Tải bản đầy đủ

Lý luận dạy học Đại Học

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
- - - -

PGS. TS. PHẠM VIẾT VƯỢNG

LÝ LUẬN
DẠY HỌC ĐẠI HỌC
Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
cho giảng viên các trường đại học và cao đẳng


- H NI 2016 bài mở đầu
Đối Tợng, Nhiệm Vụ, phơng pháp Nghiên Cứu
CA Lí LUN DY HC I HC
1. ễI TNG NGHIấN CU CA Lí LUN DY HC I HC

Sự phát triển nhanh chóng của khoa học trờn pham vi toan cõu
a tao nờn s bung nụ thụng tin, viờc ng dung cac thanh tu khoa hoc a lam
cho sc san xuõt tng nhanh, thờ gii ang hinh thanh mụt nờn kinh tờ tri
thc.

Viờt Nam qua trinh cụng nghiờp hoa, hiờn ai hoa va hụi nhõp quục tờ,
cung lam cho nờn kinh tờ, vn hoa, xa hụi co nhng bc phat triờn nhay vot
cha tng co trong lich s.
T thc tiờn nay a t ra cho các trờng đại học Viờt Nam nhiệm
vụ hết sức nặng nề là đào tạo nguụn nhõn lc có chõt lng cao,
có đủ năng lc giải quyết moi võn ờ cua õt nc một cách sáng
tạo.
Qua trinh đào tạo ở các trờng đại học cõn đợc tiến hành trên
ba phng diờn: khoa học, nghiệp vụ và giáo dục nhõn cach cho
sinh viờn, õy la một công việc phức tạp đòi hỏi phải có lý luận
dẫn ng.
T lõu chúng ta đã có Lý luận dạy học đại cơng va Phng
phap day hoc bụ mụn cho cac đối tợng la học sinh phổ thông. a ờn
luc cần có một Lý luận dạy học cho bõc đại học - một bõc hoc có
những nét đặc thù trong muc tiờu, chng trinh va phng thc đào
tạo.
Nếu mô tả hệ thống giáo dục quục dõn nh một hình chóp,
thì giáo dục đại học la một bụ phõn ở đỉnh cao, tơng ứng với
nó cõn co mụt hệ thống lý thuyờt phu hp.
Tóm lại: Lý luận dạy học đại học là mt phõn mụn ca khoa hc
giỏo dc, chuyờn nghiờn cu v quá trình dạy học ở bậc đại học, vi
nhng net c thu trong mc tiờu, ni dung v phng thc o tao nguụn
nhõn lc trinh cao.
2. NHIấM V CA Lí LUN DY HC I HC

Ly luõn day học đại học có những nhiệm vụ sau đây:
1. Nghiên cứu mục tiêu, nguyờn tc, nụi dung, phơng phap,
hinh thc tụ chức day hoc ở bậc đại học.
2. Nghiên cứu nhng nột đặc thu trong hoạt động giảng dạy
của giảng viên và quá trình học tập của sinh viên.
3. Nghiên cứu, s dung cac phơng pháp, kỹ thuật day hoc tớch
cc nhằm nâng cao chất lợng ao tao.
-2-


Ly luõn day học đại học la c s ly thuyờt giup cho giảng viên
cac trng đại học thc hiờn tụt chức năng, nhiệm vụ của mình.
3. PHNG PHP NGHIấN CU Lí LUN DY HC I HC

Lý luận day học đại học co ba nhom phơng pháp nghiên cứu


sau õy:
3.1. Nhom các phơng pháp nghiên cứu lý thuyết
Gụm cac phng phap:
1. Phân tích, tổng hợp, hệ thống hoá ly thuyờt.
2. So sanh, phõn loai cac ly thuyờt, cac trng phai khoa hoc.
3. Phng phap phõn tớch lich s phat triờn cac ly thuyờt.
4. Phng phap gia thuyờt.
5. Phng phap mụ hinh hoa...
2. Nhom cac phng phap nghiờn cu thc tiờn
Gụm cac phng phap:
+ Quan sát các hoạt động giang day cua giang viờn va hoc tõp cua
sinh viờn ờ tìm ra những quy luật chung cua quá trình day hoc
bõc ai hoc.
+ iều tra, khao sat thc trang, phat hiờn nhng yờu tụ ảnh hởng
đến qua trinh day hoc.
+ Tổng kết kinh nghiệm s pham tiờn tiờn.
+ Phơng pháp chuyên gia: s dụng ụi ngu chuyên gia co trinh
ụ cao ờ phõn tớch, đánh giá cac cac s kiờn, công trình nghiên cứu
khoa học.
+ Thực nghiệm s pham ờ khng inh cac gia thuyết khoa hoc.
3. Nhom cac phng phap hụ tr:
Gụm cac phng phap:
+ Sử dụng cac cụng thc toán thống kê để xử lý các sụ liờu, tài
liệu a thu thõp c t tõt ca cac phng phap khac nhau.
+ ng dung cụng nghờ thụng tin, phõn mờm máy tính vao qua trinh
nghiờn cu.
Ba nhom phơng pháp nghiên cứu trờn c s dung phụi hp, hụ
tr cho nhau nhau tuy theo muc ớch, nụi dung va ụi tng nghiờn cu.
CHNG 1
QU TRèNH O TO BC I HC
1. GIO DC I HC

Giao duc ai hoc la bõc hoc cao nhõt trong hờ thụng giao duc quục dõn,
cung vi giao duc mõm non, giao duc phụ thụng va giao duc nghờ nghiờp tao
nờn mụt hờ thụng giao duc hoan chnh.
Giao duc ai hoc co vi trớ c biờt trong s nghiờp ao tao nguụn nhõn
lc co trinh ụ cao phuc vu cho chiờn lc phat triờn kinh tờ, vn hoa, khoa
hoc, cụng nghờ quục gia.
1.1. Trinh ụ o to
-3-


Theo điều 42 của Luật Giáo dục (năm 2005 sửa đổi năm 2009) giáo dục
đại học có bốn trình độ đào tạo:
1. Trình độ đào tạo cao đẳng thực hiện từ hai đến ba năm học tuỳ theo
ngành nghề đào tạo đối với những người có bằng tốt nghiệp trung học phổ
thông hay trung cấp chuyên nghiệp; từ một năm rưỡi đến hai năm học đối với
người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành.
2. Trình độ đào tạo đại học thực hiện từ bốn đến sáu năm học tuỳ theo
chuyên ngành đào tạo đối với những người có bằng tốt nghiệp trung học phổ
thông hoặc bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp; từ hai năm rưỡi đến bốn
năm học đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng chuyên ngành; từ
một năm rưỡi đến hai năm học với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng
chuyên ngành.
3. Đào tạo trình độ thạc sĩ được thực hiện từ một đến hai năm học đối
với những người có bằng tốt nghiệp đại học.
4. Đào tạo trình độ tiến sĩ được thực hiện trong bố năm học đối với
người có bằng tốt nghiệp đại học, từ hai đến ba năm học đối với người có
bằng thạc sĩ.
Nhà nước giao nhiệm vụ đào tạo tiến sĩ cho các cơ sở giáo dục đại học có
đủ các điều kiện đáp ứng nhiệm vụ đào tạo, đó là:
+ Có đủ số lượng giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, có khả năng xây dựng,
thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá luận án.
+ Có đủ cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật đáp ứng yêu cầu đào tạo trình độ
tiến sĩ.
+ Có kinh nghiệm trong công tác nghiên cứu khoa học, đào tạo và bồi
dưỡng cán bộ nghiên cứu khoa học, công nghệ.
Nội dung đào tạo ở bậc đại học được xây dựng theo hướng liên thông
giữa các trình độ từ thấp lên cao, giúp người học có cơ hội học tập nâng cao
trình độ nghiệp vụ, chuyên môn và học tập suốt đời. Trường đại học hoàn
chỉnh là một trường đã có đủ năng lực để đào tạo tất cả các trình độ nêu trên.
1.2. Mục tiêu giáo dục đại học
Mục tiêu chung:
Giáo dục đại học Việt Nam có mục tiêu là “đào tạo người học có phẩm
chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực
thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng
yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc”. (Luật Giáo dục)
Mục tiêu cụ thế:
Các trình độ đào tạo có các mục tiêu cụ thể như sau:
+ Đào tạo trình độ cao đẳng có mục tiêu giúp sinh viên có kiến thức
chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản để giải quyết những vấn đề thông
thường thuộc chuyên ngành đào tạo.
+ Đào tạo trình độ đại học có mục tiêu giúp sinh viên nắm vững kiến
thức chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc
độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành đào tạo.
-4-


+ Đào tạo trình độ thạc sĩ có mục tiêu giúp học viên nắm vững lý thuyết,
có trình độ cao về thực hành, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có
khả năng phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành đào tạo.
+ Đào tạo trình độ tiến sĩ có mục tiêu giúp nghiên cứu sinh có trình độ
cao về lý thuyết và thực hành, có năng lực nghiên cứu độc lập, sáng tạo, phát
hiện và giải quyết những vấn đề mới về khoa học, công nghệ, hướng dẫn
nghiên cứu khoa học và hoạt động chuyên môn.
1.3. Hệ thống giáo dục đại học Việt Nam
Giáo dục đại học Việt Nam là một hệ thống hoàn chỉnh, bao gồm các đại
học quốc gia, các đại học vùng, các trường đại học, học viện, cao đẳng trung
ương, các trường đại học, cao đẳng địa phương, cụ thể như sau:
+ Hai đại học quốc gia Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
+ Ba đại học vùng Thái nguyên, Huế, Đà Nẵng.
Các đại học quốc gia và đại học vùng được xây dựng theo mô hình Viện
đại học (University) ở các nước phát triển, trong các đại học này có các
trường thành viên, thí dụ Đại học Quốc gia Hà Nội có các trường Đại học
Khoa học Tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Ngoại
ngữ… Đại học Thái Nguyên có các trường Đại học Sư phạm, Đại học Nông
Lâm, Đại học Y....
+ Các học viện, trường đại học, cao đẳng trung ương như: Học viện Tài
chính, Đại học Thương mại, Đại học Sư phạm Hà Nội..., Trường Cao đẳng Sư
phạm trung ương ... do các bộ, ngành trung ương đầu tư tài chính và quản lý
nhân sự.
+ Các trường đại học, cao đẳng địa phương như: Trường Đại học Hải
Phòng, Trường Đại học Hồng Đức Thanh Hoá, Trường Cao đẳng Sư phạm
Vĩnh Phúc…do Uỷ ban Nhân dân các địa phương đầu tư tài chính và quản lý
nhân sự.
Giáo dục đại học Việt Nam có các loại trường đại học đa ngành như đại
học bách khoa, đại học quốc gia..., các trường đơn ngành như: đại học thuỷ
lợi, đại học kiến trúc, đại học nông nghiệp, đại học lâm nghiệp…, hiện nay
các trường đại học có xu hướng tổ chức đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực.
1.4. Các loại hình trường đại học
Thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục:“phát triển giáo dục, xây
dựng xã hội học tập là sự nghiệp của nhà nước và của toàn dân” (Luật Giáo
dục), ở nước ta hiện đang phát triển hai loại hình nhà trường đó là trường
công lập và trường ngoài công lập.
Trường đại học công lập là các trường do nhà nước đầu tư. Các trường
đại học ngoài công lập gồm có các trường dân lập và tư thục do các tổ chức,
doanh nghiệp và cá nhân đầu tư. Tất cả các loại hình nhà trường đều do nhà
nước thống nhất quản lý về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo
dục, tiêu chuẩn nhà giáo, quy chế thi cử, văn bằng, chứng chỉ và kiểm định
chất lượng giáo dục.
Mới đây đã xuất hiện trường Đại học Fulbright Việt Nam là cơ sở giáo
dục có 100% vốn đầu tư nước ngoài. Trường có trụ sở tại TP HCM, chịu sự
-5-


quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo và sự
quản lý Nhà nước về lãnh thổ của UBND TP HCM..
Như vậy, trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam đang tồn tại hai loại
hình nhà trường để khai thác các nguồn lực xã hội, tạo ra những yếu tố cạnh
tranh để phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo .
1.5. Chức năng của các trường đại học
Cũng như ở mọi quốc gia, các trường đại học Việt Nam có ba chức năng
quan trọng đó là đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng.
+ Chức năng cơ bản nhất của các trường đại học là đào tạo nguồn nhân
lực có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, văn hoá, khoa học,
công nghệ quốc gia.
+ Chức năng thứ hai là nghiên cứu khoa học. Các trường đại học đang
thực hiện các chương trình, dự án, các đề tài nghiên cứu các cấp, trước hết là
để phục vụ cho vụ đào tạo, sau đó phục vụ cho sự nghiệp phát triển khoa học,
công nghệ quốc gia. Các trường đại học lớn cũng đồng thời cũng là những
trung tâm nghiên cứu lớn, có vị trí ngang tầm với các viện nghiên cứu khoa
học. Hiện nay ở nhiều trường đại học đã thành lập các viện, các trung tâm
nghiên cứu khoa học.
+ Các trường đại học còn có chức năng thứ ba là phục vụ cộng đồng, đó
là việc tiến hành các hoạt động liên kết nghiên cứu khoa học, sản xuất thử và
chuyển giao công nghệ với các địa phương, các cơ sở sản xuất, kinh doanh và
bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn cho những người có nhu
cầu thuộc chuyên ngành đào tạo.
2. QUY TRÌNH ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC

2.1. Khái niệm đào tạo
Đào tạo là khái niệm đề cập tới công tác huấn luyện chuyên môn, nghiệp
vụ cho người học, làm cho họ có đủ năng lực đảm nhận một vị trí lao động
trong nền kinh tế, văn hoá, xã hội.
Đào tạo phải gắn với thị trường lao động, với việc tuyển dụng, đãi ngộ và
tạo điều kiện tốt nhất cho người lao động phát huy hết năng lực chuyên môn
của mình.
Đào tạo nhân lực được thực hiện trong các trường đại học, cao đẳng, các
trường dạy nghề... đào tạo còn được thực hiện tại các cơ sở sản xuất, doanh
nghiệp.
Ở các nước phát triển, các tập đoàn kinh tế lớn thường thành lập các cơ
sở đào tạo nhân lực kỹ thuật, quá trình đào tạo này gắn với thực tế sản xuất
nên có hiệu quả tốt tuy nhiên đào tạo tại các nhà trường vẫn là hình thức đào
tạo cơ bản nhất.
Như vậy, Đào tạo là quá trình triển khai chương trình huấn luyện
chuyên môn, nghiệp vụ cho người học, nhằm giúp họ có được hệ thống kiến
thức khoa học, nghiệp vụ, hình thành hệ thống kỹ năng và thái độ nghề
nghiệp tương ứng, nhằm đáp ứng các yêu cầu về nguồn nhân lực xã hội.
Khi tiến hành đào tạo phải xác định rõ về mục tiêu, trình độ, chương
trình, nội dung, thời gian và phương thức đào tạo.
-6-


2.2. Hình thức đào tạo
Giáo dục đại học Việt Nam có hai hình thức đào tạo: chính quy và không
chính quy được phân biệt bởi cách tổ chức đào tạo.
+ Với hình thức đào tạo chính quy, sinh viên tập trung toàn bộ thời gian
để học tập tại trường, nơi có đủ các điều kiện đảm bảo chất lượng học tập.
Đào tạo chính quy là phương thức quan trọng nhất của mọi quốc gia.
+ Với hình thức đào tạo không chính quy sinh viên vừa làm việc, vừa
học tập, thời gian học không tập trung. Mục đích của phương thức này là giúp
mọi người có cơ hội cập nhật kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ, trong điều kiện khoa học, công nghệ sản xuất và thực tiễn xã hội
đang phát triển hết sức nhanh chóng.
Đào tạo không chính quy bao gồm có các hệ đào tạo tại chức và từ xa.
Đào tạo tại chức sinh viên học ngoài giờ làm việc. Đào tạo từ xa là phương
thức tự học có hướng dẫn, sinh viên học qua tài liệu, giáo trình, qua hệ thống
thông tin đại chúng và mạng Internet…
2.3. Chương trình đào tạo
Trong lịch sử phát triển giáo dục đại học có ba cách tiếp cận xây dựng
chương trình đào tạo:
+ Tiếp cận nội dung:
Quan niệm truyền thống cổ điển cho rằng đào tạo là quá trình truyền đạt
kiến thức cho sinh viên, do vậy chương trình đào tạo là bản phác thảo nội
dung đào tạo, với hệ thống các môn học được sắp xếp có thứ tự, qua đó giảng
viên và sinh viên biết mình phải dạy và học những gì.
Cách tiếp cận này đã tồn tại trong một thời gian dài và tỏ ra có nhiều
nhược điểm, người dạy, người học chỉ chú trọng đến nội dung học tập (lấy nội
dung làm trung tâm), phương pháp dạy học chủ yếu là truyền đạt và lĩnh hội
kiến thức.
+ Tiếp cận mục tiêu:
Một quan niệm tiến bộ hơn cho rằng đào tạo là quá trình huấn luyện
nguồn nhân lực theo mục tiêu đã xác định, do vậy, chương trình đào tạo là
bản kế hoạch phản ánh nội dung và phương thức đào tạo nhằm đạt được mục
tiêu đã đặt ra.
Cách tiếp cận này là một bước tiến lớn trong tư duy giáo dục, đã tạo ra
một quy trình công nghệ hướng vào mục tiêu đào tạo. Tuy nhiên cách tiêp cận
này vẫn chưa đặt quá trình đào tạo trong trạng thái phát triển nên việc tổ chức
đào tạo chưa thích ứng trước những thay đổi của xã hội.
+ Tiếp cận phát triển:
Với nhận thức cho rằng đào tạo là quá trình huấn luyện nhân lực trong
điều kiện nền kinh tế, văn hoá, xã hội phát triển liên tục, do vậy chương trình
đào tạo là bản thiết kế tổng thể cho các hoạt động đào tạo, phản ánh mục
tiêu, nội dung, phương thức đào tạo và phương pháp đánh giá kết quả học
tập của người học theo một quy trình chặt chẽ, phù hợp với sự tiến bộ của
khoa học, công nghệ và thực tiễn cuộc sống.
-7-


Theo điều 41 của Luật Giáo dục chương trình giáo dục đại học là văn
bản “thể hiện mục tiêu giáo dục đại học, quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng,
phạm vi và cấu trúc nội dung, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức
đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo
của giáo dục đại học, bảo đảm liên thông với các chương trình giáo dục
khác”.
Chương trình giáo dục đại học Việt Nam thể hiện bằng các văn bản:
khung chương trình, chương trình khung và chương trình chi tiết học phần.
+ Khung chương trình (Curriculum Famework) là văn bản do Bộ Giáo
dục và Đào tạo ban hành, trong đó quy định cơ cấu và khối lượng kiến thức
tối thiểu cho các chương trình độ đào tạo: cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ.
Khung chương trình xác định rõ sự khác biệt về nội dung giữa các trình độ
đào.
+ Chương trình khung (Curriculum Standard) là văn bản do Bộ Giáo dục
và Đào tạo ban hành cho từng ngành đào tạo, trong đó quy định cơ cấu nội
dung các môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bố thời gian giữa các môn học
đại cương và chuyên nghiệp, giữa lý thuyết và thực hành, thực tập.
Chương trình khung bao gồm các nội dung cốt lõi, chuẩn hoá, tương đối
ổn định và bắt buộc phải có trong chương trình đào tạo của các ngành đào tạo
ở các trường đại học.
+ Căn cứ vào chương trình khung, các trường đại học tổ chức biên soạn
chương trình chi tiết cho các học phần để triển khai đào tạo trong trường
mình. Từ đây cho thấy sự khác nhau về trình độ, chất lượng đào tạo vì chúng
được thể hiện trong chương trình chi tiết.
Môi chương trình đào tạo gắn với một ngành (kiểu đơn ngành) hoặc với
một vài ngành (kiểu song ngành, kiểu ngành chính - ngành phụ; kiểu 2 văn
bằng) với một trình độ đào tạo cụ thể.
Chương trình đào tạo được cấu trúc từ hai khối kiến thức: giáo dục đại
cương và giáo dục chuyên nghiệp.
Với chương trình đào tạo 5 năm, tổng khối lượng kiến thức là 260 đơn vị
học trình, giáo dục đại cương chiếm 80 đơn vị học trình, giáo dục chuyên
nghiệp là 180 đơn vị học trình. (chưa tính các môn giáo dục thể chất và giáo
dục quốc phòng).
Với chương trình đào tạo 4 năm, tổng khối lượng kiến thức là 210 đơn vị
học trình, giáo dục đại cương 43 đơn vị học trình, giáo dục chuyên nghiệp là
167 đơn vị học trình. (chưa tính các môn giáo dục thể chất và giáo dục quốc
phòng)
Khối kiến thức giáo dục đại cương là hệ thống kiến thức cần thiết cho
mọi công dân được đào tạo ở trình độ đại học, bao gồm những vấn đề bức xúc
của thời đại, những kiến thức khoa học cơ bản về tự nhiên và xã hội, những
kỹ năng cần thiết của nhà chuyên môn và khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin
học... trong một xã hội thông tin và hội nhập quốc tế.
Hệ thống kiến thức giáo dục đại cương gồm có:
+ Các học phần về khoa học xã hội.
-8-


+ Các học phần về nhân văn và nghệ thuật.
+ Các học phần về khoa học tự nhiên, toán học và môi trường.
+ Các học phần về ngoại ngữ, tin học.
+ Các học phần về giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất.
Khối kiến thức giáo dục chuyên nghiệp là hệ thống kiến thức phục vụ
trực tiếp cho mục tiêu đào tạo các chuyên ngành, được thiết kế riêng cho từng
chuyên ngành, hay nhóm chuyên ngành (tuỳ theo kiểu đào tạo).
Hệ thống kiến thức chuyên nghiệp gồm có:
+ Kiến thức cơ sở.
+ Kiến thức ngành, chuyên ngành.
+ Kiến thức bổ trợ.
Chương trình đào tạo gồm có các môn học bắt buộc và tự chọn do các cơ
sở đào tạo biên soạn.
Chương trình đào tạo có tính hiện đại, cập nhật và phát triển, cân đối
giữa kiến thức khoa học cơ bản với kiến thức khoa học chuyên ngành, kiến
thức khoa học tự nhiên, kỹ thuật với kiến thức khoa học chính trị, xã hội,
nhân văn, kế thừa truyền thống lịch sử văn hóa, dân tộc và tinh hóa văn hóa
nhân loại thời đại.
Chương trình chi tiết các học phần là căn cứ để nhà trường quản lý đào
tạo, tổ chức thi và đánh giá kết quả học tập của sinh viên.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ký và ban hành khung chương trình,
chương trình khung và giao cho các trường đại học xây dựng và phát triển
chương trình chi tiết các học phần.
2.4. Quy trình đào tạo ở các trường đại học
Để triển khai kế hoạch đào tạo các trường đại học xây dựng một quy
trình đào tạo, dựa trên các quy chế tuyển sinh, quy chế đào tạo, thi và công
nhận tốt nghiệp... do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
Quy trình đào tạo đại học bao gồm các bước: tuyển sinh, tổ chức đào tạo,
thi và công nhận tốt nghiệp.
2.4.1.Tuyển sinh
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế tuyển sinh sửa đổi, theo đó
năm 2016 sẽ tiếp tục tổ chức kì thi THPT quốc gia và sử dụng kết quả đó để
xét tốt nghiệp THPT và tuyển sinh ĐH-CĐ.
Thí sinh sẽ thi 8 môn: Toán, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí, Vật lí, Hóa học,
Sinh học và Ngoại ngữ. Các môn Toán, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lí thi theo hình
thức tự luận, thời gian làm bài thi môi môn 180 phút; các môn Vật lí, Hoá
học, Sinh học thi theo hình thức trắc nghiệm, thời gian làm bài thi môi môn
90 phút; môn Ngoại ngữ thi viết và trắc nghiệm, thời gian làm bài thi 90 phút.
Thí sinh dự thi để xét công nhận tốt nghiệp THPT và xét tuyển sinh ĐH,
CĐ: Đăng ký dự thi 04 môn tối thiểu và đăng ký dự thi thêm các môn khác để
xét tuyển sinh.
-9-


Riêng môn Ngoại ngữ, học sinh các vùng chưa có điều kiện học thì
được phép chọn một môn bất kì trong 8 môn thi được quy định để thay thế.
Việc công bố điểm thi sẽ do các trường ĐH và các sở GD-ĐT chủ trì cụm thi
công bố.
Như vậy môi trường có điểm xét tuyển riêng đó là dấu hiệu khác biệt
chất lượng giữa các trường đại học.
2.4.2. Tổ chức đào tạo
Tổ chức đào tạo là bước triển khai kế hoạch và quản lý chương trình đào
tạo cho từng khoá học.
Phòng đào tạo của các trường đại học là cơ quan tham mưu giúp hiệu
trưởng triển khai và quản lý chương trình đào tạo theo kế hoạch được công
bố. Ban chủ nhiệm các khoa chịu trách nhiệm triển khai và quản lý quá trình
đào tạo của khoa mình theo kế hoạch chung của nhà trường.
Tổ chức đào tạo được thực hiện trên cơ sở Quy chế đào tạo của Bộ Giáo
dục và Đào tạo và kế hoạch của nhà trường. Phòng đào tạo và ban chủ nhiệm
các khoa quản lý quá trình đào tạo và kết quả đào tạo theo các nội dung,
nhiệm vụ được phân cấp, có định kỳ kiểm tra, báo cáo, đề xuất với ban giám
hiệu điều chỉnh kế hoạch khi thấy cần thiết.
Ở các trường đại học Việt Nam hiện nay đã chuyển từ cách đào tạo theo
niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ. Sự khác nhau chủ yếu giữa hai
cách tổ chức đào tạo này là sinh viên từ chô phải thực hiện đúng kế hoạch
chung của nhà trường theo từng năm học, từng khoá học sang tự xây dựng kế
hoạch học tập cho riêng mình bằng việc tích luỹ tín chỉ.
Học phần là khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, có từ 2 đến 5 đơn
vị học trình, được bố trí giảng dạy trọn vẹn trong một học kỳ.
Một đơn vị học trình được quy định bằng 15 tiết học lý thuyết; bằng 3045 tiết thực hành, thí nghiệm hay thảo luận; bằng 45-90 giờ thực tập tại cơ sở;
hoặc bằng 45-60 giờ làm tiểu luận, đồ án, khoá luận tốt nghiệp.
Tín chỉ được sử dụng để tính khối lượng kiến thức học tập của sinh viên.
Đối với những chương trình mà khối lượng của từng học phần đã được tính
theo đơn vị học trình, thì cứ 1,5 đơn vị học trình được quy đổi thành 1 tín chỉ.
Đối với một số ngành đào tạo đặc thù thuộc các lĩnh vực sư phạm, nghệ
thuật, kiến trúc, y tế, thể dục - thể thao…nhà trường tổ chức thực tập cuối
khoá và làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp.
Thực tập cuối khoá được tổ chức tại các doanh nghiệp, các cơ sở văn
hoá, xã hội,...tùy theo ngành đào tạo. Thực tập là biện pháp gắn quá trình đào
tạo với thực tế cuộc sống, có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện kỹ năng
nghề nghiệp cho sinh viên, nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo ở các
trường đại học..
Đồ án, khoá luận tốt nghiệp được áp dụng cho các sinh viên đạt kết quả
học tập khá theo quy định của các trường. Đồ án, khoá luận tốt nghiệp là học
phần có khối lượng không quá 14 tín chỉ cho trình độ đào tạo đại học và 5 tín
chỉ cho trình độ đào tạo cao đẳng.
- 10 -


Tổ chức làm đồ án, khóa luận tốt nghiệp là hình thức dạy học quan trọng
ở các trường đại học và cao đẳng, tạo cơ hội cho sinh viên rèn luyện kỹ năng
nghiên cứu khoa học, đó là một biện pháp quan trong để nâng cao chất lượng
đào tạo ở bậc đại học.
2.4.3. Thi kết thúc học phần
Ở trường đại học một năm học có hai học kỳ chính, môi học kỳ chính có
ít nhất 15 tuần thực học và 3 tuần thi, kiểm tra. Ngoài hai học kỳ chính, hiệu
trưởng có thể tổ chức thêm một học kỳ hè để sinh viên học lại các học phần
thi không đạt ở các học kỳ chính và để sinh viên giỏi có điều kiện học vượt,
kết thúc sớm chương trình học tập. Môi học kỳ hè có ít nhất 5 tuần thực học
và một tuần thi, kiểm tra.
Đầu môi khoá học, nhà trường công bố rộng rãi về nội dung và kế hoạch
học tập của các chương trình; quy chế đào tạo, nghĩa vụ và quyền lợi của sinh
viên, lịch học của các chương trình trong từng học kỳ, danh sách các học phần
bắt buộc và tự chọn, đề cương chi tiết học phần và điều kiện để được đăng ký
học cho từng học phần, lịch kiểm tra và thi, hình thức kiểm tra và thi các học
phần.
Trước khi bắt đầu môi học kỳ, sinh viên phải đăng ký với phòng đào tạo
kế hoạch của mình sẽ học các học phần tự chọn, các học phần học thêm hoặc
các học phần chưa định học trong lịch trình học của học kỳ đó.
Sinh viên có thể tự chọn cho mình tiến độ học tập phù hợp: học chậm,
học nhanh, hoặc đồng thời học hai chương trình...
Cuối môi học kỳ, nhà trường tổ chức thi, sinh viên được dự thi kết thúc
học phần với điều kiện đã hoàn thành các công việc theo quy định cho từng
học phần, đã có điểm kiểm tra các học trình.
Hình thức thi kết thúc học phần có thể là thi viết (trắc nghiệm hoặc tự
luận), vấn đáp, viết tiểu luận, làm bài tập lớn, hoặc kết hợp giữa các hình thức
trên.
2.4.4. Công nhận tốt nghiệp
Sau khoá học những sinh viên có đủ các điều kiện sau đây thì được xét
tốt nghiệp:
+ Tích lũy đủ số học phần quy định trong chương trình, không có học
phần nào bị điểm dưới 5.
+ Được xếp loại đạt ở kỳ thi các môn khoa học Mác - Lênin, Tư tưởng
Hồ Chí Minh.
+ Có các chứng chỉ giáo dục quốc phòng và giáo dục thể chất đối với các
ngành đào tạo không chuyên về quân sự và thể dục thể thao.
Căn cứ vào đề nghị của hội đồng xét tốt nghiệp, hiệu trưởng ký quyết
định công nhận tốt nghiệp.
Bằng tốt nghiệp đại học được cấp theo ngành đào tạo chính và xếp hạng
theo điểm trung bình chung học tập của toàn khoá học. Kết quả học tập của
sinh viên được ghi vào bảng điểm theo từng học phần, ghi rõ chuyên ngành
đào tạo, hướng chuyên sâu hoặc ngành phụ nếu có.
- 11 -


Sinh viên không tốt nghiệp được cấp giấy chứng nhận kết quả thi các học
phần đã học, nếu có nhu cầu có thể làm đơn xin chuyển sang học các chương
trình khác.
CÂU HỎI ÔN TẬP

1. Phân tích mô hình hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
2. Phân tích làm rõ nội hàm hai khái niệm: giáo dục và đào tạo.
3. Phân tích quy trình đào tạo ở bậc đại học.
4. Trình bày đặc điểm của học chế tín chỉ trong đào tạo ở bậc đại học.
CHỦ ĐỀ HỘI THẢO

1. Đào tạo theo nhu cầu xã hội.
2. Chất lượng giáo dục đại học.

CHƯƠNG 2
QUÁ TRÌNH DẠY HỌC Ở ĐẠI HỌC
1. KHÁI NIỆM QUÁ TRÌNH DẠY HỌC Ở ĐẠI HỌC

Theo quan niệm truyền thống cổ điển thì dạy học là hoạt động của giảng
viên, mà công việc chủ yếu là truyền đạt kiến thức cho sinh viên thông qua
các bài giảng trên lớp.
Với quan niệm này, trong một thời gian dài các trường đại học coi giảng
viên là nhân vật trung tâm, người quyết định toàn bộ quá trình dạy học.
Nhiệm vụ của giảng viên là truyền đạt kiến thức, nhiệm vụ của sinh viên là
tiếp nhận kiến thức, việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên chủ yếu dựa
vào số lượng kiến thức mà họ đã ghi nhớ được. Sinh viên trở thành nhân vật
thụ động, tiếp thu kiến thức một chiều, lệ thuộc hoàn toàn vào nội dung bài
giảng của giảng viên - như nguồn thông tin duy nhất.
Điều đó nói lên sự hạn chế của một quan niệm cổ điển, không còn phù
hợp với bản chất của quá trình dạy học hiện đại, đã làm ảnh hưởng không nhỏ
đến chất lượng dạy và học ở các trường đại học.
Dưới ánh sáng của khoa học tâm lý - sư phạm, khi phân tích dạy học
với tư cách là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, ta thấy dạy học là
con đường ngắn nhất, có hiệu quả nhất để thực hiện mục đích giáo dục nhân
cách cho thế hệ trẻ (giáo dục phổ thông) và đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội
(giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học).
Khi phân tích dạy học như một hoạt động, ta nhận thấy dạy học là hoạt
động tương tác giữa hai chủ thể: giảng viên và sinh viên trong môi trường sư
phạm.
Giảng viên là chủ thể hoạt động giảng dạy, sinh viên là chủ thể hoạt động
học tập, hai hoạt động này tương tác với nhau, diễn ra theo một quy trình, một
nội dung và cùng hướng tới một mục tiêu chung đó là làm phát triển ở người
- 12 -


học về kiến thức, kỹ năng và thái độ theo từng lĩnh vực chuyên môn, nghiệp
vụ mà họ đang theo đuổi.
Hoạt động giảng dạy xuất phát từ mục tiêu của hoạt động học tập,
phương pháp giảng dạy xuất phát từ đặc điểm khả năng và trình độ nhận thức
của người học, người dỵ cần phải biết sự học diễn ra như thế nào và cần phải
tổ chức quá trình giảng dạy ra sao để có kết quả tốt nhất.
1.1. Hoạt động học tập của sinh viên
Khái niệm sinh viên “Student” bắt nguồn từ thuật ngữ “Study” có nghĩa
là nghiên cứu, như vậy khái niệm sinh viên đã bao hàm ý nghĩa là người
nghiên cứu – tức là sinh viên học tập theo kiểu nghiên cứu.
Sinh viên là nhóm xã hội đặc biệt - giới trí thức trẻ, những người đã có
kiến thức phổ thông, có năng lực trí tuệ, đã được sàng lọc qua các kỳ thi, đã
quyết định chọn nghề và đang phấn đấu cho mục tiêu nghề nghiệp vì cuộc
sống tương lai của mình.
Trong nhà trường sinh viên là đối tượng giảng dạy của giảng viên, nhưng
đồng thời là chủ thể của hoạt động học tập, họ vừa chịu sự tác động định
hướng của giảng viên, lại vừa phải phát huy tính chủ động, sáng tạo của riêng
mình để tự phát triển. Trong quá trình dạy học hiện đại tính chủ thể của sinh
viên luôn được đề cao.
Sinh viên là người quyết định kết quả học tập của bản thân, nhưng đồng
thời tạo ra những ảnh hưởng nhất định đến tập thể lớp học với tư cách là một
thành viên.
Các nghiên cứu tâm lý học cho thấy việc học tập của sinh viên diễn ra
bắt đầu từ việc hình thành động cơ, đến tiếp nhận các tác động sư phạm của
giảng viên, sau đó là quá trình tìm tòi, khám phá, lựa chọn thông tin từ môi
trường, thông tin được xử lý, được vận dụng, trải nghiệm, được hệ thống hoá
trở thành tri thức và kỹ năng bền vững của cá nhân.
Hoạt động học tập của sinh viên bao gồm hai hoạt động luôn phối hợp
với nhau đó là học các lý thuyết khoa học và thực hành, luyện tập các kỹ năng
chuyên môn ở trình độ hiện đại.
Theo thuyết nhận thức (Cognitivism) bản chất hoạt động học tập là
nhận thức thế giới khách quan, là quá trình tìm tòi, khám phá bản chất, quy
luật vận động của các hiện tượng tự nhiên, xã hội..., là quá trình thu thập, xư
lý, vận dụng thông tin để tạo nên sự hiểu biết và hình thành kỹ năng hoạt
động của cá nhân.
Theo thuyết kiến tạo (Constructivism) bản chất hoạt động học tập là
kiến tạo tri thức, là quá trình tham gia của người học vào việc phát hiện, giải
quyết vấn đề thông qua trải nghiệm, là quá trình tái cấu trúc thông tin thành
tri thức bền vững của cá nhân.
Tư tưởng cốt lõi của các lý thuyết kiến tạo là tri thức được hình thành
thông qua trải nghiệm và tái cấu trúc thành một hệ thống của từng cá nhân.
Người học là người kiến tạo tri thức, để làm điều này, họ phải đặt ra những
câu hỏi để giải đáp, phải tiến hành các hoạt động trải nghiệm, khám phá, sau
đó hệ thống hoá những gì đã thu nhận được thành tri thức của bản thân.
- 13 -


Lý thuyết nhận thức và lý thuyết kiến tạo đều nhấn mạnh vai trò của
chủ thể nhận thức, yêu cầu giảng viên phải tổ chức các hoạt động tương tác
giữa người học với nhau và tương tác với các đối tượng học tập, giúp người
học xây dựng thông tin, tự điều chỉnh và đưa vào cấu trúc tư duy của mình.
Học tập không chỉ là khám phá thế giới mà còn là giải thích và tái cấu trúc
kiến thức.
Với tư cách là chủ thể nhận thức và kiến tạo tri thức, để có kết quả học
tập tốt sinh viên phải là người chủ động, tích cực và sáng tạo trong quá trình
học tập.
Sinh viên chủ động học tập là những sinh viên có mục tiêu học tập rõ
ràng, có động cơ học tập trong sáng, biết xây dựng và thực hiện kế hoạch học
tập, đặc biệt hiện nay khi nhà trường đang tổ chức đào tạo theo học chế tín
chỉ.
Sinh viên tích cực học tập là sinh viên luôn trong trạng thái tập trung chú
ý, huy động trí lực, thể lực, thời gian cho việc học tập. Tính tích cực của sinh
viên được biểu hiện ở hai mặt chuyên cần và tư duy sâu sắc. Chuyên cần là
sử dụng triệt để và hợp lý quỹ thời gian để học tập, tư duy sâu sắc là tư duy đi
vào bản chất các vấn đề học tập.
Tính tích cực của sinh viên được hình thành xuất phát từ nhu cầu nhận
thức, nhu cầu tự khẳng định, nhu cầu thành đạt trong cuộc sống, nghề nghiệp
tương lai, được khích lệ bằng nghệ thuật sư phạm của giảng viên.
Tính sáng tạo là một phẩm chất cực kỳ quan trọng của người lao động
trong xã hội hiện đại, sinh viên sáng tạo thường có thành tích cao trong học
tập, việc học của họ không lệ thuộc vào các khuôn mẫu có sẵn, mà họ thường
xuyên đổi mới phương pháp để có tri thức mới, có kỹ năng mới .
Đặc điểm quan trọng nhất của phương pháp học tập của sinh viên đại học
là đã tiếp cận với phương pháp nghiên cứu của các nhà khoa học và phương
pháp thực hành nghề nghiệp của nhà chuyên môn.
Với tư cách là chủ thể của hoạt động học tập, sinh viên cần phải:
- Có mục tiêu và động cơ học tập đúng, có lòng tự trọng cao.
- Có thái độ tích cực, có ý chí quyết tâm, kiên trì học tập.
Có thói quen tư duy phân tích, phê phán, có kỹ năng giải quyết vấn
đề.
- Tự tin vào khả năng học tập của bản thân.
- Có phương pháp học tập sáng tạo.
- Có kỹ năng thích ứng với môi trường,
- Có khả năng làm việc theo nhóm, hoà đồng với tập thể.
Trong đó có ba điều kiện quan trọng nhất để sinh viên học tập tốt đó là:
có nhu cầu hứng thú học tập, có ý chí, quyết tâm học tập và có phương pháp
học tập sáng tạo.
1.2. Hoạt động giảng dạy của giảng viên đại học
Giảng viên đại học là các chuyên gia giáo dục, ở trình độ lý tưởng họ vừa
là nhà khoa học, nhà chuyên môn giỏi, đồng thời là nhà sư phạm mẫu mực.
- 14 -


Để giảng dạy tốt giảng viên phải nắm vững mục tiêu, nội dung chương
trình dạy học, nắm vững đặc điểm tâm lý, quy luật nhận thức của sinh viên, có
phương pháp sư phạm sáng tạo.
Vai trò của giảng viên không đơn giản là người truyền đạt kiến thức có
sẵn, mà là người định hướng, tổ chức, hướng dẫn, điều khiển quá trình nhận
thức và giáo dục thái độ nghề nghiệp cho sinh viên.
+ Vai trò tổ chức của giảng viên được thể hiện khi họ thiết kế và thực
hiện các kế hoạch dạy học, tổ chức giảng dạy các chuyên đề nội khoá, ngoại
khoá, các giờ học lý thuyết, thực hành, các đợt thực tập chuyên môn, nghiệp
vụ và nghiên cứu khoa học. Năng lực tổ chức của giảng viên có ảnh hưởng
đến việc hình thành nề nếp, thói quen và kỹ năng làm việc theo khoa học của
sinh viên.
+ Vai trò hướng dẫn của giảng viên thể hiện khi họ giúp sinh viên sưu
tầm tài liệu, lựa chọn phương pháp học tập, chuẩn bị các báo cáo hội thảo,
tiến hành các thí nghiệm, thực hành, thực tập nghề nghiệp, triển khai các đề
tài khoá luận, luận văn tốt nghiệp. Phương pháp hướng dẫn của giảng viên có
vai trò rất lớn đến việc hình thành kỹ năng, phương pháp và kết quả học tập
của sinh viên.
Giảng viên hướng dẫn tốt sẽ tạo cho sinh viên thói quen và kỹ năng tự
học suốt đời, vì thế có thể nói giảng viên giảng dạy tốt là những giảng viên có
kỹ năng hướng dẫn sinh viên học tập bằng phương pháp tốt nhất.
+ Vai trò điều khiển của giảng viên thể hiện khi họ nắm vững bản chất lý
thuyết nhận thức và kiến tạo tri thức của sinh viên, đề xuất các mục tiêu học
tập để định hướng, dẫn dắt sinh viên tư duy bằng đưa ra các tình huống mâu
thuẫn, bằng hệ thống câu hỏi, bằng lập luận, phân tích, giúp sinh viên suy
nghĩ, cùng với tập thể thảo luận, từ đó có thể tự rút ra các kết luận khoa học.
Từ chức năng này ta có thể nói, về bản chất quá trình giảng dạy của
giảng viên là quá trình điều khiển hoạt động nhận thức và kiến tạo tri thức
của sinh viên theo quy luật chung để đạt được mục tiêu học tập.
+ Vai trò giáo dục của giảng viên được thể hiện khi họ sử dụng các
phương pháp động viên, tư vấn, hô trợ, khích lệ sinh viên học tập. Bằng tâm
huyết khoa học và nghệ thuật sư phạm giảng viên tạo cho sinh viên nhu cầu,
hứng thú, tích cực học tập và niềm say mê khoa học.
Do vậy hoạt động giảng dạy của giảng viên có thể hiểu như một tập hợp
các biện pháp sư phạm được sư dụng để tạo ra tính tích cực, chủ động, sáng
tạo của sinh viên giúp họ học tập có kết quả tốt nhất.
Toàn bộ các hoạt động của giảng viên luôn hướng vào người sinh viên.
Sinh viên vừa là đối tượng, vừa là mục tiêu giảng dạy của giảng viên, đồng
thời sinh viên phải là động lực chính của quá trình học tập. Đó chính là quan
điểm “dạy học lấy sinh viên làm trung tâm”.
Kinh nghiệm thực tế cho thấy để giảng dạy tốt, giảng viên cần có ba điều
quan trọng đó làm chủ kiến thức, làm chủ giảng đường và làm chủ cảm xúc
bản thân.
- 15 -


Giảng viên làm chủ kiến thức khi đã trở thành nhà khoa học, nhà chuyên
môn giỏi, làm chủ giảng đường khi họ là nhà sư phạm chuyên nghiệp nắm
vững đặc điểm và quy luật tâm lý, nhận thức của sinh viên, làm chủ cảm xúc
bản thân khi đã có kinh nghiệm sư phạm, vững vàng về chuyên môn, tâm
huyết với nghề nghiệp và với sinh viên.
Trong quá trình dạy học mối quan hệ giữa hoạt động giảng dạy của giảng
viên và hoạt động học tập của sinh viên có tính biện chứng, tác động qua lại
hai chiều và cùng phát triển.
Kết quả học tập của sinh viên phụ thuộc rất nhiều vào mối quan hệ tích
cực giữa giảng viên và sinh viên.
Sự tương tác tích cực giữa giảng viên và sinh viên làm cho sinh viên đạt
được các mục tiêu học tập và làm cho giảng viên hoàn thiện được nghệ thuật
sư phạm của mình. Dạy tốt dẫn đến học tốt, học tốt yêu cầu phải dạy thật tốt,
đó là một lôgic tất yếu.
1.3. Những nhân tố tham gia đảm bảo chất lượng dạy học
Quá trình dạy học khi xét theo quan điểm hệ thống là một chỉnh thể trọn
vẹn, có cấu trúc gồm nhiều thành tố, môi thành tố có vị trí xác định, có chức
năng riêng và có mối quan hệ biện chứng với nhau. Môi thành tố của quá
trình dạy học vận động theo quy luật riêng, nhưng chúng lại tuân theo quy
luật chung của toàn hệ thống.
Chất lượng dạy và học phụ thuộc vào tất cả các thành tố của quá trình
dạy học, do vậy muốn nâng cao chất lượng dạy học phải nâng cao chất lượng
của từng thành tố. Chúng ta sẽ phân tích làm rõ vai trò của các thành tố trong
hệ thống quá trình dạy học:
+ Mục tiêu dạy học
Quá trình dạy học được bắt đầu từ việc xây dựng các mục tiêu dạy học.
Mục tiêu dạy học là những dự kiến về kết quả học tập của sinh viên phải đạt
được sau một chương trình, một học phần, một bài học. Mục tiêu là căn cứ để
giảng viên tổ chức giảng dạy và để sinh viên phấn đấu trong học tập, đồng
thời là cơ sở để đánh giá kết quả học tập của sinh viên.
Mục tiêu dạy học ở trường đại học được thiết kế cho từng trình độ đào
tạo, từng chương trình, từng học phần, từng bài học. Căn cứ vào mục tiêu
giảng viên lựa chọn nội dung, phương pháp, phương tiện và các hình thức tổ
chức dạy học cho phù hợp. Mục tiêu dạy học được thiết kế thành ba tiêu chí
kiến thức, kỹ năng và thái độ. (xem mục 2)
Với tầm quan trọng của mục tiêu dạy học, cho nên cần phải xác định
đúng và đầy đủ các mục tiêu cho từng bài dạy, từng học phần, từng chương
trình đào tạo, giảng viên và sinh viên cùng phấn đấu để đạt được các mục tiêu
đó.
+ Nội dung dạy học
Nội dung dạy học là hệ thống kiến thức khoa học và kỹ năng nghề
nghiệp được thiết kế thành các học phần, các chuyên đề, các bài giảng mà
sinh viên phải học tập nắm vững. Nội dung dạy học là một thành tố quan
trọng để đảm bảo chất lượng dạy học.
- 16 -


Trường đại học nào có chương trình, nội dung dạy học hiện đại, được
thiết kế hợp lý, thường xuyên cập nhật, nơi đó có chất lượng đào tạo tốt. Uy
tín của một trường đại học được đánh giá bằng mức độ hiện đại và chất lượng
của chương trình, nội dung dạy học.
Nội dung dạy học ở đại học được lựa chọn từ các lĩnh vực khoa học và
nghề nghiệp, được thiết kế theo quan điểm hệ thống, tích hợp và phát triển,
phù hợp với mục tiêu đào tạo các chuyên ngành, được mô đun hoá thuận tiện
cho sinh viên học tập theo học chế tín chỉ.
+ Giảng viên và sinh viên
Quá trình dạy học có hai thành tố đặc biệt quan trọng, quyết định chất
lượng hoạt động dạy và học, đó là giảng viên và sinh viên.
Giảng viên là người giữ vai trò định hướng, tổ chức giảng dạy, quản lý
sinh viên học tập và đảm bảo chất lượng chung của một lớp học.
Sinh viên là người chủ động, tích cực học tập, người quyết định kết quả
học tập của bản thân và có ảnh hưởng đến chất lượng học tập chung của tập
thể lớp.
Trong các trường đại học cần có một đội ngũ giảng viên đủ về số lượng,
đồng bộ về cơ cấu, có phẩm chất và năng lực chuyên môn tốt. Chất lượng đội
ngũ giảng viên là một tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng của trường
đại học. Không có một cơ sở giáo dục đại học nào lại có chất lượng vượt qua
được chất lượng đội ngũ giảng viên.
Chất lượng tuyển sinh và những cố gắng liên tục của sinh viên trong quá
trình học tập là cơ sở đảm bảo cho chất lượng nguồn nhân lực xã hội trong
tương lai.
Trình độ đầu vào của sinh viên có ý nghĩa to lớn đối với quá trình đào
tạo, ta có thể ví đó là nguyên liệu đầu vào của quá trình sản xuất hàng hóa,
nguyên liệu tốt là tiền đề của chất lượng hàng hóa đầu ra.
+ Phương pháp dạy học
Phương pháp dạy học là cách thức tổ chức giảng dạy của giảng viên và
cách thức học tập của sinh viên phù hợp với các nguyên tắc chung để giúp
sinh viên đạt được các mục tiêu học tập của mình đó là “học để biết, học để
làm, học để chung sống và học để tự khẳng định mình” trong xã hội thông tin.
Ở trường đại học giảng viên phải sử dụng các phương pháp dạy học linh
hoạt, sáng tạo để phát huy tính tích cực, tự giác học tập của sinh viên. Sinh
viên phải sử dụng các phương pháp học tập chủ động, tích cực, sáng tạo để
đạt được mục tiêu học tập của mình.
Sự tinh thông về phương pháp dạy học thể hiện trình độ sư phạm của đội
ngũ giảng viên và của uy tín của nhà trường. Phương pháp dạy học là yếu tố
năng động nhất, quyết định chất lượng quá trình dạy học.
+ Phương tiện dạy học
Phương tiện dạy học là cơ sở vật chất, thiết bị kỹ thuật phục vụ cho quá
trình dạy và học. Tính hiện đại của sở vật chất là thước đo trình độ của một
trường đại học và là điều kiện quan trọng để đảm bảo chất lượng dạy và học
tập của giảng viên và sinh viên.
- 17 -


Phương tiện dạy học là công cụ nhận thức và thực hành của sinh viên và
là công cụ hô trợ đắc lực cho hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học
của giảng viên trong nhà trường.
Trong các trường đại học cần được trang bị các phương tiện kỹ thuật dạy
học hiện đại, đồng bộ, chất lượng tốt và cần được khai thác và sử dụng hợp lý,
để đạt được mục tiêu dạy học.
+ Môi trường dạy học
Môi trường là nơi diễn ra quá trình dạy học. Môi trường có ảnh hưởng
rất lớn đến kết quả học tập và tu dưỡng của sinh viên.
Môi trường có thể hiểu là khung cảnh chính trị, điều kiện kinh tế, văn
hoá, xã hội ở địa phương, trong nước và thế giới. Môi trường học tập được
hiểu là môi trường vật chất và văn hoá học đường, bao gồm nguồn lực con
người: giảng viên, nhà quản lý, nhân viên có năng lực, mẫu mực, thân thiện,
tập thể sinh viên tích cực, có phong trào học tập vươn tới đỉnh cao. Cơ sở vật
chất, thiết bị kỹ thuật đồng bộ, giảng đường, thư viện, phòng thí nghiệm, nhà
xưởng thực hành hiện đại, cảnh quan văn minh... Nguồn tài liệu giảng dạy,
phương tiện giáo khoa... phong phú. Nguồn tài chính dồi dào dành cho đào
tạo, nghiên cứu khoa học và cho các hoạt động học tập, thực hành, tham quan
thực tế của sinh viên.
Môi trường dạy học còn bao gồm cả tính chuyên nghiệp của bộ phận tổ
chức, quản lý đào tạo, xây dựng nề nềp dạy học, quản lý việc thực hiện nội
dung chương trình, đổi mới phương pháp dạy học, cũng như việc tổ chức
kiểm tra, đánh giá quá trình học tập của sinh viên một cách khách quan và
nghiêm túc.
Môi trường dạy học còn là nề nếp hoạt động của nhà trường, là quá trình
xây dựng “nhà trường thân thiện, sinh viên tích cực”.
Với nghĩa rộng môi trường còn bao gồm cả phương tiện, điều kiện vật
chất, học liệu, thư viện dành cho sinh viên học tập.
Như vậy, quá trình dạy học là một chỉnh thể có tính hệ thống, được cấu
thành bởi nhiều thành tố, để nâng cao chất lượng dạy học cần phải nâng cao
chất lượng của tất cả các thành tố và cần khai thác chúng phục vụ cho mục
tiêu chất lượng của nhà trường.
2. MỤC TIÊU CUẢ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC Ở ĐẠI HỌC.

Qua nghiên cứu bản chất quá trình dạy học ở bậc đại học và khảo sát
những yêu cầu thực tế của xã hội hiện đại đối với nguồn nhân lực, ta thấy quá
trình dạy học ở bậc đại học cần phải đạt được ba mục tiêu quan trọng sau đây:
+ Một là, giúp sinh viên nắm vững hệ thống kiến thức khoa học và
nghiệp vụ theo chương trình đào tạo
Quá trình dạy học ở đại học được tiến hành trước hết là để giúp sinh viên
học tập nắm vững hệ thống kiến thức khoa học và nghiệp vụ được quy định
trong chương trình đào tạo, nhằm giúp họ có đủ kiến thức để hành nghề và để
tự phát triển bền vững trong tương lai.
Theo quan niệm cổ điển, đối với giảng viên, giúp sinh viên nắm vững
kiến thức đồng nghĩa với việc thực hiện hết chương trình giảng dạy, đối với
- 18 -


sinh viên, nắm vững kiến thức đồng nghĩa với việc tại hiện lại được những gì
đã được nghe, được học. Điều đó nói lên một quan niệm chưa đầy đủ về bản
chất quá trình dạy học và ảnh hưởng đến việc đánh giá kết quả học tập của
sinh viên.
Theo B.S.Bloom nhà nghiên cứu giáo dục Hoa kỳ, được Anderson và
Krathwohl phát triển (2001) thì việc nắm vững kiến thức của sinh viên được
thể hiện bằng sáu mức độ nhận thức, tăng dần từ: nhận biết, thông hiểu, vận
dụng, phân tích, đánh giá và tổng hợp kiến thức. Cụ thể như sau:
+ Nhận biết là sự nhớ lại, hồi phục lại các nội dung kiến thức đã học, đã
tiếp cận trước đó. Nhận biết được thể hiện bằng số lượng kiến thức đã tích luỹ
được bằng trí nhớ của bản thân.
+ Thông hiểu kiến thức là sự nắm vững bản chất các vấn đề học tập, biết
rõ nguồn gốc phát sinh, quy luật phát triển, các dấu hiệu đặc trưng của các
hiện tượng nghiên cứu. Khi đã thông hiểu sinh viên có thể giải thích được vấn
đề, có thể đưa ra được các định nghĩa riêng.
+ Vận dụng kiến thức là khả năng áp dụng kiến thức đã học để giải quyết
một vấn đề thực tế, làm một công việc cụ thể, đó là quá trình chuyển hoá kiến
thức thành kỹ năng hoạt động, làm cho kiến thức trở nên vững chắc hơn.
+ Phân tích là thao tác chia nhỏ, đi sâu vào từng khía cạnh của từng vấn
đề, từng nội dung học tập. Phân tích được các vấn đề là lúc sinh viên đã học
theo chiều sâu, đã hiểu đúng bản chất các sự kiện, hiện tượng nghiên cứu.
+ Đánh giá là mức độ cao của quá trình nhận thức, biết nhận xét, đánh
giá kiến thức là khi sinh viên đã có kiến thức và phương pháp suy luận lôgic ở
trình độ cao, có thể nêu ra được các quan điểm cá nhân.
+ Tổng hợp là trình độ biết gắn kết các kiến thức đã học thành một hệ
thống, đó chính là quá trình kiến tạo tri thức. Kiến thức do sinh viên kiến tạo
sẽ là kiến thức bền vững nhất.

- 19 -


Mức độ
Nhận biết

Quy trình
Xác định lại hoặc hồi tưởng
thông tin
Thông hiểu Xây dựng ý nghĩa các khái
niệm
Áp dụng
Sử dụng quy trình hoạt động
trong một tình huống cụ thể
Chia thông tin thành nhiều phần
Phân tích và xác định mối quan hệ của
chúng
Phê bình, đưa ra các nhận xét
Đánh giá
về tính nhất quán của một quy
trình, hoặc giá trị một sản phẩm,
một ý tưởng
Kết hợp các yếu tố hình thành
Tổng hợp một chỉnh thể, một hệ thống
nhất quán hoặc tái tổ chức thành
một cấu trúc mới

Các từ mô tả hoạt động
Định danh, nhận ra, nhắc lại, lên
danh sách, hồi tưởng...
Làm rõ, phân loại, tóm tắt, dự
đoán, giải thích, miêu tả, so sánh..
Lấy thí dụ minh hoạ, áp dụng,
thực hành, sử dụng, minh chứng...
Phân biệt, chọn lựa, phác thảo, so
sánh, đặt câu hỏi...
Phán xét, đánh giá, xếp hạng, đo
lường, dự báo, ước tính, lựa
chọn...
Soạn thảo, đề xuất, khuyến nghị,
lập kế hoạch, thiết kế, xây dựng,
hình thành, tạo ra...

Bảng phân loại trình độ nhận thức của Bloom được Anderson và
Krathwohl phát triển năm 2001
Hai là: Giúp sinh viên hình thành hệ thống kỹ năng vận dụng kiến
thức
Ở trường đại học cùng với việc tổ chức cho sinh viên học tập nắm vững
hệ thống kiến thức lý thuyết, giảng viên còn phải tổ chức cho sinh viên thực
hành vận dụng kiến thức đã học vào thực tế, qua đó hình thành kỹ năng, kỹ
xảo hoạt động và năng lực chuyên môn.
Trong chương trình đào tạo ở trường đại học, sinh viên được tham gia
luyện tập nhiều loại kỹ năng như:
+ Kỹ năng tìm kiếm, xử lý thông tin lý thuyết.
+ Kỹ năng giải các bài tập môn học.
+ Kỹ năng làm thí nghiệm, thực nghiệm .
+ Kỹ năng thực hành, thực tập chuyên môn, nghiệp vụ.
+ Kỹ năng làm đồ án, khoá luận tốt nghiệp.
+ Kỹ năng giải quyết các tình huống thực tế.
Kỹ năng được hình thành qua luyện tập và phát triển dần theo các mức
độ từ thấp đến cao đó là: làm theo mẫu, thao tác hoá, chính xác hoá, liên kết
và tự động hóa.
+ Làm theo mẫu là quan sát bắt chước, phỏng theo nguyên bản cách làm
của người hướng dẫn để tạo ra sản phẩm.
+ Thao tác hoá là mức độ thực hiện công việc theo đúng các yêu cầu
bằng trí nhớ của bản thân.
- 20 -


+ Chính xác hoá là mức độ làm việc tự tin, có sự kiểm soát của ý thức,
không cần sự hô trợ của người khác.
+ Liên kết là sự phối hợp, điều chỉnh, phát triển các thao tác, đáp ứng các
mục tiêu, để hoàn thành tốt công việc đang làm.
+ Tự động hoá là mức độ thuần thục, kỹ xảo, tạo ra được sản phẩm,
không cần có sự tham gia của ý thức ở cấp độ chung nhất.
Như vậy, dạy sinh viên thực hành tức là dạy sinh viên thực hiện các quy
trình, phương pháp, thao tác hoạt động, tìm ra các phương án tối ưu giải quyết
công việc trong các tình huống thực tế.
Mức độ
Quy trình
Các từ mô tả hoạt động

Quan sát, bắt chước.
Làm theo, thể hiện lại, nhắc lại
phỏng
Thao tác Thực hiện hành động theo trí Xây dựng, thực hiện, triển khai,
hoá
nhớ
tiến hành
Chính xác Tự tin, hành động không cần Hoàn thiện, thể hiện, định cỡ,
hoá
sự hô trợ của người khác
kiểm soát.
Liên kết Điều chỉnh, tích hợp các ý Xây dựng, phối hợp, tích hợp,
tưởng để thực hiện mục tiêu điều chỉnh, phát triển, hình thành
không theo tiêu chuẩn
Tự động Không có sự tham gia của ý Thiết kế, cụ thể hoá, quản lý,
hóa
thức ở cấp độ chung nhất.
phát minh
Bảng phân loại của Dave và Simpson
Ba là: Giúp sinh viên hình thành hệ thống thái độ tích cực với thực
tiễn cuộc sống
Mục tiêu thứ ba của quá trình dạy học là giúp sinh viên hình thành hệ
thống thái độ tích cực đối với thực tiễn cuộc sống.
Thái độ là nét đặc trưng tâm lý cá nhân, là ý thức của cuộc sống, là khâu
trung gian giữa nhận thức và hành vi, mang mầu sắc tình cảm. Thái độ được
biểu hiện rõ nét trong cách ứng xử của con người với tự nhiên và xã hội. Thái
độ tốt là điều kiện để môi cá nhân tiến bộ, thành đạt trong cuộc sống tương
lai.
Trong quá trình dạy học ở đại học cần phải giáo dục hình thành cho sinh
viên hệ thống thái độ ứng xử đúng đối với các giá trị của khoa học, với việc
học tập, với con người, với lao động nghề nghiệp, với dân tộc, với nhân loại
và cả với thế giới tự nhiên.
Qua học tập và thực tế cuộc sống, thái độ của sinh viên được hình thành
và phát triển, tăng dần theo các mức độ từ: tiếp nhận, phản hồi, định giá, khái
niệm hoá và chủ thể hoá.
+ Tiếp nhận là chú ý lắng nghe, theo dõi những ý kiến chỉ dẫn, những tác
động của nhà giáo dục.
+ Phản hồi là những đáp lại tức thì trước những tác động cuả nhà giáo
dục, biểu hiện bằng sự đồng tình, phân vân hay phản đối...
- 21 -


+ Xác định giá trị là quá trình phân tích, cân nhắc các giá trị, suy nghĩ
nội tâm xem nên làm gì và làm như thế nào trước những yêu cầu, những tình
huống đang xảy ra.
+ Khái niệm hoá là quá trình phát triển hệ thống các giá trị, hình thành
tri thức, hiểu biết, quyết định tuân theo một định hướng.
+ Chủ thể hoá là quá trình hình thành ý thức, hành vi, niềm tin, có hệ
thống, ổn định, bền vững, trở thành triết lý cuộc sống của con người.
Mức độ
Tiếp
nhận
Phản hồi

Các quy trình
Mô tả hoạt động
Cởi mở, sẵn sàng, Lắng nghe, trao đổi, thừa nhận, thực
lắng nghe
hiện, cảm nhận, chỉ ra
Phản ứng và tham Phản ứng, làm sáng tỏ, đặt câu hỏi, trình
gia tích cực
bày, phấn khích, thực hiện
Xác định Phân tích các giá trị Biện hộ, thách thức, đấu tranh, bác bỏ,
giá trị
và thể hiện quan chứng minh, thuyết phục, chia sẻ, đề
điểm các nhân
xuất, khởi xướng
Hệ thống Dàn xếp các xung Xây dựng, phát triển, hình thành, bảo
hoá
đột nội bộ, phát triển vệ, điều chỉnh, liên kết, ưu tiên, giải
hệ thống giá trị
quyết, sắp xếp, so sánh
Chủ thể Áp dụng hệ thống,
Hành động, biểu lộ, tác động, giải quyết,
hoá
niềm tin và hình
thực hành
thành các triết lý
Thang phân loại của Bloom về lĩnh vực thái độ
Tóm lại, quá trình dạy học ở đại học hướng tới ba mục tiêu gắn bó chặt
chẽ với nhau, có mối quan hệ biện chứng với nhau. Các mục tiêu dạy học khi
thiết kế cần được diễn đạt cụ thể, có thể định lượng, làm cơ sở để đánh giá
chất lượng đào tạo, đánh giá kết quả học tập của sinh viên.
Mức
độ
1
2
3
4
5
6

Nhận thức
Kỹ năng
Thái độ
(Knowledge)
(Skills)
(Attitudes)
Nhận biết
Phỏng theo
Tiếp nhận
Thấu hiểu
Thao tác hoá
Phản hồi
Vận dụng
Chính xác hoá
Xác định giá trị
Phân tích
Liên kết
Hệ thống hoá
Đánh giá
Tự động hoá
Chủ thể hoá
Tổng hợp
Bảng tóm tắt chung bảng thang phân loại các mục tiêu

3. ĐỘNG LỰC VÀ LÔGIC CỦA QUÁ TRÌNH DẠY HỌC

3.1. Động lực của quá trình dạy học:
- 22 -


Quá trình dạy học là quá trình vận động và phát triển trong nhận thức của
sinh viên, sự vận động này có nguồn gốc từ việc giải quyết các mâu thuẫn cơ
bản, nội tại của chính người sinh viên và được quy định bởi các mục tiêu học
tập.
Trong quá trình dạy học ẩn chứa rất nhiều mâu thuẫn, thí dụ như mâu
thuẫn giữa mục tiêu và điều kiện để đạt mục tiêu, mâu thuẫn giữa nội dung
dạy học hiện đại và phương pháp dạy học chậm đổi mới, giữa động cơ và kết
quả học tập… Trong các mâu thuẫn đó có một mâu thuẫn cơ bản đó là mâu
thuẫn giữa nhu cầu nhận thức và khả năng nhận thức của người sinh viên, nếu
mâu thuẫn này được giải quyết sẽ trở thành động lực thúc đẩy quá trình dạy
học phát triển.
Thực tế cho thấy quá trình học tập của sinh viên chỉ tiến lên được khi họ ý
thức được mục tiêu và nhiệm vụ học tập, biết chuyển hoá những yêu cầu của xã
hội, của nội dung chương trình, của giảng viên thành nhu cầu của bản thân, từ đó
mà cố gắng vươn lên để đạt được các mục tiêu đã xác định. Không có nhu cầu
học tập, không có nhu cầu làm giàu kiến thức, không sự cố gắng vươn lên, thì
không thể có kết quả học tập tốt. Môi con người đều có những nhu cầu cho sự
sống và những nhu cầu tâm lý liên quan tới sự phát triển cá nhân và lòng tự
trọng. Lòng tự trọng là một nhân tố quan trọng trong việc xác định mục tiêu và
mức độ hứng thú học tập của sinh viên.
Nhiệm vụ của giảng viên là xuất phát từ mục tiêu dạy học, từ các yêu cầu
của chương trình, nội dung dạy học, bằng nghệ thuật sư phạm khơi dậy nhu
cầu, hứng thú nhận thức, khích lệ sinh viên nô lực ý chí để đạt được mục tiêu
đã xác định.
Trong quá trình giảng dạy người giảng viên phải lưu ý hai điều quan
trọng sau đây:
1. Thiết kế nội dung bài giảng phù hợp với trình độ của sinh viên và cần
nâng dần các yêu cầu trong suốt quá trình dạy học để tạo nên sự cố gắng liên
tục của sinh viên.
2. Bằng nghệ thuật sư phạm chuyển hoá những yêu cầu của chương trình
thành nhu cầu học tập của sinh viên, phải tạo ra môi trường và các điều kiện
học tập thuận lợi cho sinh viên để họ phấn đấu vươn lên bằng chính khả năng
của mình.
Từ những phân tích trên ta có thể đi đến kết luận: động lực của quá trình
dạy học là việc giải quyết mâu thuẫn cơ bản giữa một bên là nhu cầu nhận
thức và bên kia là trình độ nhận thức của người sinh viên ở một thời điểm
nhất định, giảng viên là người tạo dựng các yêu cầu và bằng nghệ thuật sư
phạm tổ chức cho họ tự giải quyết mâu thuẫn bằng sự nỗ lực của bản thân.
3.2. Tiến trình dạy học
Quá trình học tập về bản chất là quá trình nhận thức và kiến tạo tri thức
của sinh viên, vì vậy quá trình dạy học chỉ có thể đạt được kết quả tốt khi
người giảng viên tuân theo quy luật nhận thức trong tiến trình giảng dạy của
mình. Bài giảng của giảng viên được tổ chức theo quy trình sau đây:
- 23 -


a. xut vn v to cho sinh viờn ý thc v mc tiờu v cac nhim
v hc tp
ờ thc hiờn mụt bai giang trc hờt giang viờn phai nờu chu ờ hoc tõp,
xac inh muc tiờu va phõn tớch cac nhiờm vu nhm chun bi tõm thờ hoc tõp
cho sinh viờn.
Giang viờn co thờ bt õu bai giang bng cach a ra mụt thớ du thc tờ,
mụt tinh huụng mõu thun, mụt s kiờn hay hiờn tng khac thng, nhm
gõy hng thu hoc tõp, t sinh viờn vao tinh huụng phai t duy, t o ho s tõp
trung trớ lc vao viờc hoc tõp.
b. T chc cho sinh viờn nghiờn cu, kham pha tri thc mi
ờ giup sinh viờn nm vng kiờn thc mi, giang viờn phai tụ chc cho
sinh viờn hoat ụng di nhiờu hinh thc khac nhau nh: nghiờn cu tai liờu,
thao luõn tõp thờ, quan sat cac hiờn tng t nhiờn, xa hụi, k thuõt, lam
cac thớ nghiờm, thc nghiờm khoa hoc ... qua o sinh viờn rut ra cac kờt luõn,
hinh thanh cac khai niờm, cac quy tc khoa hoc...
c. Hng dn sinh viờn thc hnh vn dng kin thc.
Cung vi viờc giup sinh viờn nm vng kiờn thc ly thuyờt, giang viờn
cũn a ra cac bai tõp ờ sinh viờn thc hanh, luyờn tõp võn dung ly thuyờt,
nhm hinh thanh k nng, k xao va hiờu ly thuyờt sõu sc hn.
d. Hng dn sinh viờn h thng hoa kin thc
Sau khi nghiờn cu tai liờu va luyờn tõp thc hanh, giang viờn cõn giup
sinh viờn nhin lai cac võn ờ a hoc mụt cach tụng quat, chớnh xac hoa cac
khai niờm, bng cach so sanh, phõn loai, lõp bang, v s ụ, biờu ụ ờ nhõn
manh nhng nụi dung trong tõm, quan trong nhõt. õy chớnh la qua trinh hờ
thụng hoa, kiờn tao lai tri thc, biờn tri thc nhõn loai thanh kiờn thc cua ban
thõn.
e. anh gia kt qu hc tp
anh gia la mụt khõu cua qua trinh day hoc, ụng thi la mụt phng
phap ờ thuc y tớnh tớch cc hoc tõp cua sinh viờn.
anh gia va t anh gia c thc hiờn thng xuyờn trong va sau bai
giang, nhm xem xột mc ụ nm vng kiờn thc va k nng cua sinh viờn,
ờ t o giang viờn kip thi iờu chnh phng phap day hoc cho co hiờu qua.
Câu hỏi ôn tập v tho lun
1. Phõn tớch mụi quan hờ tơng tác giữa giang viên, sinh viờn trong
qua trinh day hoc.
2. Phân tích quan điểm: dạy học lấy sinh viờn làm trung
tâm và chỉ ra cách thức triển khai quan điểm này trong
thực tế.
3. Tại sao có thể nói muốn nâng cao chất lợng dạy học
phải nâng cao chất lợng cac thành tố của quá trình dạy học ?
Chủ đề hội thảo
Chủ đề 1. Dạy thực chất, học thực chất, thi thực chất ?
- 24 -


Chñ ®Ò 2: Sư phạm tương tác.
CHƯƠNG 3
NGUYÊN TẮC DẠY HỌC Ở ĐẠI HỌC
1. KHÁI NIỆM NGUYÊN TẮC DẠY HỌC Ở ĐẠI HỌC

Trong đời sống hàng ngày chúng ta vẫn thường sử dụng những khái niệm
như nội quy, quy tắc, nguyên tắc và được hiểu chung đó là những yêu cầu bắt
buộc mà mọi người phải tuân theo. Tuy nhiên đây là những khái niệm khác
nhau về nội hàm và về ý nghĩa nên chúng cần phải được phân biệt rõ ràng.
- Nội quy là những quy định nội bộ của một tập thể, một cơ quan mà các
thành viên trong đó phải có trách nhiệm tự giác tuân thủ, thí dụ nội quy lớp
học, nội quy cơ quan, trường học…
- Quy tắc được hiểu như những quy trình, quy phạm tính kỹ thuật, được
rút ra từ các nguyên lý khoa học đã được thực nghiệm chứng minh, thí dụ quy
tắc vật lý, quy tắc toán học...
- Nguyên tắc là những luận điểm có tính định hướng, được rút ra từ mục
đích công việc, từ những nguyên lý chung và từ những kinh nghiệm hoạt
động thực tiễn. Nguyên tắc có giá trị chỉ dẫn các hoạt động phức tạp, có đông
người tham gia.
Dạy học là một hoạt động có tính khoa học, tính kỹ thuật và tính nghệ
thuật cao, vì thế để đảm bảo cho quá trình dạy học đạt tới chất lượng và hiệu
quả tốt cần phải có các nguyên tắc chỉ đường.
Chúng ta có thể thống nhất một định nghĩa: Nguyên tắc dạy học là hệ
thống những luận điểm, những yêu cầu sư phạm, có vai trò chỉ dẫn quá trình
dạy học nhằm đạt tới chất lượng và hiệu quả mong muốn.
Từ rất lâu, trong lịch sử nhà trường, các nhà giáo dục đã từng đề xướng
nhiều hệ thống nguyên tắc dạy học và yêu cầu giảng viên phải tuân theo.
Ngày nay trong sự phát triển của khoa học và công nghệ, lại càng phải chú ý
nhiều đến các nguyên tắc dạy học như những yêu cầu đối với giảng viên và
nhà trường trong tổ chức quá trình dạy học.
Sau đây là “Bảy nguyên tắc dạy tốt ở bậc đại học” (Seven Principles for
Good Practice in Undergraduate Education) do Arthur W. Chickering (George
Mason University) và Zelda F. Gamson (University of Massachusetts at
Boston) xây dựng và được Hiệp hội các trường đại học Hoa Kỳ (AAHE) phổ
biến vào năm 1987, sau đó được truyền bá sang Canada, Anh quốc và các
nước châu Âu khác.
Trong những năm gần đây, nhiều trường đại học ở Mỹ như University of
Tennessee, University of Texas đã tổ chức nghiên cứu trên các đối tượng sinh
viên và các ngành học khác nhau làm cho các nguyên tắc này phù hợp hơn
với thực tế giáo dục hiện đại.
Đối tượng hô trợ chính của bảy nguyên tắc này là giảng viên các trường
đại học, tuy nhiên sinh viên cũng cần biết để định hướng học tập và cán bộ
- 25 -


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×