Tải bản đầy đủ

Bài giảng Nâng cao trách nhiệm Tự học- Đại học Sư Phạm

BÀI GIẢNG HỌC PHẦN
“NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỰ HỌC”
Đào Thị Oanh-Viện NCSP
A/ ĐẶT VẤN ĐỀ
Giảng viên được xem là người định hướng, tổ chức để sinh viên lĩnh hội
kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp. Để công việc giảng dạy có hiệu quả, giảng
viên phải có hiểu biết vừa rộng vừa sâu về những gì liên quan đến lĩnh vực
chuyên môn. Người giảng viên đích thực luôn tìm kiếm cách thức cập nhật
càng nhiều càng tốt những gì đang được phổ biến về môn học của họ nhằm
giữ cho môn học luôn mới, đồng thời phát triển khả năng dạy học của mình.
Nhu cầu liên tục học hỏi còn liên quan đến chính bản chất của việc học tập.
Bởi tri thức là cái không ngừng phát triển, những điều biết hôm nay không
bao giờ giống với điều sẽ được biết ngày mai. Cho nên, để nắm, sở hữu tri
thức, người ta luôn phải vật lộn để làm cho những điều đã biết luôn được cập
nhật, đồng thời còn phải biết trình bày chúng cho học sinh. Việc chủ động học
tập tạo ra ở giáo viên sự tự tin suy nghĩ một cách độc lập, và dưới con mắt của
các chuyên gia về học tập thì đây được xem là bước chuyển tiếp mang tính
chuyên nghiệp của một giáo viên bởi “đó là khi một thế giới mới được mở ra,
một quyền lực mới đạt được và một người giáo viên mới được sinh ra – một
giáo viên có thể độc lập xác định được điều gì là tốt nhất cho học sinh của
mình”. Những giáo viên được học sinh nhớ rõ nhất là những giáo viên nắm

vững môn học của mình, dạy môn học đó với sự nghiêm túc và tình yêu to
lớn, tự tin trong sự hiểu biết của họ, vui sướng khi hiểu được một điều mới
mẻ. Đó là những người thường xuyên có mặt tại bàn đọc sách của thư viện,
băn khoăn về kết quả của một thử nghiệm, chia sẻ suy nghĩ về lời bình của
một cuốn sách, khám phá ra ý nghĩa của một bức tranh, nói về quá trình học
hỏi với sự chân thành...Đồng thời chia sẻ với học sinh của mình để giúp họ
biết cách tự học thông qua kinh nghiệm bản thân. Những niềm vui sướng


giản dị đó chính là những điều học sinh cần ở người giáo viên. Bằng cách đó,
học sinh có thể sẵn sàng đáp ứng những yêu cầu của việc học tập từ phía giáo
viên, và lại tiếp tục thúc đẩy giáo viên trên con đường tự học hỏi.
B/ THÔNG TIN CHUNG VỀ HỌC PHẦN
Học phần “Nâng cao chất lượng tự học” cung cấp cho học viên một số
kiến thức cơ bản về cơ sở tâm sinh lí của hoạt động tự học, một số cách rèn
luyện kĩ năng tự học. Trên cơ sở đó gợi ý để học viên vận dụng vào quá trình
tự học của bản thân và hướng dẫn học sinh, sinh viên tự học một cách hiệu
quả, như: Xác định mục tiêu tự học hiệu quả; Lập kế hoạch tự học phù hợp,
khả thi; Nghiên cứu tài liệu học tập; Tự giải quyết các vấn đề học tập với tư
cách là một hoạt động tự học.
C/ MỤC TIÊU HỌC PHẦN
Sau khi học xong học phần này, học viên có thể:
- Cập nhật, vận dụng những kiến thức, kĩ năng vào nâng cao chất lượng tự
học của bản thân, qua đó nâng cao hiệu quả giảng dạy;
- Hướng dẫn cho học sinh, sinh viên của mình những kĩ năng tự học hiệu
quả;
- Sáng tạo ra những cách thức tự học mới phù hợp, hiệu quả với bản thân
và với học sinh, sinh viên của mình.
D/ NỘI DUNG HỌC PHẦN
Chương 1: Hoạt động học tập và kĩ năng tự học
1.1. Bản chất của hoạt động học tập
1.2.Cơ sở tâm sinh lí của hoạt động học tập
1.2.1. Cơ sở sinh lí của hoạt động tự học
1.2.2. Cơ sở tâm lí của hoạt động tự học
1.3. Kĩ năng tự học
1.3.1. Tự học là gì?
1.3.2. Kĩ năng tổ chức bản thân


1.3.3. Kĩ năng tổ chức việc tự học


1.3.4. Kĩ năng tổ chức môi trường tự học tối ưu
Câu hỏi và bài tập thực hành chương 1
Chương 2: Kĩ năng lập kế hoạch tự học hiệu quả
2.1. Xác định mục tiêu tự học
2.1.1. Ý nghiã của việc xác định mục tiêu
2.2.2. Các bước xác định mục tiêu hiệu quả
2.2. Lập kế hoạch tự học hiệu quả
2.2.1. Xác định những việc ưu tiên cho những thời điểm thích hợp
2.2.2. Lập thời gian biểu
2.3. Sử dụng thời gian vào tự học
2.3.1. Đối phó với sự trì hoãn
2.3.2. Quản lí thời gian hiệu quả
2.4. Kiểm tra và điều chỉnh kế hoạch tự học
2.4.1. Kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch tự học
2.4.2. Điều chỉnh kế hoạch tự học
Câu hỏi và bài tập thực hành chương 2
Chương 3: Kĩ năng nghiên cứu tài liệu học tập
3.1. Phương pháp đọc sách hiệu quả
3.1.1. Thói quen làm giảm hiệu quả đọc sách
3.1.2. Kĩ năng đọc sách hiệu quả
3.2. Phương pháp ghi chú hiệu quả
3.2.1. Phương pháp ghi chú truyền thống
3.2.2. Bản đồ tư duy – công cụ ghi chú tối ưu
3.3. Lưu giữ và khai thác tài liệu học tập
3.3.1. Sử dụng túi hồ sơ
3.3.2. Sử dụng CNTT
Câu hỏi và bài tập thực hành chương 3
Chương 4: Kĩ năng tự giải quyết vấn đề


4.1. Bản chất của tự giải quyết vấn đề
“Tự học” và “Nghiên cứu khoa học”
4.1.1. “Tự học” và “Nghiên cứu khoa học”
4.1.2. Chu trình tự học ở người lớn – quá trình tự giải quyết vấn đề
4.2. Một số phương pháp tự học tích cực
4.2.1. Học qua lỗi
4.2.2. Học qua tham gia nghiên cứu khoa học
4.2.3. Học nhóm
4.3. Rèn luyện phương pháp tự học phải trở thành một mục tiêu học tập của
học sinh, sinh viên
Câu hỏi và bài tập thực hành chương 4
E/ ĐỀ CƯƠNG CHI TIẾT BÀI GIẢNG
CHƯƠNG 1: HỌAT ĐỘNG HỌC TẬP VÀ KĨ NĂNG TỰ HỌC
1.1.Bản chất của hoạt động học tập
Học tập theo phương pháp nhà trường là một dạng hoạt động nhận thức, là
một dạng hoạt động tinh thần/tâm lí, nhằm lĩnh hội kinh nghiệm xã hội – lịch
sử nói chung, tri thức, kĩ năng, kĩ xảo nói riêng, chuẩn bị để học sinh trở
thành chủ thể thực sự của hoạt động lao động. Nó không làm biến đổi các vật
thể thực, quan hệ thực, mà nó phản ánh sự vật, quan hệ…mang lại cho chủ thể
các hình ảnh, tri thức về sự vật và quan hệ đó. Bằng hoạt động nhận thức, con
người phân tích, tổng hợp, khái quát, ghi nhớ các hình ảnh ấy. Và nếu có thực
hiện một sự biến đổi nào đó, thì chính là biến đổi các hình ảnh này (biến đổi
sự vật trong biểu tượng), đổi mới tư duy, chuẩn bị cho biến đổi thực tế. Hoạt
động nhận thức chuẩn bị cho hoạt động lao động.
Là một hoạt động đặc thù của con người, hoạt động học tập có đầy đủ các
đặc điểm cơ bản của hoạt động con người, đó là:
a/ Bao giờ cũng có đối tượng: là các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo…
b/ Bao giờ cũng do chủ thể tiến hành: là học sinh.


Nói đến tính chủ thể là muốn bao hàm trong đó tính tích cực, khả năng làm
chủ bản thân. Tất nhiên, để chủ thể thực hiện hoạt động, cần có các điều kiện
khách quan tương ứng (điều kiện xã hội và công cụ/phương tiện phù hợp).
Tính chủ thể thể hiện ở chỗ: mỗi học sinh phải tự mình bắt não làm việc, biến
vốn kinh nghiệm xã hội - lịch sử của loài người thành phẩm chất, năng lực
hoạt động của cá nhân mình;
c/ Bao giờ cũng được vận hành theo nguyên tắc gián tiếp: thông qua bộ máy
công cụ lao động giữ vai trò trung gian giữa chủ thể lao động và đối tượng lao
động, gồm: công cụ kĩ thuật (tri thức về kĩ thuật, máy móc, kĩ năng công
nghệ) và công cụ tâm lí (tiếng nói, chữ viết, con số, kí hiệu, hình ảnh…). Cá
nhân học sinh dùng bộ máy công cụ này để điều khiển hoạt động học tập của
mình;
d/ Bao giờ cũng có mục đích xác định: đó là để lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ
xảo, nhằm thỏa mãn nhu cầu nhận thức, hình thành các năng lực chuẩn bị
hành trang bước vào cuộc sống;
e/ Có bản chất xã hội – lịch sử: hoạt động học tập vận hành trong các mối
quan hệ xã hội. Các quan hệ này chứa đựng nội dung lịch sử do các thế hệ
trước để lại, đồng thời cũng là các quan hệ đang diễn ra trong môi trường
sống của cá nhân học sinh. Ngoài ra, còn có mối quan hệ với thế hệ sau –
trách nhiệm tương lai. Hoạt động học tập của học sinh trong nhà trường do
thầy và trò là chủ thể cùng nhau tiến hành, tức là do một tập thể/nhóm cùng
thực hiện;
f/ Có cơ sở tự nhiên (“vật chất”) là bộ não và hoạt động thần kinh cấp cao
của não: là một hoạt động trí óc/tâm lí, học tập là quá trình tiêu hao năng
lượng thần kinh, quá trình huy động các chức năng của não, của các giác
quan…Hoạt động thần kinh cấp cao của não là cơ sở sinh lí thần kinh của
hoạt động tâm lí, trong đó có học tập.


g/ Là một hoạt động mang tính xã hội, có tính tương tác cao: quá trình học
tập diễn ra và được thực hiện trong các mối quan hệ người – người đa dạng,
phong phú.
Những đặc điểm nêu trên cho thấy, để thực hiện hoạt động học tập theo
phương pháp nhà trường, học sinh cần đáp ứng các yêu cầu nhất định về phát
triển mặt sinh lí, tâm lí, xã hội. Hay nói cách khác, con người ở mỗi giai đoạn
phát triển khác nhau sẽ tổ chức thực hiện hoạt động học tập một cách khác
nhau. Điều này gợi ý để các nhà sư phạm có những cách thức tác động phù
hợp với người học.
1.2. Cơ sở tâm sinh lí của hoạt động tự học
1.2.1. Cơ sở sinh lí của hoạt động tự học
Như trên đã nói, học tập là một dạng hoạt động lao động đặc biệt của con
người. Hoạt động tâm lí phức tạp này có cơ sở tâm sinh lí của nó và vận hành
theo những quy luật riêng của một hoạt động trí óc. Chính vì vậy, để tổ chức
tự học có kết quả cần phải có hiểu biết về những yếu tố đó để vận dụng chúng
vào quá trình tự học. Học tập trước hết là một hoạt động lao động, vì vậy nó
có bản chất sinh lí học của bất cứ một hoạt động lao động nào ở con người.
Đó là sự vận hành các chức năng của cơ thể con người, về thực chất là sự tiêu
hao năng lượng thần kinh, năng lượng cơ bắp, là sự huy động các chức năng
của não, của các cơ quan cảm giác…Hiểu bản chất sinh lí học của lao động sẽ
giúp hiểu rõ hơn về bản chất tâm lí của lao động, bởi cái tâm lí trong lao động
không thể tách rời và cô lập với cái sinh lí.
Xét từ góc độ của khoa học Tổ chức lao động thì bất cứ một hệ thống lao
động nào (dù là chân tay hay trí óc) cũng bao gồm 3 thành tố là: 1/ Con người
với tư cách là chủ thể của lao động; 2/ Máy móc với tư cách là công
cụ/phương tiện lao động; 3/ Môi trường nơi diễn ra hoạt động lao động (bao
gồm môi trường vật lí vi mô và môi trường xã hội). Để hoạt động lao động có
hiệu quả, cần làm cho các yếu tố này thích ứng với nhau một cách tốt nhất,
tức là, phải có sự tổ chức chúng một cách hợp lí để tối ưu hóa mối quan hệ


giữa các thành tố với nhau. Điều này cũng hoàn toàn đúng với hoạt động tổ
chức tự học. Trong hệ thống này, con người là thành tố quan trọng nhất vì
thực hiện hoạt động lao động, đồng thời tạo ra máy móc và môi trường lao
động để tạo ra các giá trị xã hội. Nếu xem xét thêm có thể thấy rõ yếu tố
người đồng nghĩa với yếu tố tâm lí. Công nhận sự có mặt của yếu tố này là
phải tính đến vai trò và tầm quan trọng của nó. Các yếu tố tâm lí hợp lại trở
thành công cụ tâm lí cùng với công cụ lao động giúp con người thực hiện hoạt
động phù hợp với mục đích đặt ra.
* Bộ não con người – cơ sở sinh lí thần kinh của tổ chức tự học.
Trong quá trình tiến hóa, bộ não con người phát triển ở các giai đoạn khác
nhau đi từ phần nguyên thủy nhất (“não bò sát”) cho đến phần cao cấp nhất
(“đại não”). Mỗi phần có hoạt động tương đối khác biệt, song trong hoạt động
học tập của con người thì tất cả chúng đều cùng tham gia ở mức độ khác
nhau, trong đó vỏ não (não cấp cao) nằm ở lớp ngoài cùng và cao nhất của bộ
não là bộ phận quan trọng của hoạt động tư duy (giúp hình thành khả năng
suy luận, đặt mục tiêu và lập kế hoạch, phát triển ngôn ngữ, lĩnh hội những
khái niệm trừu tượng).
Hoạt động thần kinh cấp cao của não là cơ sở sinh lí thần kinh của các hiện
tượng tâm lí, trong đó có học tập. Đó là hoạt động đảm bảo quan hệ phức tạp,
chính xác và tinh vi của toàn bộ cơ thể đối với thế giới bên ngoài. Hoạt động
này do các bán cầu đại não thực hiện. Các nhà khoa học nghiên cứu thấy,
trong não có sự phân công chặt chẽ giữa các vùng trên vỏ não, theo nghĩa mỗi
vùng là cơ sở vật chất của một hiện tượng tâm lí tương ứng. Nguyên tắc
“phân công” này lại kết hợp với nguyên tắc “liên kết” rất nhịp nhàng, theo
nghĩa: mỗi hoạt động tâm lí có cơ sở vật chất là một hoặc một vài hệ thống
chức năng. Các hệ thống chức năng này được thực hiện bởi nhiều tế bào não
từ các khối chức năng cơ bản của toàn bộ não tham gia.
a/ Khối năng lượng đảm bảo điều hành trương lực vỏ não và trạng thái
thức tỉnh. Để đảm bảo các quá trình tâm lí diễn ra một cách đầy đủ, con


người phải ở trong trạng thái thức tỉnh tối ưu. Tương tự, để thực thi một hoạt
động có tổ chức, có mục đích, cần phải đảm bảo trương lực tối ưu của vỏ não.
Khối này được cấu trúc theo dạng lưới thần kinh “không chuyên biệt” thực
hiện chức năng của mình bằng con đường thay đổi trạng thái lan tỏa dần.
Khối chức năng thứ nhất chủ yếu nằm trong khuôn khổ của thân não, của các
tổ chức gian não và các phần giữa của vỏ não mới. Bộ máy cho phép điều
chỉnh trạng thái này tương ứng với từng nhiệm vụ được đặt ra trước cơ thể.
Đối với hoạt động tổ chức tự học, vai trò của khối chức năng này là tổ chức
hoạt hóa việc học, tức là quá trình tạo động cơ của việc học, bởi vì não phải
được hoạt hóa, đảm bảo trương lực vỏ não ở mức độ nhất định thì hoạt động
học tập mới được bắt đầu theo đúng nghĩa.
b/ Khối tiếp nhận, xử lí, lưu giữ thông tin. Khối này phân bố ở phía sau bán
cầu não và bao gồm các vùng thị giác (chẩm), thính giác (thái dương), cảm
giác chung (đỉnh) của vỏ và các cấu trúc dưới vỏ. Bộ máy của khối chức năng
này đều có cấu trúc thứ bậc, bao gồm vùng cấp I (phóng chiếu) là nơi tiếp
nhận thông tin và phân tích chúng thành các yếu tố cấu thành nhỏ nhất, vùng
não cấp II (phóng chiếu, liên hợp) là nơi mã hóa (tổng hợp) các yếu tố cấu
thành, vùng não cấp III (“vùng mở”) là nơi đảm bảo hoạt động đồng thời của
nhiều hệ cơ quan phân tích, đưa ra các biểu tượng dựa trên các hình thức tổ
hợp của hoạt động nhận thức. Trong hoạt động tổ chức tự học thì khối chức
năng này đảm bảo việc thực hiện tự học của chủ thể, qua đây có thể biết rõ
cách học của học sinh là ở mức độ tái hiện hay sáng tạo.
c/ Khối lập trình, điều khiển và kiểm soát các hình thức hoạt động phức
tạp. Một khía cạnh khác của đời sống tâm lí con người là sự tổ chức hoạt
động tâm lí có ý thức. Đó là quá trình con người lên kế hoạch, chương trình
hành động; theo dõi việc thực hiện để điều chỉnh hành vi tương ứng với kế
hoạch hoặc chương trình đã đề ra; kiểm tra hoạt động của bản thân bằng cách
so sánh kết quả hành động với mục đích ban đầu và chỉnh sửa những sai sót
nếu có. Phục vụ cho các công việc này là bộ máy khối chức năng thứ ba của


não – khối lập trình, điều khiển và kiểm soát diễn biến của hành động đang
diễn ra. Các bộ phận của khối chức năng thứ ba này nằm ở phần phía trước
bán cầu não.
Có thể nói, trong việc tổ chức tự học nhất thiết phải có sự tham gia của cả
3 khối chức năng nói trên của não, đồng thời việc tổ chức tự học thực sự phải
bao gồm các hành động nêu trên. Như vậy, tổ chức tự học được bắt đầu trước
hết bằng việc tổ chức vận hành não.
Bộ não có hàng tỉ tế bào. Riêng vỏ não có hơn 100 tỉ tế bào hoạt động,
được gọi là các nơ ron. Bản thân mỗi nơ ron đều có sức mạnh lớn hơn hầu hết
các máy tính trên hành tinh này. Tuy nhiên, không phải số lượng nơ ron này
quyết định trí thông minh mà chính là các kết nối giữa chúng. Mỗi nơ ron có
khả năng tạo ra 20 nghìn mối liên kết với các nơ ron khác. Khi cá nhân hoạt
động (nhìn, lắng nghe, làm một việc gì đó có chủ định), não bộ sẽ được kích
thích và tạo ra những mối liên kết giữa các nơ ron, giúp con người trở nên
thông minh. Do vậy, để học tập tốt cần rèn luyện bộ não thường xuyên theo
cách làm những việc đòi hỏi một mức độ khó khăn nhất định. Quá trình suy
nghĩ kích thích não bộ tạo ra nhiều kết nối thần kinh vì vậy, cảm giác ”Khó
hiểu” là một cảm giác tốt bởi khi đó, bộ não phải đối mặt với một việc vượt ra
ngoài khả năng của nó, khi đó, buộc cá nhân phải suy nghĩ để cố gắng hiểu
vấn đề. Các chuyên gia khuyên rằng, nếu chúng ta không thành thạo việc gì
thì hãy thực hiên việc đó nhiều hơn. Họ cũng đưa ra lời khuyên về những
cách thức để kích thích não bộ phát triển, đồng thời, những cách cần tránh vì
làm cản trở sự phát triển của não bộ.
*Hai bán cầu não: Bên trong vỏ não có sự phân chia công việc riêng biệt.
Các chức năng chủ yếu của não cấp cao như suy luận logic, diễn thuyết, phân
tích không gian, mỗi thứ cơ bản tập trung vào một lĩnh vực riêng biệt. Sự
phân chia quan trọng nhất là phân chia đơn giản giữa hai bán cầu não do
Roger Sperry và Robert Ornstein nghiên cứu đưa ra và đã giành giải Nobel
cho thành tựu của họ trong lĩnh vực nghiên cứu này. Nhờ đó mà ngày nay


chúng ta biết được mỗi bên của vỏ não chủ yếu đảm nhận các loại hình tư duy
đặc trưng khác nhau.
Não trái đảm nhận:
- Phân tích và lập luận logic
- Những sự việc xẩy ra liên tiếp
- Các con số và khả năng toán học
- Các khả năng ngôn ngữ và từ vựng
- Lối suy nghĩ tuyến tính
- Suy nghĩ lí trí và kinh nghiệm
Não phải đảm nhận:
- Sáng tạo
- Khả năng trực giác
- Sự cảm thụ âm nhạc
- Sự tưởng tượng và ngủ mơ vào ban ngày
- Lối suy nghĩ ngẫu nhiên, lộn xộn
- Cảm thụ nghệ thuật (màu sắc, hoa văn, nhận thức không gian).
Tuy có sự phân chia như vậy, song hoạt động của bộ não tinh vi hơn thế rất
nhiều. Một bên thống lĩnh hơn 90% vỏ não so với bên kia, nhưng bên yếu hơn
cũng rất linh hoạt với khả năng tiếp thu không hề thua kém.
*Các cách kích thích não bộ:
Điều khiển sóng não:
Có 4 loại sóng não tương ứng với 4 trạng thái tư duy cơ bản của đời sống
con người.
- Sóng Beta: ”Tỉnh táo và hoạt động” (giao tiếp, lái xe, phân tích, lập kế
hoạch), làm các công việc hàng ngày. Trạng thái này tốt nhưng không phải là
trạng thái tốt nhất cho việc học;
- Sóng Theta: Khi định gác lại công việc để đi ngủ hoặc trạng thái khi ”suy
tưởng sâu xa” nào đó;
- Sóng Delta: Sóng chậm nhất, khi chúng ta đang ngủ sâu;


- Sóng Alpha: trạng thái thư giãn thật sự sau khi được nghỉ ngơi, hay ”Suy
ngẫm tỉnh táo”. Có một chút căng thẳng, và là trạng thái thuận lợi nhất để học
tập.
Cách thúc đẩy bộ não hoạt động:
- Nghe một loại nhạc cổ điển (Ba Rốc);
- Liên tục đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi;
- Hàng ngày cố gắng giải đáp các câu hỏi mới mẻ, phức tạp;
- Học hỏi kiến thức mới ở bên ngoài sách giáo khoa;
- Cố gắng tìm lời giải đáp cho các chủ đề hoặc nội dung học tập khó;
- Hiểu rõ rằng: Khó hiểu và mắc lỗi trong học tập là cách để trở nên học
giỏi hơn.
Các cách cản trở sự phát triển não bộ:
- Bỏ qua những nội dung khó, phức tạp;
- Không dám đặt câu hỏi khi chưa hoàn toàn hiểu vấn đề;
- Trả lời ”Không biết” và không cảm thấy bận tâm về câu trả lời đó;
- Chỉ đọc những vấn đề dễ tiếp thu;
- Chép bài của bạn;
- Không dám phát biểu trong giờ học.
1.1.2. Cơ sở tâm lí của hoạt động tự học
* Chú ý – điều kiện của tự học:
“Chú ý” là sự tập trung ý thức vào một đối tượng, sự vật nào đó để định
hướng hoạt động, đảm bảo điều kiện thần kinh - tâm lí cần thiết cho hoạt động
tiến hành có kết quả. Học tập là một hoạt động đòi hỏi tập trung cao độ trong
những khoảng thời gian dài vào những kiến thức mới và làm việc với kiến
thức đó để nó trở thành một phần vĩnh viễn trong trí nhớ dài hạn. Như vậy,
muốn tổ chức việc học tập, cá nhân phải biết làm chủ chú ý của mình (chú ý
có chủ định): biết hướng chú ý của mình tới những đối tượng học tập (sức tập
trung chú ý - khối lượng chú ý); có khả năng tập trung lâu dài vào đối tượng


học tập (sự bền vững của chú ý); có khả năng di chuyển sự tập trung từ đối
tượng này sang đối tượng khác (sự di chuyển chú ý). Điều này cho thấy,
không phải ngẫu nhiên mà các chuyên gia về phương pháp học tập khẳng
định rằng “tập trung là kĩ năng học tập siêu việt số 1”. Biết tập trung tối đa và
lâu dài vào việc học tập, biết tập trung đúng mức vào các đối tượng học tập
không phải là việc dễ dàng, mà đòi hỏi một trình độ phát triển nhất định về
mặt tâm lí ở cá nhân. Chú ý phát triển theo hoạt động của chủ thể. Trong công
tác sư phạm cần lưu ý đến đặc điểm lứa tuổi của chú ý cũng như đặc điểm chú
ý của từng cá nhân học sinh.
* Trí nhớ - chìa khóa của tự học:
Trí nhớ là một điều kiện của sự chuyển hóa từ nhận thức cảm tính lên nhận
thức lí tính, đồng thời là một thành phần tạo nên nhân cách, có vai trò quan
trọng đối với hoạt động sống nói chung và hoạt động học tập nói riêng. Trí
nhớ được hiểu là quá trình ghi lại (tạo vết), giữ lại (củng cố vết) và làm xuất
hiện lại (tái hiện-từ những dấu vết làm sống lại những hình ảnh) những gì cá
nhân thu được trong hoạt động sống của mình. Các quá trình này có thể được
xem là các giai đoạn của trí nhớ và mỗi giai đoạn đại diện cho một cấp độ
tăng cường khác nhau. Trí nhớ là một quá trình thống nhất bao gồm trong nó
nhiều quá trình riêng lẻ gắn bó chặt chẽ với nhau theo các quy luật nhất định.
* Xúc cảm - động cơ và hành động ý chí:
- Khi phản ánh thế giới khách quan, con người không chỉ nhận thức thế
giới đó, mà còn tỏ thái độ của mình với nó nữa. Những hiện tượng tâm lí biểu
thị thái độ của con người đối với những cái mà họ nhận thức được, hoặc làm
ra được, được gọi là xúc cảm và tình cảm của con người (khi xem những bức
tranh đẹp, nghe những bản nhạc hay…, ta không chỉ tri giác chúng, mà còn có
những rung động kèm theo). Xúc cảm, tình cảm có vai trò to lớn trong đời
sống, hoạt động của con người, giúp con người khắc phục khó khăn trở ngại
trong quá trình hoạt động, xác định mục đích, đưa ra những quyết định, tìm ra


cách thức đi tới đích. Đối với hoạt động học tập của học sinh, xúc cảm tình
cảm giữ một vị trí vô cùng quan trọng bởi vừa là điều kiện, vừa là nội dung,
vừa là phương tiện giáo dục. Xúc cảm có liên quan với hoạt động nhận thức,
là động cơ, là nguồn động lực mạnh mẽ kích thích sự tìm tòi, sự khám phá
sáng tạo của con người trong quá trình nhận thức. Sự phát triển xúc cảm của
con người có tính quy luật, biểu hiện khác nhau ở các giai đoạn phát triển
khác nhau, do đó trong công tác giáo dục học sinh cần lưu ý đến điều này.
- Một đặc điểm nổi bật của hoạt động con người là tính tự giác, biểu hiện
trước hết ở tính có chủ định, có dự kiến, có mục đích. Trước khi thực hiện
hoạt động thì con người đã có những dự định, đã ý thức được mục đích và đã
có nguyện vọng đạt được mục đích ấy và lập kế hoạch để tổ chức hoạt động.
Học tập là một hoạt động trí óc phức tạp thường đáp ứng đồng thời một vài
động cơ làm cho hoạt động ấy có ý nghĩa về nhiều mặt (nhu cầu về tri thức
trong một lĩnh vực nào đó, mong muốn có được một vị trí cao trong tập thể,
mong muốn có được một phần thưởng nào đó từ cha mẹ…). Vì thế, vấn đề
động cơ trong hoạt động học tập ở học sinh rất quan trọng. Về những động cơ
thúc đẩy học sinh học tập, còn có hứng thú, đó là cơ sở tạo ra khát vọng hoạt
động nhận thức, là điều kiện quan trọng của lao động sáng tạo.
- Ý chí là một phẩm chất tâm lí của cá nhân, một thuộc tính tâm lí của
nhân cách và là hình thức tâm lí điều chỉnh hành vi tích cực nhất ở con người
vì là sự kết hợp cả mặt năng động của trí tuệ, lẫn mặt năng động của tình cảm
đạo đức. Ý chí được biểu hiện ở năng lực thực hiện những hành động có mục
đích, những hành động đòi hỏi phải có sự nỗ lực khắc phục khó khăn.
Những phẩm chất của ý chí gồm: tính mục đích (khả năng đặt ra những
mục tiêu phù hợp và tuân thủ thực hiện các mục tiêu đó), tính độc lập (khả
năng thực hiện hành động một cách tự tin, tự giác), tính quyết đoán (khả năng
ra quyết định kịp thời), tính kiên trì (khả năng duy trì nỗ lực để đạt mục đích)
và tính tự chủ (khả năng làm chủ/kiểm soát bản thân). Có thể thấy, đối với
việc tự học, tất cả các phẩm chất này đều cần thiết, bởi học tập là một dạng


lao động nghiêm túc, khó khăn nhất, phức tạp nhất, đòi hỏi sự nỗ lực thường
xuyên tuân theo những yêu cầu cụ thể.
* Các quá trình nhận thức:
Học tập trước hết là một quá trình nhận thức, là quá trình phản ánh hiện
thực, cả khách quan lẫn chủ quan, cả cái đã qua lẫn cái sẽ tới, cả các quy luật
phát triển của hiện thực. Hoạt động học tập bao gồm nhiều quá trình nhận
thức khác nhau, ở những mức độ phản ánh khác nhau: cảm giác, tri giác, tư
duy, tưởng tượng…Những quá trình này cho ra những sản phẩm khác nhau
như: hình tượng, biểu tượng, khái niệm…và có liên quan rất chặt chẽ với
nhau, rất cần thiết để giúp việc tự học đạt kết quả.
Chẳng hạn, cảm giác là hình thức định hướng đầu tiên, là nguồn nguyên
liệu để con người tiến hành những hình thức nhận thức cao hơn, là điều kiện
quan trọng để đảm bảo trạng thái hoạt hóa của vỏ não, cần thiết đối với khâu
đầu tiên của học tập. Các thao tác tư duy như: phân tích, tổng hợp, khái quát
hóa…giúp giải quyết các nhiệm vụ học tập, được huy động thường xuyên
trong lúc học tập của học sinh. Còn tưởng tượng cần thiết cho bất cứ một hoạt
động nào của con người, trong đó có hoạt động tự học. Ý nghĩa quan trọng là
nó cho phép ta hình dung được kết quả của hoạt động trước khi bắt tay vào
hoạt động. Sự hình dung không chỉ giới hạn ở kết quả cuối cùng mà cả những
kết quả trung gian. Nó giúp cá nhân định hướng hoạt động bằng cách tạo ra
mô hình tâm lí về những sản phẩm cuối cùng, do đó có ý nghĩa hỗ trợ cho
việc biến mô hình thành sản phẩm. Trong hoạt động tự học, tưởng tượng tham
gia vào tất cả các khâu, từ xác định mục tiêu, lập kế hoạch, cho đến khâu
kiểm tra đánh giá kết quả.
* Ngôn ngữ:
Ngôn ngữ có liên quan đến tất cả các quá trình tâm lí ở con người, nó tổ
chức và điều chỉnh các quá trình tâm lí đó. Nó là yếu tố quan trọng quyết định
sự khác biệt về chất của tâm lí người so với tâm lí động vật.


Ngôn ngữ có hai chức năng chính: là công cụ của giao tiếp và công cụ của
tư duy. Không có ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ bên trong, thì tư duy của con
người sẽ không có tính trừu tượng và tính khái quát. Con người không chỉ
biểu đạt những suy nghĩ của mình và tiếp thu ý nghĩ của người khác nhờ ngôn
ngữ, mà họ còn suy nghĩ bằng từ nữa. Mối quan hệ giữa tư duy và ngôn ngữ
được thể hiện trong ý nghĩa của các từ. Mỗi từ đều có quan hệ với một sự vật
nhất định và gọi tên sự vật đó. Khi gọi tên các sự vật, từ còn tách ra trong các
sự vật ấy các dấu hiệu xác định để căn cứ theo đó mà quá trình khái quát hóa
các sự vật được thực hiện. Như vậy, không có ngôn ngữ thì không thể có sự tư
duy khái quát – logic.
Tâm lí học và Sinh lí học hiện đại đã phát hiện ra rằng, bất kì một ý nghĩ
nào, dù cho con người có muốn hay không muốn nói ra, cũng đều được hình
thành bằng ngôn ngữ bên trong với sự tham gia của những cử động của bộ
máy ngôn ngữ. Khi đó, ngôn ngữ trải qua giai đoạn nói bên trong (không
thành tiếng), điều chỉnh bên trong. Các cử động ngôn ngữ không thấy được
bằng mắt thường, nhưng có thể ghi lại được bằng các thiết bị đặc biệt. Khi
giải quyết các nhiệm vụ tư duy phức tạp thì quá trình nói bên trong kéo dài
thời gian hơn. Hoạt động cao nhất của hệ thống cấu âm được nhận thấy vào
lúc xuất hiện những trở ngại gay cấn trong tư duy, trong những điều kiện đòi
hỏi phải có phương pháp mới để giải quyết nhiệm vụ. Những điều này cho
thấy, nếu không có sự tham gia của ngôn ngữ bên trong thì ý nghĩ không thể
được hình thành.
1.3. Kĩ năng tự học
1.3.1. Tự học là gì?
Để hiểu được khái niệm “Tự học”, cần phải hiểu một khái niệm có liên
quan với nó là “Học tập”. Theo Tâm lí học, “Học tập” là một hoạt động đặc
thù của con người. Nó được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những
tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mới, phương pháp lĩnh hội những tri thức đó, những
hình thức hành vi, các dạng hoạt động nhất định và các giá trị. Hoạt động đặc


thù đó có mục đích cơ bản, trực tiếp, là “học” và là học có chủ định. Vì vậy,
hoạt động này chỉ có thể thực hiện được khi con người đạt đến trình độ có thể
điều chỉnh những hành động của mình theo một mục đích đã được ý thức (vào
khoảng 5-6 tuổi). Bản chất của học tập là quá trình nhận thức tích cực, độc
lập, sáng tạo, hướng vào làm thay đổi chính chủ thể thông qua việc làm thay
đổi khách thể của hoạt động. Động lực thúc đẩy học tập là những động cơ nảy
sinh từ các nhu cầu cá nhân, trong đó, có ý nghĩa hơn cả là những động cơ
gắn liền với việc thỏa mãn nhu cầu nhận thức cũng như gắn với việc vận dụng
tri thức nhằm giải quyết những mục đích thực tiễn nhất định.
Theo nghĩa rộng, “tự học” là quá trình người học tự quyết định việc lựa
chọn mục tiêu học tập, nội dung học tập, cách thức học tập, các hoạt động học
tập và các hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá thích hợp. Từ đó tổ
chức, xây dựng, kiểm tra, kiểm soát tiến trình học tập của cá nhân mình. Nhìn
chung, tự học theo nghĩa này được hiểu là quá trình học tập một cách tự giác,
chủ động và độc lập.
Theo nghĩa hẹp, “tự học” là quá trình học sinh giải quyết các nhiệm vụ học
tập theo yêu cầu của giáo viên mà không giáp mặt thầy (hay, là quá trình học
sinh học tập một cách tự giác, độc lập nhằm giải quyết những nhiệm vụ học
tập mà giáo viên giao cho để về nhà làm.). Theo cách hiểu này thì tự học
được xem như một giai đoạn hay một khâu của quá trình học tập, tức là hoạt
động học tập của học sinh khi không có thầy hướng dẫn và nằm ngoài phạm
vi nhà trường, với mục đích là củng cố những kiến thức, kĩ năng đã được học
trên lớp hoặc chuẩn bị cho các nội dung sẽ được học, thông qua việc
học/làm/thực hiện các nhiệm vụ mà giáo viên giao về nhà.
Ngày nay, tự học không chỉ là một kĩ năng học mà là một phẩm chất nhân
cách của con người sống trong xã hội hiện đại. Trở thành một người học tập
thành công không còn là vấn đề về lựa chọn hay chỉ là sự ưu tiên, mà là sự
cần thiết để tồn tại và phát triển trong “thời đại thông tin”.


Để tự học đạt kết quả mong muốn, trước hết, người học cần biết cách tổ
chức tự học một cách khoa học, hợp lí. Lâu nay, “Kĩ năng tổ chức” được đề
cập đến rất nhiều trong các tài liệu liên quan tới đào tạo nguồn nhân lực ở
nước ngoài cũng như trong nước, bởi một hoạt động chỉ có thể đạt được kết
quả tối ưu nếu như nó được tổ chức tốt. Ngân hàng Thế giới đã gọi thế kỉ 21
là kỉ nguyên của kinh tế dựa vào kĩ năng (skills Based Economy). Vậy, kỹ
năng nào là cần thiết cho mỗi con người để thành công trong công việc và
cuộc sống? Xung quanh vấn đề này đã có nhiều nghiên cứu nhằm đưa ra danh
sách các kĩ năng khác nhau để đảm bảo cho con người có thể thích ứng tốt
nhất với xã hội hiện đại. Bộ Lao Động Mỹ đưa ra danh sách gồm 13 kĩ năng
cơ bản cần thiết để thành công trong công việc trong đó có “Kĩ năng học cách
học” và “Kĩ năng tổ chức công việc hiệu quả”. Năm 2002, nước Úc có xuất
bản cuốn sách “Kĩ năng hành nghề cho tương lai”, trong đó đề cập đến những
kiến thức và kĩ năng nhất thiết người lao động phải có, bởi đó là các kỹ năng
cần thiết không chỉ để có được việc làm, mà còn để phát triển nghề nghiệp
thông qua việc phát huy tiềm năng cá nhân và đóng góp vào định hướng chiến
lược của đơn vị công tác. Danh sách gồm 8 kĩ năng, với “Kĩ năng lập kế
hoạch và tổ chức công việc” (đứng thứ 5), “Kĩ năng quản lí bản thân” (đứng
thứ 6) và “Kĩ năng học tập” (đứng thứ 7). Cơ quan chứng nhận Chương trình
và Tiêu chuẩn (về đào tạo) của Anh cũng đưa ra danh sách các kĩ năng quan
trọng đối với người lao động gồm 6 kĩ năng, trong đó “Kĩ năng tự học và
nâng cao năng lực cá nhân” đứng thứ 3. Cục Phát triển Lao động Singapore
đã thiết lập hệ thống các kĩ năng hành nghề bao gồm 10 kĩ năng. Trong danh
sách này, “Kĩ năng tổ chức nơi làm việc ” và “Kĩ năng an toàn lao động và vệ
sinh sức khỏe” đứng thứ 9 và 10. Ở Việt Nam, trong nhiều chương trình đào
tạo các kĩ năng mềm cho người lao động, bên cạnh các kĩ năng khác, như: kĩ
năng lắng nghe, kĩ năng làm việc nhóm, kĩ năng quản lí bản thân…, chúng ta
đều có thể tìm thấy “Kĩ năng lập kế hoạch và tổ chức công việc”.


“Tự học” và “Tổ chức tự học” là một trong những vấn đề đang rất được
quan tâm ở nước ta hiện nay vì nó được xem là một trong những yếu tố quyết
định chất lượng dạy học trong nhà trường nói chung và ở trường phổ thông
nói riêng.
Đổi mới giáo dục phổ thông ở nước ta hiện nay nhấn mạnh vào phát triển khả
năng tự học ở học sinh. Đổi mới phương pháp dạy học nhấn mạnh đặc biệt
vào việc dạy cho học sinh cách thức tự học, tự nghiên cứu, tự tìm tòi, nhưng
không chỉ với tư cách là một người thừa hành/thực hiện, mà hơn thế, phải là
một người biết tự tổ chức, tự quản lí hoạt động học tập của cá nhân mình một
cách hiệu quả. Thực tế giáo dục phổ thông hiện nay ở nước ta cho thấy, phần
lớn học sinh gặp rất nhiều lúng túng trong tổ chức tự học. Theo kết quả của
nhiều nghiên cứu, một trong những nguyên nhân chủ yếu của thái độ tiêu cực
đối với việc chuẩn bị bài ở nhà của học sinh (đối phó, chậm trễ, không đầy đủ,
lãng phí thời gian…) là những thiếu sót trong việc tổ chức học tập. Vì vậy, có
ảnh hưởng lớn đến chất lượng đổi mới giáo dục đã được khởi xướng và triển
khai trong những năm qua. Trên thực tế, càng ở bậc học cao thì yêu cầu đối
với việc tổ chức hợp lí việc học tập của học sinh càng lớn, bởi khối lượng bài
vở nhiều và yêu cầu tính tự giác, độc lập đối với việc học tập cũng cao hơn
nhiều so với trước.
Trong thực tế dạy học hiện nay, hoạt động học tập của học sinh, sinh viên
là một quá trình được chia thành hai giai đoạn: Giai đoạn học tập ở trên lớp,
dưới sự tổ chức hướng dẫn trực tiếp của giáo viên; và giai đoạn học ở nhà, do
người học tự tổ chức. Tự học ở nhà là một bộ phận hợp thành, là giai đoạn
tiếp nối và phát triển bài học trên lớp. Đây là một khâu quan trọng có ảnh
hưởng trực tiếp đến toàn bộ quá trình học tập của người học, bởi lẽ kiến thức
mà học sinh tiếp thu được chỉ thực sự bền vững nếu chúng được ôn tập, củng
cố thường xuyên bằng một hệ thống bài tập hoặc việc làm ngoài giờ lên lớp.
Hơn nữa, trong tình hình hiện nay, khi phương pháp dạy học đang có những
đổi mới theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh, thì việc


học tập ở nhà càng trở nên quan trọng. Mức độ tích cực, độc lập của người
học khi học trên lớp phụ thuộc phần lớn vào kết quả công việc chuẩn bị bài ở
nhà của họ.
Nhận thức được điều này, xã hội nói chung, ngành Giáo dục-đào tạo nói
riêng đã có những quan tâm nhất định, thiết thực. Để giúp học sinh có kiến
thức và kĩ năng tổ chức tự học ở nhà, gần đây đã xuất hiện một số chương
trình tư vấn trên truyền hình, đài phát thanh, trên mạng internet hoặc tại các
trung tâm tư vấn tâm lí, tạo ra các diễn đàn trao đổi kinh nghiệm học tập giữa
học sinh với nhau hoặc giữa giáo viên với học sinh…Các hoạt động này đã có
những tác dụng nhất định đối với học sinh, đặc biệt học sinh THPT là đối
tượng đang phải chuẩn bị cho những kì thi rất quan trọng. Tuy nhiên, các trao
đổi chủ yếu vẫn dừng ở kinh nghiệm do các cá nhân tích lũy trong quá trình
học tập của bản thân.
Tham khảo một số tài liệu nước ngoài cho thấy, khi đề cập đến việc tổ
chức tự học, các nhà nghiên cứu dùng thuật ngữ “học tập có tổ chức” theo
nghĩa người học huy động các mặt khác nhau của nhân cách vào quá trình tự
học, như: nhận thức, xúc cảm, hành vi. Bởi học tập không phải là một quá
trình nhận thức thuần túy, một quá trình thu hút duy nhất bộ não lí trí, mà nó
còn là một quá trình xúc cảm. Một số tác giả (Yiannis Gabriel & Dorothy S.
Griffiths) tiếp cận nghiên cứu vấn đề từ lí thuyết trí tuệ xúc cảm và lí thuyết
kiến tạo xã hội, nhấn mạnh vào khía cạnh xúc cảm của học tập, xem việc tổ
chức tự học trước hết là việc quản lí tổ chức các xúc cảm của các nhân, vì đó
là cơ sở của việc hình thành động cơ tự học. Đây là một quan điểm tiếp cận
mới hiện nay đáng được quan tâm tham khảo. Hiện nay còn nhiều sinh viên
nghĩ rằng họ chỉ cần học tập cố gắng và chăm chỉ là có thể đạt thành tích tốt
do vậy đã không chú ý đúng mức để biết cách học hiệu quả. Hệ quả của
phương pháp học không tốt là lãng phí thời gian, thành tích học tập kém,
thậm chí thi rớt dẫn đến chán nản, thất vọng và bất mãn. Vì thế nhiều chuyên
gia nước ngoài về phương pháp học tập đã nghiên cứu đề xuất những cách tổ


chức tự học hiệu quả cho đối tượng là học sinh, sinh viên nhằm đưa ra các chỉ
dẫn để sinh viên thực hiện nhằm quản lí tốt hơn việc học tập của bản thân.
Chẳng hạn, “Phương pháp P.O.W.E.R” bao gồm 5 yếu tố cơ bản là: 1) Chuẩn
bị/sửa soạn – Prepare (quá trình học tập chỉ thực sự bắt đầu khi sinh viên
chuẩn bị tích cực các điều kiện cần thiết để tiếp cận môn học như đọc trước
giáo trình, tìm tài liệu có liên quan, chuẩn bị tâm thế…); 2) Tổ chức Organize (người học biết tự sắp xếp việc học tập của mình một cách có mục
đích và có hệ thống); 3) Làm việc – Work (học tập phải đi đôi với “làm việc”
một cách có ý thức: lắng nghe, ghi chép, thảo luận, thực hành làm bài tập…);
4) Đánh giá – Evaluate (sinh viên phải biết tự đánh giá sản phẩm học tập của
bản thân, là một hình thức phản tỉnh để ý thức được việc điều chỉnh để nâng
cao trình độ); 5) Suy nghĩ lại/Lật lại vấn đề - Rethink (sinh viên biết nhìn
nhận lại vấn đề đã nhận thức để có cách điều chỉnh phương pháp và điều kiện
tự học). Cũng ở đây, còn có một việc làm rất có ý nghĩa là giải lao, giải trí,
tiêu khiển (Recreate) đúng cách để phục hồi năng lượng thể chất và thần kinh
đã mất trong quá trình học tập. Thứ tự nêu trên của các yếu tố cũng đồng thời
là các bước của một quá trình tự học hiệu quả.
Kết quả cho thấy, những khó khăn trong việc chuẩn bị bài ở nhà dường
như là chung đối với học sinh trên toàn thế giới, bởi học tập là một hoạt động
rất đặc thù, đòi hỏi ở người thực hiện nó cùng một lúc phải huy động nhiều
yếu tố chủ quan và khách quan khác nhau, nhất là trong điều kiện phải hoàn
toàn tự giác. Điều này không chỉ đúng với những học sinh gặp thất bại trong
học tập, mà đôi khi cũng đúng ngay cả với những học sinh học giỏi. Một kết
quả nghiên cứu của nước ngoài cho thấy, hầu hết học sinh (và cả sinh viên đại
học) ở các nước trên thế giới đều tự đánh giá có chung những khó khăn phổ
biến trong học tập sau đây:
- Trí nhớ kém;
- Thích trì hoãn công việc;


- Lười biếng;
- Nghiện chơi điện tử, xem tivi, internet;
- Gặp khó khăn trong việc hiểu bài giảng;
- Dễ dàng bị xao lãng;
- Khả năng tập trung ngắn hạn;
- Mơ màng trong giờ học trên lớp;
- Sợ thi cử;
- Hay phạm lỗi do bất cẩn;
- Bị áp lực từ phía gia đình;
- “Có quá nhiều thứ để học và quá ít thời gian”;
- Không có động lực học;
- Dễ dàng bỏ cuộc;
- Thầy cô dạy không lôi cuốn;
- Không có hứng thú đối với môn học.
Các số liệu cho thấy khá nhiều điều khiến các nhà giáo dục phải quan tâm:
bên cạnh một số ít học sinh cố gắng, chăm chỉ học tập, còn khá nhiều học
sinh, nhất là học sinh ở nông thôn, về nhà ít học bài, làm bài. Điều tra cơ bản
ở một số vùng, thấy kết quả tự đánh giá của học sinh và đánh giá của giáo
viên như sau: có 3,7% học sinh chăm học; 96,3% học sinh có học bài nhưng
phần lớn trong số đó là học qua quýt cho xong; 15% học sinh không học bài
làm bài. Về nguyên nhân: có 19% học sinh cho rằng bài tập/bài học phải làm
ở nhà quá nhiều vì thế các em không có đủ thời gian để hoàn thành hết; 33%
nói rằng thầy cô không hướng dẫn học tập ở nhà cũng như ít kiểm tra việc học
bài làm bài của học sinh; 19% trả lời rằng cha mẹ không quan tâm đến việc
học ở nhà của con cái…
Nếu kết quả trên đây phản ánh đúng thực trạng thì tỉ lệ 3,7% học sinh
chăm học ở nhà là quá thấp, trong khi đó tỉ lệ học sinh lười học hoặc chỉ học
qua quýt để đối phó lại quá nhiều. Trong số các nguyên nhân được nhóm


nghiên cứu chỉ ra, thì nguyên nhân đầu tiên là do học sinh chưa có ý thức, thái
độ, động cơ học tập đúng đắn, dẫn đến chây lười, tắc trách, đối phó. Tiếp đến
là do học sinh thiếu phương pháp học tập khoa học, đặc biệt là phương pháp
tổ chức tự học ở nhà. Rồi do các điều kiện cần thiết cho việc học tập ở nhà
chưa đảm bảo; hoặc do việc hướng dẫn kiểm tra đôn đốc của thầy cô giáo ở
trường có lúc, có nơi còn lỏng lẻo.
Học tập nói chung và tự học nói riêng là một dạng hoạt động đặc thù –
hoạt động trí óc. Nó được diễn ra theo những quy luật tâm-sinh lí nhất định,
mà, nếu học sinh nắm được và biết vận dụng chúng vào quá trình học tập thì
có thể sẽ thu được kết quả mong muốn.
1.3.2. Các kĩ năng tự học cơ bản
1.3.2.1. Nhóm kĩ năng tổ chức bản thân
Thuộc nhóm này có rèn luyện sức khỏe, rèn luyện tạo động cơ tự học, rèn
luyện khả năng tập trung vào công việc tự học, rèn luyện trí nhớ. Về mặt lí
thuyết, tất cả những điều này đều có liên quan với nhau chặt chẽ (theo nghĩa,
một thủ thuật có thể sử dụng để rèn luyện nhiều khả năng khác nhau), song,
trong rèn luyện thì đối với từng vấn đề sẽ có những thủ thuật mang tính đặc
thù.
a/ Rèn luyện sức khỏe bản thân
Muốn làm việc có hiệu quả, trước hết phải có một sức khỏe tốt. Nhưng
một sức khỏe tốt không tự nhiên có mà cần phải được rèn luyện thường xuyên
và đúng cách. Trong hoạt động học tập, rèn luyện sức khỏe về thể chất và tinh
thần có những ý nghĩa đặc biệt hơn. Hiện nay, đối với nhiều học sinh/sinh
viên, vấn đề này chưa được nhận thức một cách đầy đủ và sâu sắc. Hơn nữa,
cách thức rèn luyện sức khỏe bản thân của các em cũng cần được hướng dẫn.
* Ngủ đủ.
Ngủ được coi là một ”công cụ học tập” và được xếp ở thứ hạng rất cao.
Một bộ não luôn thiếu ngủ sẽ không bao giờ có thể làm việc được chính xác.
Ngủ là một cách bổ sung năng lượng cho bộ não, bởi học tập là một hoạt động


tiêu hao năng lượng thần kinh là chủ yếu. Tạo được một giấc ngủ có chất
lượng là điều được nghiên cứu nhiều và cho thấy, yếu tố quan trọng là sự yên
tĩnh và tâm trạng thoải mái trước khi bước vào giấc ngủ.
Giấc ngủ không chỉ quan trọng để duy trì sức khỏe thể chất và tinh thần ở
trạng thái tốt, mà còn là thành phần chính để chuyển thông tin từ trí nhớ ngắn
hạn vào trí nhớ dài hạn. Khi ngủ, bộ não không nghỉ ngơi hoàn toàn mà một
số vùng vẫn tiếp tục hoạt động. Các nghiên cứu cho thấy, tài liệu học tập nếu
được ôn lại trước khi ngủ sẽ được lưu trữ hiệu quả và dễ dàng được huy động
ra khi cần thiết (nhưng không nên học ngay trước khi ngủ, mà tốt nhất là
trước đó khoảng 30 phút để tránh căng thẳng).
* Thực hiện các bài thể dục thường xuyên hoặc chơi một môn thể thao ưa
thích nào đó là lời khuyên mà các chuyên gia về phương pháp học tập đưa ra
nhằm giúp học sinh tự bảo vệ sức khỏe. Đối với việc chuẩn bị học tập thì tốt
nhất là thực hiện các bài tập từ nhẹ đến trung bình (tập thở đúng cách, đi bộ
nhanh...đủ để ra mồ hôi). Đó là cách chủ động kích thích cơ thể tiết ra
endorphin (là một chất trong não làm gia tăng hệ thống đề kháng của cơ thể,
làm giảm đau và an thần) và tăng lưu thông máu, từ đó tăng lượng oxy lên
não, rất quan trọng đối với não cấp cao. Chú ý không bao giờ được phép để
bản thân rơi vào trạng thái mệt mỏi quá (tới hạn) vì sẽ ảnh hưởng xấu đến khả
năng tập trung và sức bền bỉ khi học tập.
* Bên cạnh việc trang bị kiến thức thì học sinh/sinh viên cũng cần có chế
độ ăn uống phù hợp để có sức khỏe tốt nhất.
Không nên lạm dụng các chất kích thích như cà phê, trà đặc hoặc các loại
thuốc như thuốc chống buồn ngủ... Các chất này không tốt cho thần kinh, nhất
là buổi tối, là thời điểm hệ thần kinh cần được nghỉ ngơi.
* Có chế độ nghỉ ngơi, thư giãn hợp lí, tích cực, phù hợp với sở thích và
điều kiện thực tế của bản thân vào những lúc giải lao hoặc rảnh rỗi như: đọc
sách, nghe nhạc, gặp gỡ bạn bè, ngủ, giải trí bằng cười, giải đố...
* Nhận thức những chu kì tỉnh táo của bản thân:


Sức làm việc của con người diễn ra theo một quy luật chung với 2 giai
đoạn thể hiện sự tỉnh táo khác nhau. Tuy nhiên, tùy theo từng công việc, từng
điều kiện, từng cá nhân cụ thể, thì độ dài của từng giai đoạn là khác nhau. Vì
thế, việc nhận thức được chu kì tỉnh táo của bản thân để lập kế hoạch tự học
cho phù hợp là điều được các chuyên gia khuyên làm. Vì đây cũng là một
cách tự bảo vệ sức khỏe thể chất cũng như tinh thần của cơ thể. Nó đồng thời
còn là một cách để quản lí tốt thời gian vì giúp kéo dài thời gian vật chất mà
chúng ta có (trong một phút minh mẫn sẽ làm được nhiều việc hơn so với
nhiều giờ không tỉnh táo).
Có thể tự theo dõi đánh giá độ tỉnh táo của bản thân vào những thời điểm
khác nhau trong một ngày bằng cách ghi lại cảm xúc cũng như kết quả của
công việc được thực hiện những lúc đó. Sau khoảng 1 tuần liên tục làm như
vậy có thể xác định được khá chính xác. Sau đó đem điều này áp dụng vào
xây dựng thời gian biểu. Theo dõi việc thực hiện thời gian biểu đó một thời
gian để điều chỉnh, chính xác hóa lại nhận thức này rồi điều chỉnh thời gian
biểu.
Cũng có thể rèn luyện để nới rộng thời gian tỉnh táo của bản thân bằng 3
cách đơn giản là: đảm bảo ngủ đủ; tập thể dục đều đặn (trong đó có chú ý tập
thở); tích cực chuẩn bị cho việc học tập (kiểm tra chỗ học, chuẩn bị trạng thái
tư duy...sẽ tạo ra tâm thế tốt cho bản thân).
b/ Tạo động cơ mạnh mẽ bằng cách làm chủ cảm xúc
* Tạo niềm tin, xây dựng giá trị tích cực
- Để có được quyết tâm, trước hết phải xây dựng được các giá trị tích cực
và có niềm tin vào những gì chúng ta xây dựng nên. Nghiên cứu cho thấy,
cách thức suy nghĩ của người thành công và người thất bại rất khác nhau.
Những người thành công luôn ”muốn thành công” vì thế họ sẵn sàng làm bất
cứ việc gì để thành công, chịu trách nhiệm cho những gì xảy ra và cố gắng để
thành công. Trong khi đó, những người thất bại ”thích/ước được thành công”,


do đó nếu không thànhh công cũng không có gì ghê gớm đối với họ, vì vậy,
họ chỉ sẵn sàng làm những việc thích làm, biện hộ, đổ lỗi cho người khác, tự
lừa dối bản thân. Những học sinh thất bại thường có khuynh hướng đổ lỗi cho
mọi người trừ chính bản thân mình: thầy giảng bài nhàm chán, bài quá khó,
tại bạn bè làm xao nhãng, cha mẹ không tạo điều kiện, hoặc tự lừa dối bản
thân rằng mọi việc cũng không đến nỗi quá tệ, rằng thực chất mình cũng đã
rất chăm chỉ…
- Học sinh phải tạo được giá trị của thành công trong học tập và tin rằng
mình sẽ thành công. Ở đây, có thể vận dụng một số yếu tố tâm lí học để rèn
luyện như tưởng tượng và điều khiển cảm xúc (ví dụ, hình dung tâm trạng của
bản thân khi gặp thất bại, hình dung tâm trạng của bản thân khi thành công...).
* Làm chủ cảm xúc
Hành động tạo ra kết quả, nhưng cảm xúc thúc đẩy con người hành động.
Tâm lí học đã chứng minh rằng, cảm xúc của con người là nguồn lực chính
thúc đẩy hành động và cách ứng xử của chúng ta trong mọi thời điểm. Chúng
ta cảm thấy như thế nào thì chúng ta làm như thế. Những cảm xúc tích cực
thúc đẩy hành động mạnh mẽ (”Hào hứng”, ”Đam mê”, ”Tự tin”, ”Phấn
khởi”...). Ngược lại, những cảm xúc tiêu cực như ”lo sợ”, ”hồi hộp”, ”căng
thẳng”, ”buồn phiền”, ”mệt mỏi”...ngăn cản hành động đạt được mục tiêu.
Những người luôn hành động nhất quán và thu được kết quả tốt đẹp là do họ
lựa chọn để có được cảm xúc tích cực vì chúng cho phép họ tận dụng tối đa
tiềm năng của bản thân.
Chính chúng ta tạo ra cảm xúc của mình. Đó là vì, ở mỗi thời điểm nhất
định, cảm xúc của con người do hai yếu tố quyết định là trạng thái cơ thể và
cách con người nhận thức về sự việc, hiện tượng xung quanh chúng ta.
Tình trạng cơ thể tác động trực tiếp đến cảm xúc. Khi cơ thể con người
được nghỉ ngơi thoải mái thì sẽ cảm thấy tràn đầy sinh lực, hoàn toàn ngược
lại với khi bị mất ngủ hoặc không được nghỉ ngơi. Thêm vào đó là cảm giác


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×