Tải bản đầy đủ

Pháp luật về tặng, cho quyền sử dụng đất từ thực tiễn thành phố việt trì, tỉnh phú thọ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ TẶNG, CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TỪ THỰC TIẾN
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

NGUYỄN THU HẰNG

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ

PHÁP LUẬT VỀ TẶNG, CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TỪ THỰC TIẾN
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ


NGUYỄN THU HẰNG

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.NGUYỄN VĂN CẢNH

HÀ NỘI – 2018


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Văn Cảnh. Các số liệu trích dẫn có nguồn gốc
rõ ràng, các kết quả nghiên cứu của luận văn là trung thực và chưa từng được ai
công bố trong bất cứ công trình nào khác. Tôi xin chịu trách nhiệm hoàn toàn về lời
cam đoan này./.

Hà Nội, ngày

tháng 9 năm 2018
Tác giả

Nguyễn Thu Hằng

i


LỜI CẢM ƠN

Tặng cho quyền sử dụng đất là nhu cầu thiết thực trong cuộc sống từ xa xưa
đến nay, có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống kinh tế, xã hội trong tất cả các giai đoạn
phát triển, hiện nay tặng cho quyền sử dụng đất là một giao dịch hết sức quan trọng
cần phải chú trọng, thực hiện đúng pháp luật để tránh khiếu kiện về sau.
Đề tài “Pháp luật về tặng, cho quyền sử dụng đất từ thực tiễn thành phố Việt
Trì, tỉnh Phú Thọ” nghiên cứu pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất và việc áp
dụng trong thực tiễn, qua đó phân tích những hạn chế tồn tại cần giải quyết trong
việc thực thi pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất tại thành phố Việt Trì nói
riêng. Từ đó kiến nghị một số giải pháp trong thực thi pháp luật về tặng cho quyền


sử dụng đất nói chung và tại thành phố Việt Trì nói riêng.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, với trình độ và kinh nghiệm còn hạn
chế về pháp luật tặng cho quyền sử dụng đất, nội dung đề tài không tránh khỏi
những khiếm khuyết, tồn tại. Tôi rất mong được sự quan tâm đóng góp ý kiến của
các quý thầy, cô giáo, các đồng nghiệp để tôi có điều kiện học hỏi, hoàn thiện kiến
thức hơn nữa, giúp tôi có thể góp phần thiết thực trong việc thực hiện áp dụng pháp
luật trong thực tiễn công tác của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn Viện Đại học Mở Hà Nội đã tạo điều kiện cho
tôi trong quá trình học tập tại nhà trường, đặc biệt xin chân thành cảm ơn thầy
TS.Nguyễn Văn Cảnh – Khoa Sau đại học - Trường đại học Ngoại Thương đã tận
tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi nghiên cứu hoàn thành luận văn này.

Tác giả

Nguyễn Thu Hằng

ii


MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................................. ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................................. v
DANH MỤC BẢNG BIỂU ............................................................................................. vi
DANH MỤC HÌNH VẼ ................................................................................................. vii
PHẦN MỞ ĐẨU .............................................................................................................. 1
1.

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài ............................................................ 1

2.

Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài ..................................................... 3

3.

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................... 4

4.

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu ........................................................................... 4

5.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ................................................. 5

6.

Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu ...................................... 5

7.

Kết cấu của luận văn ............................................................................................ 6

CHƯƠNG I: .................................................................................................................... 7
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ..................................... 7
1.1.

Khái niệm, đặc điểm về quyền sử dụng đất ........................................................ 7

1.1.1. Khái niệm quyền sử dụng đất ................................................................................. 7
1.1.2. Đặc điểm quyền sử dụng đất ................................................................................ 10
1.1.3. Sự khác nhau giữa quyền sử dụng đất và quyền tài sản khác ................................ 11
1.2.

Khái niệm, đặc điểm pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất ....................... 13

1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của tặng cho tài sản ............................................................. 13
1.2.2. Khái niệm, đặc điểm về tặng cho quyền sử dụng đất ............................................ 17
1.2.3. Sự khác nhau giữa tặng cho quyền sử dụng đất với tặng cho tài sản khác ............. 21
1.2.4. Khái niệm, vai trò của pháp luật tặng cho quyền sử dụng đất................................ 22
1.3.

Kết luận chương 1 .............................................................................................. 24

CHƯƠNG II:THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT VÀ THỰC TIỄN TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NHÌN NHẬN QUA
THỰC TẾ TẠI THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ...................................... 25
2.1.

Nội dung pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất .......................................... 25

2.1.1. Các quy định về đối tượng của tặng cho quyền sử dụng đất .................................. 25
2.1.2. Các quy định về chủ thể của tặng cho QSDĐ ....................................................... 30

iii


2.1.3. Quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ tặng cho QSDĐ.......... 33
2.1.4. Các quy định về hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ........................................ 37
2.2.

Tổng quan về thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ .............................................. 42

2.2.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên ............................................................................. 42
2.2.2. Điều kiện kinh tế xã hội ....................................................................................... 43
2.3.3. Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội đến thực tiễn áp dụng pháp luật
về tặng cho quyền sử dụng đất tại thành phố Việt Trì ...................................................... 45
2.3.

Thực hiện pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất tại thành phố Việt Trì,

tỉnh Phú Thọ .................................................................................................................. 46
2.3.1. Tình hình quản lý sử dụng đất .............................................................................. 46
2.3.2. Thực tiễn thực hiện tặng cho QSDĐ tại thành phố Việt Trì .................................. 48
2.4.

Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về tặng cho QSDĐ tại thành phố Việt

Trì, tỉnh Phú Thọ ........................................................................................................... 62
2.4.1. Đánh giá tồn tại của hệ thống văn bản pháp luật về tặng cho QSDĐ ..................... 62
2.4.2. Đánh giá chung về việc áp dụng pháp luật về tặng cho QSDĐ trên địa bàn thành
phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ............................................................................................... 64
2.5.

Kết luận chương 2 .............................................................................................. 68

CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ
TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT TẠI TP VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ .............. 69
3.1.

Phương hướng hoàn thiện pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất .............. 69

3.1.1. Một số bất cập trong hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất .................................. 69
3.1.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật ..................................................................... 74
3.2.

Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất ........... 75

3.3.

Một số giải pháp nâng cao khả năng áp dụng pháp luật về tặng cho quyền sử

dụng đất tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ............................................................ 78
3.4.

Một số giải pháp khác ........................................................................................ 80

3.4.1. Đối với cấp tỉnh (tỉnh Phú Thọ) ............................................................................ 80
3.4.2. Đối với cấp huyện, thành phố (thành phố Việt Trì) ............................................... 84
3.4.3. Đối với các cơ quan có liên quan.......................................................................... 85
3.5.

Kết luận chương 3 .............................................................................................. 88

KẾT LUẬN .................................................................................................................... 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................. 89

iv


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT

KÝ HIỆU

DIỄN GIẢI

1

BTNMT

Bộ tài nguyên môi trường

2

CNH

Công nghiệp hoá

3

ĐTH

Đô thị hoá

4

GCN

Giấy chứng nhận

5

QSDĐ

Quyền sử dụng đất

6

NSDĐ

Người sử dụng đất

7

HĐH

Hiện đại hoá

8

UBND

Ủy ban nhân dân

9

KT – XH

Kinh tế - Xã hội

10

QSH

Quyền sở hữu

v


DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1: Thống kê hồ sơ đề nghị cấp, được cấp và chưa được cấp QSDĐ ........... 52
Bảng 2.2: Thống kê số hợp đồng đăng ký tặng cho QSDĐ giai đoạn 2014-2017 ... 53
Bảng 2.3: Thống kê hợp đồng tặng cho QSDĐ được cấp GCN .............................. 54
Bảng 2.4: Thống kê hợp đồng tặng cho QSDĐ không (chưa) được cấp GCN ........ 55
Bảng 2.5: So sánh hợp đồng cho tặng QSDĐ được và chưa được cấp .................... 56
Bảng 2.6: Thống kê các hợp đồng không điều kiện tặng cho QSDĐ ...................... 58
Bảng 2.7: Thống kê số hồ sơ không đủ điều kiện về GCN ..................................... 58
Bảng 2.8: Đất tặng cho đang tranh chấp................................................................. 60
Bảng 2.9: Đất tặng cho đang kê biên, cầm cố ngân hàng ....................................... 60
Bảng 2.10: Đất tặng cho hết hạn sử dụng ............................................................... 61
Bảng 2.11: Đất tặng cho không đủ điều kiện khác ................................................. 62

vi


DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Biểu đồ tỷ lệ số GCN đề nghị cấp theo hợp đồng tặng cho ..................... 52
Hình 2.2: Biểu đồ tỷ lệ số GCN được cấp theo hợp đồng tặng cho ........................ 53
Hình 2.3: Biểu đồ tỷ lệ số GCN chưa được cấp theo hợp đồng tặng cho ................ 53
Hình 2.4: Biểu đồ tỷ lệ hồ sơ đăng ký tặng cho QSDĐ ......................................... 54
Hình 2.5: Biểu đồ tỷ lệ hồ sơ được cấp GCN ......................................................... 55
Hình 2.6: Biểu đồ hợp đồng tặng cho QSDĐ không/chưa được cấp GCN.............. 56
Hình 2.7: Biểu đồ so sánh hợp đồng cho tặng QSDĐ được và chưa được cấp........ 57
Hình 2.8: Biểu đồ số hợp đồng tặng cho chưa được cấp GCN quyền SDĐ ............ 57
Hình 2.9: Biểu đồ diện tích tặng cho chưa được cấp GCN quyền SDĐ .................. 58
Hình 2.10: Biểu đồ so sánh đất chưa có GCN ........................................................ 59
Hình 2.11: Biểu đồ so sánh đất tặng cho đang tranh chấp ...................................... 60

vii


PHẦN MỞ ĐẨU

1.

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đất đai có nguồn gốc tự nhiên, là tặng vật tự nhiên cho con người, là tư liệu

sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa
bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và
quốc phòng. Có thể nói, đất đai vừa là xuất phát điểm vừa là yếu tố cơ bản của đời
sống con người, của các sinh vật trên trái đất và quá trình sản xuất của xã hội.
Ở nước ta, kể từ Hiến pháp năm 1980 cho đến nay Đảng và Nhà nước ta đã
kiên định với tôn chỉ mục đích: Đất đai được quốc hữu hóa, “đất đai thuộc về sở
hữu của toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” [7, Đ.4].
Thực hiện quyền năng của chủ sở hữu, Nhà nước giao đất cho các tổ chức, cá nhân,
hộ gia đình, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo (gọi chung là người sử dụng đất khai
thác, sử dụng đất một cách hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả. Để bảo vệ quyền của người
sử dụng đất, Nhà nước quy định người sử dụng đất có QSDĐ và QSDĐ là một
quyền tài sản.
Trong đời sống xã hội hiện nay, đất đai được coi là đối tượng đặc biệt trong
giao dịch dân sự, kinh tế nên sự chuyển dịch đất đai từ chủ thể này sang chủ thể
khác là một quy luật vận động tất yếu vàchịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quy luật giá
trị. Việc tặng cho quyền sử dụng đất là một giao dịch dân sự quan trọng bởi nó là
một quan hệ dân sự phổ biến trong cuộc sống của nhân dân ta, là phương thức hữu
hiệu giúp cho người sử dụng đất xác lập và thực hiện việc chuyển quyền sử dụng
đất nhằm thỏa mãn nhu cầu sản xuất kinh doanh và trong đời sống sinh hoạt hàng
ngày và nó được thể hiện bằng Hợp đồng tặng cho QSDĐ cụ thể.
Xuất phát từ tầm quan trọng của hợp đồng tặng cho QSDĐ, Luật đất đai
2003 và Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005 đã quy định cụ thể, chi tiết và tương
đối hoàn thiện việc xác lập, thực hiện cũng như các điều kiện có hiệu lực của hợp
1


đồng tặng cho QSDĐ, tạo nên sự ổn định cho quan hệ tặng cho QSDĐ trong giai
đoạn hiện nay, góp phần thúc đầy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy
vậy, trên thực tế hiện nay, việc tặng cho quyền sử dụng đất ở nước ta diến ra rất đa
dạng, phong phú nó đã làm phát sinh những diễn biến phức tạp trong thực tiễn gây
ra những tranh chấp về hợp đồng tặng cho QSDĐ, đã có không ít những vụ án tranh
chấp được xét xử nhiều lần với nhiều cấp xét xử khác nhau nhưng vẫn còn có những
thắc mắc, những quan điểm khác nhau gây nên tranh luận, bàn cãi.
Nghiên cứu chế định này của pháp luật dân sự và pháp luật đất đai là việc
làm cần thiết, bởi tặng cho QSDĐ là một vấn đề vừa mang tính lịch sử, vừa mang
tính thời đại, nó không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn mang tính thực tiễn sâu
sắc. Trong điều kiện của chúng ta hiện nay, khi nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa đã và đang phát triển với những biểu hiện tích cực, nhưng cũng đã
bộc lộ những mặt trái của nó; trong đóđất đai đãđược coi là đối tượng đặc biệt trong
giao dịch dân sự, kinh tế, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của quy luật giá trị, khi thấy giá
trị QSDĐ biến động với mức cao hơn NSDĐđã tặng cho lại đòi lại QSDĐ; đồng
thời, ý thức chấp hành pháp luật của NSDĐ chưa cao, nên khi pháp luật đã có quy
định về tặng cho QSDĐ, nhưng NSDĐ vẫn tặng cho QSDĐ tùy tiện không tuân thủ
đúng các quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, chính sách pháp luật vềđấtđai của
Việt Nam chưa đồng bộ, đặc biệt các quy định về việc chuyển dịch QSDĐ chưa
theo kịp với thực tế cuộc sống đã và đang làm cho việc chuyển dịch bất động sản
nói chung, đất đai nói riêng ngày càng bộc lộ nhiều bất cập [38].
Do vậy, việc nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện về pháp luật tặng
cho QSDĐ và thực tiễn thực thi tại địa phương là vấn đề thực sự cần thiết bởi nó
góp phần quan trọng trong việc áp dụng pháp luật vào thực tiễn. Với ý nghĩa đó, tác
giả lựa chọn đề tài “Pháp luật về tặng, cho quyền sử dụng đất từ thực tiễn thành
phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ” trong khuân khổ Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành Luật
kinh tế của mình.

2


2.

Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Tặng cho QSDĐ trong thời kỳ trước đây ở nước ta thực hiện khá sơ sài, hình

thức chủ yếu là bằng miệng, một số trường hợp có thể bằng văn bản viết tay cho
nhau… Khi đất nước đổi mới cho đến nay đã có các văn đáp ứng sự phát triển tất
yếu của xã hội, sự chuyển biến của nền kinh tế thị trường … Tuy vây, trước đó
trong một thời gian dài, pháp luật Việt Nam nói riêng cũng như các nước xã hội
chủnghĩa nói chung không đề cập đến chế định tặng cho quyển sở hữu đất cũng như
quyền sử dụng đất.
Luật đất đai năm 2003 và Bộ luật dân sự 2005 ra đời đã có quy định cụ thể
về tặng cho quyền sử dụng đất. Ngoài ra, Giáo trình Luật dân sự của trường Đại học
Luật Hà Nội cũng đề cập vấn đề mang tính chất sơ lược những nội dung cơ bản về
hợp đồngtặng cho quyền sử dụng đất, đề cập đến một số vấn đề lý luận cơ bản về
pháp luật tặng cho quyền sử dụng đất.
Thời gian qua, đã có một số công trình khoa học nghiên cứu về tặng cho
quyền sử dụng đất, có thể kể ra một số công trình tiêu biểu sau đây:Luận án tiến sỹ
ngành Luật kinh tế với đề tài: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tặng cho quyền sử dụng
đất, của tác giả Nguyễn Hải An, bảo vệ năm 2011 tại trường Đại học Quốc gia Hà
Nội.Luận văn thạc sỹ luật học với đề tài: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất –
một số vấn đề lý luận và thực tiễn, của tác giả Trần Thị Minh, bảo vệ tại trường Đại
học Luật Hà Nội, năm 2012.Luận văn thạc sỹ ngành Luật kinh tế với đề tài: Pháp
luật tặng, cho quyền sử dụng đất, của tác giả Nguyễn Minh Tâm, bảo vệ năm 2017
tại Viện Đại học Mở Hà Nội.Bài viết: Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất của tác
giả Nguyễn Hồng Nam đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân. Số 12/2004, Tr.15-19.
Toà án nhân dân tối cao qua nhiều năm giải quyết các tranhchấp về tặng cho QSDĐ
đã có công trình nghiên cứu đề tài cấp bộ năm 2008:Thực tiễn giảiquyết tranh chấp
hợp đồng tặng cho tài sản tại Tòa án nhân dân - những vướng mắc và kiếnnghị,
nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định về hợp đồng tặng cho tài sản nói chung trong
việcgiải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân. Đây là những kết quả của các tác giả
3


trước được học viên sử dụnglàm nền tảng lý luận để thực hiện đề tài. Tuy nhiên, các
công trình nói trên chưa nghiên cứu một cách hệ thống, chưa chỉ ra thực tiễn áp
dụng pháp luật nào tại các địa phương. Cụ thể, các công trình trên chưa chỉ ra một
số bấp cập, khoảng trống và đưa ra những đóng góp cho những vấn đề sau đây: (1)
Những quy định được sửa đổi, bổ sung trong Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Đất đai
2013 chưa được đề cập nhiều đến; (2) Do nền kinh tế thị trường nhiều thành phần
có nhiều biến động phát sinh những hoạt động kinh tế, hợp đồng tặng cho QSDĐ có
nhiều thay đổi; (3) Vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn, bất cập trong việc áp dụng pháp
luật tặng cho QSDĐ trong đời sống xã hội nói chung và thành phố Việt Trì, tỉnh
Phú Thọ nói riêng.
3.

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu đề tài: Mục đích nghiên cứu là nhằm góp phần làm

sáng tỏ một số vấn đề lý luận pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về tặng cho
quyền sử dụng đất, từ đó, tìm ranhững bất cập, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn
thiệnpháp luật và hiệu quả của việc áp dụng pháp luật về tặng cho QSDĐ, nhằm
đảm bảo tình khả thi khi áp dụng pháp luật trong thựctiễn; làm cho pháp luật về
tặng cho QSDĐ thực sự là một trong những công cụ pháp lý thúcđẩy giao lưu dân
sự, kinh tế, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài: Để thực hiện mục đích nghiên cứu nêu trên,
nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là: Làm rõ một số vấn đề lý luận về tặngcho QSDĐ;
nghiên cứu thực tiễn các quy định của pháp luật hiện hành về tặng cho QSDĐ;
nghiên cứuthực tiễn áp dụng pháp luật về tặng cho QSDĐ thông qua hoạt động thực
tiễn tại thành phố Việt Trì; kiến nghị các giải pháp hoàn thiệnpháp luật, cũng như
giải pháp thực hiện và áp dụng pháp luật tặng cho QSDĐ để tạo ra cơ sở pháp
lývững chắc trong quan hệ tặng cho QSDĐ.
4.

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề

liên quan đến tặng cho quyền sử dụng đất; pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất
4


và thực tiễn thực thi pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất tại thành phố Việt Trì,
tỉnh Phú Thọ.
Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Là học viên ngành Luật kinh tế, làm đề tài Luận văn Thạc sỹ
liên quan đến chuyên ngành đào tạo là Luật kinh tế, học viên giới hạn nội dung
nghiên cứu Đề tài dưới góc độ là một phần chuyên sâu chuyên ngành Luật kinh tế.
Vì, tặng cho quyền sử dụng đất là một vấn đề phức tạp và rộng lớn, có thể được
nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau.
- Về không gian: Học viên tập trung nghiên cứu làm rõ một số vấn đề pháp
luật và thực tiễn thực thi pháp luật tại thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Về thời gian: Khi nghiên cứu thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng từ
năm 2013 đến nay, tức là từ khi Luật đất đai 2013 có hiệu lực. Khi nghiên cứu giải
pháp, đề tài nghiên cứu giải pháp từ nay đến 2023 và tầm nhìn đến 2028.
5.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài là Triết học Mác – Lênin

về chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong quá trình
nghiên cứu, tác giả dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để tiếp cận
làm rõ việc thực hiện pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứunhư: phân tích, so sánh, tổng
hợp, thống kê, hệ thống hóa, nghiên cứu các quy định pháp luật, nghiên cứu thực
tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất.

6.

Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của công trình nghiên cứu
-Ý nghĩa lí luận: Luận văn góp phần bổ sung và hoàn thiện những vấn đề lý

luận về tặng cho QSDĐ, pháp luật tặng cho QSDĐ, tạo cơ sở khoa học để hoàn
thiện chế định QSH đất đai và QSDĐ trong điềukiện nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Đề tài là tài liệu tham khảo cho cácnhà nghiên cứu, các cơ
quan áp dụngpháp luật để giải quyết các vấn đề liên quan đến pháp luật về tặng cho
QSDĐ.
5


-Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể là một kênh tham khảo giúp các cơ quan
quản lý nhà nước, cơ quan chuyên ngành để nâng cao hiệu quả quản lý, áp dụng
thực hiện và giảm thiểu những tranh chấp không đáng có trong các vụ việc về tặng
cho QSDĐ tại thành phố Việt Trì. Ngoài ra, Luận văn còn có ý nghĩa rất lớn đối với
việc tuyên truyền, giáodục pháp luật, áp dụng pháp luật về tặng cho QSDĐ.

7.

Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, Luận văn được trình bày 3 chương như sau:
CHƯƠNG I: Một số vấn đề lý luận pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất.
CHƯƠNG II: Thực trạng pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất và thực

tiễn tặng cho quyền sử dụng đất nhìn nhận qua thực tế tại thành phố Việt Trì, tỉnh
Phú Thọ.
CHƯƠNG III: Một số giải pháp hoàn thiện và áp dụng pháp luật tặng cho
quyền sử dụng đất tại thành phố Việt Trì, Phú Thọ.

6


CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
PHÁP LUẬT VỀ TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1.1.

Khái niệm, đặc điểm về quyền sử dụng đất

1.1.1. Khái niệm quyền sử dụng đất
Kể từ Hiến pháp năm 1980 cho đến nay (Hiến pháp 2013), đều quy định:
Đất đai được quốc hữu hóa, thuộc về sở hữu của toàn dân, Nhà nước là đại diện chủ
sở hữu và được giao nhiệm vụ thống nhất quản lý. Nhà nước với tư cách đại diện sẽ
thay mặt toàn dân quản lý và phân bổ đất đai, đảm bảo điều tiết quá trình phân phối
lợi ích từ đất đai, tạo điều kiện để người dân được tiếp cận bình đẳng đối với đất đai
và xóa bỏ tình trạng một nhóm người dùng độc quyền sở hữu đất đai để bóc lột
người khác (Đ19, Đ20/ HP1980; Đ17, Đ18/ HP1992; Đ53, Đ54/ HP 2013)
Trên cơ sở hiến định đó, Luật Đất đai năm 1987, Luật Đất đai năm 1993
(sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013 đã
cụ thể hóa chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, trong đó đặc biệt là quy định về
quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu về đất đai, ví dụ
như: “Nhà nước đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và thống nhất quản lý về
đất đai” [6, Đ.1] hoặc “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ
sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất theo quy định của
Luật này” [7, Đ.44]
Đánh giá tổng quát sự khác biệt về quyền năng của Nhà nước với tư cách là
đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và người sử dụng đất với tư cách là người
trực tiếp khai thác, sử dụng đất cho thấy: “Quyền sở hữu đất đai là quyền ban đầu
(có trước), còn quyền sử dụng đất là quyền phát sinh (có sau); Quyền sở hữu đất đai
là một loại quyền trọn vẹn, đầy đủ, còn quyền sử dụng đất là một loại quyền không
trọn vẹn, không đầy đủ” [17, tr. 80]. Mặt khác, nếu nhìn ở góc độ quyền sử dụng đất
của Nhà nước và quyền sử dụng đất của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân cũng cho thấy
sự khác biệt rất rõ, đó là: “Quyền sử dụng đất đai của Nhà nước phát sinh dựa trên
cơ sở Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất đai nên quyền sử dụng đất này là vĩnh
7


viễn, trọn vẹn và không bị ai hạn chế, còn quyền sử dụng đất của người sử dụng
xuất hiện khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận chuyển quyền
sử dụng đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất... và phụ thuộc vào ý chí của Nhà
nước. Vì vậy, quyền sử dụng đất của họ bị Nhà nước hạn chế bởi diện tích, thời hạn
và mục đích sử dụng... Nếu như quyền sử dụng đất của Nhà nước mang tính gián
tiếp và trừu tượng thì ngược lại, quyền sử dụng đất của người sử dụng lại mang
tính chất trực tiếp và cụ thể” [17, tr. 82].
Tuy không đồng nhất nội hàm của khái niệm quyền sở hữu đất và quyền sử
dụng đất, nhưng trong số 05 quyền của người sử dụng đất tại Luật Đất đai năm
1993, sau đó mở rộng đến 10 quyền tại Luật Đất đai năm 2003 và 08 quyền tại Luật
Đất đai năm 2013 có nhiều quyền mang tính chất định đoạt tài sản (giống như chủ
sở hữu), nghĩa là việc thực hiện quyền dẫn đến thay đổi người sử dụng đất với tư
cách là chủ thể trực tiếp quản lý, khai thác thửa đất, đó là quyền trao đổi, tặng cho,
chuyển nhượng, góp vốn, thừa kế bằng quyền sử dụng đất. Nghiên cứu cho thấy,
mặc dù thủ tục thực hiện các quyền nêu trên của người sử dụng đất tuy phức tạp
hơn so với việc định đoạt các loại tài sản thông thường khác, nhưng nếu nhìn từ góc
độ khoa học pháp lý thì sẽ dễ dàng nhận thấy quyền của người sử dụng đất thực
chất là một tập hợp nhiều quyền năng về tài sản, trong đó bao gồm cả quyền định
đoạt. Chính vì vậy, “sáng tạo ra khái niệm quyền sử dụng đất, người Việt Nam
dường như đã tạo ra một khái niệm sở hữu kép, một khái niệm sở hữu đa tầng: Đất
đai thuộc sở hữu toàn dân, song quyền sử dụng đất lại thuộc về cá nhân hoặc tổ
chức”[42]. Sự tồn tại thiếu rõ ràng của khái niệm “sở hữu kép” cũng chính là một
trong những nguyên nhân dẫn đến quá trình thực hiện quyền dân sự của người sử
dụng đất, sự vận hành của thị trường quyền sử dụng đất ở nước ta thời gian qua đã
không phản ánh đúng bản chất khách quan và bị bóp méo bởi các quyết định mang
tính hành chính của các chủ thể có thẩm quyền tại nhiều thời điểm, trong khi yêu
cầu số một đối với dự án cải cách pháp luật dân sự, về phần liên quan đến quyền sở
hữu là phải minh định vị trí trung tâm của quyền sử dụng đất trong chế độ pháp lý

8


về sở hữu tư nhân, đặc biệt là trong chế độ pháp lý về sở hữu tư nhân đối với bất
động sản.
Nhìn từ phương diện lịch sử thì khái niệm “quyền sử dụng đất” đã được đề
cập trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật về đất đai, bắt đầu từ thập niên 70 của
thế kỷ XX với tên gọi ban đầu là “quyền quản lý và sử dụng ruộng đất”. Tuy nhiên,
đến thời điểm hiện nay, pháp luật thực định của Việt Nam vẫn chưa có định nghĩa
chính thức về nội hàm của khái niệm quyền sử dụng đất. Theo Từ điển Luật học
năm 2006 thì "quyền sử dụng đất là quyền của các chủ thể được khai thác công
dụng, hưởng hoa lợi, lợi ích từ việc sử dụng đất được Nhà nước giao, cho thuê hoặc
được chuyển giao từ chủ thể khác thông qua việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho
thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho...”. Trong khi đó, Giáo trình Luật Đất đai của
Trường Đại học Luật Hà Nội thì cho rằng: "Quyền sử dụng đất là quyền khai thác
các thuộc tính có ích của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước” [17, tr. 79].
Mặc dù nghiên cứu ở giác độ khác nhau, song nội hàm của các khái niệm về
quyền sử dụng đất nêu trên có các đặc điểm chủ yếu như: (i)Quyền sử dụng đất là
quyền khai thác giá trị của đất đai; (ii) Chủ thể thực hiện việc khai thác chính là
người sử dụng đất (tổ chức, hộ gia đình, cá nhân) và (iii) Quyền sử dụng đất không
phải là quyền sở hữu đất đai. Tuy nhiên, các định nghĩa nêu trên vẫn chưa thể hiện
được đầy đủ và rõ nét bản chất của đất đai là tài sản thuộc sở hữu của quốc gia,
nhưng khi Nhà nước đã giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất của
người dân, doanh nghiệp thì có nghĩa là những chủ thể này phải có quyền tài sản
(quyền dân sự) đối với thửa đất cụ thể. Qua theo dõi quá trình lấy ý kiến Nhân dân
về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (nay là Hiến pháp năm 2013), có nhiều ý
kiến cho rằng Nhà nước cần xem xét, công nhận quyền sở hữu tư nhân đối với đất
ở. Đồng thời, nghiên cứu quy định của pháp luật đất đai cho thấy, đối tượng các loại
đất được áp dụng chế độ pháp lý sử dụng ổn định lâu dài cũng ngày càng được mở
rộng (Điều 125 Luật Đất đai năm 2013 quy định 11 loại đất, trong đó trước tiên là
9


đất ở). Nhìn từ góc độ khoa học, loại ý kiến này phản ánh đầy đủ bản chất, phạm vi
các quyền của người sử dụng đất ở, đồng thời suy cho cùng thì việc công nhận
quyền sở hữu tư nhân về đất ở không có nghĩa là Nhà nước không có quyền thu hồi
đất, quyết định các vấn đề về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, về giá đất. Hơn nữa,
công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất ở giúp Nhà nước áp dụng cơ chế phù hợp,
hiệu quả để bảo vệ tốt hơn quyền sở hữu tư nhân theo đúng nguyên tắc Hiến định.
Loại ý kiến khác cho rằng, trong trường hợp không công nhận quyền sở hữu tư nhân
đối với đất đai thì Nhà nước cũng cần nhìn nhận quyền sử dụng đất là vật quyền
(quyền của chủ thể tác động trực tiếp tài sản, mà không phụ thuộc vào hành vi của
chủ thể khác), từ đó pháp luật có cơ chế điều chỉnh, bảo vệ phù hợp, khách quan,
chính xác.
Tiếp tục kế thừa và phát triển nội dung của các văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc, tại Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 của Hội nghị lần thứ 6 Ban
chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về
đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng đến năm
2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, Đảng ta
khẳng định quyền sử dụng đất là “một loại tài sản và hàng hoá đặc biệt, nhưng
không phải là quyền sở hữu”[8], nhìn từ góc độ khoa học pháp lý thì quyền sử
dụng đất cần được định nghĩa như sau: “Quyền sử dụng đất là quyền tài sản thuộc
sở hữu của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân phát sinh trên cơ sở quyết định giao đất,
cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
hoặc từ các giao dịch nhận chuyển quyền sử dụng đất. Việc chiếm hữu, sử dụng,
định đoạt quyền sử dụng đất phải tuân thủ các điều kiện, thủ tục do pháp luật quy
định”.[42]
1.1.2. Đặc điểm quyền sử dụng đất
Đặc điểm về quyền chủ sở hữu:Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu về đất
đai, chính vì vậy Nhà nước có đầy đủ ba quyền đối với đất đai là Quyền chiếm hữu,
10


quyền sử dụng, quyền định đoạt. Với tư cách là chủ sở hữu, Nhà nước thực hiện
chức năng chủ yếu đối với đất đai là chức năng thống nhất quản lý đối với đất đai;
chức năng điều phối đối với đất đai.
Đặc điểm về quyền sử dụng: Nhà nước trao quyền sử dụng đất đai đất lại cho
chủ sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử
dụng đất. Khi Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất, thì QSDĐ
lại được coi là một loại tài sản, cụ thể là một loại quyền tài sản.
1.1.3. Sự khác nhau giữa quyền sử dụng đất và quyền tài sản khác
Thứ nhất, về đối tượng, nếu như quyền sử dụng đất là quyền của cá nhân, tổ
chức được nhà nước giao quyền sử dụng còn thửa đất đất đó vẫn thuộc quyền sở
hữu toàn dân mà Nhà nước là người đại diện, còn trong quyền tài sản khác thì đối
tượng của nó là tài sản có thực bao gồm vật có thực thuộc quyền sở hữu đích danh
của cá nhân, tổ chức…Với tư cách là chủ sở hữu của tài sản khác mà không phải là
đất, các bên có quyền tặng cho, mua bán mà không phụ thuộc vào ý chí của người
khác. Trong khi đó quyền sử dụng đất cá nhân, tổ chức chỉ là người có quyền sử
dụng đất nên khi tặng cho, chuyển nhượng cho người khác phải được sự cho phép
của đại diện chủ sở hữu đối với thửa đất đó là Nhà nước.
Thứ hai, về hình thức, hiệu lực khi giao dịch, nếu như quyền tài sản có thể
được giao kết, thỏa thuận bằng văn bản, lời nói hoặc bằng hành vi cụ thể và thường
có hiệu lực thi hành ngay sau khi được xác lập (cam kết hoặc ký kết), trừ trường hợp
đối với tài sản đặt biệt mà Nhà nước có quy định phải được lập thành văn bản. Đối
với quyền sử dụng đất khi giao dịch phải được lập thành văn bản và chỉ có hiệu lực
thi hành sau khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép.
Thứ ba, về trách nhiệm, nghĩa vụ trước nhà nước, nếu như trong quyền tài
sản khác nêu như tài sản được giao dịch thì các bên không phải thực hiện nghĩa vụ
gì trước Nhà nước, trừ trường hợp Nhà nước quy định khi giao dịch đối với tài sản
11


phải đăng ký quyền sở hữu và nộp lệ phí trước bạ, thì đối với quyền sử dụng đất các
bên giao dịch phải tuân thủ nguyên tắc, điều kiện, trình tự, thủ tục và phải có nghĩa
vụ kê khai thuế, nộp thuế đối với thửa đất theo quy định của pháp luật.

12


1.2.

Khái niệm, đặc điểm pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất

1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của tặng cho tài sản
1.2.1.1. Khái niệm tặng cho tài sản
Bộ luật dân sự Pháp quy định việc tặng cho tài sản là một phương thức xác
lập quyền sở hữu, việc tặng cho được coi như một chứng thư tương tự như di chúc:
“Một người chỉ có thể định đoạt tài sản của mình mà không yêu cầu đền bù bằng
cách lập chứng thư tặng cho hoặc di chúc” (Điều 893 Bộ luật Dân sự Pháp) [38].
Một người đã lập chứng thư tặng cho thì không còn có cơ hội sửa đổi chứng thưđó:
“Chứng thư tặng cho là văn bản theo đó bên tặng cho từ bỏ ngay lập tức và vĩnh
viễn tài sản tặng cho cho bên được tặng và bên được tặng cho đồng ý nhận” (Điều
894 Bộ luật Dân sự Pháp) [38]. Quy định này của Bộ luật Dân sự Pháp khẳng định
tặng cho là một giao dịch mang tính chất hợp đồng, nó được thể hiện ý chí của hai
bên, bên tặng cho “đoạn tuyệt” với tài sản của mình, bên được tặng cho đồng ý nhận
tài sản đó. Như vậy, việc tặng cho tài sản được Bộ luật Dân sự Pháp quy định bắt
buộc phải lập thành văn bản, nên tính chất của hợp đồng tặng cho không bao giờ là
hợp đồng thực tế, mà luôn luôn là hình thức hợp đồng ưng thuận.
Bộ luật Dân sự Nhật Bản xác định rõ việc tặng cho tài sản là một loại hợp
đồng, hợp đồng tặng cho được ký kết thể hiện ý chí của bên tặng cho chuyển giao
quyền sở hữu tài sản mà không lấy một khoản tiền nào của bên được tặng cho và
được sự đồng ý của bên đó: “Hợp đồng có hiệu lực, khi một bên tuyên bố chuyển
giao không hoàn lại tài sản của mình cho bên kia và bên kia đồng ý nhận nó” (Điều
549 Bộ luật Dân sự Nhật Bản) [38]. Đây là một loại hợp đồng đặc thù không có
thanh toán và đơn phương, mặc dù việc chuyển giao vật cùng với quyền sở hữu
không buộc bên nhận tài sản phải thanh toán giá trị tài sản, thì việc có được tài sản
của bên được tặng cho hay việc chuyển giao nó cho người khác của bên tặng cho
cũng dẫn đến việc bắt buộc phải ký kết một hợp đồng. Đối với Bộ luật Dân sự Nhật
Bản, hợp đồng tặng cho có hiệu lực từ khi “tuyên bố”, mà không cần xác định bên
được tặng cho đã nhận tài sản hay chưa, điều này có nghĩa là hợp đồng tặng cho
theo quy định của Bộ luật Dân sự Nhật Bản cũng là hợp đồng ưng thuận.
13


Trong Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan lại xác định tặng cho như
sau: “Tặng cho là một hợp đồng trong đó một người gọi là người cho, chuyển một
tài sản của chính mình cho một người khác, gọi là người nhận mà không lấy tiền và
người nhận nhận tài sản đó” (Điều 521 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan)
[42]. Như vậy, theo Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan thì tặng cho lại là một
hợp đồng thực tế, vì pháp luật chỉ quan tâm đến việc “cho” và “nhận” không mang
tính đền bù.
Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy, Bộ luật Dân sự các nước đều đưa ra khái
niệm tặng cho tài sản là một loại hợp đồng, không có tính chất đền bù, nhưng pháp
luật của các nước có sự khác biệt về xác định tính chất, đặc điểm của hợp đồng, có
thể là hợp đồng thực tế, cũng có thể là hợp đồng ưng thuận, từ đó có sự khác biệt về
thời điểm có hiệu lực của hợp đồng, cũng như thời điểm chuyển giao quyền sở hữu
đối với tài sản...
Việt Nam cũng như một số nước trên thế giới đều quy định tặng cho tài sản
là một loại hợp đồng, trong đó có sự thỏa thuận giữa các bên. Bên tặng cho giao tài
sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho, mà không yêu cầu
đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận tài sản. Cụ thể, pháp luật quy định:
“Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thoả thuận giữa các bên về việc một bên phải giao
tài sản và chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên kia mà không yêu cầu đền bù, còn
bên kia đồng ý nhận” (Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015) [4]. Khoa học pháp lý
Việt Nam xếp tặng cho tài sản là một loại hợp đồng thông dụng có đặc điểm riêng
biệt với những loại hợp đồng thông dụng khác.
Hợp đồng tặng cho tài sản có thể là hợp đồng thực tế, có thể là hợp đồng ưng
thuận: Hợp đồng được coi là đã ký kết khi các bên chuyển giao tài sản, thời điểm
chuyển giao tài sản cũng đồng thời là thời điểm chấm dứt hợp đồng, dù hai bên đã
thỏa thuận cụ thể về đối tượng tặng cho (tiền hoặc tài sản), điều kiện và thời gian
giao tài sản tặng cho, nhưng nếu bên tặng cho chưa giao tiền hoặc tài sản cho bên
được tặng cho, thì hợp đồng tặng cho tài sản chưa được coi là xác lập. Những điều
14


đó có nghĩa là, tặng cho phải diễn ra trên thực tế, nếu hai bên chỉ lập hợp đồng để
thỏa thuận về đối tượng tài sản, về quyền và nghĩa vụ của hai bên mới chỉ coi là hứa
việc tặng cho. Việc chuyển giao tài sản cùng với quyền sở hữu phải là có thực, hợp
đồng được phát sinh và chấm dứt cùng thời điểm chuyển giao tài sản tặng cho [38].
1.2.1.2. Đặc điểm của tặng cho tài sản
Tặng cho tài sản được thực hiện thông qua hợp đồng, có thể là hợp đồng thực
tế, có thể là hợp đồng ưng thuận; tặng cho tài sản là hợp đồng đơn vụ và không có
đền bù. Song, tính chất thực tế của tặng cho luôn gắn liền với đối tượng tài sản. Đối
tượng của tài sản tặng cho có thể là động sản hay bất động sản. Hình thức và hiệu
lực của hợp đồng tặng cho phụ thuộc vào đối tượng tài sản tặng cho. Nếu đối tượng
tài sản tặng cho là động sản thì hình thức của hợp đồng có thể bằng miệng hay bằng
văn bản. Hiệu lực của hợp đồng này có thể phát sinh khi bên được tặng cho nhận tài
sản hay cũng có thể chỉ phát sinh (dù đã nhận tài sản) khi hoàn tất thủ tục đăng ký
quyền sở hữu, nếu pháp luật quy định tài sản đó phải đăng ký như ô tô, xe máy…
Nếu đối tượng của tặng cho tài sản là bất động sản thì hình thức của hợp đồng phải
lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực. Đồng thời, nếu bất động sản đó phải
đăng ký quyền sở hữu thì hợp đồng tặng cho đó còn phải đăng ký quyền sở hữu
theo quy định của pháp luật. Hợp đồng chỉ được coi là có hiệu lực kể từ thời điểm
đăng ký và làm thủ tục sang tên như tặng cho nhà, đất. Để minh chứng rằng hợp
đồng tặng cho có thể là hợp đồng thực tế, có thể là hợp đồng ưng thuận, nếu tặng
cho lập thành văn bản thì hợp đồng thường là hợp đồng ưng thuận. Tính chất ưng
thuận của hợp đồng tặng cho bằng văn bản còn được thể hiện thông qua việc pháp
luật quy định những trường hợp bên tặng cho có thể từ chối thực hiện tặng cho theo
hợp đồng [38].
Hợp đồng tặng cho có thể là hợp đồng đơn vụ, có thể là hợp đồng song vụ.
Tính chất đơn vụ được lý giải: Trong quan hệ hợp đồng này, một bên được nhận tài
sản tặng cho mà không phải thực hiện một nghĩa vụ gì đối với bên đã tặng cho (trừ
trường hợp tặng cho có điều kiện). Như vậy, hợp đồng tặng cho tài sản không phải

15


hoàn toàn bao giờ cũng là đơn vụ. Đối với hợp đồng tặng cho có điều kiện là được
coi là hợp đồng song vụ.
Hợp đồng tặng cho là một hợp đồng không có đền bù. Đặc điểm này được
thể hiện ở việc, bên tặng cho chuyển giao tài sản và quyền sở hữu cho bên được
tặng cho, còn bên được tặng cho không có nghĩa vụ trả lại cho bên tặng cho bất kỳ
lợi ích nào. Đối với những trường hợp tặng cho có điều kiện buộc người được tặng
cho phải thực hiện một công việc nào đó, tính chất pháp lý của công việc mà người
được tặng cho phải thực hiện hoàn toàn khác. Đây không phải là tính chất đền bù
trong giao dịch dân sự. Tất nhiên, chuyển giao tài sản và quyền sở hữu mà có đền
bù ngang bằng giá trị của tài sản thì trở thành mua bán tài sản, nên việc không có
đền bù là thuộc tính tạo nên bản chất và đặc điểm cơ bản của tặng cho tài sản.
Pháp luật Việt Nam cũng quy định tặng cho tài sản có điều kiện, cụ thể: “Bên
tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ dân
sự trước hoặc sau khi tặng cho. Điều kiện đó không được trái pháp luật, đạo đức xã
hội” (Khoản 1Điều 462 Bộ luật Dân sự năm 2015) [4]. Sau khi tặng cho, người tặng
cho vẫn được quyền đòi lại tài sản, đó là trường hợp “Trường hợp phải thực hiện
nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực hiện thì bên tặng cho
có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại” (khoản 3 Điều 462 Bộ luật
Dân sự năm 2015) [4].
1.2.1.3. Sự khác nhau giữa tặng cho tài sản với các loại giao dịch khác
Đối với di tặng: Giao dịch hợp đồng tặng cho đang được thực hiện thì người
tặng cho chết, hình thức của nó không phù hợp với di chúc, vì với di chúc thì không
cần người được nhận di tặng phải ký tên vào bản di chúc như đối với người được
tặng cho phải ký vào hợp đồng.
Đối với di chúc: Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa bên tặng
cho và bên được tặng cho, nếu bên được tặng cho không đồng ý nhận thì hợp đồng
tặng cho không được xác lập; còn thừa kế theo di chúc thì người lập di chúc để lại
tài sản cho người thừa kế mà không cần biết người được nhận có đồng ý hay không.
16


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×