Tải bản đầy đủ

Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở, thực tiễn áp dụng tại phường lĩnh nam, quận hoàng mai, thành phố hà nội

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu dẫn
chứng là trung thực, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn chưa từng được ai công
bố trong bất kì công trình nào khác.
Tôi xin cam đoan các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, tháng 9 năm 2018
HỌC VIÊN

Dƣơng Thanh Huyền


LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Mở Hà Nội được
sự dạy dỗ, chỉ bảo ân cần của các Thầy giáo, Cô giáo trong khoa sau Đại học viện
Đại học Mở Hà Nội nói chung đã trang bị cho em những kiến thức cơ bản về
chuyên môn cũng như cuộc sống, tạo cho em hành trang vững chắc trong công tác
sau này.
Xuất phát từ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn

các Thầy Cô. Đặc biệt để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, trước hết em xin gởi
lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy giáo TS. Phạm Thị Hƣơng Lan đã chỉ bảo
tận tình và trực tiếp hướng dẫn em trong suốt thời gian thực hiện luận văn này.
Với quỹ thời gian có hạn và kinh nghiệm chưa nhiều nên luận văn của em
không tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và
các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn.
HỌC VIÊN

Dƣơng Thanh Huyền


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI TRONG GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI Ở CƠ SỞ ........................................................9
1.1. Khái quát về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở. ......................9
1.1.1. Quan niệm về tranh chấp đất đai: .....................................................................9
1.1.2. Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở. ....................................11
1.2. Đặc điểm của hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở. .............................................13
1.3. Các nguyên tắc của việc hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở. 15
1.4. Các yếu tố tác động đến hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai: ..............16
1.5. Ý nghĩa hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở ............................. 19
1.5.1. Ý nghĩa về an ninh chính trị - trật tự xã hội ở địa phương ............................. 20
1.5.2. Ý nghĩa đối với các bên đương sự khi xảy ra mâu thuẫn, tranh chấp. ...........21
1.5.3. Ý nghĩa đối với chính quyền các cấp và Tòa án:.............................................21
1.5.4. Ý nghĩa đối với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương. .........................21
1.6. Sơ lược về pháp luật hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở .......22
1.6.1. Thời kỳ trước khi ban hành Hiến pháp 1980. ..................................................22
1.6.2.Thời kỳ sau khi ban hành Hiến pháp 1980. ......................................................23
1.6.3. Pháp luật hòa giải giai đoạn từ khi luật Đất đai năm 1993 ban hành đến nay. .. 23
1.7. Phân biệt hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở và hòa giải trong giải
quyết tranh chấp đất đai ở UBND cấp xã, phường, thị trấn ( chính quyền cơ sở): ........ 26
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 .........................................................................................29
CHƢƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP
ĐẤT ĐAI Ở CƠ SỞ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT Ở PHƢỜNG
LĨNH NAM, QUẬN HOÀNG MAI, HÀ NỘI. ......................................................30
2.1. Thực trạng pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở. ..30
2.1.1. Các quy định về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở...........30
2.1.2. Hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân dân cấp xã, phường thị trấn. ..40
2.1.3. Hiệu lực công nhận sự thỏa thuận của các đương sự .....................................43




2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật hòa giải về tranh chấp đất ở phường Lĩnh Nam,
quận Hoàng Mai, Hà Nội từ năm 2015 - 2018 ..........................................................45
2.2.1 Khái quát về phường Lĩnh Nam. .......................................................................45
2.2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật trong thời gian qua. ...........................................54
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ........................................................................................73
CHƢƠNG 3 PHƢƠNG HƢỚNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI Ở CƠ SỞ ..................74
3.1. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất
đai ở cơ sở ...................................................................................................................74
3.2. Giải pháp cụ thể hoàn thiện quy định về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất
đai ở cơ sở ...................................................................................................................76
3.2.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật trong giải quyết tranh chấp đất đai tại cơ sở.76
3.2.2. Giải pháp hoàn thiện pháp trong giải quyết tranh chấp đất đai tại UBND xã,
phường, thị trấn. .........................................................................................................79
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 .........................................................................................83
KẾT LUẬN ...............................................................................................................84
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................86
PHỤ LỤC


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt

Diễn giải

HĐND

Hội đồng nhân dân

UBND

Ủy ban nhân dân

UBMTTQ

Ủy ban mặt trận tổ quốc

TAND

Tòa án nhân dân

GCNQSDĐ

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

TTXD

Trật tự xây dựng


DANH MỤC HÌNH, BẢNG
Hình 1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức HĐND phường Lĩnh Nam .........................................48
Hình 2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức UBND phường Lĩnh Nam .........................................49
Bảng 2.1: Số lượng, cơ cấu công chức phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai giai
đoạn 2015 – 2018 .......................................................................................................51


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Hòa giải là một truyền thống, một đạo lý tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, mang
đậm tính nhân văn, hoạt động vì mọi người trên cơ sở tình người, là một hoạt động
mang tính tự nguyện đã trở thành đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta. Mục
đích của công tác hòa giải ở cơ sở nhằm giữ gìn tình làng, nghĩa xóm, tình đoàn kết,
tương thân, tương ái trong cộng đồng để hàn gắn, vun đắp sự hòa thuận, hạnh phúc
cho từng gia đình, phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc. Hòa giải mang lại niềm
vui cho mọi người, mọi nhà, kịp thời ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật,
phòng ngừa tội phạm, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,
nâng cao nhận thức pháp luật của người dân, giảm bớt các vụ việc phải giải quyết
tại tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền, tiết kiệm thời gian, kinh phí cho
Nhà nước, nhân dân, từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển.
Trên thực tế thời gian qua, có rất nhiều những mâu thuẫn và tranh chấp xảy
ra như mẫu thuẫn giữa các bên về quan niệm sống, lối đi chung, điện nước, sinh
hoạt... và những tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự như tranh chấp về quyền sở
hữu, nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân sự, thừa kế, quyền sử dụng đất đai. Tranh chấp
đất đai là một trong những tranh chấp xảy ra phổ biến, rất phức tạp và hầu hết phải
đưa ra giải quyết bằng con đường Tòa án. Rất khó để hạn chế tranh chấp, khi tranh
chấp xảy ra để hòa giải tranh chấp đó là vấn đề chính quyền các cấp quan tâm. Hòa
giải là một biện pháp hữu hiệu để giải quyết tranh chấp đất đai, tuy nhiên, điều đáng
nói là pháp luật về hòa giải đối với tranh chấp đất đai hiện nay còn nhiều hạn chế,
mang tính hình thức và chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế đặt ra từ đó gây khó
khăn cho việc giải quyết tranh chấp đất đai trên thực tế như: Quy định pháp luật về
hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai cần phải hoàn thiện về trình tự, thủ tục,
thành phần tham gia hòa giải ở cơ sở, ở UBND cấp xã, đặc biệt hiệu lực thi hành
các văn bản công nhận hòa giải thành...

1


Mặc dù chính sách, pháp luật đất đai của Đảng và Nhà nước ta có nhiều thay
đổi tương thích với từng giai đoạn phát triển, song bên cạnh đó còn nhiều quy định
không nhất quán. Hơn nữa, việc giải thích hướng dẫn của các cơ quan có thẩm
quyền cũng chưa đầy đủ và kịp thời. Do đó, việc hòa giải tranh chấp đất đai của các
cơ quan hành chính và Tòa án nhân dân trong những năm qua không thống nhất,
không đạt được hiệu quả cao. Có nhiều vụ án vì hòa giải mà kéo dài trong nhiều
năm, khiếu kiện kéo dài và làm giảm lòng tin của người dân đối với đường lối,
chính sách pháp luật của Nhà nước.
Việc nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về hòa giải
trong giải quyết tranh chấp đất đai, thực trạng giải quyết đất đai thông qua hòa giải,
trên cơ sở đó đề xuất những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, bảo đảm quyền
và lợi ích của công dân là việc làm có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận và thực tiễn
hiện nay. Với nhận thức đó em lựa chọn đề tài “ Hòa giải trong giải quyết tranh
chấp đất đai ở cơ sở và thực tiễn áp dụng tại phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai,
thành phố Hà Nội”.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Cho đến thời điểm tác giả nghiên cứu đề tài “Hòa giải trong giải quyết tranh
chấp đất đai”, đã có một số bài nghiên cứu về vấn đề này như: “Thủ tục hòa giải ở
sở đối với tranh chấp đất đai theo quy định của luật đất đai năm 2003”, TS. Nguyễn
Minh Hằng, tạp chí Kiểm định của Luật đất đai năm 2003. Một số cuốn sách như:
“Hướng dẫn nghiệp vụ công tác hòa giải ở cơ sở” ( tủ sách pháp luật xã, phường, thị
trấn) - Viện nghiên cứu Khoa học Bộ Tư pháp, năm 2000 do Tiến sĩ Dương Thanh
Mai chủ biên; trang tạp chí dân chủ và pháp luật viết về “Thực hiện tốt công tác hòa
giải ở cơ sở” do Thanh Hiếu viết; cuốn sách “Hướng dẫn quản lý công tác hoà
giải” và “Cẩm nang bồi dưỡng cho hoà giải viên” do Nhà xuất bản Tư pháp. Bài
viết “Trách nhiệm của ủy ban nhân dân các cấp trong công tác hòa giải ở cơ sở” của
tác giả Nguyễn Thị Giang năm 2014 trong tạp chí Dân chủ và pháp luật: chuyên đề,
Bộ Tư pháp, 2014, Số 7, tr.11-14; Bài viết “Bàn về giá trị pháp lý của biên bản hòa

2


giải tranh chấp đất đai tại UBND xã, phường, thị trấn” của Tiến sĩ Phạm Thị Hương
Lan; bài viết “ Những bất cập từ thực tiễn hòa giải tranh chấp đất đai” của tác giả
Phạm Thái Quý trong báo nghiên cứu pháp luật số 18, số 250, trang 40 – 43; Bài
viết “Thủ tục hòa giải tiền tố tụng – điều kiện bắt buộc để thụ lý các vụ án tranh
chấp đất đai” của tiến sĩ Nguyễn Minh Hằng năm 2011 trong tạp chí Tòa án nhân
dân kỳ 1 tháng 9/2011 ( số 17) , tr.19-22; Bài viết “ Vấn đề hòa giải tranh chấp đất
đai tại UBND xã, phường, thị Trấn” của tác giả Nguyễn Văn Hương năm 2012
trong tạp chí Tòa án nhân dân kỳ 2 tháng 01/2012 ( số 02), tr.18-19; Bài viết “ Thủ
tục hòa giải tiền tố tụng – điều kiện bắt buộc để thụ lý các vụ án tranh chấp đất đai”
của tiến sĩ Nguyễn Minh Hằng năm 2011 trong tạp chí Tòa án nhân dân kỳ 1 tháng
9/2011 ( số 17) , tr.19-22; Bài viết “ Trách nhiệm của UBND các cấp trong công tác
hòa giải ở cơ sở” của tác giả Nguyễn Thị Giang năm 2014 trong tạp chí Dân chủ và
pháp luật số chuyên đề thực hiện Luật Hòa giải ở cơ sở, tr.11-14.
Trong những năm qua, hoạt động hòa giả ở cơ sở trên địa bàn thành phố Hà
Nội đã khẳng định vai trò to lớn, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống xã hội, góp
phần tăng cường tình đoàn kết trong cộng đồng dân cư, giữ gìn phát huy bản sắc
văn hóa của dân tộc, kịp thời ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, góp phần
đảm bảo ổn định trật tự an toàn xã hội, giảm bớt các vụ việc phải chuyển tòa án.
Nhận thức về vai trò và ý nghĩa quan trọng của công tác hòa giải ở cơ sở, thành phố
Hà Nội luôn quan tâm đến công tác tập huấn, bồi thường nghiệp vụ hòa giải cho đội
ngũ hòa giải viên ở cơ sở trên địa bàn. Được sự hỗ trợ củ Ban Chỉ đạo 197 thành
phố Hà Nội, Sở Tư pháp Hà Nội đã biên soạn cuốn sách “ Sổ tay nghiêp vụ hòa giải
ở cơ sở”. Cuốn sổ gồm 3 phần nêu rõ một số quy định pháp luật và một số văn bản
hướng dẫn về hòa giải ở cơ sở; các bước tiến hành hòa giải; một số vụ việc hòa giải
làm tài liệu để các hòa giải viên tham khảo trong quá trình hòa giải của mình.
Đặc biệt trong đó phải kể đến luận án “ Hòa giải trong giải quyết tranh chấp
đất đai ở Việt Nam hiện nay” năm 2014 của Tiến sĩ Phạm Thị Hương Lan. Tác giả
nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến các bảo đảm pháp lý
thực hiện hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện nay. Luận án

3


làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài như: hòa
giải, tranh chấp đất đai, hòa giải trong giải quyết tranh chấp đai đai, các nguyên tắc
của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai, quy trình hòa giải trong giải quyết
tranh chấp đất đai, thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai... Luận án đánh giá thực trạng
thực hiện phương thức hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở Việt Nam hiện
nay trên cơ sở phân tích và bình luận các vụ việc đã xảy ra trên thực tế ở nước ta.
Luận án đề xuất định hướng tiếp tục hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong giải
quyết đất đai hiện nay có khả năng ứng dụng trong quá trình hoàn thiện chính sách
pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai.
Một số công trình nghiên cứu khoa học khác đề cập đến thực tế giải quyết
tranh chấp đất đai tại một số địa phương như: “Giáo dục pháp luật thông qua hoạt
động hòa giải ở cơ sở trên địa bàn huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội” của Thạc
sĩ Nguyễn Thị Bích Thủy viết năm 2014 trên cơ sở nghiên cứu những quy định của
pháp luật, đánh giá thực trạng và hiệu quả của công tác giáo dục pháp luật thông
qua hoạt động hòa giải ở cơ sở, làm rõ những bất cập trong hệ thống pháp luật hiện
này, những vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện, những quy định chưa
phù hợp để đưa ra đề xuất sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản mới cho phù
hợp. Việc nghiên cứu về giáo dục pháp luật thông qua hoạt động hòa giải ở cơ sở
để tìm ra một phương thức giải quyết dứt điểm các mâu thuẫn ngay tại địa phương,
góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, hạn chế đơn thư kéo dài.
Ngoài ra, còn có luận văn “ Hòa giải ở cơ sở qua thực tiễn tỉnh Hải Dương”
của thạc sĩ Đặng Thị Lan Phương, nghiên cứu tìm ra những giải pháp nhằm nâng
cao chất lượng hiệu quả công tác hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh Hải Dương; luận
văn “ Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai” của thạc sĩ Nguyễn Thị Hảo làm
sáng tỏ những vấn đề lý luận về hòa giải tranh chấp đất đai khẳng định tầm quan
trọng của việc giải quyết các tranh chấp đát đai thông qua hòa giải. Việc nghiên cứu
thực trạng quy định hiện hành về hòa giải có ý nghĩa quan trọng trong việc xây
dựng và hoàn thiện chính sách pháp luật, nâng cao tính khả thi của công tác hòa
giải. Việc xây dựng và hoàn thiện các giải pháp về hòa giải liên quan đến tranh chấp
đất đai.
4


Các cuốn sách và công trình nghiên cứu là những nguồn tài liệu để tham
khảo và định hướng trong quá trình nghiên cứu của luận văn. Trên cơ sở thừa kế
những thành quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã được công bố về hòa
giải tranh chất đất đai xem xét dưới góc độ pháp luật, luận văn đi sâu tìm hiểu pháp
luật về hòa giải tranh chấp đất đai cả về phương diện lý luận, luật thực định và thực
tiễn thực hiện.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Đề tài này tác giả lựa chọn là hướng tới việc nhìn nhận đánh giá hiệu quả của
việc hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở trên thực tế. Qua đó, phát
hiện những bất cập của quy định của pháp luật, thực tiễn áp dụng các quy định pháp
luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai. Đề xuất, kiến nghị hoàn thiện
chính sách pháp luật về đất đai, đưa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả của
hòa giải tranh chấp đất đai giúp cho hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai thực
sự phù hợp với thực tiễn cuộc sống. Ngoài ra, còn giúp giảm tải cho cơ quan tố tụng
trong quy trình tố tụng tranh chấp về đất đai.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm các vấn đề chủ yếu sau đây:
- Nghiên cứu và xây dựng những vấn đề lý luận về tranh chấp đất đai và hòa
giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở ( bằng việc nghiên cứu các khái
niệm tranh chấp đất đai, hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở, đặc
điểm của hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở, nguyên tắc của việc
hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở, các yếu tác động đến hòa giải
trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở, ý nghĩa hòa giải trong giải quyết tranh
chấp đất đai, khái quát về pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở
cơ sở).

5


- Đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật thông qua việc tìm hiểu,
phân tích các quy định của pháp luật và thực trạng áp dụng các quy định về hòa giải
trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở.
- Từ việc đánh giá nói trên luận văn đưa ra định hướng và đề xuất các giải
pháp góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh
chấp đất đai ở cơ sở.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống các văn bản pháp luật liên
quan đến hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở. Thực tiễn áp dụng các
quy định này về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại phường Lĩnh Nam,
quận Hoàng Mai, Hà Nội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về hòa giải tranh chấp đất
đai ở cơ sở; các quy định; chủ trương; chính sách của Đảng và Nhà nước về hòa giải
trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở.
- Nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp đất đai
ở cơ sở, trọng tâm là Luật đất đai năm 2013, Bộ luật dân sự năm 2015, Luật hòa giải ở
cơ sở năm 2013...Bên cạnh đó, nghiên cứu các quy định về hòa giải tranh chấp đất đai
ở tổ dân phố, khu dân cư, các quy chế, hương ước tại phường Lĩnh Nam.
- Thời gian nghiên cứu từ năm 2015 – 2018
- Địa bàn nghiên cứu: Phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục đích nghiên cứu mà đề tài đã đặt ra trong quá trình
nghiên cứu luận văn đã sử dụng một số nghiên cứu cơ bản sau:
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác
– Lê Nin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Các quan điểm, chính sách của
Đảng và pháp luật của Nhà nước về kinh tế - xã hội, cải cách pháp luật, cải cách
hành chính tư pháp trong thời gian tới được thực hiện tại chương 1, chương 2 và
chương 3 của luận văn.

6


- Phương pháp so sánh luật học, lịch sử để nghiên cứu sự phát triển các quy
định về hòa giải và so sánh đặc điểm, tính chất của nó giữa các giai đoạn lịch sử với
nhau được thực hiện tại chương 1 và chương 2 của luận văn.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: phương pháp này được sử dụng trong tất
cả các chương của luận văn nhằm bảo đảm các nội dung được nghiên cứu có tính hệ
thống, khái quát, có tính chuyên sâu về những vấn đề được đề cập.
- Phương pháp thống kê: Phương pháp này được sử dụng trong tất cả quá
trình nghiên cứu luận văn để xử lý những số liệu thực tiễn từ công tác hòa giải tại
địa bàn phường Lĩnh Nam, quận Hoàng Mai, Hà Nội trong 04 năm qua. Tác giả
xây dựng hệ thống các biểu, đồ thị để khái quát được thực hiện tại chương 2 và
chương 3.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời
sống của nhân dân và xã hội.
- Thứ nhất, hòa giải ở cơ sở là một biện pháp mềm dẻo, hiệu quả sẽ giúp giải
quyết những mâu thuẫn, xích mích, bất đồng trong nội bộ nhân dân, góp phần xây
dựng tình đoàn kết, hàn gắn tình làng nghĩa xóm, đoàn kết nội bộ nhân dân hạn chế
các vi phạm pháp luật và đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa
phương và góp phần để kinh tế địa phương phát triển ổn định.
- Thứ hai, hoạt động hoà giải ở cơ sở có ý nghĩa quan trọng đối với công tác
phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân, thông qua hòa giải ở cơ sở sẽ giúp cán
bộ và nhân dân nâng cao hiểu biết về chính sách của Đảng và pháp luật của nhà
nước, bằng việc vận dụng những quy định của pháp luật để giải thích, phân tích,
thuyết phục các bên tranh chấp, tổ viên tổ hoà giải góp phần nâng cao hiểu biết
pháp luật và quan trọng hơn là cảm hoá, giáo dục ý thức nghiêm chỉnh chấp hành
pháp luật cho các bên phần nào góp phần hạn chế những vi phạm, xích mích xảy ra
tại cộng đồng dân cư.

7


- Thứ ba, hoạt động hòa giải ở cơ sở làm tốt thì sẽ giảm đơn thư, khiếu nại, tố
cáo tràn lan, kéo dài và vượt cấp tại địa phương. Nếu hòa giải thành thì sẽ giúp các
bên tranh chấp tiết kiệm được thời gian, công sức, tiền bạc và địa phương cũng
không phải tốn nhiều thời gian, công sức để hòa giải.
- Thứ tư, thông qua việc nghiên cứu hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất
đai ở cơ sở thì luận văn sẽ chỉ ra những vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực
hiện các quy định hiện hành về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai và đưa
ra những kiến nghị, đề xuất sửa đổi pháp luật sao cho phù hợp với thực tế.
7. Kết cấu của luận văn gồm:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn Gồm 3
chương:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất
đai ở cơ sở
Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở và
thực tiễn áp dụng pháp luật hòa giải về tranh chấp đất ở phường Lĩnh Nam, quận
Hoàng Mai, Hà Nội
Chƣơng 3: Phương hướng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hòa
giải tranh chấp đất đai ở cơ sở.

8


CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÒA GIẢI TRONG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP ĐẤT ĐAI Ở CƠ SỞ

1.1. Khái quát về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở.
Hòa giải có ý nghĩa rất lớn, nó làm cho những tranh chấp, xung đột, mâu
thuẫn, xích mích được giập tắt hoặc không vượt qua giới hạn sự nghiêm trọng,
giúp cho các bên tránh được một sự xung đột được giải quyết bằng bạo lực.
Giúp các bên hiểu biết lẫn nhau, giữ gìn cục diện ổn định chính trị địa
phương…
Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở bao gồm nhiều khái niệm
cấu thành như: tranh chấp đất đai; hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ
sở. Để có thể làm rõ về hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở thì cần
phải nghiên cứu để nhận diện được bản chất và nội hàm của các khái niệm này.
1.1.1. Quan niệm về tranh chấp đất đai:
Tranh chấp: theo từ điển tiếng việt thì tranh chấp nói chung được hiểu là việc
“ Giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào”[63, tr 989]. Tranh
chấp được hiểu là sự giằng co, tranh đấu thường là vấn đề lợi ích, quyền lợi giữa hai
bên hoặc nhiều bên với nhau.
Tranh chấp đất đai theo nghĩa rộng thì được hiểu là sự mâu thuẫn, bất đồng
trong việc xác định quyền quản lý, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng đối với đất đai,
phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất đai.
Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất
giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai1. Từ khái niệm này cho thấy tranh
chấp đất đai ở đây là tranh chấp về “quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất”.
1

Khoản 2, Điều 3, Luật Đất đai năm 2013.

9


Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt
tài sản của chủ sở hữu theo quy định của Bộ Luật Dân sự2
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống
nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định
của Luật này3.
Như vậy, đối tượng của tranh chấp đất đai là quyền quản lý, quyền sử dụng
đất đai và một số lợi ích khác phát sinh từ quyền quản lý, quyền sử dụng và các loại
tài sản khác có trên đất như hoa lợi, lợi tức...
Tương ứng với quyền sử dụng đất là quyền của người sử dụng được quy định
tại Điều 166 Luật đất đai 2013, người sử dụng đất có các quyền như: Được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất; hưởng thành quả lao động, kết quả đầu tư trên đất; hưởng các lợi ích do
công trình của Nhà nước phục vụ việc bảo vệ, cải tạo đất nông nghiệp; được Nhà
nước hướng dẫn và giúp đỡ trong việc cải tạo, bồi bổ đất nông nghiệp; được Nhà
nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình;
được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định của Luật này; khiếu nại, tố
cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và
những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai. Bên cạnh việc được Nhà nước
trao một số quyền, người sử dụng đất có một số nghĩa vụ được quy định tại Điều
170 Luật đất đai như: Sử dụng đất đúng mục đích, đúng ranh giới thửa đất, đúng
quy định về sử dụng độ sâu trong lòng đất và chiều cao trên không, bảo vệ các công
trình công cộng trong lòng đất và tuân theo quy định khác của pháp luật có liên
quan; thực hiện kê khai đăng ký đất đai; làm đầy đủ thủ tục khi chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, góp
vốn bằng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật; thực hiện nghĩa vụ tài
chính theo quy định của pháp luật; thực hiện các biện pháp bảo vệ đất; tuân theo các
quy định về bảo vệ môi trường, không làm tổn hại đến lợi ích hợp pháp của người

2
3

Điều 158, Bộ Luật Dân sự năm 2015.
Điều 4, Luật Đất đai năm 2013.

10


sử dụng đất có liên quan; tuân theo các quy định của pháp luật về việc tìm thấy vật
trong lòng đất; giao lại đất khi Nhà nước có quyết định thu hồi đất, khi hết thời hạn
sử dụng đất mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền gia hạn sử dụng.
Như vậy, tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử
dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai.
1.1.2. Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở.
Theo Luật hòa giải ở cơ sở thì cơ sở được hiểu là thôn, ấp, bản, phun, sóc,
tổ dân phố, khu phố, cộng đồng dân cư ( gọi chung là thôn, tổ dân phố)[50]. Quy
định của pháp luật là nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa
giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở; Tranh chấp
đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân
dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải có nghĩa đồng thời UBND cấp xã,
phường, thị trấn ( chính quyền cơ sở) có vị trí nhất định trong hòa giải ở cơ sở.
Hòa giải ở cơ sở là việc các hòa giải viên ở cơ sở hướng dẫn, giúp đỡ các bên
đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau các mâu thuẫn, tranh chấp, vi
phạm pháp luật [50].
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia thì hòa giải là hành vi thuyết phục
các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa. Hòa giải cũng
là giải quyết các tranh chấp, bất đồng giữa hai hay nhiều bên tranh chấp bằng việc
các bên dàn xếp, thương lượng với nhau có sự tham gia của bên thứ ba (không phải
là bên tranh chấp). Hòa giải còn được hiểu ở góc độ rộng hơn là một quá trình,
trong đó bên thứ ba giúp hai bên tranh chấp ngồi lại với nhau để cùng giải quyết vấn
đề của họ. Hòa giải cũng được coi là sự tiếp nối của quá trình thương lượng, trong
đó các bên cố gắng làm điều hoà những ý kiến bất đồng [69].
Theo từ điển giải thích thuật ngữ học thì “ giải quyết tranh chấp đất đai” là
giải quyết bất đồng, mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân, tổ chức trong quá trình
quản lý và sử dụng đất đai trên cơ sở phục hồi các quyền và lợi ích hợp pháp bị
xâm hại đồng thời truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm pháp
luật đất đai [44].
11


Như vậy, hòa giải tranh chấp đất đai là phương pháp giải quyết mâu thuẫn,
bất đồng của hai hay nhiều bên có tranh chấp liên quan quyền, nghĩa vụ, lợi ích của
người sử dụng đất trong quan hệ đất đai với sự tham gia của bên thứ ba giúp các
bên có thể đạt được thỏa thuận, thương lượng với nhau về tranh chấp.
Theo từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng thì hòa giải là “ thuyết phục các bên
đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa [63, tr. 345]. Theo từ
điển Luật học, Nxb từ điển Bách khoa và Nxb Tư pháp Hà Nội, năm 2006 thì “ Hòa
giải là thuyết phục các bên tranh chấp tự giải quyết tranh chấp của mình một cách
ổn thỏa, thông thường, việc hòa giải được tiến hành sau khi thương lượng giữa các
bên không đạt được kết quả”.
Trong từ điển pháp lý của Rothenberg, hòa giải là hành vi thỏa hiệp giữa các
bên sau khi có tranh chấp, mỗi bên nhượng bộ một ít [60, tr.410]. Còn từ điển Luật
học của Black cho rằng hòa giải là sự can thiệp; sự làm trung gian hòa giải; hành vi
của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục dàn xếp
hoặc tranh chấp giữa họ. Việc giải quyết tranh chấp thông qua người trung gian hòa
giải [68, tr.152]. Định nghĩa của Rothenberg đã nêu được bản chất của hòa giải
nhưng chưa nêu được hành vi, vai trò của bên thứ ba trung gian hòa giải. Điều này
đã khắc phục được trong từ điển Luật học của Black.
Từ các khái niệm này cho thấy hòa giải ở cơ sở có các yếu tố sau: Có tranh
chấp giữa các bên; là hành vi hoặc một tập hợp các hành vi với mục đích thuyết
phục; có sự thống nhất ý chí giữa các bên để giải quyết tranh chấp. Trong quá trình
giải quyết có sự tham gia của bên thứ ba trung gian ( là những hòa giải viên ở cơ sở,
các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, những người có uy tín).
Hòa giải là thủ tục đầu tiên trong quá trình giải quyết tranh chấp đất đai. Luật
Đất đai cũng quy định hòa giải là một phương thức giải quyết tranh chấp đất đai.
Việc hòa giải rất quan trọng vì tại giai đoạn này thì các bên có tranh chấp có thể gặp
gỡ, trao đổi,

12


Như vậy, hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở là phương
pháp giải quyết mâu thuẫn, bất đồng, tranh chấp của hai hay nhiều cá nhân liên
quan đến quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất tại thôn, tổ dân phố, UBND cấp xã
trong quá trình hòa giải có sự tham gia của bên thứ ba độc lập giữ vai trò trung
gian trong việc hướng dẫn, giúp đỡ các bên có tranh chấp tìm kiếm những giải
pháp thích hợp và thương lượng với nhau về việc giải quyết tranh chấp.
1.2. Đặc điểm của hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở.
- Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống
nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định
của Luật này4. Như vậy tranh chấp đất đai là một dạng đặc biệt của tranh chấp dân
sự, do có đối tượng của tranh chấp là quyền sử dụng đất, quyền quản lý và các loại
tài sản trên đất, một số hoa lợi, lợi tức...một số lợi ích phát sinh từ quyền quản lý và
quyền sử dụng đất; đối tượng của tranh chấp có thể trải qua nhiều biến động theo
thời gian với các chính sách pháp luật khác nhau. Do vậy, nội dung của tranh chấp
thường phức tạp đòi hỏi người hòa giải phải nắm vững nguồn gốc, quá trình sử
dụng đất và chính sách pháp luật về đất đai trong từng thời kỳ lịch sử.
- Hòa giải tranh chấp đất đai được tiến hành tại nơi có đất tranh chấp.
Tranh chấp đất đai luôn gắn với quyền sử dụng đất nên việc hòa giải về tranh
chấp đất đai thường được tiến hành tại nơi có tài sản tranh chấp. Tổ hòa giải, chính
quyền địa phương sẽ có điều kiện tốt nhất để tìm hiểu về lịch sử, nguồn gốc và hiện
trạng sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Việc tổ chức hòa giải sẽ tiến hành được
thuận tiện và có hiệu quả cao.
- Chủ thể tham gia vào quan hệ giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ là những cá
nhân, tập thể, cộng đồng… có quyền quản lý, sử dụng đất khi nhà nước giao đất,
cho thuê đất, cho thuê lại, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thừa kế, tặng cho
quyền sử dụng đất hoặc nhà nước công nhận quyền sử dụng đất.

4

Điều 4 Luật Đất đai năm 2013.

13


- Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở phải do sự tự nguyện
của một hoặc các bên đương sự đề nghị tổ hòa giải ở cơ sở hoặc UBND phường, xã,
thị trấn giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng.
- Việc hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở phải được các chủ
thể am hiểu pháp luật đất đai, nắm vững nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và
nguyên nhân tranh chấp giữa các bên.
Đất đai là tài sản có giá trị lớn nên khi tiến hành hòa giải về tranh chấp đất
đai phải do chủ thể trung gian hiểu biết pháp luật đất đai và các luật có liên quan
như Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Bộ Luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình...nắm
vững được nguồn gốc và quá trình sử dụng đất, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn,
tranh chấp giữa các bên. Ở cấp xã, phường, thị trấn và ở khu dân cư việc kiện toàn
các tổ hòa giải thường xuyên. Những người làm tổ trưởng tổ hòa giải thường là Bí
thư chi bộ khu dân cư, những hòa giải viên ở cơ sở là tổ trưởng các tổ dân phố và là
chi hội trưởng các chi hội Người cao tuổi, Cựu chiến binh, Phụ nữ, đoàn thanh niên,
chữ thập đỏ...họ đều là những người có uy tín trong khu dân cư, nhiệt tình, tâm
huyết và nắm rõ được những nguồn gốc đất, thông tin của những gia đình, cá nhân
tại tổ dân phố, khu dân cư của mình.
- Tổ hòa giải ở thôn, tổ dân phố và UBND cấp xã ( chính quyền cơ sở) là chủ
thể tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở.
Khi xảy ra tranh chấp đất đai thì mỗi bên phải sử dụng biện pháp tự hòa giải
và gặp gỡ trao đổi, thỏa thuận với nhau để đạt được tiếng nói chung, nhằm giải
quyết ổn thỏa vụ việc. Ở giai đoạn này thì chưa có sự tham gia của bên thứ ba, nó
chỉ mang tính chất nội bộ. Ở giai đoạn này thành công khi các bên hiểu biết pháp
luật, có thiện chí, tôn trọng lẫn nhau. Đây là hình thức để phát huy truyền thống
đoàn kết, tinh thần tương thân, tương ái, xây dựng nếp sống văn hóa ở khu dân cư,
đảm bảo cho các hình thức giải quyết tranh chấp phát huy hiệu quả. Tuy nhiên, nếu
không thành công thì một trong các bên cần trợ giúp của bên thứ ba đó là các tổ hòa
giải ở thôn, tổ dân phố. Việc hòa giải ở thôn, tổ dân phố là hình thức hòa giải của

14


đại diện cộng đồng dân cư, theo đó hòa giải viên hướng dẫn, giúp đỡ, thuyết phục
các bên tranh chấp đạt được thỏa thuận, tự nguyện giải quyết với nhau những tranh
chấp nhằm phát huy tình làng nghĩa xóm, đạo lý tốt đẹp trong gia đình và cộng
đồng khu dân cư. Hình thức này được phát huy tối đa và được thực hiện có hiệu quả
ở khu dân cư với sự tham gia của các ông bà Bí thư chi bộ ( trưởng xóm hay trưởng
làng, thôn), tổ trưởng các tổ dân phố, các tổ chức chính trị xã hội ở khu dân cư.
- Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã, phường, thị
trấn ( chính quyền cơ sở): được tiến hành khi các bên tranh chấp không tự hòa giải
được và tổ hòa giải ở thôn, tổ dân phố cũng không hòa giải được thì một trong các
bên có thể yêu cầu UBND phường hòa giải. Đây là phương thức hòa giải do chính
quyền cơ sở thực hiện nhằm nhanh chóng giải quyết những, mâu thuẫn, bất đồng
nội bộ trong nhân dân.
- Hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở được tiến hành trên cơ
sở tôn trọng quyền định đoạt của các bên có tranh chấp đất đai. Hoạt động hòa giải
ở cơ sở là phương thức tổ chức giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp trên cơ sở
khuyến khích, thuyết phục các bên tự nguyện thỏa thuận với nhau nhằm xóa bỏ mâu
thuẫn, bất đồng, từ đó đạt được thỏa thuận phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội,
góp phần giữ tìn tình làng nghĩa xóm, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã
hội trong cộng đồng dân cư.
Hòa giải tranh chấp đất đai là một hoạt động của tổ hòa giải hoặc chính
quyền cơ sở về mặt bản chất hòa giải vẫn là sự thỏa thuận của các đương sự. Chỉ có
các đương sự có tranh chấp mới có quyền thương lượng, thỏa thuận với nhau về
những vấn đề cần giải quyết. Họ là những người hiểu rõ hơn ai hết về mâu thuẫn
của các bên.
1.3. Các nguyên tắc của việc hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai
ở cơ sở.
- Tranh chấp đất đai là một dạng của tranh chấp dân sự, chính vì vậy hòa giải
trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở phải được xây dựng trên cơ sở tôn trọng

15


sự tự nguyện của các chủ thể có tranh chấp; không bắt buộc, áp đặt các bên trong
hòa giải; tôn trọng quyền định đoạt của các bên đương sự.
Khi có tranh chấp đất đai ở cơ sở xảy ra thì các bên tranh chấp tự do lựa
chọn cách thức giải quyết như thương lượng, thỏa thuận với nhau, hòa giải ở cơ sở,
ở UBND xã, phường, thị trấn hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết để bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình.
- Các quy định về hòa giải về đất đai là cần thiết trong bối cảnh hiện nay và
nó phù hợp với văn hóa ứng xử của người Việt Nam. Hòa giải luôn được Nhà nước
khuyến khích và tạo điều kiện cho các bên đương sự thực hiện.
- Không lợi dụng việc hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở để
ngăn cản các bên liên quan bảo vệ quyền lợi của mình theo quy định của pháp luật
hoặc trốn tránh việc xử lý vi phạm hành chính, xử lý về hình sự.
- Ngoài ra, hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở nhằm bảo vệ, bảo đảm lợi ích
chính đáng của các cá nhân tại cộng đồng. Khi mâu thuẫn xảy ra xâm phạm đến
quyền, lợi ích của cá nhân và hòa giải là hình thức để các bên tự nhận thấy sự phải
trái, đúng, sai, trong hành của cá nhân, từ đó xử sự phù hợp với pháp luật và chuẩn
mực đạo đức.
- Bảo đảm phù hợp với chính sách, pháp luật của nhà nước, đạo đức xã hội,
phong tục, tập quán tốt đẹp của nhân dân; phát huy tinh thần đoàn kết, tương trợ,
giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình, dòng họ và cộng đồng dân cư;
quan tâm đến quyền.
- Trong quá trình hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở và
UBND cấp xã, phường, thị trấn phải đảm bảo công bằng, kịp thời, có lý, có tình, giữ
bí mật thông tin đời tư của các bên.
1.4. Các yếu tố tác động đến hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất
đai:
- Văn bản pháp luật của Nhà nước thay đổi trong thời gian ngắn, văn bản có
sự bổ sung, thay thế nhiều nên việc cập nhật và nghiên cứu pháp luật của cán bộ,

16


công chức, hòa giải viên ở cơ sở gặp nhiều khó khăn ví dụ: Luật Đất đai năm 2003
được ban hành thì các Nghị định của Chính phủ, thông tư của Bộ Tài Nguyên và
Môi trường và Quyết định của UBND cấp tỉnh, thành phố sẽ phải ban hành hướng
dẫn Luật, ngoài ra còn các văn bản hướng dẫn chuyên ngành của các cơ quan
chuyên môn hướng dẫn cơ sở để Luật đất đai đi vào cuộc sống và có hiệu quả. Việc
cán bộ, công chức nghiên cứu để có thể áp dụng thành thạo và đúng quy định vào
thực tiễn đã là rất khó thì hòa giải viên ở cơ sở còn khó khăn hơn nhiều. Sau một
thời gian cán bộ, công chức và hòa giải viên ở cơ sở đã nắm bắt được các quy định
của Luật đất đai 2003 và các văn bản hướng dẫn thì đến năm 2013, Quốc hội đã ban
hành Luật Đất đai năm 2013 để phù hợp với xu hướng của hiện tại, Luật đất đai
2013 gồm 14 chương và 212 điều, rất nhiều quy định mới thay thế Luật đất đai năm
2003 và tiếp theo là các văn bản hướng dẫn Luật đất đai năm 2013 ra đời: Nghị
định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai (Có
hiệu lực từ 01/07/2014); Nghị định 44/2014/NĐ-CP quy định về giá đất (Có hiệu
lực từ 01/07/2014); Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 6/1/2017 về việc sửa đổi,
bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai; Thông
tư 23/2014/TT-BTNMT về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà
ở và tài sản khác gắn liền với đất (Có hiệu lực từ 05/07/2014); Thông
tư 24/2014/TT-BTNMT về hồ sơ địa chính (Có hiệu lực từ 05/07/2014);Thông tư
25/2014/TT-BTNMT về bản đồ địa chính (Có hiệu lực từ 05/07/2014); Thông tư
26/2014/TT-BTNMT về Quy trình và Định mức kinh tế - kỹ thuật xây dựng cơ sở
dữ liệu tài nguyên và môi trường do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban
hành (Có hiệu lực từ 15/07/2014); Thông tư 29/2014/TT-BTNMT về Quy định chi
tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Có hiệu lực từ
17/07/2014); Thông tư 30/2014/TT-BTNMT về Quy định quy định về hồ sơ giao
đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất (Có hiệu lực từ
17/07/2014); Thông tư 34/2014/TT-BTNMT quy định về xây dựng, quản lý, khai
thác hệ thống thông tin đất đai; Thông tư 36/2014/TT-BTNMT quy định chi tiết
phương pháp định giá đất; xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất; định giá đất cụ thể và

17


tư vấn xác định giá đất; Thông tư 37/2014/TT-BTNMT quy định chi tiết về bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất; Quyết định số 22/2014/QĐUBND, ngày 20/6/2014 của UBND thành phố ban hành quy định các nội dung
thuộc thẩm quyền của UBND thành phố được Luật Đất đai 2013 và Nghị định giao
về hạn mức giao đất; hạn mức công nhận quyền sử dụng đất; kích thước, diện tích
đất ở tối thiểu được phép tách thửa cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn thành phố
Hà Nội....Ngoài ra còn các văn bản hành chính thông thường hướng dẫn nghiệp vụ
của các phòng ban chuyên môn của Thành phố và Quận. Thêm vào đó cán bộ, công
chức, hòa giải viên còn phải nghiên cứu thêm các văn bản Luật khác có liên quan
như Luật Dân sự 2015, Luật Hôn nhân và gia đình....Qua việc thống kê các văn bản
trên cho thấy khối lượng văn bản quy phạm pháp luật ban hành để hướng dẫn văn
Luật là quá lớn.
Đối với cán bộ, công chức chuyên môn khi đang nghiên cứu, áp dụng các
văn bản cũ đã quen đến khi lại thay đổi và phải nghiên cứu những điều mới. Mặc dù
những văn bản mới ban hành nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với điều
kiện thực tế của đất nước và tạo điều kiện thông thoáng cho người dân khi thực hiện
thủ tục liên quan đến đất đai. Tuy nhiên, khối lượng văn bản nhiều như vậy thì có
thể cán bộ, công chức chuyên môn còn chưa cập nhật được hết các quy định của
pháp luật thì hòa giải viên ở cơ sở không thể có nhiều kiến thức và kỹ năng cũng
như điều kiện để có thể nghiên cứu chuyên sâu được nên công tác hòa giải đôi khi
còn nhiều hạn chế.
Công tác hòa giải trong giải quyết tranh tranh chấp đất đai ở cơ sở muốn đạt
được kết quả và đi vào cuộc sống thì cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ
Đảng ủy, chính quyền cho đến các cấp ủy Đảng và các tổ dân phố, tổ hòa giải ở khu
dân cư. Đặc biệt là sự phối hợp kết hợp chặt chẽ giữa UBND, MTTQ và các, ban
ngành đoàn thể trong việc chỉ đạo và hướng dẫn các hòa giải viên ở cơ sở làm tốt
công tác hòa giải ở cơ sở.

18


Hòa giải viên ở cơ sở là những người nhiệt tình, tâm huyết, là những người
về hưu, hoặc đoàn thanh niên có trách nhiệm với công việc. Tuy nhiên, về trình độ
chuyên môn nghiệp vụ của hòa giải viên ở cơ sở hầu như chỉ tốt nghiệp cấp trung
học cơ sở và trung học phổ thông; không qua trường lớp đào tạo chuyên ngành
Luật. Các hòa giải viên ở cơ sở không được đào tạo chính quy về chuyên ngành
Luật nên không có nhiều kiến thức về pháp luật, việc tham gia tập huấn các lớp
nâng cao kỹ năng hòa giải tại địa phương, cấp trên và nghiên cứu tài liệu được cấp
phát không được sâu và hòa giải viên ở cơ sở không có chuyên môn nghiệp vụ cho
việc nghiên cứu tìm hiểu pháp luật nên chưa nắm chắc được kiến thức pháp luật đó
là yếu tố tác động không nhỏ đến việc hòa giải giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở.
Trình độ nhận thức và sự hiểu biết kiến thức pháp luật của người dân tại địa
phương là một trong những yếu tố quyết định hàng đầu cho buổi hòa giải có thành
hay không, vì có sự hiểu biết thì sẽ phân biệt được đâu là đúng, đâu là sai, họ cần
phải làm gì. Tuy nhiên, trên thực tế còn một số bộ phận người dân còn có tầm hiểu
biết pháp luật còn hạn chế. Một bộ phận không nhỏ người dân không am hiểu các
quy định của pháp luật nên ảnh hưởng không nhỏ đến việc hòa giải thành các vụ
việc hòa giải ở cơ sở. Đặc biệt các tranh chấp đất đai ở cơ sở rất phức tạp, nếu
người dân không có nhận thức đầy đủ về pháp luật đất đai thì rất khó có thể thành
công trong các vụ hòa giải.
Việc đầu tư về chất cho công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật ở
địa phương về công tác hòa giải nói chung và hòa giải trong giải quyết tranh chấp
đất đai của nhiều địa phương còn chưa tốt mang tính hình thức, qua loa, chưa thực
sự tạo được sự chuyển biến và chưa có hiệu quả.
1.5. Ý nghĩa hòa giải trong giải quyết tranh chấp đất đai ở cơ sở
Việc nghiên cứu của luận văn có thể được khai thác, sử dụng trong nghiên
cứu về công tác hòa giải ở cơ sở.
Hòa giải tranh chấp đất đai ở cơ sở là một biện pháp hiệu quả nhằm giúp các
bên đương sự tìm ra một giải pháp thống nhất để tháo gỡ mâu thuẫn, bất đồng trong
tranh chấp đất đai trên cơ sở tự nguyện, tự thỏa thuận. Góp phần đảm bảo an ninh
trật tự, phát triển kinh tế địa phương.
19


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×