Tải bản đầy đủ

Bài thảo luận vĩ mô: Phân tích các yếu tố tác động đến tỷ giá hối đoái và ảnh hưởng của tỷ giá đối hoái

BÁO CÁO THẢO LUẬN
MÔN KINH TẾ VĨ MÔ I

Đề Tài: Phân tích các yếu tố tác động đến tỷ giá hối đoái và
ảnh hưởng của tỷ giá đối hoái đến hoạt động xuất nhập khẩu của
một quốc gia. Hãy phân tích tình hình biến động tỷ giá VND/USD
trong 4 năm 2015-2018 và cho biết sự thay đổi này tác động như thế
nào đến cán cân thương mại của Việt Nam.

Nhóm: 9

Năm 2019


MỤC LỤC
Lời mở đầu
Phần I: Tổng quan lý thuyết
1. Tỷ giá hối đoái
1.1.Khái niệm
1.2.Tỷ giá hối đoái danh nghĩa
1.3.Tỷ giá hối đoái thực tế

2. Thị trường ngoại hối
2.1.Cầu tiền trên thị trường ngoại hối
2.2.Cung tiền trên thị trường ngoại hối
2.3.Trạng thái cân bằng
3. Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái
4. Ảnh hưởng của tỷ giá đến hoạt động xuất nhập khẩu của quốc gia
5. Các hệ thống tỷ giá hối đoái
Phần II: Tình hình biến động tỷ giá VND/USD và tác động đến cán cân thương
mại của Việt Nam
1. Tình hình biến động tỷ giá VND/USD trong vòng 4 năm 2015-2018
2. Tác động của tỷ giá đến cán cân thương mại của Việt Nam
2.1. Tác động cụ thể
2.2. Giải pháp đề xuất
Phần III: Kết luận rút ra từ nghiên cứu

Tài liệu tham khảo

Lời mở đầu


Với sự phát triển nhanh chóng cũng như sự biến động không ngừng của nền kinh tế
thế giới thì mối quan hệ giữa các quốc gia là vấn đề được đặt lên hàng đầu, do đó vấn đề
thanh toán, định giá, so sánh, phân tích về giá trị của tiền tệ cũng được quan tâm hơn bao
giờ hết. Đơn vị thanh toán hiện nay không chỉ là tiền tệ trong một quốc gia độc lập, riêng
lẻ mà còn phải sử dụng các loại ngoại tệ khác nhau liên quan đến việc trao đổi tiền tệ với
nước khác. Tiền của mỗi quốc gia được quy định và lưu thông tuân theo pháp luật của
nước đó và đặc điểm riêng của nó, vì vậy phát sinh nhu cầu tất yếu là phải so sánh giá trị,
sức mua của đồng tiền trong nước với ngoại tệ và giữa các ngoại tệ với nhau. Chính vì
những mục đích như vậy đã làm nảy sinh phạm trù tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoán, như các nhà kinh tế thường gọi là một loại ‘giá của giá’, bị chi phối
bởi nhiều yếu tố và rất khó nắm bắt vì nó liên quan đến rất nhiều những yếu tố trong nền
kinh tế: cung cầu ngoại hối, lãi suất, lạm phát, cán cân thanh toán,... Tỷ giá hối đoái
không chỉ là một lý thuyết tĩnh, mà là cái mà con người cần phải tiếp cận hàng ngày, hàng
giờ, sử dụng nó trong mọi quan hệ giao dịch quốc tế, trong những vấn đề cụ thể liên
quan đến các chính sách kinh tế trong nước và quốc tế.
Mặc dù biến động của tỷ giá hối đoái là vô cùng phức tạp song tỷ giá luôn là đề tài
hấp dẫn đối với giới nghiên cứu kinh tế cũng như các nhà quan sát vĩ mô trong bối cảnh
tự do hóa thương mại hiện nay.
Việt Nam đang bước những bước đi vô cùng thận trọng và vững chắc trên con đường
vận dụng lý thuyết vào thực tiễn, trong đó tỷ giá hối đoái sẽ là một công cụ hữu hiệu, một


liều thuốc cứu cánh cho sự phát triển của thương mại, ngoại giao của dân tộc.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, nhóm chúng em đã chọn đề tài của mình là “Phân
tích các yếu tố tác động đến tỷ giá hối đoái và ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến hoạt
động xuất nhập khẩu của một quốc gia. Phân tích tình hình biến động tỷ giá VND/USD
trong vòng 4 năm 2015-2018 và cho biết sự thay đổi này tác động như thế nào đến cán
cân thương mại của Việt Nam”.

PHẦN I: Tổng quan lý thuyết


1.Tỷ giá hối đoái
1.1. Khái niệm
Tỷ giá hối đoái (còn được gọi là tỷ giá trao đổi ngoại tệ) giữa hai tiền tệ là tỷ giá mà
tại đó một đồng tiền này sẽ được trao đổi cho một đồng tiền khác. Nó cũng được coi là
giá cả đồng tiền của một quốc gia được biểu hiện bởi một tiền tệ khác. Ví dụ, một tỷ giá
hối đoái liên ngân hàng của yên Nhật (JPY, ¥) với đô la Hoa Kỳ (USD$) là 91 có nghĩa là
91 Yên sẽ được trao đổi cho 1 USD hoặc 1 USD sẽ đổi được 91 Yên. Gọi là giá cả vì Tỷ
giá hối đoái được xác định trong thị trường ngoại hối rộng mở cho một loạt loại người
mua và người bán khác nhau nơi việc trao đổi tiền tệ là liên tục.
1.2.Tỷ giá hối đoái danh nghĩa
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (nominal exchange rate – NER) là tỷ lệ trao đổi giữa các
đồng tiền với nhau mà ta có thể dễ dàng nhận ra thông qua nhiều thông tin có thể quan sát
được. Với tỷ giá song phương (giữa hai quốc gia) có thể chào dưới hai dạng:
+ Dạng 1: e là TGHĐ của đồng nội tệ tính theo ngoại tệ (yết giá gián tiếp)
e () = ()
+ Dạng 2: E là TGHĐ của đồng ngoại tệ tính theo nội tệ (yết giá trực tiếp)
E () = 23200
Ở các quốc gia có đồng tiền mạnh (Ví dụ: Anh, Mỹ) thuật ngữ TGHĐ danh nghĩa
được hiểu theo cách thứ nhất là số lượng đơn vị ngoại tệ cần thiết để mua một đơn vị nội
tệ.
Tuy nhiên, thông thường tỷ giá hối đoái danh nghĩa được ngầm hiểu ngược lại là số
lượng đơn vị tiền nội tệ cần thiết để mua một đơn vị ngoại tệ. Ví dụ như ở Việt Nam , tỷ
giá hối đoái đồng Việt Nam do Ngân hàng Ngoại thương công bố là theo thông lệ quốc
tế: số đơn vị tiền đồng Việt Nam cần thiết để mua một đơn vị tiền nước ngoài chẳng hạn
23.000đ/USD
1.3.Tỷ giá hối đoái thực tế
Tỷ giá hối đoái thực tế là tỷ lệ trao đổi hàng hóa giữa hai quốc gia tức là số hàng hóa
nước ngoài đổi lấy một hàng hóa tương tự trong nước.Tỷ giá hối đoái danh nghĩa được
tính bằng tỷ giá hối đoái danh nghĩa nhân với tỷ số giá cả của hai quốc gia. Công thức là:
e r= e n
Trong đó: Pf là giá sản phẩm sản xuất ra ở nước ngoài tính theo giá nước ngoài.
Pd là sản phẩn cùng loại sản xuất ra ở trong nước tính theo đồng nội tệ
Theo ý nghĩa đó, chúng ta cũng có thể hiểu rằng e r chính là tỷ số giữa giá hàng
hóa nước ngoài so với giá hàng hóa trong nước (đã được quy về cùng đơn vị tiền tệ). Giá


trị của er được tính cho quốc gia sẽ theo dạng chỉ số vì cả P d, Pf và e đều được tính bằng
chỉ số. Nếu er= 1 có nghĩa là các hàng hóa này ngang giá nhau. e r > 1 thì hàng hóa nước
ngoài mắc hơn một cách tương đối so với hàng hóa trong nước (hay ta nói đồng tiền nước
này bị định giá thấp). Ngược lại,er < 1 có nghĩa giá hàng hóa nước ngoài rẻ hơn một cách
tương đối so với hàng hóa trong nước (đồng tiền nước này bị định giá cao).
2. Thị trường ngoại hối
Ít ai biết rằng, thị trường ngoại hối đã xuất hiện từ thuở sơ khai. Tại thời điểm đó,
việc trao đổi mua bán ngoại tệ diễn ra khá đơn giản nhờ vào quan hệ cung cầu. Cho đến
nay, nó dần trở nên phức tạp hơn và cái nhìn về thị trường tiền tỷ ngày càng mở rộng.vậy
thị trường ngoại khối là gì ? Thị trường ngoại khối là nơi diễn ra các hoạt động mua bán
và trao đổi tiền tệ thông qua quan hệ cung cầu, là nơi mà các nhà giao dịch có thể mua
bán các loại tiền tệ trên thế giới. Đây là một thị trường với khối lượng giao dịch mỗi ngày
lên đến hàng nghìn tỷ đô la. Việc trao đổi ngoại tệ diễn ra ngày lẫn đêm, trừ những ngày
cuối tuần.
Việc trao đổi bao gồm việc mua một đồng tiền này và đồng thời bán một đồng tiền
khác, các đồng tiền được trao đổi từng cặp với nhau. Ví dụ: USD/VND, USD/CNY,…
Dưới đây, hãy xem xét tỷ giá đối đoái được xác định như thế nào trên thị trường ngoại
hối.
2.1. Cầu tiền trên thị trường ngoại khối
Xuất hiện cầu về tiền của nước A trên thị trường ngoại khối là khi dân cư của các
nước khác mua hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra ở nước A hoặc đầu tư vào nước A.
Các hãng sản xuất và những người làm công sản xuất ra hàng hóa phải được chi trả bằng
tiền của nước A, điều này đòi hỏi người mua là những người nước ngoài phải mua tiền
trong thị trường ngoại hối. Một nước xuất khẩu càng nhiều thì cầu đối với đồng tiền nước
đó càng lớn trên thị trường ngoại hối ( thị trường quốc tế ).
Hình 1: Đồ thị cầu tiền trên thị trường ngoại hối




Như vậy, TGHĐ có quan hệ tỷ lệ nghịch với lượng cầu về tiền:
 Khi tỷ giá hối đoái giảm thì hàng hóa trở lên rẻ hơn đối với những người nước
ngoài và hàng hóa được xuất khẩu nhiều hơn dẫn đến nhu cầu về tiền (VND) trên
thị trường ngoại hối tăng
 Khi tỷ giá hối đoái tăng thì hàng hóa càng trở lên đắt hơn đối với những người
nước ngoài và càng ít hàng hóa được xuất khẩu hơn dẫn đến nhu cầu về tiền
(VND) trên thị trường ngoại hối giảm.

2.2. Cung tiền trên thị trường ngoại hối
Tiền của một đất nước được cung ứng ra các thị trường ngoại tệ quốc tê khi người dân
trong nước mua hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra ở nước khác. Để nhân dân nước A mua
được các sản phẩm sản xuất ở nước B, họ phải mua một khoảng tiền đủ lớn của nước B,
bằng việc dùng tiền của nước A để trả. Lượng tiền của nước A khi ấy bước vào thị trường
tiền tệ quốc tế. Một nước nhập khẩu càng nhiều thì đồng tiền của nước ấy sẽ được đưa
vào thị trường quốc tế càng nhiều
Hình 2: Đồ thị cung tiền trên thị trường ngoại khối


 TGHĐ có quan hệ tỷ lệ thuận với lượng cung tiền trên thị trường ngoại khối
 Khi tỷ giá hối đoái giảm thì hàng hóa nước ngoài càng đắt và hàng hóa ngoại
nhập được nhập khẩu ít vào nước dẫn đến cung về tiền (VND) trên thị trường ngoại
hối giảm
 Khi tỷ giá hối đoái tăng thì hàng hóa nước ngoài càng rẻ và hàng hóa ngoại được
nhập khẩu vào nước càng nhiều dẫn đến cung về tiền (VND) trên thị trường ngoại hối
tăng.
2.3. Trạng thái cân bằng
Kết hợp cung cầu nội tệ trên thị trường ngoại khối ta sẽ xác định được trạng thái cân
bằng của thị trường ngoại hối.
Hình 3:

Trong đó: eo là tỷ giá nội tệ cân bằng


Qo là lương VND cân bằng
Tại eo lương cung VND đúng bằng lượng cầu VND của thị trường ngoại hối.
Khi tỷ giá là e1 > e0 thì
Xuất khẩu giảm nên lượng cầu VND giảm (A)
Nhập khẩu tăng nên lượng cung VND tăng (B)
Vậy, trên thị trường ngoại hối đồng VND dư cung dẫn đến tạo áp lực làm giảm giá
VND, tức là tỷ giá hối đoái sẽ giảm xuống e0.
 Khi tỷ giá e2 < e0 thì

Xuất khẩu tăng và tăng lượng cầu VND (N)

Nhập khẩu giảm và giảm lượng cung VND (M)
Vây, trên thị trường ngoại hối đồng VND dư cầu dẫn đến tạo áp lực tăng giá VND,
tức là tỷ giá hối đoái tăng lên đến e0.





3.

Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái
Hình 4:

Các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái cũng chính là nguyên nhân dẫn đến dịch
chuyển đường cung - cầu trên thị trường ngoại hối. Có các nguyên nhân chủ yếu sau
 Cán cân thương mại: trong điều kiện khác không đổi, nếu nhập khẩu của một nước
tăng thì đường cung về tiền tệ của nước ấy sẽ dịch chuyển sang phía phải.
 Tỷ lệ lạm phát tương đối: nếu tỷ lệ lạm phát của một nước cao hơn tỷ lệ lạm phát của
một nước khác thì nước đó sẽ cần nhiều tiền hơn để mua một lượng tiền nhất định của
nước kia. Điều làm cho đường cung tiền dịch chuyển sang phải và tỷ giá hối đoái giảm
xuống.


 Dòng vận động của vốn: Khi người nước ngoài mua tài sản tài chính, lãi xuất có ảnh
hưởng mạnh. Khi lãi xuất của một nước tăng lên một cách tương đối so với nước khác,
thì các tài sản của nó tạo ra tỷ lệ tiền lời cao hơn và có nhiều người dân nước ngoài muốn
mua các tài sản ấy. Điều đó làm cho đường cầu về tiền của nước đó dịch chuyển sang
phải và làm tăng tỷ giá hối đoái của nó. Đây là một trong những ảnh hưởng quan trọng
nhất tới tỷ giá hối đoái ở các nước phát triển cao.
 Nhu cầu đầu cơ tích trữ ngoại tệ: Tất cả đều có thể làm dịch chuyển các đường cung
và cầu ngoại tệ. Đầu cơ có thể gây ra những thay đổi lớn về tiền, đặc biệt trong điều kện
thông tin liên lạc hiện đại và công nghệ máy tính hiện đại có thể trao đổi hàng tỷ đôla giá
trị tiền tệ mỗi ngày.
Trên đây là 4 nguyên nhân cơ bản gây nên dịch chuyển các đường cung, cầu trên thị
trường ngoại hối. Sự dịch chuyển này đến lượt nó sẽ gây nên những dao động của tỷ giá
hối đoái lại tác động nền kinh tế trong nước
4. Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến hoạt động xuất nhập khẩu của quốc gia
 Ta xét mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại
Như ta đã biết, cán cân thương mại hay xuất khẩu ròng được xác định theo công
thức:
NX = X – IM
(*)
Từ (*) ta thấy cán cân thương mại thặng dư khi xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu (X >
IM) và thâm hụt khi nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu ( IM > X).
Tỷ giá hối đoái là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến xuất ròng (NX). Thật vậy: Tỷ giá
hối đoái tác động đến khả năng cạnh tranh của các sản phẩm trên thị trường quốc tế. Một
khi giá cả sản phẩm nội địa rẻ tương đối so với sản phẩm cùng loại trên thị trường quốc
tế, thì khả năng cạnh tranh tăng lên, xuất khẩu do đó có xu hướng tăng lên
 Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái đến xuất khẩu ròng
Tỷ giá hối đoái thực tế có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động xuất, nhập khẩu vì
nó thể hiện sự cạnh tranh quốc tế giữa hàng hóa các nước. Tỷ giá hối đoái thực tế = (Tỷ
giá hối đoái danh nghĩa* giá hàng nội)/ giá hàng ngoại.
- Khi tỷ giá hối đoái thực tế cao là hàng hóa của nước đó sẽ trở nên tương đối đắt đối
với người nước ngoài dẫn đến cầu đối vơí hàng hóa nội địa của người nước ngoài sẽ ít
hơn khiến gỉảm xuất khẩu đồng thời hàng ngoại trở nên tương đối rẻ đối với người nội
địa, do đó, gia tăng nhập khẩu làm xuất khẩu ròng giảm.
- Khi tỷ giá hối đoái thực tế thấp có nghĩa là hàng nội trở nên tương đối rẻ đối
với người nuớc ngoài dẫn đến cầu đối với hàng hóa nội địa của người nước ngoài sẽ
gia tăng, lúc này, xuất khẩu gia tăng đồng thời giá hàng hóa nước ngoài cũng trở nên
đắt hơn và giảm nhập khẩu. Khi này xuất khẩu ròng tăng.



Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực tế và xuất khẩu ròng , tỷ giá hối đoái thực tế
càng thấp, hàng nội càng tương đối rẻ so với hàng ngoại, do đó xuất khẩu ròng của chúng
ta càng cao và ngược lại.
Khi tỷ giá của một quốc gia biến động sẽ gây tác động đầu tiên đến các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu.Khi tỷ giá tăng ( nội tệ giảm giá) gây tác động tiêu cực cho các doanh
nghiệp nhập khẩu và ngược lại khi tỷ giá giảm ( nội tệ lên giá) gây tác động xấu đến các
doanh nghiệp xuất khẩu.
Tỷ giá thay đổi cũng có tác động điều tiết việc di chuyển tư bản(vốn) từ quốc gia này
sang quốc gia khác. Việc di chuyển tư bản trên thế giới nhằm mục đích kiếm lợi nhuận và
phòng ngừa rủi ro. Do đó nếu tỷ giá giảm trong trường hợp người ta dự đoán tỷ giá đó
không tiếp tục giảm nữa thì tư bản nhập khẩu sẽ gia tăng , tư bản xuất khẩu sẽ
giảm.
5.
Các hệ thống tỷ giá hối đoái
Có nhiều kiểu hệ thống đã được dùng để thiết lập các tỷ giá hối đoái như: các hệ
thống tỷ giá cố định, các hệ thống tỷ giá thà nổi ( các tỷ giá thị trường linh hoạt) và các tỷ
giá thả nổi có quản lý:
 Hệ thống tỷ giá cố định
Một quốc gia thi hành chế độ tỷ giá cố định tức là neo đồng tiền của mình vào
vàng, vào một đồng tiền nào đó hoặc một nhóm các đồng tiền. Sự duy trì chế độ tỷ giá
cố định hết sức khó khăn, nó đôi khi đòi hỏi tiềm lực rất lớn từ phía chính phủ và
NHNN. Khi đồng nội tệ bị định giá thấp, NHTN phải mua nội tệ và bán ngoại tệ.Việc
làm này dẫn đến sự thu hẹp mức cung nội tệ và tăng cung ngoại tệ từ đó ổn định được
tỷ giá nhưng sẽ dẫn đến mất dự trữ ngoại hối. Tương tự như vậy, khi có dấu hiệu làm
tăng giá nội tệ, chính phủ sẽ bán đồng nội tệ để thu ngoại tệ và kết quả sẽ là ổn định
được tỷ giá.
Trong chế độ tỷ giá cố định thuộc hệ thống Bretton woods, người ta coi tỷ giá chỉ
được thay đổi khi một nước bị mất cân bằng cơ bản, nghĩa là cán cân thanh toán bị
thiếu hụt hay thặng dư dai dẳng. Để duy trì tỷ giá cố định khi mà các nước bị thiếu hụt
cán cân thanh toán và bị mất dự trữ quốc tế thì IMF sẽ cho vay dự trữ quốc tế do các
nước thành viên khác đóng góp.
Kết quả là IMF có quyền quyết định các điều kiện cho vay với các nước đi vay, có
thể khuyến khích các nước bị thiếu hụt theo đuổi chính sách tiền tệ thắt chặt, những
chính sách sẽ làm cho đồng tiền của nước đó vững mạnh lên hoặc sẽ thủ tiêu được sự
thiếu hụt của cán cân thanh toán. Nếu những khoản cho vay đó không ngăn chặn được
sự sụt giảm của đồng tiền, thì nước đi vay thiếu hụt được phép phá giá đồng tiền nước
mình bằng cách ấn định một tỷ giá mới thấp hơn.
 Hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi (linh hoạt)


Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn là chế độ, trong đó tỷ giá được xác định hoàn toàn
tự do theo quy luật cung cầu trên thị trường ngoại hối mà không có bất cứ sự can thiệp
nào của NHTW. Trong chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn, sự biến động của tỷ giá luôn
phản ánh những thay đổi trong quan hệ cung cầu trên thị trường ngoại hối.
Chính phủ tham gia thị trường ngoại hối với tư cách là một thành viên bình thường,
nghĩa là chính phủ có thể mua vào hay bán ra một đồng tiền nhất định để phục vụ cho
mục đích hoạt động của chính phủ chứ không nhằm mục đích can thiệp ảnh hưởng lên
tỷ giá hay để cố định tỷ giá.
 Hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi có quản lý
Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý là một chế độ tỷ giá hối đoái nằm giữa hai chế độ
thả nổi và cố định. Mặc dù lý thuyết nói chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi tốt hơn, nhưng
trong thực tế không có một đồng tiền nào được thả nổi hoàn toàn, vì nó quá bất ổn định.
Tuy chế độ tỷ giá hối đoái cố định tạo ra sự ổn định, song việc thực hiện các biện pháp
chính sách nhằm giữ cho tỷ giá hối đoái cố định tương đối khó khăn và tốn kém, và trên
hết là chế độ này làm cho chính sách tiền tệ trở nên vô hiệu lực. Chính vì thế, chỉ một số
ít đồng tiền trên thế giới sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định. Hầu hết các đồng tiền
trên thế giới sử dụng chế độ tỷ giá thả nổi, nhưng chính phủ sẽ can thiệp để tỷ giá không
hoàn toàn phản ứng theo thị trường.
 Hệ thống tỷ giá hối đoái cố định có điều chỉnh
Theo chế độ này, chính phủ không để ngoại tệ trôi nổi tự do, mà can thiệp vào thị
trường ngoại tệ bằng cách mua bán ngoại tệ nhằm ổn định tỷ giá qui định. Sau mỗi thời
gian nhất định, mức tỷ giá hối đoái lại được điều chỉnh cho phù hợp và duy trì ổn định.
Phần II: Tình hình biến động tỷ giá VND/USD và tác động đến cán cân thương mại
của Việt Nam
1. Tình hình biến động tỷ giá VND/USD trong vòng 4 năm 2015-2018
Năm 2015,
Tổng cục Thống kê nhận định: “năm 2015, mặc dù có rất nhiều áp lực đối với thị
trường ngoại hối nhưng nhờ sự điều hành hiệu quả của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
nên tỷ giá USD bình quân chỉ tăng 3,16% so với năm 2014.”
Riêng trong tháng 12, tỷ giá đô la Mỹ đã tăng 0,69% so với tháng 11. Nguyên nhân
được Báo cáo đưa ra là do áp lực tăng tỷ giá từ việc Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) tăng
lãi suất 0,25% cùng với việc nhu cầu thanh toán cuối năm của các doanh nghiệp xuất
nhập khẩu.


Tuy nhiên, giá vàng lại ở diễn biến giảm theo biến động của thế giới. Theo các
chuyên gia quốc tế, giá vàng thế giới đang chịu sức ép giảm giá trước khả năng Cục Dự
trữ liên bang Mỹ (FED) tăng lãi suất, nền kinh tế lớn nhất thế giới tiếp tục có những dấu
hiệu khả quan đã khiến các nhà đầu tư rút tiền khỏi kim loại quý này.
Nhưng trên thực tế, giá vàng trong nước vẫn giảm chậm hơn giá vàng thế giới, khoảng
cách giá giữa hai thị trường lên tới trên 4 triệu đồng/lượng. Bình quân giá vàng trong
nước (ngày 15/12) dao động quanh mức 3,3 triệu đồng/chỉ vàng SJC.
Phân tích diễn biến tỷ giá trong nước, năm 2015 đây là một năm có nhiều biến động
về tỷ giá do USD tăng giá, mà nguyên nhân bắt nguồn từ sự kỳ vọng Cục Dự Trữ liên
bang Mỹ (Fed) điều chỉnh tăng lãi suất thêm vào đó là việc Trung Quốc bất ngờ điều
chỉnh mạnh tỷ giá đồng Nhân dân tệ kéo theo làn sóng giảm giá mạnh của các đồng tiền
vốn là các đối tác thương mại chính của Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã
chủ động, linh hoạt trong điều hành để đưa ra những giải pháp phù hợp với điều kiện,
tình hình mới.Cụ thể, khi Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc bất ngờ phá giá đồng Nhân
dân tệ (ngày 11/8 và 12/8), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã điều chỉnh biên độ tỷ giá
giữa VND và USD tăng từ +/-1% lên +/-2%.Tiếp đó, để tiếp tục chủ động dẫn dắt thị
trường, xóa bỏ tâm lý kỳ vọng, đón đầu các tác động bất lợi của khả năng Fed tăng lãi
suất và biến động của thị trường tài chính thế giới, ngày 19/8, Ngân hàng Nhà nước Việt
Nam đã điều chỉnh tỷ giá bình quân liên ngân hàng giữa VND và USD thêm 1%, đồng
thời mở rộng biên độ tỷ giá từ +/-2% lên +/-3%. Việc điều chỉnh này nhằm trung hòa, bảo
vệ nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài. Kết quả là tỷ giá và thị trường ngoại hối đã
nhanh chóng đi vào ổn định, tâm lý thị trường được giải tỏa.
Ngân hàng Nhà nước đã có những bước đi và giải pháp sáng tạo nhằm hạn chế hoạt động
đầu cơ đồng USD trên thị trường, như việc giảm lãi suất đối với đồng USD nhằm tăng
tính hấp dẫn của tiền đồng.
Năm 2016,
Sau khi tăng 3% trong cả năm 2015, tỷ giá USD/VNĐ đã có một năm 2016 được
đánh giá khá ổn định, mặc dù thị trường tài chính quốc tế đã biến động mạnh mẽ trong
bối cảnh nhiều sự kiện địa chính trị thay đổi, trong khi nền kinh tế trong nước cũng trải
qua một năm nhiều thăng trầm đáng chú ý. Chúng ta cùng nhìn lại những điểm đáng chú
ý trên thị trường ngoại hối năm 2016.
Trong năm 2016 có những đợt tỷ giá USD/VNĐ biến động mạnh đáng chú ý, khiến
giao dịch mua bán tại các ngân hàng cũng như ngoài thị trường tự do tăng mạnh với
chênh lệch giá mua và bán bị giãn rộng ra so với mức bình thường. Cụ thể, có 4 đợt là
vào tháng 5, giai đoạn nửa cuối tháng 8 đến nửa đầu tháng 9, giai đoạn tháng 10 và giai
đoạn từ ngày 09/11 đến đầu tháng 12.


Trong tháng 5, tỷ giá trung tâm tăng thêm 97 đồng do các quan chức Fed phát đi tín
hiệu sẽ tăng lãi suất vào tháng 6 và từ việc NHNN mở lại cửa vay ngoại tệ từ 1/6/2016
qua thông tư 07/2016/TT-NHNN. Sau đó tỷ giá đã có giai đoạn giảm trở lại do thực tế
Fed đã tiếp tục trì hoãn việc tăng lãi suất do lo ngại những bất ổn và khủng hoảng tăng
lên sau khi Anh rời khỏi Liên minh châu Âu thông qua cuộc trưng cầu dân ý vào ngày
23/6/2016.
Tiếp đến giai đoạn từ nửa cuối tháng 8 đến nửa đầu tháng 9, tỷ giá đã tăng nhanh
trước kỳ vọng Fed sẽ tăng lãi suất trong cuộc họp vào 14/9. Cụ thể từ ngày 14/8 đến ngày
14/9 tỷ giá đã tăng thêm 118 đồng. Mặc dù tỷ giá sau đó có giảm trở lại nhưng cũng chỉ
đến cuối tháng 9 và mức giảm rất thấp. Với tăng trưởng tín dụng ngoại tệ có dấu hiệu
tăng trở lại, lãi suất tiền gửi VNĐ giảm mạnh tại các NHTM nhà nước vào cuối tháng 9
và kinh tế Mỹ khởi sắc hỗ trợ đồng USD đi lênh mạnh mẽ thì tỷ giá trong nước lại lầm lũi
đi lên trong tháng 10, với mức tăng trong tháng này là 90 đồng. Theo NHNN, tăng trưởng
tín dụng ngoại tệ đến 30/9 đã tăng vọt lên 5.44% so đầu năm, trong khi trước đó cuối
tháng 8 vẫn còn giảm 0.33%.
Sau khi Donald Trumph đắc cử tổng thống Mỹ vào ngày 9/11/2016, đồng USD đã
tăng mạnh mẽ trên thị trường quốc tế và gây áp lực lên thị trường ngoại hối trong nước.
Thêm vào đó nhu cầu thanh toán nhập khẩu tăng lên cuối năm và kỳ vọng Fed sẽ tăng lãi
suất trong cuộc họp vào giữa tháng 12 đã khiến cầu đầu tư lẫn đầu cơ USD tăng mạnh
trong giai đoạn này. Tỷ giá trung tâm USD/VNĐ từ ngày 9/11 đến cuối tháng 11 tăng 93
đồng, trong khi tỷ giá niêm yết bán ra tại các NHTM luôn cận kề mức trần 3% và tỷ giá
ngoài thị trường tự do luôn cao hơn tỷ giá trần của NHNN từ 500 – 700 đồng.
Tuy nhiên, sau khi Fed quyết định tăng lãi suất thêm 0.25% vào rạng sáng ngày
15/12/2016, thì mức độ biến động của tỷ giá lại không quá mạnh do thị trường gần như
đã dự đoán được thông tin này trước đó và tin tức cũng đã phản ánh vào giá trước đó. Cụ
thể tỷ giá đến ngày 23/12 tăng 31 đồng so với ngày 14/12, thời điểm trước khi Fed quyết
định tăng lãi suất.
Năm 2017,
Năm 2017 tỷ giá USD/VND khá ổn định. Theo Uỷ ban giám sát tài chính Quốc gia
(NFSC), có 3 nguyên nhân chính làm nên điều này.
Tính đến tháng 12/2017, tỷ giá trung tâm ước tăng khoảng 1,5-1,7% so với đầu năm.
Trong khi đó, tỷ giá ngân hàng thương mại giảm khoảng 0,2%, tỷ giá thị trường tự do
giảm khoảng 1,5 % so với đầu năm.


Nguyên nhân khiến tỷ giá tương đối ổn định là:
Thứ nhất, đồng USD mất giá trên thị trường quốc tế (chỉ số USD Index giảm 9,1% so
với đầu năm) bất chấp FED tăng lãi suất nhiều lần do tác động của chính sách chống
thâm hụt thương mại của tổng thống Trump.
Thứ hai, chênh lệch giữa lãi suất VND và USD vẫn còn ở mức lớn (khoảng 6-7%),
nghiêng về việc nắm giữ VND. Huy động ngoại tệ tăng thấp, ước tăng 4% so với cuối
năm 2016, trong khi ngân hàng Nhà nước mua được khoảng 7 tỷ USD từ hệ thống ngân
hàng. Do vậy, có thể một lượng lớn ngoại tệ đã được tổ chức kinh tế và cá nhân bán và
chuyển sang VND.
Thứ ba, cán cân thanh toán tổng thể tiếp tục thặng dư nhờ: Cán cân thương mại tiếp
tục xuất siêu 23; Cán cân vốn và tài chính năm 2017 ước thặng dư ở mức khá cao (dự báo
ở mức 4,03% GDP); FDI tăng khá, dòng vốn đầu tư gián tiếp cũng tăng trưởng mạnh (dự
báo cuối năm 2017 ở mức 12 tỷ USD, cao hơn mức 11,6 tỷ USD của năm 2016); và
khoản mục lỗi và sai sót giảm.
Bên cạnh đó, niềm tin vào VND và sự ổn định vĩ mô ngày càng được nâng cao (chỉ số
CDS giảm khoảng 37% so với đầu năm), giúp cho khoản mục Lỗi và sai sót trong cán
cân thanh toán tổng thể giảm đáng kể. Cán cân thanh toán tổng thể ước thặng dư 3,4%
GDP.
Năm 2018,
Tỷ giá đã trải qua một năm biến động khá mạnh, chủ yếu do các tác động tiêu cực từ
thị trường quốc tế, nhưng sự ổn định kinh tế vĩ mô trong nước và công tác điều hành tỷ
giá thận trọng, linh hoạt, đồng bộ đã phần nào giúp "hóa giải" bớt áp lực và mang lại
thành công ổn định thị trường ngoại hối và tỷ giá ở mức hợp lý.


Diễn biến tỷ giá trong năm 2018:
Nhìn lại diến biến tỷ giá năm 2018 có thể thấy đây là năm tỷ giá biến động nhiều.
Trong năm, tỷ giá trung tâm do NHNN công bố đã tăng khoảng 1,6%, tỷ giá giao dịch
trên thị trường liên ngân hàng tăng khoảng 2,7% so với đầu năm. Trong 7 năm qua, chỉ
có năm 2015 chứng kiến tỷ giá biến động mạnh hơn với mức tăng 5,1%.
Áp lực lên tỷ giá trong năm này chủ yếu đến từ thị trường quốc tế, trong đó hai yếu tố
chính là (i) kinh tế Mỹ tăng trưởng ấn tượng (GDP năm 2018 ước tăng 2,9% so với mức
tăng 2,2% năm 2017) cùng với việc Ngân hàng Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục nâng
lãi suất đồng USD thêm 4 lần trong năm khiến USD tăng giá 4,8% khiến các ngoại tệ khu
vực mất giá tương ứng; và (ii) cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung khiến lo ngại rủi
ro chính sách tăng, giảm đà tăng trưởng của nhiều nền kinh tế châu Á, khiến các đồng
tiền trong khu vực mất giá khá nhiều (CNY mất giá -5,9%, KRW -5,5%, MYR -3,3%,
SGD -2,6%,...), trong khi đây là những đồng tiền chủ chốt trong rổ tiền tính tỷ giá trung
tâm của NHNN.
Đối với tỷ giá VND, trong 5 tháng đầu năm, diễn biến tỷ giá USD/VND tương đối
bình lặng, thậm chí NHNN còn mua vào được USD do thị trường dư nguồn cung. Nhưng
đến cuối tháng 6/2018, khi đồng CNY mất giá mạnh (-4% chỉ trong vòng 3 tuần) và Fed
nâng lãi suất USD lần thứ hai trong năm, áp lực lên tỷ giá USD/VND đã rõ nét hơn. Sau
đó, tỷ giá USD/VND tiếp tục chịu áp lực lớn và chỉ bắt đầu có dấu hiệu hạ nhiệt vào giữa
tháng 8/2018, khi mà tỷ giá USD/CNY cũng bắt đầu tạo đỉnh ngắn hạn.Từ giữa tháng 8
đến hết năm, tỷ giá USD/VND cơ bản ổn định.
Xét chung cả năm, việc VND giảm 2,7% so với USD cho thấy VND ổn định hơn
nhiều so với các đồng tiền trong khu vực. Những chuyển biến tích cực trong bức tranh
kinh tế vĩ mô Việt Nam đã phần nào triệt tiêu bớt ảnh hưởng tiêu cực từ thế giới và tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động điều hành tỷ giá của NHNN cũng như niềm tin cho các
chủ thể tham gia trên thị trường. Cụ thể, GDP năm 2018 tăng 7,08%, mức cao nhất trong
10 năm qua và vượt mục tiêu 6,7% mà Chính phủ đề ra. Lạm phát CPI bình quân được
kiểm soát với mức tăng 3,8%.
Ngoài ra, cán cân thương mại ghi nhận con số thặng dư ở mức kỷ lục (khoảng 7 tỷ
USD). Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam tiếp tục duy trì ở mức
cao bất chấp những biến động trên thị trường thế giới. Theo Bộ Kế hoạch - Đầu tư, vốn
FDI đăng ký và bổ sung cả năm ước đạt 35,5 tỷ USD (tương đương mức của năm 2017),
giải ngân FDI đạt trên 19 tỷ USD, tăng 9% so với cùng kỳ năm trước.


Hoạt động M&A, thoái vốn và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước dù không đạt sôi
động như kỳ vọng, song cũng ghi nhận dòng vốn khoảng 2-3 tỷ USD từ các nhà đầu tư
nước ngoài. Ngoài ra, dù chỉ số thị trường chứng khoán (TTCK) giảm và nhà đầu tư rút
vốn ra khỏi các thị trường mới nổi (khoảng 30 tỷ USD), nhưng dòng vốn ngoại vẫn mua
ròng trên TTCK Việt Nam khoảng 1,5-2 tỷ USD. Cùng với đó, kiều hối năm 2018 ước
đạt khoảng 16 tỷ USD (tăng 16% so với năm 2017), trong khi nhu cầu vay ngoại tệ giảm
(do chênh lệch lãi suất vay VND-USD vẫn khá lớn, trong khi tỷ giá trong tầm kiểm soát),
cho thấy quan hệ cung – cầu ngoại tệ khá ổn, tạo dư địa điều hành chính sách tỷ giá của
NHNN.
Chính sách điều hành tỷ giá của NHNN
Mặc dù tỷ giá năm 2018 có mức tăng khá cao so với các năm trước nhưng xét về tổng
thế, có thể nói năm 2018 vẫn là một năm thành công trong công tác điều hành tỷ giá của
NHNN. NHNN đã điều tiết tỷ giá tương đối nhịp nhàng thông qua 2 phương thức chính
là cơ chế tỷ giá trung tâm và mua bán ngoại tệ linh hoạt. Nhìn chung, các chính sách điều
tiết tỷ giá của NHNN đã thể hiện rõ tính chủ động, linh hoạt trước những biến động của
thị trường ngoại hối trong nước và quốc tế, với một số chính sách điều hành nổi bật trong
năm như tổng hợp tại Bảng 2:

Nguồn: Ban Kinh doanh vốn và Tiền tệ BIDV tổng hợp.
.


 Kết luận: Năm 2015, thị trường ngoại tệ Việt Nam có nhiều biến động do chịu tác
động từ việc đồng Nhân dân tệ (NDT) mất giá mạnh. Tính chung cả năm, VND giảm giá
5% so với đầu năm. Năm 2016, thị trường ngoại tệ Việt nam nhìn chung khá ổn định, chỉ
có một vài thời điểm nóng lên nhất định nhưng không kéo dài. Bất chấp đồng USD có
những biến động mạnh so với các ngoại tệ khác trên thị trường tài chính thế giới, đồng
USD tại Việt Nam dao động với biên độ khá hẹp so với VND. Tính tổng thể cả năm,
đồng VNĐ chỉ bị mất giá khoảng 1%, thấp hơn mức mất giá của nhiều đồng tiền trong
khu vực. Bước sang năm 2017, tỷ giá VND/USD tại các NHTM có xu hướng giảm vào
trong tháng 1/2017, sau đó có nhiều biến động khi liên tiếp tăng cao từ nửa đầu tháng 2,
luôn tiệm cận sát với mức trần do NHNN công bố. Năm 2018 được ghi nhận là một trong
nhưng năm tăng giá mạnh nhất của đồng USD khi chỉ số US Dollar Index, đo lường sức
mạnh của đồng bạc xanh với với rổ 6 đồng tiền chủ chốt với mức tăng trên 4% giá trị.
 Dự báo tương lai: Bước sang năm 2019, Uỷ ban Giám sát Tài chính quốc gia cho
rằng, áp lực lên tỷ giá được giảm thiểu do các yếu tố tác động trong nước và quốc tế đang
có chiều hướng thuận lợi hơn so với dự báo. Chẳng hạn, khả năng giá USD sẽ không tăng
nhiều, thậm chí có thể suy yếu hơn; lạm phát trong nước có khả năng kiểm soát khoảng
4% do giá hàng hóa thế giới tăng không lớn, áp lực lên tỷ giá giảm bớt.
Cũng có cái nhìn tương tự, tại Báo cáo kinh tế vĩ mô 2018 và triển vọng 2019, Công
ty Chứng khoán MB (MBS) dự báo, nhiều khả năng tỷ giá VND/USD sẽ chỉ biến động
nhẹ trong năm 2019, ở mức quanh 2%. Sở dĩ công ty này đưa ra dự báo như vậy bởi quá
trình bình thường hóa chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) diễn ra theo
lộ trình tiếp tục hỗ trợ đà tăng của USD song không đáng quan ngại do thông tin trên đã
được thị trường phản ánh khá nhiều. Bên cạnh đó, USD nhiều khả năng đã tạo đỉnh và sẽ
đi xuống nhẹ trong năm 2019 khi nền kinh tế Mỹ đã tạo đỉnh tăng trưởng trong năm 2018
(với dự báo tăng trưởng GDP năm 2019 là 2,3%) khiến Fed sẽ phải giảm bớt cường độ
tăng lãi suất. Điều này khiến sức ép lên VND không quá mạnh. “Vì vậy, trong năm 2019,
NHNN hoàn toàn có đủ điều kiện chủ động trong việc điều hành tỷ giá linh hoạt trong
biên độ an toàn nhờ nguồn cung USD dồi dào và cân đối vĩ mô ổn định”, đại diện MBS
nhấn mạnh.
2. Tác động của tỷ giá đến cán cân thương mại của Việt Nam
Cải thiện cán cân thương mại là một trong những mục tiêu kinh tế vĩ mô, góp phần
gia tăng dự trữ ngoại hối, ổn định đồng nội tệ, đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Vì
vậy, việc tìm kiếm các tác động để đưa ra giải pháp nhằm cải thiện cán cân thương mại
của nước ta trong điều hành kinh tế vĩ mô hiện nay là hết sức quan trọng. Từ những số
liệu thống kê của tổng cục hải quan, ta có thể đưa ra những tác động của cán cân thương
mại đến Việt Nam như sau:


2.1. Tác động cụ thể
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu vào nền kinh tế quốc tế, việc nhận diện
những tác động của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại Việt Nam là việc làm cần
thiết trong bối cảnh các rào cản thuế quan và hạn ngạch hàng hóa nhằm bảo hộ thương
mại buộc phải dỡ bỏ dần.
Nếu đồng tiền của một quốc gia mạnh lên, hàng hóa xuất khẩu của quốc gia này ra
nước ngoài sẽ đắt đỏ hơn và hàng hóa nhập khẩu sẽ rẻ hơn. Ngược lại, một đồng tiền yếu
sẽ làm cho hàng hóa xuất khẩu của một quốc gia rẻ hơn và nhập khẩu đắt hơn ở thị
trường nước ngoài.
Khi tỷ giá hối đoái tăng cao, cán cân thương mại của một nước thường giảm đi và khi
tỷ giá hối đoái thấp hơn, cán cân thương mại sẽ tăng.
Muốn hiểu sâu vè tác động của tỷ giá đến cán cân thương mại trước hết ta cần hiểu
thế nào là phá giá tiền tệ: Phá giá tiền tệ là chính sách mà ngân hàng trung ương chính
thức tuyên bố đánh sụt sức mua của đồng tiền nước mình xuống so với ngoại tệ (hay
chính thức tuyên bố nâng tỷ giá hối đoái).
*Một số hạn chế từ việc phá giá VND
- Một là, năng lực sản xuất hàng hóa trong nước còn hạn chế, các mặt hàng sản xuất
trong nước đều phụ thuộc vào nguyên vật liệu nhập khẩu khiến tỷ giá ít tác động đến cán
cân thương mại, cụ thể:
Năng lực sản xuất hàng hóa thay thế nhập khẩu: Có một số hàng hóa mà các nền
kinh tế đang phát triển (gồm cả Việt Nam), không hoặc có thể sản xuất được thì chất
lượng không tốt bằng hay giá cả có thể cao hơn. Vì vậy, mặc dù giá nhập khẩu đắt hơn,
người tiêu dùng chưa chắc sẽ lựa chọn hàng trong nước. Như vậy, nếu thực hiện phá giá,
nền kinh tế Việt Nam với năng lực sản xuất hàng thay thế cho hàng nhập khẩu còn yếu sẽ
khó hạn chế được nhập khẩu.
Việt Nam vẫn sản xuất nhỏ lẻ và có năng suất thấp. Nếu Doanh nghiệp trong nước
không có năng lực sản xuất hàng xuất khẩu hoặc không tìm được thị trường xuất khẩu,
Chính phủ thực hiện phá giá, cơ hội kinh doanh tốt mà Chính phủ hướng tới thông qua
phá giá sẽ bị bỏ lỡ, hoạt động xuất khẩu và cán cân thương mại chưa chắc được cải thiện.
Điều hành tỷ giá ít có tác động đến cán cân thương mại ở Việt Nam: Về mặt lý thuyết,
nếu tiền VND được định giá cao, hàng hóa nội địa sẽ mất dần tính cạnh tranh, ảnh hưởng
đến xuất khẩu và cán cân thương mại. Ngược lại, nếu tiền VND được định giá thấp, hàng
hóa trong nước có tính cạnh tranh hơn, đóng góp vào tăng trưởng xuất khẩu và cải thiện
cán cân thương mại.Khảo sát các ngành hàng xuất khẩu,hầu hết xuất khẩu của các nhóm
ngành công nghiệp chế biến - chế tạo đều kích thích nhập khẩu mạnh mẽ. Trong đó khu


vực vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đóng góp đến 65% giá trị xuất khẩu và chủ yếu tận
dụng lao động rẻ để gia công tại Việt Nam.
Ví dụ Samsung Vina gần như nhập khẩu 100% linh kiện Samsung từ Trung Quốc để
sản xuất , giá trị gia tăng tại Việt Nam không lớn trong tổng số 12 tỷ USD xuất khẩu năm
2012 và gần 23 tỷ USD xuất khẩu năm 2013.và Đây cũng là nguyên nhân gia tăng nhập
khẩu.
Như vậy, mục tiêu cải thiện cán cân thương mại một cách bền vững khó có thể đạt
được với các cách điều hành tỷ giá nếu không có cải thiện trong mô hình tăng trưởng
kinh tế và cơ cấu nền kinh tế.
-Hai là, sự xuất hiện ngày càng nhiều, trên quy mô lớn của chuỗi sản xuất toàn cầu đang
đặt ra những vấn đề mới cho việc xem xét, nhìn nhận lại thương mại quốc tế. Các kết quả
cho thấy, việc giảm giá VND vẫn có thể có tác động khuyến khích xuất khẩu ban đầu,
nhưng sau đó tác động này có thể giảm đi do làm gia tăng các yếu tố đầu vào
-Ba là, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 cho thấy, yếu tố chính quyết định sức cạnh tranh
của nền kinh tế là khoa học công nghệ và chất lượng nguồn nhân lực của các quốc gia.
Vậy nên, tỷ giá hối đoái chỉ có tác dụng hỗ trợ nhất định, không phải là then chốt.
*Những tác động tích cực từ việc phá giá VND
Giả sử giá xuất khẩu mặt hàng nào đó của Việt Nam là 100 USD/cái, nguyên vật liệu
nhập về để sản xuất hàng đó là 90 USD/cái; VND bị phá giá từ 20.000 VND/USD lên
21.000 VND/USD; Giá bán và giá nguyên vật liệu sản xuất mặt hàng đó trên thị trường
quốc tế (thị trường xuất khẩu) là không đổi, tương ứng là 100 USD và 90 USD. Khi phá
giá, mức chênh lệch 10 USD tính theo tiền VND tăng lên, suy ra phá giá thì DN xuất
khẩu có lợi.
Hơn nữa, phá giá giúp DN xuất khẩu thay thế (một phần) đầu vào nhập khẩu bằng
hàng sản xuất trong nước. Nghĩa là, khi phá giá, rất có thể hàm lượng hàng nhập khẩu
trong hàng xuất khẩu sẽ giảm đi. Suy rộng ra cho cả nền kinh tế, khi hàng hóa sản xuất
trong nước trở nên cạnh tranh hơn sau khi phá giá, hàng nhập khẩu sẽ ít hơn.
Sau đây thống kê của tổng cục hải quan về tác động của tỷ giá đến cán cân thương
mại ở Việt Nam:
-Năm 2015, xuất khẩu hàng hóa đạt 162,4 tỷ tăng 8,1% so với 2014. Kim ngạch xuất
khẩu khu vực vốn đầu tư nước ngoài ước tính đạt 115,1 tỷ USD tăng 13,8% so với năm
trước,chiếm tỷ trọng 70,9% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu và đóng góp 9,3 điểm
vào mức tăng trưởng xuất khẩu chung.Về thị trường nhập khẩu, Trung Quốc vẫn là trung
tâm nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước tính đạt 49,3 tỷ USD tỷ tăng
12,9%. Với kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu cùng tính theo giá FOB thì cán cân
thương mại hàng hóa năm 2015 ước tính xuất siêu 5,8 tỷ USD giảm 44% so với 2014.


-Năm 2016. Về xuất khẩu kim ngạch ước tính đạt 175,9 tỷ USD. Tăng 8,6% so với năm
trước. trong đó khu vực trong nước ước tính đạt 50 tỷ USD tăng 4,8%, khu vực có vốn
đầu tư nước ngoài đạt 125,9 tỷ. kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng do giá hàng hóa xuất
khẩu bình quân giảm 1,8%. Nhìn chung,cơ cấu về xuất khẩu năm 2016 thay đổi không
đáng kể so với năm trước. về nhập khẩu, ước tính đạt 173,3 tỷ USD TĂNG 4,6% so với
năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 71,1 tỷ USD tăng 4%. Khu vực vốn
đầu tư nước ngoài đạt 102,2 tỷ USD tăng 5,1%. Nếu ngoại trừ yếu tố về giá,kim ngạch
hàng hóa nhập khẩu năm 2016 đạt 183 tỷ USD,tăng 10,5% so với 2015. Tính chung cả
năm 2016 xuất siêu 2,68 tỷ USD,trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 21,02 tỷ
USD. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu 23,7 tỷ USD. Trung Quốc vãn tiếp tục
là thị trường mà VN nhập siêu lớn nhất.
-Tính đến hết năm 2017, Việt Nam xuất khẩu 213,77 tỷ USD và nhập khẩu 211,1 tỷ USD.
Như vậy, Việt Nam xuất siêu 2,67 tỷ USD trong năm 2017. Trung Quốc là thị trường
nhập khẩu lớn nhất vào Việt Nam với 58,5 tỷ USD, sau đó tới Hàn Quốc, ASEAN, Nhật
Bản, Liên minh châu Âu (EU) và Hoa Kỳ. Năm 2017, có tới 70% giá trị xuất khẩu của
Việt Nam do các DN có vốn đầu tư nước ngoài tạo ra. Một số mặt hàng chiếm tới 100%
kim ngạch xuất khẩu như điện thoại di động. Từ vị trí là khu vực chủ lực về xuất khẩu,
khối các DN trong nước hiện chỉ còn đóng góp chưa tới 30% tổng kim ngạch xuất khẩu
cả nước so với mức 63% của 10 năm trước. Điều này hàm ý rằng, nếu tỷ giá được điều
chỉnh mạnh hơn thì chưa chắc cán cân thương mại được cải thiện, mục tiêu lấy tỷ giá để
hỗ trợ xuất khẩu là không phù hợp trong giai đoạn hiện nay.

-Năm 2018, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu đạt mức 244,7 tỷ USD tăng 13,8% so với
2017. Khu vực kinh tế trong nước đạt 69,2 tỷ USD chiếm 28,3% tổng kim ngạch xuất
khẩu của nhà nước. khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 175,5 tỷ USD chiếm 71,1%.
Năm qua kinh tế có chuyển biến tích cực đạt tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao


hơn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài,cụ thể có 29 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu cả
nước. bên cạnh đó kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 2018 ước tính đạt 237,5 tỷ USD tăng
11,5% so với cả nước, trong đó có 36 mặt hàng ước tính kim ngạch nhập khẩu đạt trên 1
tỷ USD chiếm 90,4% tổng kim ngạch và có 4 mặt hàng trên 10 tỷ USD. Ưowsc tính năm
2018, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa thiết lập mức kỷ lục mới với 482,2 tỷ
USD. Cá cân thương mại hàng hóa xuất siêu 7,2 tỷ USD, là năm có giá trị xuất siêu lớn
nhất từ trước đến nay,cao hơn rất nhiều mức xuất siêu 2,1 tỷ USD của 2017.

Nhìn chung cơ cấu xuất nhập khẩu của nước ta qua các năm đều tăng và có xu
hướng tăng nhanh trong các năm gần đây. Xu hướng xuất khẩu tăng nhanh và nhập khẩu
cũng tăng theo kéo theo đó là GDP tăng. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng đột biến
so với các năm trước đó, Tỷ lệ xuất siêu cũng tăng nhanh trong 2018, đây là kết quả tích
cực xong vẫn còn để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng về nền kinh tế do bị phụ thuộc vào
nguồn vốn của nước ngoài. Nhìn chung nó chỉ có lợi trong ngắn hạn, và trong dài hạn nền
sản xuất trong nước bị nước ngoài khống chế.
Trong thời gian tới, nhằm góp phần giảm thâm hụt thương mại nói chung,hạn chế tình
trạng nhập siêu nói riêng cần đưa ra một số giải pháp.
2.2. Giải pháp đề xuất
Cải thiện cán cân thương mại là một trong những mục tiêu kinh tế vĩ mô, góp phần
gia tăng dự trữ ngoại hối, ổn định đồng nội tệ, đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Vì
vậy, việc tìm kiếm các giải pháp nhằm cải thiện cán cân thương mại của nước ta trong
điều hành kinh tế vĩ mô hiện nay là hết sức quan trọng.
Khi tỷ giá hối đoái tăng cao, cán cân thương mại của một nước thường giảm đi và
khi tỷ giá hối đoái thấp hơn, cán cân thương mại sẽ tăng.Trong bối cảnh ngày càng hội
nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam cần điều chỉnh tỷ giá và đưa ra các giải pháp
cụ thể để cân bằng tỷ giá :
 Thực hiện chính sách đa ngoại tệ
 NHNN cần nới lỏng biên độ tỷ giá hối đoái. Với biên độ tương đối rộng vừa giảm
sức ép lạm phát, vừa giảm mức độ cần phải can thiệp của NHNN, đồng thời tạo
điều kiện cho thị trường tự điều chỉnh theo cung cầu ngoại tệ.
 Sử dụng một số công cụ để phòng ngừa rủi ro tỷ giá như: hợp đồng quyền chọn,
giao dịch kỳ hạn để giảm thiểu rủi ro tỷ giá.
 Sử dụng có hiệu quả công cụ lãi suất để tác động đến tỷ giá, chính phủ phải tiến
hành từng bước tự do hóa lãi suất, làm cho lãi suất thực sự là một loại giá cả được
quyết định bởi chính sự cân bằng giữa cung và cầu của chính đồng tiền đó trong
thị trường chứ không phải bởi chính những quyết định can thiệp hành chính của
Chính phủ .


 Theo điều kiện phá giá Marshall-Lerner, giá trị tuyệt đối của tổng hai độ co dãn
theo giá cả của xuất khẩu và nhập khẩu ở Việt Nam vẫn còn nhỏ hơn 1, nên việc
phá giá tiền tệ ở nước ta có tác động không tốt tới cán cân thương mại.Hàng Việt
Nam chất lượng còn kém, xuất khẩu phụ thuộc vào nhập khẩu và tỷ giá thực của
VND vẫn còn định giá cao nên cán cân thương mại Việt Nam khó duy trì thặng
dư thương mại lâu dài. Phá giá VND không thể giúp Việt Nam cải thiện được tỷ
trọng xuất khẩu.
=> Tuy nhiên, việc phá giá cũng là cần thiết để đưa VND gần với giá trị thực, tránh tạo áp
lực trữ ngoại tệ, ổn định tỷ giá, cải thiện năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.
Việc phá giá VND cũng cần phải tính đến yếu tố tâm lý, tránh tình trạng đầu cơ, găm giữ
ngoại tệ, gây nên tình trạng đô la hóa trong dân.
Nhu cầu thị trường phụ thuộc vào giá cả và chất lượng hàng hóa, dịch vụ. Khi chất
lượng tương đương, những sản phẩm rẻ hơn sẽ được lựa chọn. Do vậy, ngoài việc điều
chỉnh tỷ giá hối đoái có lợi cho cán cân thương mại về mặt dài hạn, nước ta cũng cần có
các biện pháp theo định hướng sau:
- Về phương diện vĩ mô:
+ Thay đổi cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu, nhập khẩu những máy móc công nghệ
nguồn và tăng đầu tư nghiên cứu khoa học công nghệ, làm tăng hàm lượng giá trị gia
tăng cho hàng hóa.
+ Phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, giảm tỷ lệ nhập khẩu trong xuất khẩu để
nâng cao hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu .
+ Cần thu hút vốn đầu tư nước ngoài một cách chọn lọc, kiểm soát chặt chẽ nhập khẩu
từ nước ngoài, có các biện pháp bảo hộ hợp lý với sản xuất trong nước.
- Về phương diện vi mô: Các DN cần nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt
Nam trên thị trường quốc tế, đa dạng hóa mẫu mã, cải thiện chất lượng.
Tóm lại, ngoài nỗ lực của các thành viên trên thị trường, việc xác lập một tỷ giá thỏa
đáng, kích thích xuất nhập khẩu, hỗ trợ kinh tế phát triển luôn là vấn đề làm đau đầu các
nhà hoạch định chính sách. Do vậy, với cơ sở nghiên cứu thực tiễn, bài viết khuyến nghị
rằng, Việt Nam chỉ nên phá giá VND quanh ngưỡng 2% là hợp lý


Phần III: Kết luận rút ra từ nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu và phân tích, nhóm chúng em phần nào đã nêu bật được những
khái niệm cơ bản của tỷ giá hối đoái, phân tích so sánh được tỷ giá hối đoái danh nghĩa,
tỷ giá hối đoái thực tế, các tác nhân ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái,mở rộng, làm rõ hơn
về các hệ thống tỷ giá hối đoái ( các hệ thống tỷ giá cố định, các hệ thống tỷ giá thả nổi)
và thị trường ngoại hối cũng như các tác động của chúng đến hoạt động xuất nhập khẩu
của một quốc gia. Hơn thế nữa, bài viết nêu ra lý thuyết cán cân thương mại, nêu ra sự
ảnh hưởng to lớn của tỷ giá hối đoái đến cán cân thương mại. Mục tiêu cải thiện cán cân
thương mại một cách bền vững khó có thể đạt được với cách điều hành tỷ giá nếu không
có cải thiện trong mô hình tăng trưởng kinh tế và cơ cấu nền kinh tế. Nhờ hiểu rõ những
tác động của tỷ giá hối đoái mà có thể đưa ra được những giải pháp đúng đắn, tích cực
như: NHNN cần nới lỏng hay thắt chặt biên độ tỷ giá hối đoái, sử dụng một số công cụ để
phòng chống rủi ro hối đoái, thực hiện chính sách đa ngoại tệ,...
Từ cái nhìn tổng quan dưới góc độ lý luận, bài viết đã phân tích được tình hình biến
động tỷ giá VND/USD trong vòng 4 năm 2015-2018 và chỉ ra tác động của sự thay đổi
này lên cán cân thương mại Việt Nam. Dù có rất nhiều biến động từ năm 2015 đến 2018,
từ việc thị trường ngoại tệ Việt Nam chịu biến động từ việc đồng Nhân dân tệ (NDT) mất
giá mạnh (2015) đến sự tăng giá được cho là mạnh nhất của đồng USD (2018) nhưng
nhìn chung thì thị trường ngoại tệ Việt Nam khá là ổn định, còn nếu biến động thì chỉ dao
động mất giá khoảng 1%, thấp hơn mức mất giá của nhiều đồng tiền trong khu vực. Để
có được kết quả như vậy thì cần có sự kiểm doát của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) điều
tiết hợp lý cũng như sử dụng hiệu quả công cụ tỷ giá hối đoái. Đồng thời bài viết cũng
phân tích biến động tỷ giá trong nước cũng như quốc tế, rút ra được những dự báo trong
tương lai về tỷ giá hối đoái, từ đây định rõ hướng đi đúng đắn cho nền kinh tế Việt Nam.
Nền kinh tế Việt Nam đang chuyển mình nhanh chóng theo nền kinh tế hướng ngoại
thông qua một loạt các chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài cho phép các nhà đầu
tư nước ngoài mua lại doanh nghiệp trong nước, chính sách hỗ trợ xuất khẩu... Các rào
cản đối với sự di chuyển vốn giữa Việt Nam và thế giới sẽ dần được xóa bỏ. Điều này trở
thành hiện thực vào thời điểm 2006 khi Việt Nam chính thức tham gia khối thương mại
tự do Asian. Do vậy, tỷ giá hối đoái đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong thanh toán quốc
tế cũng như trong nhiều mặt của đời sống Kinh tế- Xã hội.


Việc áp dụng tỷ giá hối đoái thả nổi có sự điều tiết và quản lý của nhà nước trong gia
đoạn hiện nay của nước ta là hợp lý, nó phù hợp với sự phát triển cũng như biến động của
thị trường tiền tệ, của cả nền kinh tế. Trong những năm qua, Việt Nam đã có những bước
đi khá đúng đắn trong việc thực hiện chính sách tỷ giá, góp phần không nhỏ vào thành
tựu tăng trưởng và ổn định kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, thì tỷ giá hối
đoái hiện nay còn gặp nhiều những bất cập, vướng mắc, đòi hỏi chúng ta cần có những
hiểu biết chuyên sâu, những giải pháp xử lí đúng đắn. Với những thành công ban đầu của
hơn 10 năm qua và từ kinh nghiệm của các nước đi trước, chúng ta hoàn toàn tin tưởng
rằng Việt Nam sẽ thành công trong việc xác lập một chính sách tỷ giá linh hoạt, phù hợp
nhất, góp phần đưa đất nước tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế trên thị trường thế
giới.
Với sự hiểu biết có hạn và thời gian chuẩn bị không nhiều, nên bài viết không tránh
khỏi những thiếu sót, nhầm lẫn, nhóm chúng em mong sự góp ý của cô và các bạn!
Xin chân thành cảm ơn!


Tài liệu tham khảo
Giáo trình kinh tế vĩ mô
Thư viện học liệu mở Việt Nam VOER: https://voer.edu.vn/
Cơ sở số liệu lấy và trích dẫn từ Tổng cục thống kê (Việt Nam):
https://www.gso.gov.vn/
Chuyên trang đầu tư tài chính Việt Nam – VietnamFinance:
https://vietnamfinance.vn/
Tạp chí tài chính – Cơ quan thông tin của Bộ tài chính:
http://tapchitaichinh.vn/
Tạp chí Nhịp cầu đầu tư
Kênh thông tin kinh tế - tài chính Việt Nam CAFEF: http://cafef.vn/
Và 1 số bài báo phân tích tỷ giá VND/USD qua các năm 2015, 2016,
2017, 2018 tại các trang báo điện tử như: Vietnamnet, VnExpress, Hà
Nội Mới,…


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×