Tải bản đầy đủ

Pháp luật về công ty TNHH hai thành viên trở lên, thực tiễn tại tỉnh quảng ninh

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TNHH HAI THÀNH VIÊN
TRỞ LÊN – THỰC TIỄN TẠI TỈNH QUẢNG NINH
NGÔ THỊ DUNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 8380107

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN QUÝ TRỌNG

HÀ NỘI - 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, toàn bộ nội
dung và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực, nếu có gì sai sót tôi
xin chịu hoàn toàn trách nhiệm.

Hà Nội, ngày tháng 10 năm 2018

Học viên

Ngô Thị Dung


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban lãnh đạo Viện Đại học Mở
Hà Nội, BCN Khoa Luật, các thầy, cô giáo Viện Đại học Mở Hà Nội.
Tôi xin bày tỏ sự kính trọng và biết ơn tới thầy TS Nguyễn Quý Trọng
– Trưởng Bộ môn Luật Thương mại, Khoa Pháp luật Kinh tế, Trường Đại học
Luật Hà Nội đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ.
Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và các đồng nghiệp đã giúp đỡ, động
viên tôi trong quá trình học tập và hoàn thành bản luận văn này.
Tác giả luận văn

Ngô Thị Dung


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLDS

: Bộ luật dân sự

BKS

: Ban kiểm soát

CTCP

: Công ty cổ phần

CTHD

: Công ty hợp danh

CTHĐTV

: Chủ tịch Hội đồng thành viên


CTTNHHMTV

: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

CTTNHHHTV

: Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên

DN

: Doanh nghiệp

ĐHĐCĐ

: Đại hội đồng cổ đông

HĐQT

: Hội đồng quản trị

HĐTV

: Hội đồng thành viên

QTCT

: Quản trị công ty

TNHH

: Trách nhiệm hữu hạn

KSV

: Kiểm soát viên



: Giám đốc

TGĐ

: Tổng giám đốc


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................1
1. Tính cấp thiết .......................................................................................................1
2. Tình hình nghiên cứu ............................................................................................3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................................................5
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn .................................................5
5. Phƣơng pháp nghiên cứu .....................................................................................6
6. Kết cấu luận văn ....................................................................................................6
Chƣơng 1 ....................................................................................................................8
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN HAI
THÀNH VIÊN TRỞ LÊN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM
HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN ............................................................8
1.1. Nhận diện công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên ....................8
1.1.1 Khái niệm công ty TNHHHTV trở lên .............................................................8
1.1.2. Dấu hiệu pháp lý cơ bản của công ty TNHHHTV trở lên .............................9
1.2. Công ty TNHHHTV trở lên – tính ƣu việt và những hạn chế .....................10
1.2.1. Ưu điểm của công ty TNHH hai thành viên trở lên ....................................11
1.2.2. Hạn chế của công ty TNHH hai thành viên trở lên ....................................13
1.3. Công ty TNHHHTV trở lên và CTCP, CTHD dƣới góc độ so sánh ...........14
1.3.1. Điểm giống nhau ............................................................................................14
1.3.2. Những điểm khác nhau cơ bản .....................................................................15
1.4. Những yếu tố tác động đến sự phát triển của công ty TNHHHTV trở lên .....15
1.5. Khái quát pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên
trở lên .......................................................................................................................19
1.5.1. Sự hình thành, phát triển của pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn
hai thành viên trở lên ở Việt Nam ...........................................................................19
1.5.2. Khái niệm pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên ......................................24
1.5.3. Cơ cấu pháp luật điều chỉnh hoạt động của công ty TNHHHTV trở lên........24


KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ........................................................................................26
Chƣơng 2 ..................................................................................................................27
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TNHHHTV TRỞ LÊN VÀ
THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI TỈNH QUẢNG NINH ..........................................27
2.1. Các quy định chủ yếu của pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên ..........27
2.1.1. Thành viên công ty. ........................................................................................27
2.1.2. Hệ thống cơ quan tổ chức, quản lý công ty TNHHHTV trở lên..................32
2.1.3. Người đại diện theo pháp luật của công ty ...................................................36
2.1.4. Quyền và nghĩa vụ của công ty ......................................................................37
2.1.5. Tổ chức lại, giải thể và phá sản công ty ........................................................38
2.1.6. Một số rủi ro pháp lý trong tổ chức, hoạt động của công ty TNHHHTV
trở lên ................................................................................................................... 44
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành
viên trở lên tại tỉnh Quảng Ninh ............................................................................46
2.2.1. Những kết quả về tổ chức và hoạt động của công ty TNHHHTV
trở lên ........................................................................................................................46
2.2.2. Một số bất cập, hạn chế về quản trị công ty TNHHHTV trở lên .................53
2.2.3. Nguyên nhân của bất cập, hạn chế về công ty TNHHHTV trở lên .............56
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ........................................................................................60
Chƣơng 3 ..................................................................................................................61
YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ..........................61
CÔNG TY TNHHHTV TRỞ LÊN Ở VIỆT NAM ..............................................61
3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên .......................61
3.1.1. Hoàn thiện pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên phải phù hợp với quan
điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ..............................................61
3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên phải xuất phát từ đặc
điểm của nền kinh tế nước ta, phù hợp với các quy định của quốc tế ..................63


3.1.3. Hoàn thiện pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên phải xuất phát từ
những hạn chế, bất cập của thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật
về công ty TNHHHTV trở lên ở Việt Nam. .............................................................65
3.1.4 Hoàn thiện pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên phải đặt trên quan
điểm hoàn thiện hệ thống pháp luật về doanh nghiệp nói chung .........................66
3.2. Những giải pháp hoàn thiện pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên ở
Việt Nam...................................................................................................................67
3.2.1. Những giải pháp chung .................................................................................67
3.2.2. Những giải pháp cụ thể .................................................................................69
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3 ........................................................................................74
KẾT LUẬN ..............................................................................................................75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................77


LỜI MỞ ĐẦU
1.

Tính cấp thiết
Công ty trách nhiệm hữu hạn là một loại hình công ty được đánh giá là có

nhiều tính ưu việt và được ưa chuộng bởi bản chất pháp lý của nó. Việc thừa nhận
loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn trong hệ thống pháp luật Việt Nam trải qua
những giai đoạn lịch sử khá lâu dài. Luật công ty (1990) chỉ quy định loại hình công
ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên (nhiều thành viên) bên cạnh loại hình công ty
cổ phần. Sự ghi nhận và bảo đảm quyền con người mà một trong những quyền đó là
quyền tự do kinh doanh đòi hỏi việc ra đời của một loại hình công ty trách nhiệm
hữu hạn là một xu thế tất yếu. Kế thừa và phát triển Luật doanh nghiệp 2005, Luật
Doanh nghiệp 2014 tiếp tục quy định công ty trách nhiệm hữu hạn bao gồm: công
yi trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên và công ty trách nhiệm hữu hạn một
thành viên.
Luật Doanh nghiệp năm 2014 với 213 điều, trong đó quy định về công ty
TNHH hai thành viên trở lên (từ Điều 47 đến Điều 72) đã có một số điểm mới về
loại công ty này. Tuy nhiên, thực tế các quy định của LDN vẫn chưa thực sự khắc
phục được những hạn chế, bất cập đối với loại hình công ty này. Điều đó thể hiện
trên những góc độ sau:
Một là, chưa làm rõ những đối tượng có quyền tham gia thành lâp, quản lý hay
góp vốn vào công ty TNHHHTV trở lên. Những quy định hiện nay tại LDN năm
2104 chưa thực sự minh bạch điều đó dẫn đến có những cách hiểu và áp dụng không
thống nhất làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của các thành viên trong công ty.
Hai là, việc “du nhập” cơ chế đại diện trước pháp luật có thể chưa thực sự phù
hợp với loại hình công ty TNHH và công ty cổ phần ở Việt Nam. Theo quy định hiện
nay và có thể được xem là một trong những điểm mới của LDN năm 2014 so với
LDN năm 2005. Tuy nhiên, cơ chế cho phép công ty TNHH và CTCP có thể có hơn
một người đại diện ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của quản trị công ty
như: việc phân quyền giữa những người là đại diện công ty, hiệu lực của các giao

1


dịch khi nhưng người đại diện công ty ký kết hay nguy cơ dẫn đến những hành động
lạm quyền của người đại diện,...
Ba là, Thực tế hiện nay cho thấy các công ty TNHH hai TV trở lên đều có
những cơ chế quản trị riêng, thiếu tính thống nhất trong tổ chức, quản lý công ty.
Những quy định về bảo vệ quyền lợi của những thành viên nhỏ, ít vốn trong công ty
chưa được đảm bảo bởi những công cụ hữu hiệu. Bản chất pháp lý công ty TNHH,
đặc biệt là công ty TNHH hai thành viên trở lên mang tính chất gia đình, dòng họ hay
bạn bè, sự gia nhập của người ngoài công ty rất hạn chế. Do đó, công ty luôn có nguy
cơ sẽ bị thâu tóm bởi các nhà đầu tư lớn trong công ty.
Bốn là, mặc dù Luật DN năm 2014 theo hướng trao quyền chủ động cho nhà
đầu tư trên nhiều phương diện, kể cả trong việc tổ chức, quản lý. Tuy nhiên, nghiên
cứu kỹ thì có thể nhận thấy rằng: khung khổ pháp lý xây dựng mô hình quản trị nội
bộ công ty thì vẫn mang tính nguyên tắc, thậm chí bắt buộc chứ không phải do ý chí
của các thành viên công ty quyết định (điều này sẽ được tác giả phân tích sâu trong
luận án). Nói cách khác, quy định mới nhưng vẫn kèm những rào cản pháp lý, hạn
chế việc phát huy các “lợi thế” của nhà đầu tư, khó nâng cao năng lực cạnh tranh của
các công ty.
Năm là, vai trò của các Hiệp hội doanh nghiệp, cộng đồng doanh nghiệp trong
việc bảo vệ quyền lợi cho các công ty chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Ví dụ,
quá trình hoạt động của Hội đồng thành viên hay giám đốc công ty có thể có những
hành vi vi phạm đi ngược lại lợi ích của công ty, tổn hại tới quyền lợi của thành viên
công ty thì có cần có sự can thiệp của các hiệp hội hay không? Mức độ can thiệp như
thế nào? Vì hiện nay theo quy định Bộ luật Hình sự năm 2015, pháp nhân thương mại
có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ranh giới những hành động của người quản lý
nhân danh vì lợi ích công ty hay không phải vì lợi ích công ty nhiều khi khó có thể
nhận diện một cách dễ dàng.
Với những lý do trên, việc tiếp tục nghiên cứu về công ty nói chung, công ty
TNHHHTV trở lên nói riêng theo quy định Luật Doanh nghiệp năm 2014 là vấn đề
mang tính cấp thiết và tính thời sự cao trong giai đoạn hiện nay.

2


Xuất phát từ nhận thức trên, tác giả đã chọn đề tài “Pháp luật về công ty trách
nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên – thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài
luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
- “Lý thuyết quản trị một cách khoa học” (Scientific Management) của
Frederich Winslow Taylor (1856-1915) và các cộng sự (Mỹ); Henri Fayol (1922):
"Quản lý công nghiệp và quản lý tổng hợp (Industrial and General Administration";
P. Fonet: "Đường xoắn ốc của những phương pháp khoa học và hiệu quả của nó
đối với quản lý công nghiệp (Papus of scientirc methods and its effect upon
industrial manngement)". Thuyết “Z” và những kỹ thuật quản trị Nhật Bản của
Wilian Gouchi và lý thuyết Kaizen của Massakiimai.
- Nghiên cứu về các nguyên tắc QTCT. Cuốn “Các nguyên tắc QTCT” (OECD
Principle of Corporate Governance) xuất bản năm 1999, Tổ chức Hợp tác và Phát
triển kinh tế (OECD); Fayol, H. (1917). General and Industrial Management.
Dunod et E. Pinat, Laura Empson (2007), Managing the Modern Law Firm: New
Challenges, New Perspectives, Oxford university press; (Quản trị công ty luật hiện
đại: Những thách thức mới và viễn cảnh mới).
- “Quản lý rủi ro là điều kiện phục vụ khách hàng tốt nhất” là nội dung cơ bản
trong các công trình nghiên cứu của David H Maister (1993), Managing the
Professional Service Firm; (Quản trị các Công ti dịch vụ chuyên nghiệp) và
Anthoni E. Davis, Peter R. Jarvis (2007), Risk Management: Survival Tools for Law
Firms; (Quản trị rủi ro: Những công cụ/phương pháp sống còn của Công ty luật).
- Các công trình nghiên cứu của Laurie Ioung (2013), Business Development
for Law Firms; (Phát triển công ty Luật) và Quin, John P., Bailei, Joseph A., David
E. Gaulin (2001), Law firm accounting and financial management, third edition;
(Quản trị tài chính và kế toán trong Công ty luật, phiên bản thứ 3)
- Nguyễn Như Phát (đồng tác giả), Luật kinh tế Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc
gia, Hà Nội, 2002.

3


- Phạm Duy Nghĩa, Chuyên khảo luật kinh tế, Nxb. Đai học quốc gia, Hà Nội,
2004.
- Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Đình Cung: “Công ty – Vốn, quản lý và tranh
chấp theo Luật doanh nghiệp 2005”, NXB Tri Thức.
- Nguyễn Thị Lan Hương: “Một số so sánh về công ty cổ phần theo Luật
Công ty Nhật Bản và Luật doanh nghiệp Việt Nam”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN,
Luật học 25 (2009), trang 87-93.
- Nguyễn Quý Trọng, “Thách thức trong quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam
– từ lý thuyết đến thực tiễn áp dụng”, tạp chí Luật học số 02/ 2014.
- Ngô Viễn Phú, “Địa vị pháp lý của Tổng giám đốc công ty cổ phần”, Tạp
chí Nhà nước và pháp luật, số 7/2005.
Bên cạnh các công trình khoa học trên nghiên cứu về công ty, về công ty
TNHHHTV trở lên còn khá nhiều công trình khác có liên quan. Mỗi một công trình
nghiên cứu tiếp cận về công ty nói chung, trong đó có Công ty TNHHHTV trở lên
ở các góc độ khác nhau, mức độ khác nhau. Đây là những tài liệu để tác giả tham
khảo trong quá trình hoàn thành bản luận văn.
2.2. Một số nhận xét tình hình nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về công ty, công ty
TNHHHTV trở lên của các tác giả được tiếp cận trên một số phương diện sau:
Thứ nhất, công ty TNHHHTV trở lên là một loại hình công ty trong hệ thống
các công ty theo quy định của hệ thống pháp luật quốc tế và quốc gia. Mỗi một loại
hình công ty tùy thuộc vào sở hữu, cấu trúc vốn hai phân chia lợi ích mà vấn đề
công ty không hoàn toàn đồng nhất với nhau, có cái chung và có cái mang tính đặc
thù phù hợp với quản lý và điều hành của công ty.
Thứ hai, Công ty TNHHHTV trở lên được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau
từ góc độ kinh tế, chính trị, lịch sử hay góc độ pháp lý. Các công trình nghiên cứu
dù đề cập mang tính khái quát hay cụ thể đều khẳng định vai trò quan trọng và
mang tính tất yếu của công ty TNHH.

4


Thứ ba, các công trình đã phân tích làm rõ những vấn đề lý luận về công ty,
công ty TNHHHTV trở lên, như: khái niệm, đặc điểm cũng như các thành tố tác
động tới hiệu quả của công ty. Đồng thời, từ thực tiễn áp dụng các quy định về công
ty theo hệ thống pháp luật và thông lệ của các quốc gia đúc rút những bài học kinh
nghiệm trong quản lý, điều hành công ty.
Trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những tư tưởng khoa học và một số vấn đề lý
thuyết từ các công trình khoa học, luận văn tiếp tục tập trung giải quyết những vấn
đề về công ty TNHHHTTV trở lên chưa được các học giả tiếp cận hoặc đã được
tiếp cận nhưng ở mức độ chưa sâu, chưa mang tính hệ thống trong các công trình
nghiên cứu.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về công ty, công ty
TNHHHTV trở lên trong mối tương quan và sự khác biệt với một số loại hình công ty
khác như CTHD, CTCP theo quy định của pháp luật Việt Nam. Luận văn tiếp cận
việc áp dụng pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên tại tỉnh Quảng Ninh để tìm ra
những điểm còn hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập đó.
Trên cơ sở đó, đề xuất yêu cầu, giải pháp hoàn thiện pháp luật về công ty TNHHHTV
trở lên ở Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
(i) Luận văn tập trung nghiên cứu chủ yếu những vấn đề lý luận về công ty,
công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên;
(ii) Lịch sử hình thành, phát triển và nội dung của pháp luật hiện hành của Việt
Nam về công ty, Công ty TNHHHTV trở lên trong mối tương quan với một số mô
hình công ty khác;
(iii) Từ thực trạng pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở
lên từ thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh, xác định những hạn chế, bất cập và nguyên nhân
của những bất cập, hạn chế đó trong quá trình áp dụng pháp luật về công ty
TNHHHTV trở lên tại Việt Nam.

5


4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu được xác định trên những
khía cạnh sau:
- Nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận về công ty (trong đó tập trung nghiên
cứu về công ty TNHHHTV trở lên theo Luật Doanh nghiệp năm 2014. Vai trò và
những yếu tố tác động tới hoạt động của công ty TNHHHTV trở lên.
- Phân tích khái quát về sự hình thành, phát triển và nội dung cơ bản các quy
định về công ty TNHHHTV trở lên;
- Nghiên cứu quy định công ty TNHHHTV trở lên để tìm ra những điểm
tương đồng và khác biệt so với một số loại hình công ty khác như CTCP, CTHD
nhằm tham khảo cho việc hoàn thiện pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên ở
Việt Nam.
- Từ việc phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về công ty TNHHHTV trở
lên, tìm ra những điểm còn hạn chế, bất cập và những nguyên nhân của các bất cập,
hạn chế đó về công ty TNHHHTV trở lên.
Về không gian, Luận văn chỉ nghiên cứu các quy định của pháp luật về công ty
(tập trung nghiên cứu công ty TNHHHTV trở lên), Về thời gian, luận văn chủ yếu
tập trung nghiên cứu về công ty TNHHHTV trở lên theo quy định của pháp luật
Việt Nam từ năm 1990 (Luật công ty) đến nay (Luật doanh nghiệp năm 2014).
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên nền tảng lý luận là các nguyên tắc và phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm của Đảng và
nhà nước ta hiện nay về công ty TNHH hai thành viên trở lên. Trên cơ sở đó, tác giả
kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học cơ bản như phương pháp tổng hợp,
phân tích, thống kê, phương pháp luật học so sánh, …trong quá trình giải quyết các
nội dung và mục tiêu đã đề ra trong luận văn.
6. Kết cấu luận văn
Bố cục của luận văn bao gồm: ngoài phần lời mở đầu, kết luận, mục lục, danh
mục từ viết tắt, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm ba chương:

6


Chương 1: Những vấn đề lý luận về công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành
viên trở lên và pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên
Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về công ty TNHHHTV trở lên – từ
thực tiễn tại tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Yêu cầu và giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật về
công ty TNHHHTV trở lên ở Việt Nam

7


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN
HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN VÀ PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY TRÁCH
NHIỆM HỮU HẠN HAI THÀNH VIÊN TRỞ LÊN
1.1. Nhận diện công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên
1.1.1 Khái niệm công ty TNHHHTV trở lên
Luật công ty (1990) quy định hai loại hình công ty, bao gồm: công ty TNHH
hai thành viên trở lên (nhiều thành viên) và CTCP. Luật công ty (1990) không quy
định công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Kế thừa và phát triển Luật doanh
nghiệp 2005, Luật Doanh nghiệp 2014 tiếp tục ba loại hình công ty, bao gồm: công
ty TNHH, CTCP và CTHD. Trong đó, công ty trách nhiệm hữu hạn bao gồm: công
ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên (CTTNHHHTV trở lên) và công ty
trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
Theo đó, công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp, trong đó:
thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá 50; thành
viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp
trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp1.
Tiếp cận khái niệm có thể nhận thấy, khái niệm về công ty TNHHHTV trở lên
được quy định tại luật Doanh nghiệp vẫn mang tính chất liệt kê về đối tượng là
thành viên, trách nhiệm của thành viên, mục đích thành lập công ty. Công ty
TNHHHTV trở lên chưa có một khái niệm chính thức mang tính toàn diện, hệ thống
và thống nhất. Tuy nhiên, các quy định của pháp luật đều xác định công ty
TNHHHTV trở lên là doanh nghiệp, mang đầy đủ bản chất pháp lý của doanh
nghiệp về tư cách pháp lý, trách nhiệm và các tài sản của doanh nghiệp. Những vấn
đề đó đảm bảo cho công ty khai sinh, hoạt động và rút lui khỏi thị trường. Đây là
những phân khúc quá trình hoạt động của công ty.

1

Điều 47 Luật Doanh nghiệp (2014).

8


1.1.2. Dấu hiệu pháp lý cơ bản của công ty TNHHHTV trở lên
Hệ thống pháp luật Anh-Mỹ và hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa đều xác
định công ty TNHHHTV trở lên là một loại hình công ty có tính chất đối vốn.
Chính tính chất này là cơ sở pháp lý, kinh tế quan trọng tạo ra sự khác biệt với loại
hình công ty có tính chất đối nhân. Công ty TNHH theo quy định của pháp luật Việt
Nam gồm công ty TNHH một thành viên (chủ sở hữu là một tổ chức hoặc một cá
nhân) và công ty TNHHHTV trở lên. Ngoài những điểm tương đồng thì giữa hai
loại công ty TNHH này có những điểm khác biệt về chủ sở hữu, về tài sản, chế độ
và quyền sở hữu tài sản, về cơ cấu tổ chức quản lý,...
Công ty TNHHHTV trở lên có những dấu hiệu pháp lý cơ bản sau:
Thứ nhất, công ty TNHHHTV trở lên là một pháp nhân. Việc tách bạch tài sản
giữa tài sản chủ hữu và tài sản công ty là vấn đề cốt lõi để xác định tổ chức kinh tế
có tư cách pháp nhân hay không. Chính vì vậy, khi tham gia thành lập công ty thì
một trong những việc mà các chủ sở hữu phải thực hiện đó là chuyển đổi sở hữu tài
sản từ sở hữu của nhà đầu tư sang sở hữu công ty. Thực tế cho thấy, doanh nghiệp
có tư cách pháp nhân hay không rất ít nhà đầu tư quan tâm. Họ chỉ quan tâm khi
doanh nghiệp đó bị tuyên bố phá sản bởi tòa án có thẩm quyền, khi đó sẽ áp dụng
các trách nhiệm thanh toán hay nghĩa vụ tài chính (trách nhiệm vô hạn hay trách
nhiệm hữu hạn). Công ty TNHHHTV trở lên là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có
trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục
đích kinh doanh. Công ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân kể từ ngày
được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Tài sản của công ty được tách
bạch với tài sản của các thành viên công ty và chủ sở hữu công ty. Đây cũng chính
là đặc điểm cơ bản của loại hình công ty đối nhân trên thế giới trên hai phương diện
chủ yếu là tư cách pháp lý và trách nhiệm.
Thứ hai, thành viên công ty TNHHHTV trở lên là cá nhân, tổ chức sở hữu một
phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty. Thành viên của công ty bao gồm là nhà đầu
tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài. Số lượng thành viên của công ty TNHHHTV trở
lên tối thiểu là hai thành viên và không vượt quá năm mươi thành viên.

9


Thứ ba, công ty chịu trách nhiệm đối với nghĩa vụ tài chính và các khoản nợ
của công ty bằng tài sản của công ty (trách nhiệm hữu hạn). Thời điểm chịu trách
nhiệm của công ty về lý thuyết là thời điểm công ty được cấp Giấy chứng nhận
đăng ký doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tế thì trách nhiệm đó được áp dụng khi công
ty bị tòa án tuyên bố bị phá sản. Các thành viên sở công ty chịu trách nhiệm về các
khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty (trừ
trường hợp khác theo quy định của pháp luật). Đối với công ty TNHHHTV trở lên,
các thành viên chưa góp vốn hoặc chưa góp đủ số vốn đã cam kết phải chịu trách
nhiệm tương ứng với phần vốn góp đã cam kết đối với các nghĩa vụ tài chính của
công ty phát sinh trong thời gian trước ngày công ty đăng ký thay đổi vốn điều lệ và
phần vốn góp của thành viên. Điều này cho thấy trong công ty TNHHHTV trở lên
có sự tách bạch tài sản giữa tài sản công ty và tài sản của các thành viên công ty.
Nguyên tắc phân tách tài sản được áp dụng trong mọi quan hệ tài sản, nợ nần và
trách nhiệm pháp lý của công ty trong quá trình hoạt động (vốn cam kết hoặc số vốn
đã góp vào công ty).
Thứ tư, công tyTNHHHTV trở lên không được phát hành cổ phiếu. Việc phát
hành cổ phiếu là một trong những hành vi nhằm tạo lập vốn ban đầu cũng như trong
quá trình hoạt động của công ty. Công ty TNHHHTV trở lên không được phát hành
cổ phần cho thấy sự gia nhập của người ngoài vào công ty bị hạn chế hơn so với
công ty cổ phần. Tuy nhiên, công ty TNHHHTV trở lên được phát hành trái phiếu
để huy động vốn khi đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật và theo điều lệ
công ty.
1.2. Công ty TNHHHTV trở lên – tính ưu việt và những hạn chế
Hoạt động của các công ty TNHHHTV trở lên đang khẳng định ưu điểm của
loại hình doanh nghiệp này nhưng đồng thời cũng bộc lộ những tồn tại, hạn chế.
Liệu loại hình công ty này có phù hợp với nền kinh tế thị trường ở nước ta hay
không? Cần thiết phải có sự tìm hiểu, nghiên cứu về công ty TNHHHTV trở lên, để
từ đó xác định hướng phát triển và cách thức vận hành phù hợp hơn với môi trường
thương mại hiện nay.

10


1.2.1.

Ưu điểm của công ty TNHH hai thành viên trở lên

Khác với đa số các loại hình công ty, công ty TNHHHTV trở lên hoàn toàn là
sản phẩm của quá trình lập pháp. Công ty TNHHHTV trở lên được xây dựng với sự
kế thừa từ các ưu điểm kết hợp của công ty cổ phần và công ty hợp danh.
Loại hình công tyTNHHHTV trở lên được du nhập vào Việt Nam và được quy
định chính thức kể từ Luật Công ty năm 1990. Tuy nhiên, từ Luật Công ty năm
1990 đến Luật Doanh nghiệp năm 2014, pháp luật vẫn không có định nghĩa cụ thể
về công ty TNHH hai thành viên trở lên. Luật doanh nghiệp chỉ nêu ra các đặc điểm
của loại hình công ty này. Công ty TNHH hai thành viên trở lên thể hiện rõ các ưu
điểm, cụ thể:
Thứ nhất, hạn chế rủi ro tài chính cho các thành viên
Tính chịu trách nhiệm hữu hạn thường được hiểu đó là nghĩa vụ của cổ đông
hai của thành viên sẽ phải trả các khoản nợ của công ty, được giới hạn chỉ trong
phạm vi số vốn đã cam kết góp vào công ty. Bên cạnh đó, TNHH còn được hiểu là
tính có giới hạn về khả năng trả nợ của các doanh nghiệp. Giới kinh doanh khá ưa
thích về chế độ TNHH, bởi đây là bảo đảm an toàn các rủi ro tài chính cho họ.
Công ty TNHHHTV trở lên là công ty có tính chất “đối vốn”. Tên gọi của
công ty này thể hiện rất rõ điều đó khi cụm từ “TNHH” vốn là đặc trưng rất cơ bản
của loại hình công ty đối vốn. Nhờ vào tính chịu TNHH nên công ty TNHH hai
thành viên trở lên cũng chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ
tài sản khác trong phạm vi khối tài sản của công ty. Còn đối với các thành viên của
công ty, thì chỉ phải chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn mà thành viên đã góp
vào công ty. Cơ chế TNHH tách bạch rõ ràng tài sản góp vào công ty với tài sản dân
sự của thành viên. Chính vì vậy, trong quá trình hoạt động, nếu xảy ra những rủi ro
thì sự gánh chịu rủi ro đó được thực hiện theo tỷ lệ mức độ góp vốn của thành viên
vào công ty. Điều này nó khác với loại doanh nghiệp một chủ sở hữu như DNTN
hay công ty TNHH một thành viên.

11


Thứ hai, về sự đồng thuận của các thành viên
Công ty TNHHHTV có số lượng thành viên không nhiều (từ hai đến năm
mươi thành viên). Thực tế cho thấy ít có công ty TNHHHTV trở lên có số lượng tối
đa năm mươi thành viên mà thường chỉ hai hoặc ba thành viên. Bên cạnh đó, việc
chuyển nhượng phần vốn của thành viên bị hạn chế và giữa các thành viên thường
có mối quan hệ thân thiết… Thông thường, giữa các thành viên của công ty đã có
mối quan hệ gần gũi, tin cậy. Bản thân các thành viên luôn giữ vai trò rất quan trọng
trong việc thành lập công ty này. Hay nói cách khác, công ty tồn tại dựa trên sự
quen biết và tin tưởng giữa các thành viên. Mối quan hệ cá nhân giữa họ là nền tảng
cho công ty. Chính từ sự hiểu biết, tin tưởng lẫn nhau giữa các thành viên nên công
ty TNHHHTV trở lên thường có sự đồng thuận, gắn bó chặt chẽ với nhau. Khi
quyết định các vấn đề của công ty sẽ dễ dàng có được sự ủng hộ, đồng tình và sự cố
gắng thực hiện từ các thành viên khác. Điều đó thể hiện công ty TNHHHTV trở lên
loại hình công ty mang tính gia đình hay dòng họ.
Thứ ba, việc tổ chức, quản lý và điều hành công ty khá đơn giản, hiệu quả
Do số lượng thành viên khá ít nên công ty TNHH hai thành viên trở lên có cơ
cấu tổ chức, quản lý điều hành khá đơn giản. Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty
bao gồm: Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng
giám đốc, Ban Kiểm soát hoặc Kiểm sát viên. Do cơ cấu tổ chức tương đối gọn nhẹ
so với CTCP nên đây cũng là một trong những yếu tố đảm bảo tổ chức, quản lý và
điều hành của công ty TNHH hai thành viên trở lên hiệu quả. Do đó, các quyết định
trong hoạt động kinh doanh của công ty được thực hiện nhanh chóng, linh hoạt và
kịp thời.
Thứ tư, là loại hình công ty lý tưởng để kinh doanh trong phạm vi nhỏ hoặc vừa
Công ty TNHH hai thành viên trở lên là loại công ty tiếp nhận những ưu điểm
của cả hai hình thức công ty đối vốn và công ty đối nhân. Nếu so với công ty cổ
phần thì công ty TNHH hai thành viên trở lên có bộ máy quản lý điều hành đơn
giản, gọn nhẹ. Công ty TNHH hai thành viên trở lên thì tính phân chia quyền lực
trong công ty theo cơ chế phân quyền minh bạch hơn (tỷ lệ vốn góp thành viên) so

12


với công ty hợp danh (tỷ lệ góp vốn hoặc thỏa thuận). Có thể thấy rằng, công ty
TNHH hai thành viên trở lên là một loại hình công ty có quy mô tổ chức tương đối
nhỏ hoặc vừa và lại có sự bảo đảm an toàn cao về mặt tài sản cho các thành viên.
Mô hình công ty TNHH hai thành viên trở lên khá thích hợp với các thương nhân có
tư tưởng kinh doanh chỉ với quy mô nhỏ hoặc vừa, đòi hỏi sự tin tưởng, quen biết
giữa các thành viên.
1.2.2.

Hạn chế của công ty TNHH hai thành viên trở lên

Bên cạnh những ưu điểm trên, công ty TNHH hai thành viên trở lên còn tồn
tại khá nhiều hạn chế.
Thứ nhất, tính an toàn về mặt pháp lý khá thấp do các thành viên được hưởng
cơ chế chịu TNHH về mặt tài sản
Với tính chất chịu TNHH về tài sản, các thành viên chỉ có nghĩa vụ trả nợ
trong phạm vi giới hạn số vốn góp. Vì vậy, trên thực tiễn kinh doanh, nhiều cá
nhân, tổ chức khi làm ăn với công ty TNHH hai thành viên trở lên đều tỏ ra khá e
dè, thận trọng. Bởi nếu các thành viên lợi dụng công ty để kinh doanh với mục đích
gian trá thì điều đó có thể mang lại rủi ro rất lớn cho khách hàng và các chủ nợ. Khi
đó, tính chịu TNHH đã trở thành bức tường che chắn cho các thành viên trước yêu
cầu đòi nợ của các bạn hàng làm ăn với công ty này. Điều này cho thấy, thực tế
nhiều công ty TNHHHTV trở lên trở thành “tấm bình phong” để một số thành viên
thực hiện hạn chế rủi ro. Vì vậy, cần thiết các chủ thể, các ngân hàng và cả người
dân, khi thỏa thuận với công ty TNHHHTV trở lên trong các giao dịch cần sự đảm
bảo, đặc biệt là sự đảm bảo về tài chính.
Thứ hai, số lượng thành viên của công ty luôn bị giới hạn
Ở nhiều quốc gia, đối với công ty TNHHHTV trở lên, pháp luật thường giới
hạn số lượng thành viên, như: theo pháp luật của Cộng hòa Liên bang Nga, số thành
viên tối đa của công ty TNHH không quá 50 người; ở Cộng hòa Nam Phi là không
quá 30 người và ở Mỹ quy định tùy theo tiểu bang. Tại Việt Nam, công ty
TNHHHTV trở lên có ít nhất 02 thành viên và tối đa không được vượt quá 50 thành
viên. Vấn đề là tại sao lại phải giới hạn số lượng tối đa của công ty TNHHHTV trở

13


lên?. Việc giới hạn số lượng đó có hạn chế quyền tự do kinh doanh của nhà đầu tư
hay không? Quy định này không có sức thuyết phục về mặt lý thuyết. Với quy định
về số lượng tối đa thành viên có lẽ sẽ làm hạn chế khả năng mở rộng và phát triển
với quy mô, thị trường của của công ty.
Thứ ba, việc chuyển nhượng phần vốn góp và cơ chế thay đổi thành viên khá
khó khăn
Một hạn chế lớn của công ty TNHHHTV trở lên là việc chuyển nhượng phần
vốn góp của các thành viên thường khó khăn. Sở dĩ như vậy là vì chính bản thân các
thành viên giữ vai trò rất quan trọng trong việc thành lập công ty. Về nguyên tắc,
thành viên có nhu cầu chuyển nhượng chỉ được chuyển nhượng vốn cho người
không phải là thành viên trong trường hợp đã chào bán phần vốn đó cho các thành
viên còn lại và chỉ khi các thành viên còn lại này của công ty không mua hoặc
không mua hết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chào bán. Điều đó cho thấy việc
chuyển nhượng phần vốn góp trong công ty TNHHHTV trở lên bị hạn chế bởi
những điều kiện nhất định. Vì vậy, công ty TNHHHTV trở lên hạn chế sự gia nhập
của người ngoài vào công ty.
Thứ tư, khó khăn trong việc huy động vốn
Công ty TNHH hai thành viên trở lên không được phép phát hành các cổ
phiếu để huy động vốn. Tuy nhiên, công ty có thể huy động vốn qua hình thức phát
hành trái phiếu khi đáp ứng các điều kiện của luật định. Việc điều chỉnh hoạt động
phát hành trái phiếu được quy được quy định ở nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
Bên cạnh đó, với số lượng thành viên bị hạn chế cũng dẫn đến việc huy động vốn
của công ty gặp nhiều khó khăn trên thực tế.
1.3. Công ty TNHHHTV trở lên và CTCP, CTHD dƣới góc độ so sánh
Công ty TNHHHTV trở lên và CTCP, CTHD có những điểm giống và khác
biệt trên một số phương diện, cụ thể:
1.3.1. Điểm giống nhau
- Công ty TNHHHTV trở lên và CTCP, CTHD là doanh nghiệp có tư cách
pháp nhân kể từ thời điểm được cấp Giấy chứng nhân đăng kí doanh nghiệp.

14


- Công ty TNHHHTV trở lên, CTCP , CTHD chịu trách nhiệm về các khoản
nợ và nghĩa vụ tài chính của công ty bằng toàn bộ tài sản của công ty (TNHH).
- Thành lập theo trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
1.3.2. Những điểm khác nhau cơ bản
Tiêu chí

Công ty TNHHHTV trở lên

Số lượng thành Tối thiểu là 02 thành viên, tối
viên
đa là 50 thành viên
Vốn điều lệ của
công ty
Chuyển chượng
vốn góp

Công ty cổ phần, công ty hợp
danh
CTCP có Ít nhất 03 cổ đông.
Luật không quy định số lượng
cổ đông, thành viên tối đa đối
với CTCP và CTHD
Tài sản CTCP được thể hiện
dưới hình thức cổ phần
Cổ động trong CTCP được tự do
chuyển nhượng cổ phần

Tài sản công ty không thể
hiện dưới hình thức cổ phần
Thành viên được chuyển
nhượng vốn góp nhưng bị hạn
chế hơn
Huy động vốn
Không được phát hành cổ CTCP được phép phát hành các
phiếu
loại chứng khoán để huy động
vốn; CTHD thì không được phát
hành cổ phiếu, trái phiếu
Cơ cấu tổ chức, Cơ cấu tổ chức, quản lý gồm: Có 2 mô hình mà các công ty cổ
quản lý
- Hội đồng thành viên.
phần có quyền chọn:
– Chủ tịch Hội đồng thành Mô hình 1: Đại hội đồng cổ
viên.
đông; Hội đồng quản trị; Giám
– Giám đốc hoặc Tổng giám đốc hoặc Tổng giám đốc; Ban
đốc.
kiểm soát (trường hợp có dưới
– Ban kiểm soát (bắt buộc nếu 11 cổ đông và các cổ đông là tổ
có từ 11 thành viên trở lên)
chức sở hữu dưới 50% tổng số
cổ phần của công ty thì không
bắt buộc phải có Ban kiểm soát).
Mô hình 2: Đại hội đồng cổ
đông; Hội đồng quản trị; Giám
đốc hoặc Tổng giám đốc; ít nhất
20% số thành viên Hội đồng
quản trị phải là thành viên độc
lập và có Ban kiểm toán nội bộ
trực thuộc Hội đồng quản trị.
1.4. Những yếu tố tác động đến sự phát triển của công ty TNHHHTV trở lên
Thứ nhất, Bản điều lệ công ty. Trong các văn kiện cấu thành công ty thì Bản
điều lệ đóng vai trò rất quan trọng khi công ty hoạt động. Bản điều lệ được coi như
là “linh hồn” của công ty. Nó được hình thành trên nền tảng của sự đồng thuận hay

15


cam kết của các thành viên. Thực tế cho thấy, do hệ thống pháp luật chưa thực sự
minh bạch, rõ ràng vì vậy các vấn đề về tổ chức, điều hành, quyền và nghĩa vụ của
các thành viên....càng cần thiết trong Bản điều lệ công ty. Bản điều lệ công ty được
coi là một trong những “cốt lõi” làm nên sự thành công của công ty. Bản điều lệ, về
mặt nguyên tắc không được trái với các quy định của pháp luật nhưng điều đó cũng
không hoàn toàn đồng nghĩa với việc Bản điều lệ của công ty chỉ là một bản sao
chép nguyên xi những điều luật. Bản điều lệ công ty được xác lập trên cơ sở cam
kết, thỏa thuận của các thành viên công ty. Bởi vậy, các quy định của điều lệ công
ty có tính chất bắt buộc thi hành với công ty và các thành viên của nó. Điều lệ công
ty không chỉ điều chỉnh các quan hệ đối nội giữa các thành viên trong công ty với
nhau, thành viên công ty với chính công ty mà còn điều chỉnh mối quan hệ đối
ngoại của công ty với những người liên quan. Do đó, một Bản điều lệ tốt cũng là
nhân tố khẳng định trình độ quản lý, khả năng phát triển công ty.
Thứ hai, cơ chế phân chia quyền lực trong công ty TNHHHTV trở lên. Cơ chế
phân chia quyền lực trong công ty TNHH tùy thuộc vào từng loại hình công ty. Cơ
cấu tổ chức, điều hành, cơ chế quản lý công ty TNHHHTV dựa trên nền tảng mà ở
đó chịu sự chi phối của những yếu tố khác nhau. Trong cơ cấu tổ chức bộ máy quản
lý trong công ty có sự phân chia quyền lực rõ ràng giữa các thành viên. Sự phân
chia quyền lực này chủ yếu phụ thuộc vào tỷ lệ vốn của thành viên trong công ty.
Đây là một điểm khác biệt với việc phân chia quyền lực trong các công ty khác,
nhất là công ty hợp danh. Đối với mô hình CTHD thì quyền đại diện cho công ty
thuộc về tất cả các thành viên hợp danh. Các thành viên hợp danh (TVHD) thống
nhất lựa chọn người đại diện cho công ty trong số các TVHD công ty. Như vậy,
việc thiết lập quyền bình đẳng giữa các TVHD đã được ghi nhận mà không phụ
thuộc vào tỷ lệ chiếm hữu vốn trong công ty nhiều hay ít. Đối với công ty
TNHHHTV trở lên có thể có hơn một người đại diện theo pháp luật. Cơ sở để minh
chứng người đại diện cho công ty được ghi nhận bằng các cơ sở pháp lý: (i) ghi
nhận tại hợp đồng thành lập công ty, (ii) ghi nhận trong Điều lệ công ty và (iii) ghi
nhận trong Giấy chứng nhân đăng ký doanh nghiệp. Công ty TNHHHTV trở lên

16


được điều chỉnh bằng các thiết chế pháp luật chung đối với doanh nghiệp, đồng thời
nó được điều chỉnh bởi các thiết chế pháp luật chuyên ngành phù hợp với lĩnh vực
ngành nghề, phong tục, tập quán, quy ước. Điều đó không chỉ tạo nên sự khác biệt
trong việc phân chia quyền lực trong công ty TNHHHTV so với các loại hình công
ty khác mà nó còn góp phần thể hiện tính chuyên nghiệp và bền vững trong tổ chức,
quản lý công ty. Điều đó thể hiện có sự khác biệt giữa công ty TNHHHTV trở lên
và công ty TNHHMTV. Công ty TNHHHTV trở lên theo cơ chế phân quyền, ngược
lại trong công ty TNHH một thành viên thì cơ chế quyền lực gắn liền và phụ thuộc
vào ý chí của chủ sở hữu công ty. Chủ sở hữu công ty có thể là một tổ chức hoặc
một cá nhân. Chủ sở hữu công ty là tổ chức có các quyền quyết định những vấn đề
quan trọng của công ty về: Điều lệ công ty, về chiến lược phát triển và kế hoạch
kinh doanh hằng năm của công ty; Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty, bổ
nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm người quản lý công ty [22]...Đối với công ty do một
cá nhân là chủ hữu thì về cơ bản các vấn đề liên quan đến sự tồn tại, phát triển của
công ty cũng phụ thuộc vào quyền của chủ công ty như: Quyết định nội dung Điều
lệ công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty; Quyết định đầu tư, kinh doanh và quản
trị nội bộ công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác; Quyết định tăng
vốn điều lệ, chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ
chức, cá nhân khác [22]...
Ba là, Cơ cấu thành viên của công tyTNHHHTV trở lên. Thành viên công ty
đồng chủ sở hữu công ty, có thể là tổ chức hoặc cá nhân. Việc phân loại thành viên
công ty căn cứ theo những tiêu chí khác nhau như: nguồn vốn đầu tư, tư cách pháp
lý hai mức độ và tỷ lệ chiếm giữ vốn góp trong công ty. Mỗi loại thành viên có
quyền và nghĩa vụ khác nhau đối với số vốn mà họ góp vào công ty khi thành lập,
tồn tại và phát triển của công ty. Đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên thì
tính chất đồng chủ sở hữu trong công ty tạo nên “xương sống” quyết định việc chia
sẻ quyền lực trong công ty cũng như tạo ra các dòng “huyết mạch” nuôi sống và
làm bền vững hoạt động công ty. Về điểm này công ty TNHHHTV trở lên khác với
công ty hợp danh. Công ty hợp danh, ngoài thành viên hợp danh (đồng chủ sở hữu

17


công ty) thì CTHD có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh của công ty
chỉ gồm các cá nhân (ít nhất là hai cá nhân). Đối với công ty TNHH một thành viên
là loại công ty một chủ sở hữu do đó các quyết định phụ thuộc vào chủ sở hữu. Chủ
sở hữu thực hiện quyền lực trong tổ chức, điều hành có thể trực tiếp hoặc thông qua
cơ chế bổ nhiệm, miễn nhiệm những người quản lý công ty từ chủ sở hữu [22].
Công ty TNHHHTV trở lên việc tổ chức, quản lý thông qua cơ quan đại diện, như
HĐTV công ty.
Bốn là, trình độ, năng lực lãnh đạo, đạo đức kinh doanh và trách nhiệm của
người quản lý công ty. Trình đô, năng lực của người quản lý góp phần rất lớn trong
tổ chức, điều hành công ty. Sự hướng tới chuyên môn hóa và chuyên nghiệp hóa
trong lãnh đạo công ty là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, hướng tới một nền thương
mại công bằng không chỉ trong một quốc gia, khu vực mà nó còn mang tính toàn
cầu thì yêu cầu đòi hỏi từ những người quản lý công ty nói chung, công ty
TNHHHTV trở lên nói riêng không chỉ trình độ, năng lực, sự cẩn trọng, trung
thành, mẫn cán mà còn ở đạo đức kinh doanh của họ đối với cộng đồng, xã hội và
mang tính nhân văn.
Năm là, minh bạch hóa thông tin công ty.
Thông tin luôn đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh vì nó quyết định đến
quá trình phát triển của mỗi doanh nghiệp. Một điều có thể nhận thấy rằng: các
thông tin trung thực cũng chính là tấm gương phản chiếu tình hình kinh doanh của
công ty, là động lực để các công ty hoàn thiện chế độ quản trị, phát triển thương
hiệu và nâng cao hiệu quả.
Để chuyển hóa việc tiếp cận thông tin thành cơ hội kinh doanh, bản thân
những nhà quản lý công ty cần tăng cường hơn nữa sự gắn kết lẫn nhau và với các
nhân viên công ty. Đối với người quản lý công ty cần công khai, minh bạch, bình
đẳng, chứ không cung cấp theo kiểu ban phát hay xin cho, thiên vị, các nhân viên
công ty cũng cần phải chủ động, mạnh dạn tiếp cận thông tin thực hiện theo các
quyền của mình theo quy định của pháp luật và điều lệ công ty. Việc minh bạch hóa
thông tin trong công ty TNHHHTV trở lên là một vấn đề quan trọng đảm bảo sự

18


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×