Tải bản đầy đủ

Ngân hàng maritime bank mở rộng cho vay

MỤC LỤC

MỤC LỤC.............................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................3
LỜI CẢM ƠN.......................................................................................................5
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ................................................................6
DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT......................................................................7
CHƯƠNG 1: NHỮNG NGHIỆP VỤ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG
VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.........................................................8
1. Khái nhiệm NHTM.......................................................................................8
2. Các nghiệp vụ cơ bản của NHTM.................................................................9
2.1. Nghiệp vụ huy động vốn..........................................................................9
2.2. Nghiệp vụ sử dụng vốn.............................................................................9
3. Nghiệp vụ tín dụng của NHTM...................................................................11
3.1. Khái niệm TDNH...................................................................................11
3.2. Các hình thức TDNH.............................................................................11
3.3. Nguyên tắc tín dụng.............................................................................14
3.4. Lãi suất tín dụng...................................................................................15
3.5. Quy trình tín dụng................................................................................16
4. Vốn và vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM................17
4.1. Khái niệm về vốn....................................................................................17

4.2. Vai trò của vốn trong HĐKD của NHTM..............................................17
4.3. Các hình thức huy động vốn của NHTM...............................................20
5. Các chỉ tiêu đánh giá mở rộng và nâng cao chất lượng công tác huy động
vốn .....................................................................................................................25
5.1.Quy mô nguồn vốn huy động..............................................................25
5.2.Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động.............................................25
5.3.Cơ cấu nguồn vốn huy động......................................................................26
1


5.4.Chi phí huy động vốn :..............................................................................28
5.5.Các hình thức huy động vốn.....................................................................29
5.6.Tính ổn định của nguồn vốn......................................................................29
5.7.Một số chỉ tiêu khác..................................................................................30
6. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng công tác huy động vốn của ngân
hàng thương mại .................................................................................................31
6.1.Nhân tố khách quan...................................................................................31
6.2.Nhân tố chủ quan.......................................................................................33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN Ở NH
MARITIME BANK............................................................................................37
1. Tổng quan về Maritime bank......................................................................37
1.1. Giới thiệu chung về maritime bank........................................................37
1.2. Cơ cấu tổ chức của maritime bank.........................................................40
2. Thực trạng mở rộng huy động vốn của NH................................................43
2.1. Cơ cấu huy động vốn..............................................................................43
2.2. Những hình thức huy động vốn tại NH maritime bank..........................52
2.3. Lãi suất huy động của NH MaritimeBank..............................................54
1. Những kết quả đạt được..............................................................................56
2. Hạn chế & nguyên nhân..............................................................................57
2.1. Hạn chế do nguyên nhân khách quan.....................................................57
2.2. Hạn chế do nguyên nhân chủ quan.........................................................59
3. Một số kiến nghị..........................................................................................60
3.1. Kiến nghị với ngân hàng Nhà nước........................................................61
3.2. Kiến nghị với Chính phủ........................................................................62
KẾT LUẬN.........................................................................................................66
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................67

LỜI MỞ ĐẦU

2




Trong nền kinh tế thị trường càng ngày càng phát triển, đặc bi ệt trong xu
hướng hội nhập kinh tế quốc tế, hiện nay một doanh nghiệp mu ốn t ồn t ại
và phát triển bền vững cần phải biết tự chủ về mọi mặt trong hoạt động
sản xuất kinh doanh từ việc đầu tư và sử dụng vốn, tổ ch ức sản xu ất cho
đến tiêu thụ sản phẩm.Với tư cách là một công cụ quản lý kinh tế. Kế toán
phải luôn luôn thay đổi và hoàn thiện mình trong tình hình th ực tại, phù
hợp với chuẩn mực đã quy định, cung cấp các thông tin trung th ực, có giá
trị pháp lý và độ tin cậy cao về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
giúp doanh nghiệp và các đối tượng có liên quan đánh giá đúng đ ắn tình
hình hoạt động của doanh nghiệp. Điều này không những đảm bảo cho
doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường đầy biến động, còn cho phép
doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh tế đã đề ra nh ư: Doanh thu, l ợi
nhuận, thị phần, uy tín…
Trong những năm gần đây thị trường chứng khoán cuả nước ta ngày càng
phát triển, số lượng các công ty cổ phần mới liên tục tăng kéo theo đó vai
trò của quản trị tài chính trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Các doanh
nghiệp luôn phải “đắn đo” rất nhiều trước khi đưa ra một chính sách tài
chính vừa đảm bảo đủ nguồn lực đầu tư phát triển lại vừa tạo đ ược hình
ảnh của công ty trong cộng đồng doanh nghiệp và các nhà đầu tư.Một
trong những vấn đề làm đau đầu các nhà quản trị tài chính doanh nghi ệp
làxây dựng cơ cấu vốn của doanh nghiệp như thế nào, v ốn chủ s ở h ữu bao
nhiêu, vay ngân hàng bao nhiêu để có thể tối đa hóa giá trị doanh nghi ệp,
hay còn gọi là xây dựng cấu trúc vốn tối ưu nhằm đảm bảo chi phí s ử d ụng
vốn bình quân nhỏ nhất và giá trị doanhnghiệp đạt lớn nh ất luôn là m ối
quan tâm hàng đầucủa các nhà quản trị tài chính. Đây là một v ấn đề khá
thú vị cả trong nghiên cứu lý luận lẫn áp dụng trong thực tiễn. Để có cái
nhìn sâu sắc hơn về vấn đề này, bản thân em l ựa chọn địa đi ểm th ực t ập là
ngân hàng Maritime Bank; qua thời gian th ực tập tại công ty, v ới s ự h ướng
3


dẫn tận tình của giáo viên hướng dẫn và sự giúp đỡ của các anh, ch ịtrong
công ty đã giúp em thấy được toàn bộ hoạt động kinh doanh nói chung và
công tác huy động vốn ở ngân hàng nói riêng. Thực tiễn tại đ ơn v ị đã giúp
cho em hiểu rõ hơn những vấn đề lý luận đã được học ở trường.

LỜI CẢM ƠN
Trước hết, chúng em xin được chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc t ới các
thầy cô giáo trong trường nói chung và các thầy cô trong khoa kế toán nói
riêng đã tận tình giảng dạy, truyền đạt cho em những kiến th ức, nh ững
kinh nghiệm quý báu trong suốt những năm học tập và rèn luy ện t ại
trường.
Em xin được gửi lời cảm ơn đến giáo viên hướng dẫn đã hết lòng giúp đ ỡ,
hướng dẫn và chỉ dạy tận tình trong quá trình học tập và tổng h ợp báo cáo
thực tập.
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn đến quý anh, chị trong công ty NH
Maritime Bank đã luôn đồng hành, hướng dẫn cũng như định h ướng cho
em trong suốt thời gian thực tập.
Em xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày… tháng… năm…
Ký tên

DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ
Sơ đồ 1. Sở đồ tổ chức NHTM MARITIME BANK
Hình 1. Ngân hàng maritime bank
Hình 2. Cơ cấu hội đồng quản trị NH MARITIME BANK
4


Hình 3. Hội đồng điều hành NH MARITIME BANK
Hình 4. Ban kiểm soát NH MARITIME BANK
Bảng 1: cơ cấu vốn huy động theo thành phần kinh tế
Biểu 1: cơ cấu vốn huy động theo thành phần kinh tế
Biểu 2: cơ cấu vốn huy động của tckt
Bảng 2: cơ cấu vốn huy động từ các tctd khác
bảng 3: cơ cấu vốn huy động theo loại tiền
bảng 4: cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn
biểu 3: cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn

DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
-

Từ ngữ viết tắt
NHTM
NVCB
HĐCB
HĐKD
NHTW
TCKT

-

Giải thích
Ngân hàng thương mại
Nghiệp vụ cơ bản
Hoạt động cơ bản
Hoạt động kinh doanh
Ngần hàng trung ương
Tài chính kinh tế

CHƯƠNG 1: NHỮNG NGHIỆP VỤ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG
VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.
Khái nhiệm NHTM
Để đưa ra được một khái niệm về NHTM, người ta thường phải dựa vào
tính chất và mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính và đôi khi còn
kết hợp tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động. Xuất phát từ đặc điểm trên,
Luật Ngân hàng của nhiều quốc gia trên thế giới đã đưa ra những khái niệm
khác nhau về NHTM. Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau, nhưng phân
tích khai thác nội dung của các khái niệm đó, ta dễ dàng nhận thấy các NHTM
đều có chung một tính chất đó là việc nhận tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn,
để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và các nghiệp vụ kinh doanh
khác của chính ngân hàng.
Ở việt Nam, trong bước chuyển đổi sang kinh tế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước, thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần theo
định hướng XHCN. Mọi người được tự do kinh doanh theo pháp luật, được bảo
5


hộ quyền sở hữu và thu nhập hợp pháp, các hình thức sở hữu có thể hỗn hợp,
đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh doanh đa dạng. Các doanh nghiệp,
không phân biệt quan hệ sở hữu đều tự chủ kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh
với nhau, bình đẳng trước pháp luật.
Theo hướng đó, nền kinh tế hàng hoá phát triển tất yếu sẽ tạo ra những
tiền đề cần thiết và đòi hỏi sự ra đời của nhiều loại hình ngân hàng và các tổ
chức tín dụng khác. Để tăng cường quản lý, hướng dẫn hoạt động của các ngân
hàng và các tổ chức tín dụng khác, tạo thuận lợi cho sự phát triển nền kinh tế
đồng thời bảo vệ lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân. Việc đưa ra khái
niệm về NHTM là hết sức cần thiết. Theo Pháp lệnh của Ngân hàng nhà nước
Việt Nam ban hành ngày 24/05/1990:” NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà
hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách
nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu
và làm phương tiện thanh toán.”. Như vậy, NHTM là một tổ chức kinh doanh
tiền tệ thông qua các nghiệp vụ huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong
nền kinh tế để cho vay, đầu tư và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác.
Từ định nghĩa chung về NHTM trên, căn cứ vào tính chất và mục tiêu hoạt động
pháp lệnh còn chỉ rõ các loại hình ngân hàng gồm: NH Thương mại, NH Phát
triển, NH đầu tư, NH Chính sách, NH Hợp tác và các loại hình ngân hàng khác.
2.
Các nghiệp vụ cơ bản của NHTM
2.1. Nghiệp vụ huy động vốn
Vốn của NHTM là những gía trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động
được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác.
Thực chất, nguồn vốn của ngân hàng là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời
nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng, mà người chủ sở hữu
của chúng gửi vào ngân hàng để thực hiện các mục đích khác nhau. Nhìn chung,
vốn chi phối toàn bộ các hoạt động và quyết định đối với việc thực hiện các
chức năng của NHTM.
Xuất phát từ vai trò và tính chất vốn như vậy, nghiệp vụ huy động vốn
(hay còn gọi là nghiệp vụ tạo lập vốn) luôn được coi là nghiệp vụ khởi đầu tạo
6


điều kiện cho sự hoạt động của NHTM. Ngoài vốn ban đầu cần thiếttức là đủ
vốn pháp định theo luật thì ngân hàng phải thường xuyên chăm lo tới việc tăng
trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của mình. Thông thường
kết cấu nguồn vốn của một NHTM gồm có: vốn tự có, vốn huy động, vốn đi
vay, vốn khác. Mỗi loại vốn đều có một tính chất, vai trò riêng trong tổng nguồn
vốn hoạt động của NHTM và trong suốt quá trình hoạt động của NHTM các
nghiệp vụ huy động theo từng loại vốn kể trên sẽ được tiến hành xen kẽ lẫn nhau
tuỳ thuộc vào yêu cầu của hoạt động kinh doanh và thực trạng vốn hiện có của
ngân hàng.
2.2.

Nghiệp vụ sử dụng vốn

Sau khi huy động được vốn, NHTM phải sử dụng thế nào để hiệu quả hoá
những nguồn tài sản này. Thông thường hoạt động sử dụng vốn của ngân hàng
tập trung vào các hình thức sau:
- Nghiệp vụ ngân quỹ: là hoạt động của ngân hàng nhằm bảo đảm khả
năng thanh toán thường xuyên, bao gồm : các quỹ tiền mặt, các khoản tiền
gửi thanh toán ở NHTW và NHTM khác, các khoản tiền đang trong quá
trình thu về
- Nghiệp vụ cho vay: là một hoạt động kinh doanh chủ chốt của ngân hàng
để tạo ra lợi nhuận. Các khoản cho vay thường chiếm tỷ trọng lớn từ
6080% tổng số tài sản có của NHTM và đem lại hơn 60% doanh lợi cho
ngân hàng. Đại bộ phận tiền huy động được ngân hàng cho vay theo 2 loại
chính là cho vay ngắn hạn và cho vay trungdài hạn để thực hiện các dự án
đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống. Tuy nhiên, trên
thực tế, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và của ngành
ngân hàng, các NHTM còn đưa ra nhiều loại hình tín dụng khác, đáp ứng
mọi nhu cầu tín dụng của các thành phần trong nền kinh tế. Ví dụ như: tín
dụng thông thường cho các đơn vị kinh doanh, tín dụng chứng từ, tín
dụng thuê mua,…
7


- Nghiệp vụ đầu tư: hoạt động đầu tư của NHTM diễn ra chủ yếu trên thị
trường tài chính thông qua việc mua bán các chứng khoán. Thu nhập của
ngân hàng thu được từ hoạt động này là khoản chênh lệch giữa giá bán và
giá mua. Ngoài ra, ngân hàng còn có thể tiến hành đầu tư thông qua việc
mua cổ phiếu hoặc hùn vốn, góp vốn liên doanh với các doanh nghiệp và
sẽ được phân chia lơi nhuận trong quá trình hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
- Nghiệp vụ trung gian: Để giúp các ngân hàng phát triển toàn diện và
đem lại cho ngân hàng những khoản thu nhập khá quan trọng, NHTM còn
tiến hành các nghiệp vụ trung gian gồm rất nhiều loại dịch vụ ngân hàng
khác nhau để đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng qua đó làm tăng sự
thoả mãn của khách hàng đối với 2 loại nghiệp vụ cơ bản kể trên. Các
dịch vụ trung gian thường gặp là: dịch vụ chuyển khoản, dịch vụ cung cấp
các công cụ thanh toán, dịch vụ thu hộchi hộ, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ
kiều hốithu đổi ngoại tệ, dịch vụ thuê mua và bảo lãnh, dịch vụ tư vấn
thông tin,…Vai trò của các nghiệp vụ trung gian này là bổ sung thêm vào
các nghiệp vụ cơ bản, nó tạo giá trị gia tăng và có thể tạo ra sự khác biệt
của ngân hàng trong cạnh tranh.
3.
Nghiệp vụ tín dụng của NHTM
3.1. Khái niệm TDNH
TDNH là mối quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng v ới m ột bên là
các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò v ừa là
người đi vay vừa là người cho vay, hay nói cách khác, ngân hàng là một
trung gian tài chính luân chuyển vốn từ nơi tạm th ừa v ốn sang n ơi thi ếu.
Giá (lãi suất) của khoản vay do ngân hàng ấn định cho khách hàng vay là
mức lợi tức mà khách hàng phải trả trong suốt khoản thời gian tồn tại c ủa
khoản vay.
Chủ thể tham gia trong quan hệ TDNH là ngân hàng, nhà nước, doanh
nghiệp và hộ dân cư. Đối tượng được sử dụng trong quan hệ tín dụng là
tiền, do đó, nó không chịu sự giới hạn theo hàng hoá, vận đ ộng đa ph ương

8


đa chiều. Đây chính là ưu điểm nổi bật và là đặc điểm khác biệt giữa TDNH
với các loại hình tín dụng khác.
3.2. Các hình thức TDNH
Ở Việt Nam hiện nay, căn cứ theo quyết định số 324/1998/QĐ-NHNN1 của
Thống đốc NHNN Việt Nam ngày 30/09/1998 về việc ban hành quy ch ế
cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, NHTM có th ể có các hình
thức tín dụng sau:
- Cho vay từng lần: Hình thức này áp dụng đối với khách hàng có nhu
cầu và đề nghị vay vốn từng lần, khách hàng có nhu cầu vay v ốn
không thường xuyên hoặc khách hàng mà ngân hàng xét th ấy cần
thiết phải áp dụng cho vay từng lần để giám sát, kiểm tra, quản lý
việc sử dụng vốn vay chặt chẽ an toàn. Mỗi lần vay vốn khách hàng
và ngân hàng phải làm các thủ tục vay vốn cần thiết và ký h ợp đ ồng
tín dụng. Mỗi hợp đồng tín dụng có thể phát tiền vay m ột hay nhi ều
lần phù hợp với tiến độ và yêu cầu sử dụng vốn thực tế của khách
hàng. Ngân hàng cho vay phải quản lý chặt chẽ doanh số cho vay đ ảm
bảo tổng số tiền trên các giấy nhận nợ do khách hàng lập không
vượt quá số tiền đã ký trong hợp đồng tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Cho vay theo hạn mức tín dụng là
việc ngân hàng cho khách hàng vay căn cứ vào dự án, kế hoạch sản
xuất kinh doanh để tính toán và thoả thuận một hạn mức tín dụng
duy trì trong thời hạn nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất kinh
doanh. Việc thoả thuận này phải được thể hiện và ký kết trong h ợp
đồng tín dụng. Khách hàng được rút vốn trong phạm vi h ạn m ức tín
dụng cho phép căn cứ vào nhu cầu vốn của phương án sản xuất kinh
doanh và chỉ phải xuất trình những thủ tục đơn giản, tạo thuận lợi
cho doanh nghiệp. Hình thức tín dụng này thường được áp dụng cho
các khách hàng có nhu cầu vay vốn thường xuyên, sản xuất kinh
doanh ổn định, có uy tín trong quan hệ kinh doanh với ngân hàng.
- Cho vay theo dự án đầu tư: Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để
thực hiện các dự án đầu tưphát triển sản xuất kinh doanh, dịch vụ và
9


các dự án đầu tư phục vụ đời sống. Hình th ức này áp dụng cho các
trường hợp vay vốn trung và dài hạn.
- Cho vay hợp vốn: Theo hình thức này, một nhóm các tổ chức tín
dụng cùng cho vay đối với một dự án hoặc phương án vay vốn của
khách hàng, trong đó có một tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn x ếp
phối hợp với các tổ chức tín dụng khác. Cho vay h ợp v ốn th ường
được áp dụng đối với các dự án có nhu cầu vốn lớn, vượt quá kh ả
năng của một ngân hàng hoặc có phạm vi qui mô rộng mà một ngân
hàng khó có thể kiểm soát nổi. Hình thức tín dụng này giúp cho các
ngân hàng giảm thiểu rủi ro, đông thời khác bổ sung kinh nghiệm,
kiến thức cho nhau.
- Cho vay trả góp: Đây là hình thức tín dụng mà qua đó ngân hàng cho
khách hàng vay để mua tài sản, hàng hoá khi khách hàng không có đ ủ
tiền trả một lúc. Khi vay vốn, ngân hàng cho vay và khách hàng xác
định và thoả thuận số lãi tiền vay phải trả cộng với số n ợ gốc đ ược
chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong th ời hạn cho vay. Tài sản
mua bằng vốn vay chỉ thuộc sở hữu của bên vay sau khi h ọ tr ả đủ n ợ
gốc và lãi cho ngân hàng. Với hình thức này, để được vay vốn khách
hàng phải có phương án trả nợ gốc và lãi vay khả thi bằng các khoản
thu nhập có cơ sở chắc chắn, ổn định.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng : Cho vay theo hạn mức
tín dụng dự phòng là việc ngân hàng cho vay cam kết đảm bảo sẵn
sàng cho khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nh ất
định để đầu tư cho dự án. Theo hình thức này, căn cứ vào nhu cầu
của khách hàng, ngân hàng và khách hàng thoả thuận trong h ợp đồng
tín dụng: hạn mức tín dụng dự phòng, thời hạn hiệu lực của tín dụng
dự phòng. Trong thời gian hiệu lực của hợp đồng, nếu khách hàng
không sử dụng hoặc không sử dụng hết hạn mức, khách hàng ph ải

10


trả phí đã cam kết theo thoả thuận. Khi khách hàng vay chính th ức,
phần vốn vay được tính theo lãi suất tiền vay hiện hành.
- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng th ẻ : Với hình
thức này, ngân hàng cho phép khách hàng trong phạm vi h ạn m ức đ ể
thanh toán tiền mua hàng hoá, dịch vụ tại các cơ sở bán hàng có ch ấp
nhận thanh toán thẻ hay rút tiền mặt tại các máy rút tiền t ự đ ộng.
Hình thức tín dụng này đem lại cho khách hàng tính tự chủ cao và tiết
kiệm thời gian.
Ngoài các hình thức tín dụng kể trên, trong tình hình kinh doanh hiện nay
để tăng tính cạnh tranh trên thị trường, thu hút được nhiều khách hàng các
ngân hàng còn có thể áp dụng nhiều hình thức cho vay khác phù h ợp v ới
nhu cầu, nguyện vọng vay vốn của khách hàng.
3.3. Nguyên tắc tín dụng
Tín dụng ngân hàng được thực hiện trên 3 nguyên tắc sau:
- Tiền cho vay phải được hoàn trả sau một thời gian nhất định c ả
vốn lẫn lãi: Đây là nguyên tắc quan trọng hàng đầu vì đại bộ ph ận
vốn kinh doanh của ngân hàng là nguồn vốn huy động t ừ n ền kinh
tế. Nguyên tắc hoàn trả phản ánh đúng bản chất quan hệ tín d ụng,
tính chất của tín dụng sẽ bị phá vỡ nếu nguyên tắc này không được
thực hiện đầy đủ. Nếu trong quá trình hoạt động kinh doanh, các
khoản tín dụng mà ngân hàng đã cung cấp không đ ược hoàn tr ả đúng
hạn nhất định sẽ ảnh hưởng tới khả năng thanh toán và thu nhập
của ngân hàng. Do đó, khách hàng khi vay vốn phải cam kết trả cả
gốc và lãi trong một thời hạn nhất định, cam kết này được ghi trong
hợp đồng vay nợ.
- Vốn vay phải có giá trị tương đương làm đảm bảo : Trong nền
kinh tế thị trường các hoạt động kinh tế diễn ra hết sức đa dạng và
phức tạp, vì thế mọi dự đoán về rủi ro của ngân hàng ch ỉ mang tính
tương đối. Trong môi trường kinh doanh như vậy, bảo đảm tín dụng
11


được coi là một tiêu chuẩn xét duyệt cho vay nhằm bổ sung những
mặt hạn chế của nhà quản trị tín dụng cũng như phòng ngừa nh ững
diễn biến không thuận lợi của môi trường kinh doanh. Các giá tr ị
tương đương làm bảo đảm có thể là: vật tư hàng hóa trong kho, tài
sản cố định của doanh nghiệp, số dư trên tài khoản tiền gửi, hoá đ ơn
chuẩn bị nhận hàng hoặc có thể là cam kết bảo lãnh của một cơ
quan khác thậm chí có thể là chính uy tín của doanh nghiệp trên th ị
trường và trong mối quan hệ quá khứ với ngân hàng. Giá trị đ ảm bảo
là cơ sở cho khả năng trả nợ của khách hàng, cơ sở để h ạn chế r ủi ro
tín dụng của ngân hàng và là điều kiện để th ực hiện nguyên tắc th ứ
nhất trong các điều kiện khác nhau.
- Cho vay theo kế hoạch thoả thuận trước (vốn vay phải được sử
dụng đúng mục đích): Tín dụng đúng mục đích không những là
nguyên tắc mà còn là phương châm hoạt động của tín dụng. Quan hệ
tín dụng phản ánh nhu cầu về vốn và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Việc thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng là cơ sở để
doanh nghiệp tính toán các yếu tố hiệu quả của quá trình sản xu ất
kinh doanh, đồng thời nó cũng là một trong những yếu tố đảm bảo
khả năng thu nợ của ngân hàng.Để thực hiện nguyên tắc này, ngân
hàng yêu cầu khách hàng vay vốn phải sử dụng tiền vay đúng m ục
đích như đã cam kết trong hợp đồng, bởi vì mục đích đó đã đ ược
ngân hàng thẩm định. Nếu phát hiện khách hàng vi phạm ngân hàng
được quyền thu hồi nợ trước hạn, trường hợp khách hàng không có
tiền thì chuyển nợ quá hạn.
3.4. Lãi suất tín dụng
Trong quan hệ tín dụng lãi suất là biểu hiện giá cả khoản ti ền mà ng ười
cho vay đòi hỏi khi tạm thời trao quyền sử dụng một khoản vốn của mình
cho người khác trong một thời gian nhất định. Người đi vay coi lãi suất nh ư
một khoản chi phí phải trả cho nhu cầu sử dụng tạm thời vốn của người
12


khác. Nói một cách khác lãi suất tín dụng là giá cả của quy ền sử dụng v ốn
vay. Đối với hoạt động ngân hàng, lãi suất là một trong nh ững biến số đ ược
theo dõi chặt chẽ nhất, nó không chỉ là công cụ điều tiết vĩ mô mà còn là
phương tiện giúp các ngân hàng cạnh tranh trong cơ chế thị tr ường. Thông
thường lãi suất của ngân hàng được hình thành trên cơ sở lãi suất th ị
trường nên luôn biến động. Trong hoạt động tín dụng, lãi suất tín dụng
thường có các giới hạn sau:
Đối với mọi thành viên trong hệ thống Ngân hàng Công th ương Việt Nam,
hướng dẫn thực hiện quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đ ược quy đ ịnh
như sau:
- Mức lãi suất cho vay do ngân hàng cho vay và khách hàng thoả thuận
phù hợp với qui định của NHNN và hướng dẫn của Tổng giám đốc
NHCT về lãi suất cho vay tại thời điểm ký kết hợp đồng tín d ụng.
Ngân hàng cho vay công bố mức lãi suất cho vay cho khách hàng bi ết.
- Lãi suất cho vay ưu đãi được áp dụng đối với các khách hàng đ ược
ưu đãi về lãi suất do Tổng giám đốc NHCT thông báo theo qui đ ịnh
của Chính phủ và hướng dẫn của NHNN.
- Trường hợp khoản vay bị chuyển sang nợ quá hạn, ph ải áp d ụng lãi
suất nợ quá hạn theo mức qui định của Thống đốc NHNN tại th ời
điểm ký kết hợp đồng tín dụng.
3.5. Quy trình tín dụng
Quy trình tín dụng là tập hợp các nội dung, kỹ thuật nghiệp v ụ c ơ b ản,
trình tự các bước phải tiến hành từ khi bắt đầu đến khi kết thúc m ột vòng
quay của vốn tín dụng. Quy trình tín dụng là yếu tố quan trọng, để đ ảm
bảo hiệu quả tín dụng quy trình tín dụng thường gồm có 10 bước.
- Khai thác khách hàng, tìm kiếm dự án
- Hướng dẫn khách hàng về điều kiện tín dụng và lập hồ sơ vay vốn
- Điều tra, thu thập, tổng hợp thông tin về khách hàng
- Phân tích, thẩm định khách hàng và phương án vay vốn
- Quyết định cho vay

13


- Kiểm tra hoàn chỉnh hồ sơ cho vay và hồ sơ tài sản thế chấp, cầm c ố,
bảo lãnh
- Phát tiền vay
- Kiểm tra sau khi cho vay, thu hồi nợ, gia hạn nợ
- Xử lý rủi ro
- Thanh lý hợp đồng và đánh giá kết quả cho vay
Nắm vững quy trình tín dụng, tuân thủ thực hiện chặt chẽ các bước của
quy trình sẽ là điều kiện đầu tiên để nâng cao chất lượng tín d ụng.
4.
Vốn và vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM
4.1. Khái niệm về vốn
Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng tạo lập
hoặc huy động được, dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh
doanh khác.
Thực chất, vốn của Ngân hàng là một bộ phận của thu nhập quốc dân tạm thời
nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng, người chủ sở hữu của
chúng gửi vào Ngân hàng với mục đích thanh toán, tiết kiệm hay đầu tư. Nói
cách khác, họ chuyển nhượng quyền dử dụng vốn cho Ngân hàng, để Ngân hàng
trả lại cho họ một khoản thu nhập.
Như vậy, Ngân hàng đã thực hiện vai trò tập trung vốn và phân phối lại vốn dưới
hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, kích thích mọi hoạt
động kinh tế phát triển. Đồng thời, chính các hoạt động đó lại quyết định sự tồn
tại và phát triển hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
4.2. Vai trò của vốn trong HĐKD của NHTM
Vốn giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành ngân hàng thương mại
- Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động sản xuất kinh doanh
được thì phải có :Công nghệ - Lao động – Tiền vốn trong đó vốn là nhân
tố quan trọng, nó phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh
doanh. Riêng đối với ngân hàng thương mại, vốn lại càng là nhân tố
không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Vốn là cơ sở
để ngân hàng thương mại tổ chức hoạt độnh kinh doanh, ngân hàng không
thể thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh nếu không có vốn. Như đã biết,
đặc trưng của hoạt động ngân hàng:Vốn không chỉ là phương tiện kinh
doanh chính mà còn là đối tượng kinh doanh chủ yếu của ngân hàng
thương mại. Ngân hàng là tổ chức kinh doanh loại hàng hóa đặc biệt trên
14


thị trường tiền tệ(thị trường vốn ngắn hạn) và thị trường chứng khoán(thị
trường vốn dài hạn). Những ngân hàng trường vốn là ngân hàng có nhiều
thế mạnh trong kinh doanh. Hơn nữa, vốn lớn là lợi thế đầu tiên trong việc
chấp hành pháp luật trước hết là luật ngân hàng trung ương, luật các
TCTD, tạo thế mạnh và thuận lợi trong kinh doanh tiền tệ. Chính vì thế,
có thể nói vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân hàng, là
khâu cốt tử của ngân hàng. Do đó, ngoài vốn ban đầu cần thiết, tức là đủ
vốn điều lệ theo luật định thì ngân hàng phải thường xuyên chăm lo tới
việc tăng trưởng vốn trong suốt quá trình hoạt động của mình
- Từ đặc trưng kinh doanh của Ngân hàng, vốn vừa là phương tiện kinh
doanh, vừa là đối tượng kinh doanh. Các ngân hàng thương mại thực hiện
kinh doanh loại “hàng hoá đặc biệt” – tiền tệ trên thị trường tiền tệ (thị
trường vốn ngắn hạn) và thị trường chứng khoán (thị trường vốn dài hạn).
Vì vậy, ngoài vốn ban đầu khi thành lập theo qui định của pháp luật, các
Ngân hàng phải thường xuyên tìm mọi biện pháp để tăng trưởng vốn
trong quá trình hoạt động kinh doanh.
Vốn quyết định khả năng thanh toán và năng lực cạch tranh của Ngân hàng
- Trong nền kinh tế thị trưòng, để tồn tại và ngày càng mở rộng quy mô
hoạt động đòi hỏi các ngân hàng phải có uy tín lớn trên thị trường là điều
trọng yếu. Uy tín đó phải được thể hiện trước hết ở khả năng sẵn sàng
thanh toán, chi trả cho khách hàng của ngân hàng. Chúng ta đã biết, đại bộ
phận vốn của ngân hàng là vốn tiền gửi và đi vay, do vậy ngân hàng phải
trả cho khách hàng khi họ có yêu cầu rút tiền. Với một ngân hàng có quy
mô vốn nhỏ, khi nhu cầu vay vốn trên thị trường là rất lớn, một mặt ngân
hàng không đáp ứng đủ nhu cầu vay, mặt khác với quy mô nhỏ, ngân hàng
nếu cho vay tối đa nguồn vốn huy động đuợc, dự trữ ít sẽ dẫn đến mất khả
năng thanh toán. Trong khi đó, với một ngânh hàng trường vốn, họ thực
hiện dự trữ đủ khả năng thanh toán đồng thời vẫn thỏa mãn được nhu cầu
vay vốn của nền kinh tế, do đó sẽ tạo được uy tín ngày càng cao.
- Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân
hàng càng lớn. Vì vậy nếu loại trừ các nhân tố khác, khả năng thanh toán
15


của ngân hàng tỷ lệ thuận với vốn của ngân hàng nói chung và với vốn
khả dụng của ngân hàng nói riêng. Với tiềm năng vốn lớn, ngân hàng có
thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, tiến hành các
hoạt động cạnh tranh có hiệu quả nhằm giữ chữ tín, vừa nâng cao vị thế
của ngân hàng.
Vốn quyết định quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động kinh doanh
khác của Ngân hàng
- Vốn của Ngân hàng quyết định việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín
dụng. Thông thường, các Ngân hàng nhỏ phạm vi hoạt động kinh doanh,
khoản mục đầu tư, khối lượng cho vay ít và kém đa dạng hơn. Do đó, ảnh
hưởng đến khả năng thu hút vốn của các tổ chức kinh tế và tầng lớp dân
cư, thậm chí không đáp ứng được nhu cầu vốn vay của doanh nhiệp. Họ
sẽ mất khách hàng và không tận dụng được cơ hội kinh doanh. Nếu là
Ngân hàng lớn, nguồn vốn dồi dào chắc chắn họ sẽ đáp ứng được nhu cầu
về vốn, có điều kiện để mở rộng quan hệ tín dụng với nhiều doanh nghiệp
và thị trường tín dụng.
- Nguồn vốn lớn còn giúp Ngân hàng hoạt động kinh doanh với nhiều loại
hình khác nhau như: Liên doanh liên kết, dịch vụ thuê mua tài chính, kinh
doanh chứng khoán… các hình thức kinh doanh này nhằm phân tán rủi ro
và tạo thêm vốn cho Ngân hàng. đồng thời, nâng cao uy tín và tăng sức
cạnh tranh trên thị trường. Vì vậy, vốn có vai trò quyết định trong hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng.
Nguồn vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng
- Thực tế đã chứng minh: quy mô, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật
của ngân hàng là tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn. Đồng thời, khả năng
vốn lớn là điều kiện thuận lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan
hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối lượng tín
dụng, chủ động về thời gian, thời hạn cho vay, thậm chí quyết định mức
lãi suất vừa phải cho khách hàng. Điều đó sẽ thu hút ngày càng nhiều
khách hàng, doanh số hoạt động của ngân hàng sẽ tăng lên nhanh chóng
và ngân hàng sẽ có nhiều thuận lợi hơn trong kinh doanh. Đây cũng là
16


điều kiện để bổ xung thêm vốn tự có của ngân hàng, tăng cường cơ sở vật
chất kỹ thuật và quy mô hoạt động của ngân hàng trên mọi lĩnh vực.
- Đồng thời vốn của ngân hàng lớn sẽ tạo ra thuận lợi cho việc sử dụng
tổng hòa các nguồn vốn khác. Trên cơ sở đó sẽ giúp ngân hàng có đủ khả
năng tài chính để kinh doanh đa năng trên thị trường, không chỉ đơn thuần
là cho vay mà còn mở rộng các hình thức liên doanh liên kết, kinh doanh
dịch vụ thuê mua (leasing), mua bán nợ (phactoring), kinh doanh trên thị
trường chứng khoán. Chính các hình thức kinh doanh đa năng này sẽ góp
phần phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh và tạo thêm vốn cho
ngân hàng đồng thời tăng sức cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường.
- Ngoài ra vốn của ngân hàng dồi dào sẽ tạo điều kiện cho NHNN đảm bảo
khả năng thực thi chính sách tiền tệ, góp phần ổn định lưu thông tiền tệ,
đảm bảo cân đối tiền – hàng trong nền kinh tế.
- Xuất phát từ vai trò của nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân
hàng và của nền kinh tế nên nguồn vốn nói chung và vốn huy động nói
riêng phải thường xuyên được bảo toàn và không ngừng mở rộng quy mô,
nâng cao hiệu quả của vốn là tiền đề quan trọng quyết định sự tồn tại và
phát triển của hoạt động kinh doanh ngân hàng, đáp ứng vốn cho nền kinh
tế. Vì vậy, nâng cao hiệu quả huy động vốn là sự cần thiết trong quá trình
hoạt động của NHTM ở tất cả các quốc gia.
4.3. Các hình thức huy động vốn của NHTM
4.3.1. Tiền gửi của khách hàng
Đây là khoản vốn hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng, chiếm tỷ trọng cao
nhất trong nguồn vốn. Tuy nhiên, một bộ phận đáng kể trong vốn tiền gửi này
luôn luôn biến động, do vậy khi sử dụng ngân hàng luôn phải dự trữ để đảm bảo
khả năng thanh toán, chi trả. Dựa vào yếu tố thời gian và tính chất của những
khoản tiền gửi, tiền gửi của khách hàng có hai loại: Tiền gửi kỳ hạn và tiền gửi
không kỳ hạn.
- Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi có thể rút ra theo yêu cầu của
người gửi tiền mà không tôn trọng một kỳ hạn ký thác nào. Đây là khoản
tiền gửi thường xuyên biến động ngân hàng không thể định ra kế hoạch sử
dụng trước được mà chỉ dựa vào kinh nghiệm quản lý, ngân hàng có thể
17


tận dụng ở một mức độ cho phép. Mục đích của người gửi tiền là sử dụng
những dịch vụ trung gian thanh toán của ngân hàng thương mại như giữ
hộ, thu chi hộ,... Ngân hàng không phải trả lãi hoặc có trả lãi nhưng với
một mức lãi suất rất thấp chỉ mang tính chất tượng trưng. Kinh nghiệm
trong quản lý ngân hàng cho thấy mặc dù tài khoản tiền gửi không kỳ hạn
của từng khách hàng có biến động do khách hàng thường xuyên có những
khoản thu và những khoản chi, nhưng trên tài khoản tổng hợp luôn có số
“dư có” bình quân tương đối ổn định. Vì vậy ngân hàng có thể động viên
những khoản vốn tạm thời nhàn rỗi trên các tài khoản không kỳ hạn làm
nguồn vốn kinh doanh.
- Tiền gửi có kỳ hạn: Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi tiền
chỉ được rút ra khi đến thời hạn quy định. Đây là bộ phận tiền huy động
mang tính chất ổn định và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tiền huy động từ
khách hàng. Ngân hàng sử dụng chủ yếu để cho vay có kỳ hạn. Chính
điểm thuận lợi này mà ngân hàng phải trả lãi cao vì mục đích của người
gửi tiền là lợi nhuận.
4.3.2. Phát hành giấy tờ có giá
Ngoài hình thức huy động vốn qua tài khoản tiền gửi thanh toán, tiết kiệm, các
NHTM còn có thể huy động vốn bằng cách phát hành giấy tờ có giá
Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn
trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời hạn nhất định,
điều kiện trả gốc và lãi và các điều khoản cam kết khác của tổ chức tín dụng với
người mua, thể hiện là các kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngân hàng
Huy động vốn bằng phát hành giấy tờ có giá là hình thức huy động không
thường xuyên. Nguồn vốn huy động gắn liền bới mục đích nhất định của các tổ
chức huy động. Vì vậy, khi thực hiện hình thức huy động này, ngân hàng cũng
cần có kế hoạch huy động hết sức cụ thể, xác định rõ các nội dung như: quy mô
vốn cần huy động; loại hình huy động, đối tượng huy động, thời hạn huy động,
thời gian phát hành, lãi suất, cách thức trả lãi và nợ gốc…
4.3.3. Thông qua đi vay
Ngoài việc huy động tiền gửi theo các hình thức truyền thống, ngân hàng thương
mại có thể bổ sung vốn hoạt động của mình bằng cách đi vay từ các tổ chức và
18


các tầng lớp dân cư thông qua phát hành trái phiếu hoặc kỳ phiếu ngân hàng,
nhưng phải được ngân hàng Nhà nước chấp nhận, Kỳ phiếu ngân hàng được
phát hành rộng rãi. Những người mua kỳ phiếu ngân hàng sẽ trực tiếp cho ngân
hàng vay với lãi suất cố định thông báo trước. Các tờ giấy nhận nợ này sẽ được
ngân hàng thanh toán khi tới hạn ghi trên mặt kỳ phiếu. Ngoài ra ngân hàng
thương mại còn có thể vay ở ngân hàng nhà nước dưới hình thức tái chiết khấu
hoặc tái cầm cố các thương phiếu chứng từ có giá. Vay của các ngân hàng
thương mại, các tổ chức tín dụng khác thông qua thị trường tiền tệ liên ngân
hàng. Ngân hàng thương mại cũng có thể vay ở ngân hàng nước ngoài hoặc chi
nhánh ngân hàng nước ngoài. Vậy các ngân hàng thương mại đi vay khi nào?
- Ngân hàng vay để đáp ứng nhu cầu khả năng thanh khoản của ngân
hàng: Vì hoạt động chủ yếu và thường xuyên của ngân hàng là nhận tiền
gửi và với trách nhiệm hoàn trả cho khách hàng khi khách hàng có nhu
cầu rút tiền để sử dụng. Do vậy có những trường hợp số tiền dự trữ và số
tiền mà ngân hàng nhận được trước đó trong ngày ít hơn số tiền mà khách
hàng rút ra thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán tiền cho
khách hàng, nghĩa là ngân hàng thiếu tiền trả cho khách hàng.Vậy ngân
hàng phải đi vay.
- Ngân hàng vay hộ cho khách hàng: Vì hoạt động cơ bản của ngân hàng
là tài trợ cho nền kinh tế nên khi có khách hàng có nhu cầu vay vốn ngân
hàng và đảm bảo các yêu cầu mà ngân hàng đề ra thì ngân hàng sẽ cho
vay. Tuy nhiên, với những khoản vay với số lượng lớn, thời gian dài mà
ngân hàng lại không muốn dùng toàn bộ số tiền mình có để đầu tư cho dự
án này (vì rủi ro cao) vì như thế sẽ mất đi toàn bộ những cơ hội đầu tư
khác. Vì vậy ngân hàng sẽ thay mặt khách hàng phát hành trái phiếu nhằm
thu gom tiền trong nền kinh tế để phục vụ cho dự án. Người ta chỉ phát
hành trái phiếu vừa đủ số tiền mà dự án cần dùng và trong một thời hạn
bằng thời gian tồn tại của dự án.
- Ngân hàng vay để cho vay: Hầu như toàn bộ số tiền trong lưu thông đã
trở thành tiền gửi tại các ngân hàng, nghĩa là các ngân hàng chia nhau
19


nắm giữ lượng tiền trong lưu thông. Để tăng lượng tiền gửi của mình, các
ngân hàng thường tăng lãi suất để thu hút các khoản tiền gửi ở các ngân
hàng khác chảy về. Nhưng thực tế khi một ngân hàng tăng lãi suất tiền
gửi, để tránh sự chảy vốn các ngân hàng khác cũng sẽ đồng loạt tăng lãi
suất lên làm chi phí ngân hàng tăng lên mà lượng tiền gửi lại thay đổi
không đáng kể. Do vậy khi thiếu vốn để tài trợ cho các dự án mà ngân
hàng cho là có hiệu quả thì ngân hàng sẽ thực hiện chính sách đi vay. Do
tính chất hoạt động không đồng đều giữa các ngân hàng về huy động vốn
và sử dụng vốn nên những ngân hàng thiếu vốn có thể vay vốn ở những
ngân hàng thừa vốn chưa sử dụng hết. Mặt khác khi ngân hàng dự đoán
được sự gia tăng về nhu cầu tín dụng trong tương lai mà nguồn vốn thì có
xu hướng tăng không đáp ứng đủ nhu cầu vốn sử dụng trong thời kỳ tới
thì ngân hàng cũng sẽ đi vay.
- Ngân hàng vay để giảm chi phí nguồn tiền cho giai đoạn sau: Vào cuối
kỳ hạch toán, nếu các chủ ngân hàng dự tính được thu nhập của kỳ đó lớn
nghĩa là kỳ đó họ phải chịu thuế nhiều. Nếu họ cũng dự tính được kỳ sau
họ sẽ có những khoản chi phí lớn thì họ có thể phát hành kỳ phiếu nhắn
hạn trả lãi trước nhằm tăng chi phí cho kỳ này và giảm chi phí cho kỳ sau.
4.3.4. Tăng vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu là vốn tự có của ngân hàng, nó là vốn điều lệ khi ngân
hàng mới đi vào hoạt động và được bổ sung thường xuyên. Vốn điều lệ phải lớn
hơn hoặc bằng vốn pháp định do ngân hàng nhà nước trung ương quy định. Vốn
điều lệ quy định cho một ngân hàng sẽ tuỳ thuộc vào quy mô và hoạt động của
nó. Tuỳ theo loại hình ngân hàng mà vốn điều lệ được hình thành có thể khác
nhau. Vốn điều lệ của ngân hàng có nguồn gốc hình thành do ngân sách nhà
nước cấp phát ban đầu nếu là ngân hàng thương mại quốc doanh, còn nếu là
ngân hàng thương mại cổ phần thì sẽ do các cổ đông đóng góp.
Các quỹ dự trữ của ngân hàng: Được coi là nguồn vốn tự có và được bổ sung
hằng năm từ lợi nhuận ròng của ngân hàng. Theo khoản 1 điều 87 luật các tổ
chức tín dụng thông qua ngày 12 tháng 12 năm 1997 quy định về việc trích lập
các quỹ từ lợi nhuận, các ngân hàng thương mại phải tiến hành trích lập các quỹ:
20


- Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: Được trích lập hằng năm theo tỷ lệ 5%
trên tổng lợi nhuận sau thuế hằng năm tới mức tối đa do ngân hàng nhà
nước quy định.
- Quỹ dự phòng bù đắp rủi ro : Để dự phòng và bù đắp thiệt hại có nguy cơ
ăn mòn vốn do những rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, các
ngân hàng được trích từ lợi nhuận ròng hằng năm theo tỷ lệ 10% cho tới
khi bằng 100% vốn điều lệ.
Hai quỹ này bắt buộc phải trích lập tại các tổ chức tín dụng, không được dùng
các quỹ này để trả lợi tức cổ phần hoặc chuyển ra nước ngoài.
Mặt khác, với tư cách là một đơn vị kinh doanh, ngân hàng còn tiến hành trích
lập các quỹ từ lợi nhuận thu được:
- Quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng.
- Quỹ phúc lợi, khen thưởng.
Các quỹ này tỷ lệ trích lập theo quyết định của đại hội cổ đông hoặc theo chỉ đạo
của nhà nước
Vốn riêng của ngân hàng được dùng để mua sắm tài sản cố định, các phương
tiện cần thiết cho hoạt động kinh doanh ngân hàng, nhưng không quá 50% vốn
tự có, để tài trợ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ ngân hàng và được sử dụng để hùn
vốn liên doanh, mua cổ phần...
Vốn tự có và các quỹ so với tổng số vốn hoạt động của ngân hàng chỉ chiếm một
phần nhỏ.
5. Các chỉ tiêu đánh giá mở rộng và nâng cao chất lượng công tác huy
động vốn
5.1. Quy mô nguồn vốn huy động
Quy mô là chỉ tiêu phản ánh số lượng nguồn vốn huy động của ngân
hàng. Với quy mô nguồn huy động ngày càng tăng sẽ hỗ tr ợ vốn cho ngân
hàng hoạt động, phát triển và mở rộng phạm vi hoạt động của mình, quy
mô cũng tạo điều kiện nâng cao tính thanh khoản, tính ổn định và tăng
niềm tin của khách hàng.
Nguồn vốn huy động có quy mô khác nhau theo từng giai đoạn. Các ngân
hàng có quy mô lớn thì thường có ưu thế huy động hơn các ngân hàng quy
mô nhỏ. Trong tình hình cạnh tranh nhau về thị phần khách hàng , lãi suất
21


thường không có sự khác biệt nhiều giữa các ngân hàng, do vậy khách hàng
thường lựa chọn các ngân hàng có quy mô lớn để đảm bảo tính an toàn,
thanh khoản cho khoản tiền gửi của mình.
5.2. Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động
Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động thể hiện khả năng m ở rộng
quy mô vốn huy động của ngân hàng qua các năm, cho th ấy nguồn v ốn
biến đổi theo xu hướng như thế nào và khả năng kiểm soát của ngân hàng
đến nguồn vốn huy động. Điều đó ảnh hưởng tới khả năng tăng c ường và
mở rộng thị trường hoạt động của mình. Nếu tốc độ tăng trưởng ổn đ ịnh
sẽ tạ thế chủ động cho ngân hàng trong việc hoạch định chi ến l ược phát
triển lâu dài cũng như tạo sự yên tâm tin tưởng tới khách hàng g ửi tiền và
đầu tư vào ngân hàng. Mặt khác chỉ tiêu này th ể hiện khả năng canh tranh
của ngân hàng đối với các NHTM khác trong hoạt động huy động v ốn
Về mặt lượng, chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động th ường
được đánh giá thông qua:
Tốc độ tăng trưởng VHĐ= (Tổng VHĐ kỳ này-Tổng VHĐ kỳ trước)/
(Tổng VHĐ kỳ trước)*100
Chỉ tiêu này phản ánh sự thay đổi về quy mô nguồn vốn huy động qua
các thời kỳ. Nếu tỉ lệ này > 100% thì quy mô nguồn vốn huy động c ủa ngân
hàng đã được mở rộng. Việc mở rộng quy mô vốn một cách liên tục v ới t ốc
độ tăng trưởng vốn ngày càng cao chứng tỏ quy mô hoạt động của ngân
hàng ngày càng lớn, hiệu quả huy động vốn của ngân hàng đang đ ược c ải
thiện. Ngoài ra, có thể sử dụng chỉ tiêu này để so sánh với tốc đ ộ tăng
trưởng vốn của các ngân hàng khác hoặc tốc độ tăng tr ưởn v ốn bình quân
hệ thống.

22


5.3.

Cơ cấu nguồn vốn huy động

Cơ cấu nguồn vốn huy động ảnh hưởng tói cơ cấu tài sản và ảnh hưởng tới
chi phí hoạt động bình quân của ngân hàng, từ đó ảnh hưởng tới chi phí đầu ra
tức lãi suất cho vay của ngân hàng. Cơ cấu huy động phải phù hợp với cơ cấu sử
dụng, đáp ứng yêu cầu sử dụng,, để tối đa dư nợ tín dụng và đầu tư, từ đó sẽ tối
đa lợi nhuận mà không phải trả lãi suất trên phần vốn huy động thừa. thông qua
việc xác định cơ cấu vốn có thể xác định mặt mạnh, mặt yếu của ngân hàng
trong hoạt động kinh doanh.
Cơ cấu nguồn vốn ngân hàng được đánh giá là hợp lí nếu các thành phần của
nó đáp ứng được kế hoạch sử dụng vốn và có chi phí huy động thấp nhất. Có
vốn sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng hoạt động thuận lợi, ngân hàng có thể cơ cấu
lại nguồn vốn, mở rộng quy mô hoạt động , chủ động trong hoạch định chiến
lược phát triển, nâng cao uy tín và sức cạnh tranh. Có thể đánh giá cơ cấu nguồn
vốn huy động thông qua chỉ tiêu tỷ trọng nguồn vốn huy động
Tỷ trọng từng NVHĐ= (Khối lượng từng NVHĐ)/(Tổng NVHĐ)*100
Chỉ tiêu này phản ánh quan hệ tỷ lệ giữa các loại vốn huy động, tính hợp
lí trong quá trình huy động các loại vốn khác nhau. Cơ cấu vốn cần đa dang, cân
đối trong đó cần đảm bào một tỷ lệ hợp lí giữa vốn huy động ngắn hạn với trung
hạn và dài hạn, giữ nội tệ và ngoại tệ…mỗi nguồn vốn có điểm mạnh, điểm yếu
riêng biệt trong việc huy động và khai thác. Do đó sự biến đổi về cơ cấu vốn sẽ
kéo theo sự thay đổi trong cơ cấu sử dụng vốn và theo đó là sự thay đổi về lợi
nhuận, mức độ an toàn của ngân hàng. Xu hướng biến đổi trong cơ cấu vốn huy
động phụ thuộc một phần vào kế hoạch chủ động điều chỉnh của ngân hàng và
sự biến động của các yếu tố bên ngoài, điều này đặt ra yêu cầu ngân hàng phải
luôn quan tâm, nghiên cứu thị trường, để có những điều chỉnh phù hợp và kịp
thời
a) Cơ cấu nguồn vốn huy động theo đối tượng

23


Tỷ trọng VHĐ theo đối tượng= (Khối lượng VHĐ theo đối tượng)/(Tổng
NVHĐ )*100
b) Cơ cấu nguồn vốn huy động theo kỳ hạn
Tỷ trọng VHĐ theo kỳ hạn= (Khối lượng VHĐ theo kỳ hạn)/(Tổng
NVHĐ)*100
c) Cơ cấu vốn huy động theo loại tiền
Tỷ trọng VHĐ theo loại tiền= (Khối lượng VHĐ theo loại tiền)/(Tổng
NVHĐ)*100
5.4.

Chi phí huy động vốn :

a, Lãi suất huy động
Lãi suất huy động luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các chủ thể kinh
tế. Người gửi muốn một lãi suất cao , người vay lại muốn lãi suất thấp . Là
trung gian đóng vai trò cầu nối giữa hai đối tượng trên , ngân hàng phải tìm
cách điều chỉnh mức lãi suất sao cho hợp lý nhất đối với các bên , trong đó
điều quan trọng là phải đảm bảo lợi ích của ngân hàng . Vì vậy trong huy
động vốn , mỗi ngân hàng đều cố gắng áp dụng mọi biện pháp có thể nhằm
tìm kiếm được những nguồn vốn sao cho chi phí huy động vốn bình quân là
nhỏ nhất và sử dụng số vốn đó để cho vay với một mức lãi suất chấp nhận
được trên thị trường . Chi phí huy động được đánh giá qua hệ thống các chỉ
tiêu lãi suất huy động bình quân (tính bằng bình quân gia quân gia quyền của
lãi suất các nguồn theo khối lượng từng nguồn), lãi suất huy động của từng
nguồn và đặc biệt là lãi suất cạnh tranh NEC. Mặt khác , cũng với một mức
chi phí trả lãi bình quân , sự đa dạng hoá trong lãi suất cho phù hợp với mỗi
hình thức huy động vốn là cần thiết , Sự đa dạng hoá lãi suất làm cho tăng
tính hiệu quả của chính sách lãi suất mà ngân hàng đưa ra . Nếu có chính
sách lãi suất phù hợp , hiệu quả , ngân hàng sẽ tối thiểu hoá được chi phí
trong khi vẫn hoàn thanh kế hoạch về nguồn vốn .
24


b , Chi phí khác
Bên cạnh chi phí chính là lãi suất , trong quá trình huy động vốn còn có
các chi phí khác như chi phí tiền lương cho cán bộ huy động , chi phí in ấn
phát hành , chi phí cơ sở vật chất , chi phí giao dịch quảng cáo … Tuy chi phí
này chiếm một tỷ trọng tương đối nhỏ nhưng nếu tiết kiệm được cũng góp
phần giảm bớt gánh nặng cho ngân hàng.
5.5.

Các hình thức huy động vốn.
Hình thức huy động vốn là những cách thức ngân hàng sử dụng để thu

hút nguồn vốn. Hình thức huy động càng đa dạng thì vốn chảy vào ngân hàng
càng hiều. Vì vậy độ đa dạng của các hìng thức huy động vốn chính là chỉ
tiêu để đánh giá hiệu quả của công tác huy động vốn ở các ngân hàng thương
mại. Sự đa dạng các công cụ huy động được thể hiện trước hết là ở số lượng
các công cụ ngân hàng sử dụng. Tuỳ theo đặc điểm, mục tiêu chiến lược kinh
doanh, mỗi ngân hàng đưa ra những loại công cụ huy động. Thực tế, số
lượng các công cụ huy động càng nhiều thì ngân hàng càng có nhiều điều
kiện thu hút được vốn, tuy nhiên số lượng các công cụ vốn lại bị hạn chế bởi
khả năng quản lý của ngân hàng. Một ngân hàng sử dụng nhiều công cụ huy
động vốn không hoàn toàn đồng nghĩa với việc công tác huy động vốn của
ngân hàng đó có hiệu quả tốt, mà nó chỉ được coi là có hiệu quả khi những
công cụ đó thực sự thích hợp với ngân hàng. Cụ thể đối với các ngân hàng có
hoạt động kinh doanh đa dạng, đội nhũ cán bộ công nhân viên ngân hàng có
trình độ cao thì ngân hàng nên đa dạng hoá các loại công cụ huy động vốn.
Đa dạng về số lượng các công cụ là chưa đủ , mà ngân hàng phải đa
dạng về kỳ hạn huy động, loại tiền sử dụng nữa . Đó là khả năng huy động
vốn với các kỳ hạn khác nhau trong đó có cả nội tệ , ngoại tệ và với mức lãi
suất khác biệt tương ứng sao cho người gửi tiền chấp nhận được và cảm thấy
hợp lý . Do vậy, để công tác huy động vốn của ngân hàng thực sự đạt được
hiệu quả cao, ngân hàng cần phải tính toán, nghiên cứu tìm hiểu nhu cầu của
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×