Tải bản đầy đủ

Một số giải pháp khuyến khích học sinh trung học phổ thông hứng thú và tích cực trong việc chuẩn bị trước bài học môn ngữ văn

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Tên sáng kiến: MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHUYẾN KHÍCH HỌC SINH
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG HỨNG THÚ VÀ TÍCH CỰC TRONG VIỆC
CHUẨN BỊ TRƯỚC BÀI HỌC MÔN NGỮ VĂN
1. Tình trạng giải pháp đã biết:
- Thực trạng vấn đề:
Trong giai đoạn hiện nay, việc nâng cao chất lượng dạy và học là nhu cầu
thiết yếu đặt ra đối với những người đang làm nhiệm vụ giảng dạy. Vậy, làm thế
nào để học sinh ngày nay có tình yêu bộ môn xã hội và đặc biệt có thể học tốt Ngữ
Văn? Đó là vấn đề khiến nhiều giáo viên dạy Ngữ Văn trăn trở. Thiết nghĩ, muốn
học tốt môn Ngữ Văn, bên cạnh năng khiếu thì tự học là một yêu cầu bắt buộc với
học sinh. Các em không thể “học vẹt” một cách máy móc các tác phẩm văn học
mà cần phải tiếp nhận, cảm thụ văn chương bằng “một trái tim nóng” và “một cái
đầu lạnh”. Muốn thế, học sinh phải tự học, tự nghiên cứu trước mỗi bài học. Thế
nhưng, có một thực tế đáng buồn là rất nhiều học sinh học văn một cách máy móc,
thụ động, thiếu cảm xúc và sáng tạo dẫn đến chán ghét, thậm chí sợ hãi môn văn.
Rất nhiều học sinh còn thụ động trong soạn bài mới coi đó là nhiệm vụ bắt
buộc khi lên lớp. Một số em khi kiểm tra vở soạn thì rất đầy đủ, sạch đẹp, trình
bày khoa học nhưng thực chất là những bài sao chép trong sách Học tốt Ngữ văn

một cách máy móc mà không hiểu gì cả, có những em không soạn bài, hoặc soạn
chiếu lệ, qua loa dẫn đến tiết học thụ động, khả năng tiếp thu kiến thức của học
sinh cũng hạn chế. Điều này chúng tôi đã gặp ở nhiều năm, nhiều lớp học sinh.
Chính vì thế, chúng tôi thiết nghĩ việc khuyến khích học sinh tự học, tự
chuẩn bị trước khi đến lớp là một việc làm cần thiết và hiệu quả để nâng cao kết
quả của bộ môn cũng như giúp các em học văn dễ dàng và có cảm xúc hơn. Với đề
tài “Một số giải pháp khuyến khích học sinh trung học phổ thông hứng thú và
tích cực trong việc chuẩn bị trước bài học môn ngữ văn”, chúng tôi hy vọng sẽ
tháo gỡ được phần nào những khó khăn, đưa ra những giải pháp hiệu quả cho việc
giảng dạy Ngữ văn cho học sinh ở trường phổ thông hiện nay.
- Nguyên nhân thực trạng:
+ Về phía giáo viên:

1


• Việc hướng dẫn học sinh soạn bài mới, tài liệu ở nhà chưa cụ thể,
chưa định hướng được cho các em phần nào là quan trọng, phần nào cần sơ lược.
• Ở một số bài, do phân phối thời gian chưa hợp lí nên phần củng cố
và dặn dò còn qua loa đại khái.
• Hoặc có hướng dẫn cho học sinh nhưng còn sơ sài ví dụ như: học
theo câu hỏi sách giáo khoa, xem bài tiếp theo …
+ Về phía học sinh:
• Không biết điểm nào là quan trọng, khó nắm bắt kiến thức một cách
cụ thể, có trình tự, do đó gây cho các em cảm giác lười, không tự tìm tòi kiến thức
mới.
• Tâm lý ỷ lại và chờ đợi vào bài giảng của giáo viên để chép.
• Tài liệu tham khảo nhiều, tâm lý lười suy nghĩ nên chép y nguyên
mà không hề hiểu vấn đề.
- Giới hạn nghiên cứu:
Tự học là kỹ năng có nhiều cách tiến hành nhưng ở đây, chúng tôi tập trung
vào quá trình tự học, tự nghiên cứu của học sinh trước mỗi bài học Ngữ văn (có
hướng dẫn, kiểm tra của giáo viên). Đề tài tập trung nghiên cứu đưa ra một số giải
pháp tổ chức các cách thức tự học, tự chuẩn bị bài mới khác nhau, phù hợp với từng
đơn vị kiến thức để khơi dậy niềm yêu thích với môn Ngữ văn.
3.2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:
- Mục đích của giải pháp: Làm cho học sinh thấy được ý nghĩa,
vai trò quan trọng của tự học trong môn Ngữ Văn, phát huy tính
tích cực, sáng tạo trong học tập của các em. Đặc biệt, dần dần
rèn luyện và hình thành thói quen tự học sáng tạo môn Ngữ văn


cho học sinh.
- Tính mới của đề tài: từ việc vận dụng kiến thức lý thuyết về
tổ chức hoạt động dạy học, đưa ra các hình thức hướng dẫn tự
học, tự chuẩn bị bài trước Ngữ văn cụ thể cho từng dạng bài học
khác nhau, phát huy tính sáng tạo, khả năng cảm nhận của học
sinh.
- Nội dung giải pháp: Trên cơ sở tiếp thu lời nhận định vô cùng
quý báu: “Qua mỗi giờ văn học, thầy giáo có thể làm rung động
các em, làm cho các em yêu đời, yêu lẽ sống, và lớn lên thêm
một chút” cùng với những kiến thức hữu ích tiếp thu được từ tài
liệu tập huấn “Dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
theo định hướng phát triển năng lực học sinh” môn Ngữ Văn –
2


NXB Hà Nội 2014, chúng tôi đã đút rút và áp dụng trên thực tế
những hoạt động cụ thể như sau để hướng dẫn học sinh tự học
Ngữ văn:
 Giải pháp 1: Hướng dẫn học sinh đặt câu hỏi ở nhà
sau khi đã đọc văn bản
1. Nội dung giải pháp
- Mục đích của chính của giải pháp là giúp các em chủ động
hơn trong việc tìm hiểu bài học. Xuất phát từ thực tế:
+ HS có tâm lý ỷ lại, thụ động trong việc tìm hiểu bài học trước
ở nhà, nhất là đối với môn Văn và các môn khoa học xã hội khác.
Mặt khác, giáo viên khi đứng lớp thường có tâm lí dạy cho kịp bài,
nên nếu học sinh không có sự chuẩn bị bài trước ở nhà thì xem
như tiết dây đó chỉ đơn thuần là sự tiếp nhận thụ động, một
chiều, và không rèn luyện được kĩ năng đoc – hiểu văn bản cho
học sinh.
+ Trong khi đó, đối với môn Văn, đề thi THPT QG bao giờ cũng
có những yêu cầu liên quan đến kĩ năng đọc - hiểu văn bản: hoặc
là đọc – hiểu để tìm ý chính và trả lời những câu hỏi ngắn, hoặc là
đọc – hiểu một đoạn văn bản để thực hiện một yêu cầu viết văn
nghị luận (đoạn / bài). Chính vì vậy, rèn cho các em học sinh kĩ
năng đọc – hiểu văn bản ở nhà để tự tìm ý, phát hiện vấn đề là
một điều hết sức cần thiết, không quá sức học sinh, ngược lại,
làm cho học sinh phát triển tư duy và hiểu sâu bài học.
Cụ thể như sau:
Bước 1: Giao việc
- Giáo viên giao việc cho học sinh đọc văn bản trước khi học 1 tuần, yêu cầu
mỗi học sinh tự đặt ra ít nhất hai câu hỏi (hai vấn đề, hai thắc mắc) sau khi đã đọc
văn bản, ghi ra giấy, sau đó tự trả lời câu hỏi đó một cách ngắn gọn theo ý kiến
riêng của mình. Tổ trưởng sẽ tập hợp tất cả những câu hỏi (và câu trả lời nếu có)
của các thành viên trong tổ, xem câu hỏi nào trùng lặp thì chỉ ghi một lần.
- Giáo viên và học sinh quy ước: với mỗi câu hỏi độc đáo, mang tính có vấn
đề sâu sắc, thể hiện được tư duy, sáng tạo..., học sinh đặt câu hỏi được tích lũy 1
điểm thưởng; còn lại là đáp ứng yêu cầu (đạt yêu cầu: 2 câu hỏi / 1 học sinh). Nếu
không thực hiện đúng yêu cầu, mỗi học sinh bị trừ lại 1 điểm trong quỹ điểm tích
lũy của mình. Cuối mỗi bài học, giáo viên sẽ thông báo trước lớp học sinh được
điểm cộng, điểm trừ và ghi nhận vào sổ cá nhân. Do được tích điểm nên các em
học sinh sẽ cố gắng tìm hiểu riêng, hạn chế tối đa tình trạng chép bài của nhau.
3


Bước 2: Vận dụng bài soạn vào tiến trình bài học
- Đầu mỗi bài học, giáo viên thu lại những tờ ghi tổng hợp từ 4 tổ trưởng,
đọc trước lớp và cùng lớp giải quyết những vấn đề đặt ra (từ nhỏ đến lớn), nếu có
sự trùng ý tưởng giữa các tổ thì chỉ thông qua một lần.
- Đầu tiên, cho học sinh phát biểu ý kiến trả lời các câu hỏi của bạn mình đặt
ra, cho các em tự do tranh luận, càng tạo ra được tính tranh luận càng tốt.
- Sau đó, giáo viên tổng kết lại có bao nhiêu vấn đề còn vướng chưa có câu
trả lời xác đáng, ghi ra bảng phụ (học sinh nên ghi chép vào vở soạn), sau đó bắt
đầu bài học. Khi bài học đi đến những phần nội dung có liên quan đến những vấn
đề được đặt ra trước đó mà học sinh chưa tìm được câu trả lời, giáo viên bằng kinh
nghiệm và bản lĩnh nghề nghiệp của mình, hướng học sinh đi đến lời giải thích
hợp lí nhất, không áp đặt, mà phải chỉ ra cho các em những cơ sở vững vàng theo
tiêu chí càng bám nhiều vào cơ sở văn bản thì sự giải quyết càng thuyết phục (vì
mọi thứ bắt đầu từ việc đọc văn bản chứ không phải là những kiến thức ngoài văn
bản).
2. Phạm vi ứng dụng
Tất cả các lớp mà giáo viên có tham gia giảng dạy.
3. Ví dụ qua một bài học cụ thể
Sau đây là một minh họa cho giải pháp từ một bài học cụ thể:
■ Bài học: ĐỌC TIỂU THANH KÍ (Độc Tiểu Thanh kí) của tác giả Nguyễn
Du
■ Tiến hành ở lớp 10H (2017 – 2020) trường THPT Chuyên Bến Tre
■ Tổng kết những câu hỏi ghi nhận được từ 4 tổ: ở đây chỉ minh họa một vấn
đề (vì dung lượng trình bày có hạn), để thấy được tiến trình hỏi và trả lời để đi đến
điểm cần ghi nhận của bài học.
- Tổ 1:
+ Cẩm Thi: Tại sao nội dung bài thơ là khóc cho nàng Tiểu Thanh mà cuối bài
thơ lại khóc cho mình “khấp Tố Như”?
Học sinh 1 trả lời: Vì bài thơ này Nguyễn Du vừa khóc cho Tiểu Thanh, vừa
khóc cho mình
Học sinh 2 tranh biện: Vậy giữa khóc cho Tiểu Thanh và khóc cho mình, đâu là
điều quan trọng hơn mà Nguyễn Du muốn gửi gắm?
Học sinh 1: cả hai điều không cái nào quan trọng hơn mà đó là nỗi niềm của
Nguyễn Du
Giáo viên hỏi thêm: theo các em, nguyên nhân nào khiến Nguyễn Du đang
khóc cho người bỗng lại khóc cho mình? (mục đích: gợi mở mấu chốt của vấn đề)
Học sinh 3: Thưa cô vì Nguyễn Du có sự đồng cảm giữa những kiếp người tài
hoa mà số phận long đong, chìm nổi, bạc phận
Giáo viên: còn có em nào nghĩ thêm lí do khác nữa không? (mục đích nâng cao
vấn đề)
4


Học sinh không có câu trả lời
Giáo viên gợi mở và chỉ ra cơ sở để hướng học sinh tìm thấy một khía cạnh
nữa của tiếng khóc cho mình: sự cô đơn, không tìm được tri giao trong cuộc đời
Giáo viên: Vậy theo các em, có phải Nguyễn Du chỉ khóc cho Tiểu Thanh và
cho mình thôi không? (câu hỏi mở rộng, khái quát vấn đề)
Học sinh 4: Em nghĩ có thể còn là khóc cho những người có cùng số phận
trong cuộc đời (Thúy Kiều, Đạm Tiên...)
Giáo viên ghi nhận, giới thiệu thêm một số nhân vật khác nữa trong các sáng
tác của Nguyễn Du để khái quát được một tấm lòng nhân đạo lớn lao mà Nguyễn
Du dành cho con người trong cuộc đời, một trái tim lớn, một nhà nhân đạo lớn.
 Giải pháp 2: Khi kiểm tra bài cũ, kiểm tra cả phần
chuẩn bị bài mới của học sinh

Bước 1: Thông tin cho học sinh hiểu rõ về tầm quan trọng, sự cần thiết của
việc học tập tích cực, đặc biệt là trong khâu soạn bài trước (ở nhà).
- Nhìn chung, đặc điểm tâm lý của lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông
diễn biến khá phức tạp. Một trong những yếu tố có ảnh hưởng lớn đến tâm
lý các em là môi trường xã hội. Một số không nhỏ học sinh hiện nay còn quá
ham chơi, xem nhẹ việc học, lười học, chán học, ... Vì vậy, cùng với các bậc
phụ huynh, tôi luôn ý thức được vai trò, trách nhiệm của mình là thường
giáo dục tư tưởng để các em có cái nhìn đúng đắn hơn về tầm quan trọng của
việc học tập tích cực nói chung và việc soạn bài môn Ngữ Văn nói riêng. Từ
đó, học sinh chú trọng hơn đến nhiệm vụ của mình và tích cực hơn trong học
tập.
- Bước 2: Tách thang điểm 10 trong cột điểm kiểm tra miệng thành hai cột
nhỏ hơn. Trong đó, phần bài cũ là 7 điểm, 3 điểm còn lại cho phần soạn bài
mới. Trong 7 điểm đó, giáo viên lại chia thành hai phần. Một cho phần lí
thuyết, chiếm 5 điểm. Phần còn lại học sinh sẽ được 2 điểm nếu có làm bài
tập. Đối với một số bài học không có bài tập về nhà thì thang điểm 7 đó
thuộc về lí thuyết. Để có được trọn 3 điểm trên là không dễ nếu giáo viên
chỉ yêu cầu học sinh trả lời chính xác những câu hỏi trong phần Hướng dẫn
học bài thuộc SGK. Vì thế, căn cứ vào từng câu hỏi đó, giáo viên “giảm
nhẹ” yêu cầu bằng những câu hỏi dễ hiểu hơn nhưng về cơ bản vẫn đảm bảo
được những kiến thức cơ bản của đơn vị bài học.
Giải pháp trên được thực hiện cụ thể theo biểu mẫu sau:
ST
HỌ VÀ TÊN BÀI CŨ (7Đ)
BÀI
TỔNG GHI CHÚ

5


T

HS

LT


BT


MỚI
(3Đ)

ĐIỂM

1
2
3
Việc làm này một mặt nhằm củng cố kiến thức cũ, mặt khác kiểm tra mức độ
chuẩn bị bài của học sinh. Từ đó, giáo viên có hướng triển khai bài mới cho
phù hợp.
* Giáo viên quy định mỗi học sinh phải có một quyển vở soạn bài Ngữ văn
riêng để tránh tình trạng các em soạn nhiều môn trong cùng một quyển vở
học và vở soạn viết chung nhau sẽ gây khó khăn trong việc theo dõi bài và
học bài của chính các em.
Để đưa tất cả học sinh vào nếp chung ổn định thuận tiện cho giáo viên trong
kiểm tra thì ngay từ đầu năm học, giáo viên thông báo cho học sinh nắm và
thực hiện theo kế hoạch. Hình thức kiểm tra được giáo viên thực hiện một
cách linh hoạt. Có thể vào cuối tuần, giáo viên yêu cầu một số học sinh nộp
vở học và vở soạn để giáo viên kiểm tra, có khi việc kiểm tra được thực hiện
một cách đột xuất.
 Giải pháp 3: Có những hướng dẫn thật cụ thể, chi tiết
cho học sinh soạn bài
a. Phạm vi áp dụng: tất cả các đơn vị bài học từ Tập làm
văn, Tiếng Việt đến Đọc - hiểu văn bản, đặc biệt áp dụng hiệu quả
cho việc hướng dẫn học sinh tìm hiểu các tác phẩm văn học vì
thường nhiều em không định hướng được trọng tâm.
b. Mục đích, yêu cầu: Ở không ít bài, những câu hỏi trong
phần Hướng dẫn học bài sau mỗi bài trong sách giáo khoa lắm khi
còn khá xa lạ với khả năng tư duy của học sinh. Do đó, để hiểu và
trả lời những câu hỏi đó là cả một vấn đề. Vì vậy để các em học
sinh có ít nhiều hứng thú với việc soạn bài, giáo viên cần “gia
công” lại một số câu hỏi theo hướng đơn giản hóa, dễ hiểu, gần
gũi hơn với khả năng của các em và phù hợp với tiến trình dạy
học nhưng vẫn đảm bảo đúng yêu cầu kiến thức kỹ năng của bài.
c. Các bước tiến hành:

6


*Bước 1: Giáo viên tự soạn một hệ thống câu hỏi sao cho phù hợp đặc trưng của
từng phân môn khác nhau: đọc văn, tiếng Việt, làm văn. Có khi có thể sử dụng lại
hệ thống câu hỏi SGK, có khi cần thêm hoặc thay thế bằng hệ thống câu hỏi khác.
• Đối với phân môn Đọc hiểu văn bản:
- Văn xuôi:
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh đọc kĩ nội dung văn bản và gạch dưới trong
SGK những chi tiết quan trọng.
+ Lưu ý học sinh xem những chú thích ở cuối các trang thuộc văn bản trên.
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu lời nói, cử chỉ, hành động và những
chi tiết thể hiện thái độ của nhân vật cộng với việc phân tích một số biện pháp
nghệ thuật. Qua đó, rút ra nhận xét chung về tính cách của nhân vật.
+ Đọc kỹ và trả lời các câu hỏi trong sách giáo khoa dựa vào những dẫn
chứng trong nội dung bài học.
- Thơ:
+ Giáo viên yêu cầu học sinh học thuộc lòng thơ trước khi đến lớp mới có
thể phân tích cảm thụ tốt hình ảnh thơ.
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh phân tích từ ngữ, nghệ thuật miêu tả, các
biện pháp tu từ thể hiện tư tưởng, tình cảm của nhà thơ để trả lời các câu hỏi trong
sách giáo khoa.
+ Yêu cầu học sinh giải nghĩa một số từ ngữ hay, khó trong tác phẩm (có thể
tra từ điển)

Đối với phân môn Tiếng Việt:
+ Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu kỹ nội dung các ví dụ trong sách
giáo khoa, liên hệ với ngữ cảnh của từ ngữ, câu văn để trả lời các câu hỏi trong
SGK.
+ Yêu cầu học sinh đọc kỹ yêu cầu trong câu hỏi, liên hệ với kiến thức lý
thuyết để giải quyết, suy nghĩ và cho ví dụ khác với ví dụ SGK đưa ra.
+ Yêu cầu học sinh tạo lập những đoạn hội thoại (viết hoặc nói) có ứng dụng
kiến thức bài học.

Đối với phân môn Tập làm văn:
- Giáo viên nên có những đoạn văn bản mẫu để yêu cầu học sinh rút ra vấn
đề về cách viết văn
- Yêu cầu học sinh viết trước dàn ý hoặc đoạn văn (tuỳ theo từng bài cụ thể)
*Bước 2: giao câu hỏi cho học sinh trước bài học, giáo viên có thể thiết kế tập tài
liệu in trước hệ thống cho cả học kì và phát cho học sinh ngay từ đầu, hoặc sau khi
kết thúc bài, ở phần dặn dò, giáo viên cho học sinh ghi nhận lại những câu hỏi, yêu
cầu cần chuẩn bị.
7


*Bước 3: kiểm tra thường xuyên quá trình soạn bài của học sinh và nhắc nhở.
c. Ví dụ minh hoạ
Ví dụ 1: trước khi dạy bài “Chí Phèo” của Nam Cao, ngoài câu hỏi SGK,
chúng tôi đã giao cho học sinh so sánh hình tượng nhân vật Chí Phèo với hình
tượng nhân vật Chị Dậu trong tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố (văn 9 tập 2), từ
đó chỉ ra những phát hiện độc đáo của Nam Cao khi miêu tả hình tượng của người
nông dân trước cách mạng.
Ví dụ 2: Khi dạy bài “Vợ chồng A Phủ”, ngoài những câu hỏi SGK tôi hướng
dẫn một số câu hỏi cho các em chuẩn bị:
- Nhân vật Mị khiến em nghĩ đến nhân vật nào trong văn học hiện đại mà em
đã từng học? hãy so sánh?
- Âm thanh tiếng sáo gọi bạn đầu làng đã thức tỉnh điều gì ở Mị? Âm thanh
này gợi ta nhớ đến âm thanh nào trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao (Âm
thanh đã góp phần làm thức tỉnh phần Người trong Chí Phèo)?
- Nhận xét về chi tiết kết thúc tác phẩm so với kết thúc tác phẩm Chí Phèo?
 Giải pháp 4: Có thể khuyến khích học sinh soạn bài
ngay trên sách giáo khoa
a. Phạm vi áp dụng: có thể áp dụng cho tất cả các đơn vị bài học, nhưng
hiệu hiệu quả cho những bài lý thuyết: Lịch sử văn học, Lý luận văn học; Tiếng
Việt, Tập làm văn; đối với những bài đọc - hiểu văn bản, cần kết hợp soạn trong
SGK và trên vở bài soạn.
b. Mục đích, yêu cầu: để tiết kiệm thời gian có thể hướng dẫn học sinh soạn
ngay trong SGK, đồng thời sẽ giúp các em nhớ lâu kiến thức và dễ dàng hơn trong
quá trình học bài. Soạn bài theo phương pháp này cần ghi chú ngắn gọn nhưng
trọng tâm.
c. Các bước tiến hành:
*Bước 1: giống như soạn bài trên tập bài soạn, giáo viên cung cấp cho học sinh hệ
thống câu hỏi và yêu cầu học sinh thực hiện

8


*Bước 2: học sinh trả lời câu hỏi bằng cách gạch chân những ý chính trong SGK
hoặc ghi chú ngay bên cạnh những từ ngữ, chi tiết thể hiện được nội dung trả lời
cho câu hỏi, yêu cầu của giáo viên.
*Bước 3: giáo viên kiểm tra việc soạn bài của học sinh trên SGK (phát hiện những
trường hợp gạch chân qua loa, đại khái để nhắc nhở)
d. Ví dụ minh hoạ
Học sinh gạch dưới trước ý
chính bằng bút dạ vào SGK

Học sinh soạn bài bằng cách
ghi chú thêm bằng bút chì vào
SGK

 Giải pháp 5: khuyến khích học sinh chủ động chuẩn bị
bài bằng cách tăng cường cho học sinh trình bày vấn đề

a. Phạm vi áp dụng: có thể áp dụng cho tất cả đơn vị bài học, hiệu quả
cao ở những bài đọc - hiểu văn bản

9


b. Mục đích, yêu cầu: phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ
học, giúp học sinh chủ động chuẩn bị bài mới tốt hơn, hiệu quả hơn.
c. Các bước tiến hành:
*Bước 1: giáo viên đưa trước một số vấn đề liên quan đến tác phẩm và yêu
cầu học sinh chuẩn bị để trình bày trước lớp (giáo viên linh hoạt có thể cho
học sinh chủ động đăng kí trước nội dung mà các em tâm đắc; có thể gọi
ngẫu nhiên để tất cả các học sinh đều phải có sự chuẩn bị)
*Bước 2: học sinh trình bày nội dung chuẩn bị trên lớp, học sinh khác theo
dõi, tranh luận
*Bước 3: giáo viên nhận xét (có thể cho điểm những phần trình bày tốt),
giáo viên chốt lại vấn đề.
d. Ví dụ minh hoạ
Khi dạy bài “Tự tình (II)” của Hồ Xuân Hương, chúng tôi yêu cầu các
em “tập làm giáo viên” thay phiên lên giảng lại nội dung bài thơ theo trình
tự đề - thực - luận - kết, vừa giảng vừa kết hợp ghi bảng sao cho các bạn có
thể nắm được nội dung bài thơ, học sinh có thể đặt câu hỏi cho các bạn. Sau
đó lớp sẽ nhận xét và giáo viên rút lại.
Khi dạy bài “Những yêu cầu sử dụng tiếng Việt”, chúng tôi yêu cầu lớp
chia nhóm thiết kế trò chơi liên quan đến những yêu cầu về ngữ âm, chữ
viết; ngữ pháp, …
Khi dạy chùm bài ca dao, chúng tôi yêu cầu các em chuẩn bị tái hiện lại
sức sống của ca dao – dân ca trong đời sống người Việt; yêu cầu các nhóm
trình bày cảm nhận về những bài ca dao trong SGK

Học sinh tái hiện lại cảnh hát
đối đáp ca dao

10
Học sinh trình bày cảm nhận
về chùm ca dao “Thân em”


5. Hiệu quả đạt được do áp dụng sáng kiến:
- Tiến hành áp dụng giải pháp trên từ đầu năm học này đến nay, chúng tôi đã
nhận thấy được những hiệu quả như sau:
* Phía giáo viên:
+ Qua sự chuẩn bị của các em, giáo viên hiểu được nhiều hơn về khả năng
của từng học sinh. Đó một trong những điều kiện thuận lợi để giáo viên có cơ hội
dễ dàng tiếp cận, dạy và giáo dục đối tượng của mình làm cho hoạt động dạy và
học đạt hiệu quả hơn.
+ Trong quá trình xem xét sự chuẩn bị của học sinh, giáo viên đánh giá được
năng lực vận dụng kiến thức, giải quyết vấn đề của từng em. Từ đó, giáo viên tự
đề ra hướng khắc phục những điểm còn hạn chế của các em cho phù hợp đáp ứng
yêu cầu đổi mới giáo dục.
+Nếu trước kia giáo viên chỉ có thể dừng lại ở chỗ đánh giá kết quả học tập
của học sinh trong quá trình học e rằng chưa đảm bảo được tính chính xác, khách
quan và khoa học. Nhưng với hoạt động như hiện tại giáo viên còn có thể đánh giá
học sinh về kết quả học tập đồng thời “đo” được năng lực cả trong quá trình học
tập của các em nữa. Đây là việc làm hết sức cần thiết cho cả thầy lẫn trò.
+ Một khi học sinh đã nhận ra tính thiết thực, tầm quan trọng của môn học
này, các em có sự chuẩn bị bài tốt hơn và luôn hoàn thành khá tốt những bài tập
được giao. Đó có thể xem là thành công bước đầu, một bước đầu quan trọng giúp
giáo viên thêm yêu nghề, yêu trò. Từ tình yêu đến niềm say mê, nhiệt tình và dễ
sáng tạo những phương pháp mới, tiến bộ trong giờ dạy của mình.
* Phía học sinh:
+Hình thành và nâng cao kỹ năng tự học, là bước nền vững chắc cho các em
làm quen với quá trình học đại học sắp tới (chủ yếu là tự học).
+ Học sinh chủ động hơn trong học tập, tích cực hơn trong việc học của mình,
đặc biệt thấy việc soạn bài môn Ngữ Văn không quá nhàm chán, nặng nề; dần
hứng thú với môn học.
- Bằng cách làm này, giáo viên đã thật sự tạo được sự hứng thú cho khá
nhiều người học thậm chí là có cả niềm đam mê ở một số học sinh. Khi đã đạt
được điều đó cũng có nghĩa là điểm số các em đạt được cũng được cải thiện đáng
kể.
- Kết quả trên mặc dù không phải là kết quả tốt nhất nhưng cũng phần nào
thể hiện sự nổ lực của bản thân và tính khả thi của giải pháp mà chúng tôi đã thực
hiện trong từ đầu năm học này cho đến nay. Điều đó cho thấy rằng tôi phải không
ngừng tìm hiểu, nắm bắt và vận dụng có sáng tạo những chương trình đổi mới giáo
dục của ngành cho công việc này trong thời gian sắp tới.
11


5. Những người tham gia tổ chức áp dụng sáng kiến lần
đầu: giáo viên trong nhóm viết sáng kiến
6. Tài liệu kèm theo: không có.
Bến Tre, ngày 14 tháng 03 năm 2018

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×