từ "thành viên Hội đồng quản trị độc
lập" có nội hàm đồng nhất với cụm từ "thành viên độc lập Hội đồng quản trị ". Tuy
nhiên, việc đảo cụm từ "độc lập" lên trước cụm từ "Hội đồng quản trị " không chỉ là
thay đổi đơn thuần về mặt từ ngữ mà còn bao gồm hàm ý nhấn mạnh tính "độc lập"
đối với Hội đồng quản trị.
Thành viên Hội đồng quản trị độc lập là thành viên Hội đồng quản trị đáp
ứng các tiêu chuẩn, điều kiện về tính độc lập trong quan hệ nhân thân và quan hệ tài
sản, sở hữu đối với doanh nghiệp và các cá nhân là người quản trị, điều hành doanh
nghiệp. Đặc điểm về thành viên độc lập Hội đồng quản trị khác biệt với các thành
viên Hội đồng quản trị khác chính là tính độc lập của thành viên Hội đồng quản trị
về các điều kiện nhân thân và độc lập trong quan hệ sở hữu tài sản.
1.3. Vai trò của thành viên độc lập Hội đồng quản trị
Thứ nhất, đảm bảo tính khách quan trong hoạt động quản trị công ty
Trong công ty cổ phần thường có xung đột về lợi ích giữa cổ đông và người
quản lý điều hành công ty. Thường thì chỉ các cổ đông sở hữu số lượng lớn cổ phần
mới đủ điều kiện tham gia Hội đồng quản trị. Những người quản lý, điều hành có
14


thể ưu tiên các lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm hơn là lợi ích của các cổ đông khác.
Các cổ đông sở hữu ít vốn là những chủ thể sẽ bị xâm hại đến lợi ích nhiều nhất.
Thực tế đã từng tồn tại việc các cổ đông sở hữu nhiều vốn bầu ra thành viên Hội
đồng quản trị và các thành viên Hội đồng quản trị lại "quay lại" bảo vệ quyền lợi
các cổ đông, nhóm cổ đông có quyền lực (về vốn, về các mối quan hệ) ảnh hưởng
đến quyền lợi hợp pháp của các cổ đông khác.
Vì vậy, quy định về thành viên độc lập Hội đồng quản trị với bản chất độc
lập về nhân thân, tài sản với công ty sẽ có vai trò giám sát, hạn chế nguy cơ lạm
dụng quyền hạn của những người quản lý, điều hành của công ty; hạn chế tối đa
các mâu thuẫn có thể phát sinh giữa các cổ đông lớn với các cổ đông sở hữu ít
vốn; mâu thuẫn giữa cổ đông với người quản lý, điều hành công ty. Theo nguyên
tắc quản trị công ty OECD 2004, thành viên độc lập Hội đồng quản trị là người
không có quan hệ "lợi ích riêng tư" trong công ty, nên sẽ đưa ra những ý kiến
khách quan nhằm bảo vệ lợi ích tổng thể của công ty, chứ không vì lợi ích riêng
của một hoặc một nhóm người. Cơ cấu Hội đồng quản trị tối thiểu phải bao gồm
các thành viên độc lập và nên phân công phân nhiệm một số lượng đáng kể thành
viên độc lập có đủ khả năng đưa ra những phán quyết độc lập tại các khu vực tiềm
ẩn các xung đột lợi ích (theo nguyên tắc quản trị OECD, 2004). Đồng thời, cần
đảm bảo cân bằng về quyền lực giữa các thành viên điều hành (executive
directors- EDs) và không điều hành (non-executive directorsNEDs) trong cơ cấu
Hội đồng quản trị, nhằm ngăn chặn các quyết định tập trung vào trong tay một số
người trong Hội đồng quản trị [10].
Tóm lại: Thành viên độc lập Hội đồng quản trị là người không có quan hệ
"lợi ích riêng tư" trong công ty, nên sẽ đưa ra những quyết định mang tính khách
quan hướng đến bảo vệ hài hòa lợi ích chung của các cổ đông công ty, hạn chế sự
xung đột giữa lợi ích của các cổ đông. Thành viên độc lập Hội đồng quản trị có vai
trò đưa ra ý kiến độc lập và khách quan, không chịu sự tác động chi phối đến các
quyết định hoặc xung đột lợi ích. Họ không có quan hệ lợi ích vê tài sản, nhân thân
với công ty nên các ý kiến của họ mang tính khách quan nhằm bảo vệ lợi ích chung.
15


Thành viên độc lập Hội đồng quản trị như là "trọng tài" trong quản lý và điều hành:
Thành viên độc lập Hội đồng quản trị sẽ đóng vai trò như người giám sát, làm giảm
nguy cơ lạm dụng quyền hạn của những người quản lý, điều hành, góp phần cân
bằng lợi ích của cổ đông; Hạn chế sự lạm quyền mang tính lợi ích cá nhân, lợi ích
nhóm của những cổ đông có vị thế, sở hữu nhiều cổ phần của công ty.
Các thành viên độc lập Hội đồng quản trị đem lại lợi ích lớn cho công ty, hạn
chế xung đột giữa một bên là cổ đông và một bên là những người quản lý công ty.
đảm bảo việc quyết định quản lý công ty hiệu quả, với nỗ lực cao nhất, đem lại lợi
ích lớn nhất cho công ty và không bị ảnh hưởng hay có thể phát sinh những xung
đột về lợi ích.
Thứ hai, nâng cao tính minh bạch trong quản trị công ty
Minh bạch trong quản trị công ty bao gồm các cổ đông của công ty có cơ hội,
bình đẳng, thuận lợi trong tiếp cận thông tin, tính tin cậy, nhất quán của thông tin,
tính dự đoán trước được về hoạt động quản trị công ty. Thông lệ tốt về quản trị công
ty luôn coi trọng việc công bố thông tin kịp thời và chính xác về mọi vấn đề quan
trọng liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, tình hình hoạt động, sở
hữu và quản trị công ty. Hệ thống công bố thông tin tốt nâng cao tính minh bạch là
đặc điểm then chốt của việc giám sát hiệu quả, và chỉ khi nào có công khai, minh
bạch, khi đó mới có trách nhiệm giải trình [8].
Như đã phân tích, không phải tất cả các cổ đông đều có quyền quản lý công
ty cổ phần mà chỉ có một số cổ đông mới có quyền quản lý công ty. Quản trị công
ty tốt là phải đáp ứng yêu cầu về tính minh bạch các thông tin về hoạt động kinh
doanh, nhân sự và những các quy định liên quan đến quyền lợi của cổ đông công ty
được thực hiện như thế nào? Cơ chế giám sát của công ty phải giám sát về sự tuân
thủ của những người quản lý, điều hành đối với luật pháp và Điều lệ công ty; quản
trị rủi ro và kiểm soát nội bộ; Các vấn đề về đạo đức kinh doanh; Việc triển khai
chiến lược của công ty; Các chỉ tiêu kinh doanh và kết quả tài chính... Đặc biệt
thực tiễn ở Việt Nam cho thấy hoạt động của ban kiểm soát vẫn còn mang tính hình
16


thức và chưa hỗ trợ một cách hiệu quả chức năng giám sát của công ty. Quyền lực
của Ban kiểm soát không được đảm bảo thực thi bằng bất kỳ cơ chế nào. Pháp luật
không đưa ra bất kỳ cơ chế nào đảm bảo thực thi các quyết định của Ban kiểm soát
đã khiến Ban kiểm soát dường như chỉ có chức năng xem xét còn không có quyền
quyết định. Điều này làm giảm sự coi trọng của thành viên Hội đồng quản trị, Giám
đốc, Tổng Giám đốc, người quản lý khác đối với Ban kiểm soát. Do đó, ở Việt
Nam, Ban kiểm soát đã chưa thể hiện đầy đủ vai trò bảo vệ cổ đông và nhà đầu tư.
Vì vậy, rủi ro mà nhà đầu tư và cổ đông phải gánh chịu từ sự lép vế của Ban kiểm
soát là rất lớn [7, tr.51]. Thông qua nhiệm vụ đảm bảo sự công bằng cho các cổ
đông được tiếp cận thông tin liên quan đến quyền lợi hợp pháp của cổ đông, nhà
đầu tư khi đầu tư vào công ty đã góp phần hạn chế những việc làm vi phạm quyền
lợi của cổ đông, nhà đầu tư. Nhưu vậy, thành viên độc lập Hội đồng quản trị đã góp
phần nâng cao tính minh bạch trong quá trình tổ chức và hoạt động của doanh
nghiệp, hạn chế việc che giấu, bưng bít thông tin của những người quản lý, điều
hành công ty để trục lợi riêng cho mình, xâm phạm đến quyền lợi hợp pháp của cổ
đông và đối tác của công ty.
Thứ ba, nâng cao chất lượng quản trị công ty
Thành viên độc lập Hội đồng quản trị là những người có kinh nghiệm quản
lý doanh nghiệp, có kiến thức về quản trị doanh nghiệp. Họ là những người có uy
tín, có kiến thức, kinh nghiệm và địa vị xã hội .Vì vậy thành viên độc lập Hội đồng
quản trị đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra các định hướng, giám sát hoạt
động quản trị doanh nghiệp. Kiểm soát Ban Giám đốc triển khai hoạt động kinh
doanh có phù hợp với định hướng phát triển của công ty không? Không phải chỉ khi
xảy ra xung đột thì các ý kiến có chất lượng chuyên môn cao của thành viên độc lập
Hội đồng quản trị mới có giá trị mà mối quan hệ trong ngành hoặc uy tín của họ sẽ
phần nào giúp gia tăng thương hiệu công ty hay thuận lợi trong các giao dịch.
Các hãng lớn trên thế giới như Google, P&G, Apple, ANZ, City Bank... đều
rất coi trọng việc bổ nhiệm thành viên độc lập Hội đồng quản trị không điều hành

17


vào Hội đồng quản trị. Mặc dù không quy định các vấn đề về chất lượng các thành
viên độc lập trong luật, tuy nhiên các hãng thường bổ nhiệm các chuyên gia có tên
tuổi, có kinh nghiệm và phù hợp với chiến lược mà công ty theo đuổi, như tập trung
vào việc đẩy mạnh công tác marketing thương hiệu, hay nghiên cứu thị trường cho
các sản phẩm mới, tăng lợi thế cạnh tranh trên các thị trường mới… Điều này giúp
tăng giá trị của các hãng, bởi các thành viên độc lập Hội đồng quản trị sẽ giúp các
hãng đề ra các chiến lược đúng đắn nhờ vào kinh nghiệm của các thành viên độc lập
Hội đồng quản trị.
Vai trò của thành viên độc lập Hội đồng quản trị cũng nhằm bảo vệ quyền lợi
của chủ sở hữu, kiểm soát hoạt động của bộ máy quản lý, điều hành doanh nghiệp.
Các thành viên độc lập được đánh giá cao hơn những thành viên khác trong Hội
đồng quản trị vì họ có khả năng thực hiện công việc với quan điểm vì lợi ích chung
của công ty (TSE, 1994). Theo lý thuyết người đại diện (agency theory), các thành
viên độc lập Hội đồng quản trị không điều hành có khả năng thực hiện vai trò
giám sát hoạt động của ban điều hành với hiệu quả cao bởi hoạt động giám sát của
họ độc lập với hoạt động điều hành doanh nghiệp (Dalton et al. 1998). Các thành
viên độc lập không điều hành thường là các chuyên gia trong từng lĩnh vực, có thể
phát huy những thế mạnh chuyên môn trong việc kiểm soát việc đưa ra các quyết
định và giám sát việc thực hiện quyết định của ban điều hành (Fama and Jansen,
1983). Việc nâng cao hơn tính độc lập cho các thành viên Hội đồng quản trị bởi các
thành viên độc lập Hội đồng quản trị không điều hành (Independent NEDs) sẽ giúp
việc ra quyết định và sự giám sát của họ được độc lập hơn, theo đó giúp tăng hiệu
quả hoạt động của công ty. Do vậy, các nguyên tắc quản trị công ty cũng như quy
định các công ty đại chúng và công ty niêm yết tại các quốc gia thường yêu cầu có
sự tham gia của các thành viên độc lập không điều hành (independent non-excutive
directors- NEDs) trong cơ cấu Hội đồng quản trị. Các thành viên này có vai trò
giám sát nhằm làm giảm xung đột lợi ích, giảm nguy cơ lạm dụng quyền hạn của
những người quản lý công ty (bao gồm cả Hội đồng quản trị và ban giám đốc), qua
đó giúp bảo vệ an toàn đồng vốn của cổ đông, đặc biệt bảo vệ lợi ích của những cổ
18


đông nhỏ và có thể bao gồm các nhóm lợi ích khác liên quan tới công ty. Hơn nữa,
khi có nhiều hơn sự độc lập trong tư tưởng của từng cá nhân thành viên Hội đồng
quản trị , các cổ đông cảm thấy yên tâm hơn với Hội đồng quản trị và ban điều
hành, những người đang đại diện và sử dụng đồng vốn của họ tại công ty. Tuy
nhiên, mức độ tin tưởng từ các cổ đông bên ngoài cũng khác nhau tùy vào tỷ lệ của
các IDs trong Hội đồng quản trị Hội đồng quản trị.
Hội đồng quản trị, trong đó nếu có sự tham gia của các thành viên độc lập
sẽ khắc phục được tình trạng "CEO và ban điều hành là người chịu trách nhiệm
chính trong việc đề xuất và phát triển chiến lược, nhưng Hội đồng quản trị lại có
các thành viên tham gia điều hành, nghĩa là vừa hoạch định, vừa thực thi và kiểm
soát chính mình".
Ngoài ra, với sự tham gia của các thành viên độc lập Hội đồng quản trị
không chỉ giúp công ty thực hiện, kiểm soát có hiệu quả các mục tiêu và định
hướng chiến lược của công ty mà còn đảm bảo lợi ích của những chủ thể có liên
quan với công ty. Vì tính độc lập, khách quan nên các thành viên độc lập Hội
đồng quản trị sẽ nhìn nhận tổng thể các lợi ích của cổ đông, lợi ích của các đối
tác với công ty, quyền lợi của người lao động của công ty và những ảnh hưởng
đến xã hội nếu công ty không chú trọng đến hiệu quả quản trị. Không có sự
khách quan của các thành viên độc lập, có thể Hội đồng quản trị chỉ quan tâm
đến các quyết định đem lại lợi ích cho nhóm cổ đông lớn trong công ty hoặc có
thể chỉ mang lại lợi ích cho cổ đông trong mà quên mất quyền lợi của các chủ thể
khác. Quản trị công ty kém còn gây ra những hệ lụy đến nền kinh tế, an sinh xã
hội đặc biệt là những công ty đại chúng, công ty kinh doanh trong lĩnh vực tín
dụng, bảo hiểm… Do vậy, quan điểm phát triển bền vững của một công ty phải
là việc công ty không chỉ quan tâm đến quyền lợi của các cổ đông mà còn bao
gồm quyền lợi của các chủ thể liên quan như chủ nợ, người cung cấp, khách
hàng, người lao động… Đó cũng là một trong những nội dung của bộ nguyên
tắc về quản trị công ty của OECD để nâng cao hiệu quả quản trị công ty, góp phần
gia tăng giá trị công ty.
19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×